1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Chế độ bảo hộ lao động với lao động đặc thù và sự cần thiết của quy định này trong Bộ luật lao động 2012

17 296 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 39,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

A. MỞ ĐẦU 1 B. NỘI DUNG 1 I. Chế độ bảo hộ lao động với lao động đặc thù 1 1. Lao động đặc thù 1 2. Chế độ bảo hộ lao động với lao động đặc thù 3 3. Sự cần thiết quy định chế độ bảo hộ với lao động đặc thù 7 4. Thực tiễn áp dụng pháp luật 8 II. Giải quyết tình huống về kỉ luật lao động 9 1. Nhận xét quyết định sa thải C của công ty X 9 2. Giải quyết quyền lợi của C theo quy định của pháp luật hiện hành 11 3. Thẩm quyền giải quyết yêu cầu của C 13 C. KẾT LUẬN 14

Trang 1

Đề tài: Chế độ bảo hộ lao động với lao động đặc thù và sự cần thiết của quy

định này trong Bộ luật lao động 2012

A MỞ ĐẦU

Bộ luật Lao động 2012 là cơ sở pháp lí điều chỉnh các quan hệ lao động phát sinh giữa người lao động, người sử dụng lao động và một số quan hệ khác Trong đó, bao gồm những nội dung quy định nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các nhóm người lao động có tính chất yếu thế trong xã hội như phụ nữ; người chưa thành niên; người lớn tuổi; người khuyết tật…Hay nói cách khác là chế đô bảo hộ lao động đặc thù Bên cạnh đó, Bộ luật Lao động 2012 còn quy định về kỉ luật lao động và xử lí kỉ luật lao động Để làm rõ những nội dung trên, trong bài tập nhóm này chúng em xin trình bày một số vấn đề liên quan

B NỘI DUNG

I Chế độ bảo hộ lao động với lao động đặc thù

1 Lao động đặc thù

1.1 Khái niệm lao động đặc thù và chế độ bảo hộ lao động đặc thù

Có thể hiểu, lao động đặc thù là những lao động có những đặc điểm riêng biệt về thể chất, tinh thần, chức năng sinh học mà do những đặc điểm này họ

có thể gặp những trở ngại nhất định khi tham gia quan hệ lao động

Chế độ bảo hộ lao động đặc thù được hiểu là những quy định của Nhà nước liên quan đến việc bảo đảm an toàn lao động, vệ sinh lao động và bảo vệ tính mạng sức khỏe của người lao động đặc thù

1.2 Đặc điểm lao động đặc thù

Trang 2

Thứ nhất, về thể chất: lao động đặc thù có sức khỏe kém, không đủ hoặc

chưa đủ để tham gia vào quan hệ lao động Một số khác thì bị khiếm khuyết bộ phận, chức năng nào đó khiến cho họ bị suy giảm khả năng lao động

Thứ hai, về tinh thần, trí tuệ: Đây là nhóm đối tượng có khả năng nhận

thức và điều khiển hành vi bị hạn chế Họ thường bị ảnh hưởng của phong tục, tập quán, truyền thống trong lao động

Thứ ba, về tâm sinh lý: thường biểu hiện về mặt giới tính Ví dụ như lao

động nữ còn có thiên chức làm mẹ, làm vợ, nuôi dưỡng và chăm sóc con cái Nhóm khác cần có điều kiện để phát triển năng lực pháp luật, năng lực hành vi

1.3 Phân loại lao động đặc thù

Lao động đặc thù bao gồm:

Lao động nữ là người lao động có giới tính là nữ, đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, có giao kết hợp đồng lao động

Lao động chưa thành niên là người lao động dưới 18 tuổi có khả năng lao động, có giao kết hợp đồng lao động

Lao động cao tuổi: là người tiếp tục lao động sau khi đã hết tuổi lao động theo quy định của pháp luật, có khả năng lao động

