MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của bài nghiên cứu Tăng trưởng kinh tế là một trong những vấn đề cốt lõi của lý luận về phát triển kinh tế. Tăng trưởng và phát triển kinh tế là mục tiêu hàng đầu của tất cả các nước trên thế giới, là thước đo chủ yếu về sự tiến bộ trong mỗi giai đoạn của mỗi quốc gia. Mục tiêu tổng quát của kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm giai đoạn 20112015, cụ thể là: “Phát triển kinh tế nhanh, bền vững