Lao động khuyết tật: là người lao động khiếm khuyết một phần hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc suy giảm chức năng, biểu hiện dưới dạng tật khiến cho sinh hoạt, học tập gặp nhiều khó khăn

Ngoài ra, còn một số nhóm lao động khác được xem như là lao dộng đặc thù như: lao động làm việc nước ngoài; cho thuê lại lao động; nhiều người lao động thuộc nhiều người sử dụng lao động quản lí; giúp việc gia đình;…

Trong bài này, nhóm xin phân tích chế độ bảo hộ với một số nhóm lao động đặc thù cơ bản

Trang 3

2 Chế độ bảo hộ lao động với lao động đặc thù

2.1 Đối với lao động chưa thành niên

Đối với lao động chưa thành niên, quy chế lao động riêng được quy định nhằm bảo vệ và tạo điều kiện cho sự phát triển thể lực, trí lực của họ Việc cho phép và tạo điều kiện cho họ tham gia quan hệ lao động là một bước tập dượt về chuyên môn tay nghề, về ý thức tổ chức kỷ luật trước khi trở thành chủ nhân của xã hội Người lao động chưa thành niên là người có độ tuổi dưới 18 tuổi Ở giai đoạn này, thể lực và trí lực của họ đang phát triển và chưa ổn định Người chưa thành niên tiếp thu công việc nhanh, năng động và sáng tạo trong lao động song còn thiếu kinh nghiệm sống và làm việc, trình độ nhận thức chưa toàn diện, thiếu sự kiên trì, dẻo dai, dễ bị tác động bởi môi trường khách quan

Để bảo vệ và tạo điều kiện cho người chưa thành niên vừa có thể tham gia quan hệ lao động lại không ảnh hưởng đến sự phát triển thể lực và trí lực,

Bộ luật Lao động cho phép đối tượng này tham gia vào những quan hệ lao động phù hợp với sức khỏe và năng lực của họ, đồng thời nghiêm cấm việc lạm dụng sức lao động của người chưa thành niên vào làm những công việc năng nhọc, độc hại, nguy hiểm, làm việc quá sức Việc sử dụng lao động chưa thành niên phải tuân theo những quy định tại Điều 162 và Điều 163 BLLĐ 2012, đặc biệt

là đối với lao động dưới 15 tuổi theo quy định tại Điều 164 bộ luật này Về công việc và nơi làm việc được quy định tại Điều 165 BBLLĐ 2012

2.2 Đối với người lao động là phụ nữ

Pháp luật có những quy định điều chỉnh quan hệ lao động giữa người sử dụng lao động với lao động nữ tại các điều từ 153 đến 160 BLLĐ 2012 như sau:

Về trách nhiệm của người sử dụng lao động khi sử dụng lao động nữ

Thứ nhất, phải đảm bảo bình đẳng giới Trong thời gian sử dụng lao

động, người sử dụng lao động phải tham khảo ý kiến khi quyết định những vấn

Trang 4

đề liên quan đến lợi ích của phụ nữ, đảm bảo nhu cầu sinh hoạt cá nhân cho lao động

Thứ hai, không được sử dụng lao động nữ có thai từ tháng 07 (tháng 06

nếu làm việc ở vùng cao, biên giới, hải đảo ) hoặc đang nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi làm thêm giờ, làm việc ban đêm hoặc đi công tác xa; không được sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với lao động nữ vì lý do kết hôn, có thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi (trừ trường hợp luật định)

Thứ ba, sau khi nghỉ thai sản, người sử dụng lao động phải đảm bảo việc

làm trở lại cho lao động nữ, nếu việc làm đó không còn thì phải sắp xếp công việc khác có mức lương không thấp hơn công việc cũ

Thứ tư, với công việc có tính chất thường xuyên ở dưới hầm mỏ hoặc

ngâm mình dưới nước hoặc công việc có ảnh hưởng xấu tới chức năng sinh đẻ

và nuôi con thì không được sử dụng lao động nữ làm những công việc này

Quyền lợi của lao động nữ

Thứ nhất, trong thời gian mang thai, nghỉ hưởng chế độ sinh con, nuôi

con dưới 12 tháng tuổi, lao động nữ không bị xử lý kỷ luật Trong thời gian hành kinh, mỗi ngày được nghỉ 30 phút Trong thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi, mỗi ngày được nghỉ 60 phút trong giờ làm việc mà vẫn hưởng đủ lương; chính sách việc làm và nghỉ ngơi với người mang thai đến tháng thứ 7

Thứ hai, có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc tạm

hoãn thực hiện hợp đồng lao động khi có giấy chứng nhận của cơ sở khám, chữa bệnh có thẩm quyền nếu tiếp tục làm việc sẽ ảnh hưởng xấu đến thai nhi

Thứ ba, kì nghỉ thai sản là 06 tháng, thời hạn nghỉ trước khi sinh tối đa

không quá 02 tháng Hết thời gian nghỉ thai sản, nếu có nhu cầu, người lao động

Trang 5

nữ có thể nghỉ thêm một thời gian không hưởng lương theo thỏa thuận với người sử dụng lao động

Thứ tư, lao động nữ được hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội khi nghỉ việc vì

lí do thai sản (khám, sẩy thai, nuôi con )

2.3 Đối với lao động lớn tuổi

Điều 187 BLLĐ 2012 quy định về độ tuổi nghỉ hưu của người lao động:

“Người lao động bảo đảm điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội được hưởng lương hưu khi nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi” Trên thực tế, người đã tủ tuổi nghỉ hưu vẫn tiếp tục có nguyện vọng lao động và cá nhân, tổ chức khác vẫn có nguyện vọng sử dụng người đó, gọi là người lao động cao tuổi quy định tại Điều 166 BLLĐ 2012

Để tạo điều kiện tốt nhất cho người lao động cao tuổi với mục đích bảo

vệ tốt nhất sức khỏe cho người cao tuổi, pháp luật Việt Nam đã đặt ra những quy định đối với người lao động cao tuổi tại khoản 2, 3 Điều 166 BLLĐ 2012:

“Người lao động cao tuổi được rút ngắn thời giờ làm việc hằng ngày hoặc được

áp dụng chế độ làm việc không trọn thời gian; Năm cuối cùng trước khi nghỉ hưu, người lao động được rút ngắn thời giờ làm việc bình thường hoặc được áp dụng chế độ làm việc không trọn thời gian.”

Pháp luật đã quy định người lao động cao tuổi được quyền giảm thời gian làm việc ít hơn so với người lao động bình thường, hoặc làm việc không trọn thời gian Tuy nhiên nếu cần thiết thì bản thân người lao động cao tuổi vân có thể yêu cầu người sử dụng lao động tăng thêm giờ làm để kiếm thêm thu nhập hoặc gia hạn thêm hợp đồng… Và người lao động cao tuổi vẫn được hưởng tất

cả những quyền lợi như đối với người lao động bình thường theo quy định hoặc theo thỏa thuận giữa hai bên

Trang 6

2.4 Đối với lao động khuyết tật

Khoản 1 điều 176 Bộ luật Lao động năm 2012 quy định: “Nhà nước bảo trợ quyền lao động, tự tạo việc làm của lao động là người khuyết tật, có chính sách khuyến khích và ưu đãi người sử dụng lao động tạo việc làm và nhận lao động là người khuyết tật vào làm việc, theo quy định của Luật Người khuyết tật” Khoản 2 Điều 176 Bộ luật Lao động 2012 quy định: “Chính phủ quy định chính sách cho vay vốn ưu đãi từ Quỹ quốc gia về việc làm đối với người sử dụng lao động sử dụng lao động là người khuyết tật” Đối với cơ sở dạy nghề, tổ chức dạy nghề cho người khuyết tật có trách nhiệm bảo đảm điều kiện dạy nghề cho người khuyết tật

Nhà nước còn có những ưu đãi đối với doanh nghiệp, tổ chức sử dụng lao động khuyết tật (theo quy định tại điều 9 Nghị định 28/2012/NĐ-CP)

Tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Lao động 2012 quy định: " cấm sử dụng lao động là người khuyết tật suy giảm khả năng lao động từ 51% trở lên làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm "

Người sử dụng lao động phải có trách nhiệm trong việc bảo đảm về điều kiện lao động, vệ sinh lao động phù hợp với người khuyết tật và thường xuyên chăm sóc sức khỏe cho họ Khoản 1 điều 177 Bộ luật lao động 2012 quy định:

"Người sử dụng lao động phải bảo đảm về điều kiện lao động, công cụ lao động, an toàn lao động, vệ sinh lao động phù hợp với lao động là người khuyết tật và thường xuyên chăm sóc sức khoẻ của họ." Ngoài ra tại khoản 2 điều 178

Bộ Luật lao động 2012 quy định về các hành vi bị cấm khi sử dụng lao động là người khuyết tật trong đó có: "Sử dụng lao động là người khuyết tật làm những công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại theo danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp với Bộ Y

tế ban hành"

Trang 7

3 Sự cần thiết quy định chế độ bảo hộ với lao động đặc thù

Đối với người lao động Chế độ bảo hộ lao động đặc thù có ý nghĩa quan trọng trong bảo vệ và tạo điều kiện cho đối tượng lao động đặc thù vừa có thể tham gia quan hệ lao động lại không ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất và tinh thần của họ, bảo hộ lao động đặc thù cho phép đối tượng này tham gia vào những quan hệ lao động phù hợp với sức khỏe và năng lực của họ, đồng thời bảo vệ họ khỏi bị lạm dụng sức lao động Đồng thời góp phần nâng cao trách nhiệm của người sử dụng lao động đối với lao động đặc thù như việc chăm lo cải thiện điều kiện lao động, đảm bảo nơi làm việc an toàn, vệ sinh và vấn đề tiền lương phù hợp để đảm bảo người lao động đặc thù được bình đẳng trong quan hệ lao động Không những vậy, chế độ bảo hộ lao động đặc thù là cơ sở quan trọng giúp người lao động đặc thù bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình khi họ bị xâm hại, bị lạm dụng

Đối với người sử dụng lao động Chế độ bảo hộ lao động đặc thù không

có ý nghĩa nổi bật như đối với người lao động những cũng có những ý nghĩa nhất định đối với người sử dụng lao động Trên cơ sở quy định của pháp luật thì buộc người sử dụng lao động phải cân nhắc việc thuê lao động đặc thù, bởi lẽ để đảm bảo những điều kiện bảo hộ cần thiết cho người lao động đặc thù sẽ phức tạp hơn so với lao động thông thường nên phải lựa chọn sử dụng lao động hợp

lý trên cơ sở không vi phạm chế độ bảo hộ lao động và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật Đồng thời chế độ bảo hộ lao động khuyến khích lao động đặc thù tham gia lao động thì cũng có những chính sách ưu đãi hơn cho những người sử dụng sức lao động của đối tượng lao động đặc thù đó

Đối với nhà nước và xã hội Chế độ bảo hộ lao động đặc thù tạo hành lang pháp lý chung là cơ sở để phát triển quan hệ lao động, bên cạnh đó góp phần thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển, nhờ khuyến khích người lao động đặc thù tham gia lao động, dùng sức lao động của mình góp phần làm tăng lợi ích

Trang 8

vật chất cho xã hội, đồng thời giảm bớt gánh nặng cho xã hội trong những chi phí phúc lợi, trợ cấp người tàn tật,…

4 Thực tiễn áp dụng pháp luật

Chế độ bảo hộ lao động đặc thù ngày càng được quan tâm và thực hiện mang lại hiệu quả trên thực tiễn, các chính sách ưu đãi và bảo đảm làm việc cho lao động đặc thù được triển khai và thực hiện có sự giám sát của Nhà nước, thông qua đó lao động đặc thù về cơ bản nắm được cơ chế bảo hộ đối với mình

để không bị mất quyền lợi khi tham gia vào quan hệ lao động Bên cạnh đó, về phía người sử dụng lao động cũng đã có những điều chỉnh tích cực đối với điều kiện làm việc cũng như những ưu đãi cho đối tượng lao động đặc thù phù hợp với nội dung của pháp luật, đặc biệt những thay đổi của Bộ luật lao động 2012

Tuy nhiên, với địa vị là những người yếu thế hơn trong quan hệ lao động

và sự thiếu sót của quá trình giám sát thì những lao động đặc thù vẫn phải chịu đựng sự bất công, đó là những trường hợp mà chế độ bảo hộ lao động không được áp dụng hiệu quả và đúng với mục đích mà pháp luật đặt ra Trên thực tế vẫn còn rất nhiều trường hợp lợi dụng lao động chưa thành niên làm việc nặng nhọc với đồng lương ít ỏi, hoặc trường hợp đuổi việc đối với phụ nữ có thai hoặc trước khi tham gia vào công việc có sự cam kết không mang thai trong một thời gian nhất định,… Bên cạnh đó, hiện nay các công ty và doanh nghiệp triển khai sử dụng lao động có thời hạn, đặc biệt đối với phụ nữ và gần như không có

cơ hội làm việc cho lao động cao tuổi, cùng với đó là chế độ làm việc lương thấp buộc người lao động muốn có lương cao phải làm thêm ngoài giờ, đó như một hình thức giờ làm thêm mà vẫn phù hợp với quy định của pháp luật Ngoài

ra, thực tế cũng cho thấy chúng ta còn thiếu các chính sách về khuyến khích và tạo cơ hội việc làm cho lao động khuyết tật, những người khuyết tật rất khó để

có thể kiếm được việc làm và cũng rất ít công việc dành cho họ, về vấn đề này thì Nhà nước vẫn chưa thực sự làm tốt, phần lớn người khuyết tật không có việc làm, chính vì vậy các chế độ bảo hộ lao động đối với lao động khuyết tật còn ít

Trang 9

được triển khai trên thực tế Cùng với đó, đối với lao động có trình độ cao thì việc áp dụng chế độ bảo hộ lao động cũng còn nhiều vướng mắc bởi ngay trong các tiêu chí để xác định lao động trình độ cao cũng đã gây ra tranh cãi, và nhiều khi chính chế độ bảo hộ này lại gây bất lợi khi tìm kiếm việc làm đối với người lao động, chẳng hạn như trường hợp khá phổ biến trong nhiều năm gần đây, đó

là chỉ tuyển người động có trình độ trung cấp hoặc tốt nghiệp trung học phổ thông làm việc để hạn chế việc áp dụng chế độ bảo hộ đối với người lao động trình độ cao, vì thế mà nhiều người đã phải “dấu” bằng đại học để tìm việc làm, ảnh hưởng lớn đến lợi ích của người lao động

Như vậy, có thể thấy bên cạnh mặt tích cực mà chế độ bảo hộ lao động đặc thù mang lại thì vẫn còn tồn tại rất nhiều bất cập trong việc thực hiện được

nó trên thực tiễn Để khắc phục và hoàn thiện hơn nữa thì đòi hỏi Nhà nước phải nhìn nhận và thay đổi, triển khai, giám sát có hiệu quả hơn trên thực tế chứ không phải chỉ bằng các đánh giá đơn thuần qua văn bản, cùng với đó người sử dụng lao động cũng phải tiếp nhận và thực hiện có thiện chí và chịu trách nhiệm nếu không đảm bảo chế độ bảo hộ lao động nói chung và chế độ bảo hộ lao động đặc thù nói riêng Bên cạnh đó, người lao động cũng nên chủ động tự bảo

vệ quyền lợi cho mình và liên hệ với cơ quan, tổ chức để có được sự giúp đỡ khi quyền lợi của mình bị xâm phạm

II Giải quyết tình huống về kỉ luật lao động

1 Nhận xét quyết định sa thải C của công ty X

Một quyết định sa thải đúng pháp luật phải đảm bảo tính hợp pháp về lý

do cũng như thủ tục sa thải Nếu vi phạm một trong hai hoặc cả hai điều này thì

sa thải đó là trái pháp luật Chính vì vậy, để xét tính hợp pháp trong quyết định

sa thải anh C của công ty X, ta phải xem xét cả lí do sa thải và thủ tục sa thải của công ty X có hợp pháp hay không

Về lí do sa thải, có thể thấy trong tình huống đó là do đến tháng 5/2017 (trong thời hạn hợp đồng lao động vẫn còn hiệu lực), anh C đã xin phép nghỉ 6

Trang 10

ngày để về quê chăm sóc vợ đang ốm, nhưng không được giám đốc công ty đống ý, C đã tự ý nghỉ việc hay nói cách khác C là “người lao động tự ý bỏ việc” 6 ngày Khoản 3 Điều 126 Bộ luật lao động 2012 đã quy định “Người lao động tự ý bỏ việc 05 ngày cộng dồn trong 01 tháng hoặc 20 ngày cộng dồn trong 01 năm mà không có lý do chính đáng” là một trong các trường hợp luật định người sử dụng lao động được phép áp dụng hình thức kỷ luật sa thải Bộ luật lao động 2012 và Nghị định số 05/2015/NĐ-CP cũng đã quy định các Các trường hợp được coi là có lý do chính đáng bao gồm: thiên tai, hoả hoạn, bản thân, thân nhân (bao gồm bố đẻ, mẹ đẻ, bố nuôi, mẹ nuôi, bố vợ, mẹ vợ, bố chồng, mẹ chồng, vợ hoặc chồng, con đẻ, con nuôi hợp pháp) bị ốm có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền và các trường hợp khác được quy định trong nội quy lao động Trong tình huống, C tự ý bỏ việc với lí do để

về quê chăm sóc vợ đang ốm, vì vậy nếu như C có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền thì hành vi tự ý bỏ việc của C sẽ là có lí do chính đáng và không thuộc trường hợp bị áp dụng hình thức kỉ luật xa thải theo Điều 126 Bộ luật lao động 2012, ngược lại, nếu C không có lí do chính đáng thì

lí do sa thải của công ty X sẽ là hợp pháp

Tiếp đó, về thủ tục sa thải, theo quy định tại Điều 123, Điều 124 Bộ luật lao động 2012 thì quyết định sa thải phải tuân theo những trình tự, thủ tục nhất định về thời hiệu xử lý kỉ luật, thẩm quyền xử lý kỉ luật và thủ tục xử lý kỉ luật Trong tình huống, quyết định sa thải C của công ty X đã đáp ứng các yêu cầu về thời hiệu, thẩm quyết xử lí kỉ luật, riêng đối với trình tự, thủ tục xử lí kỉ luật, cần làm rõ tính hợp pháp ở chỗ “Công ty X đã họp xử lí kỉ luật vắng mặt C”, vì theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 123 “NLĐ phải có mặt và có quyền tự bào chữa cho mình hoặc nhờ người khác bào chữa” và Khoản 2 Điều 30 Nghị định 05/2015/NĐ-CP cũng quy định “Cuộc họp xử lý kỷ luật lao động được tiến hành khi có mặt đầy đủ các thành phần tham dự được thông báo theo quy định tại Khoản 1 Điều này Trường hợp người sử dụng lao động đã 03 lần thông báo

Ngày đăng: 13/12/2017, 20:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w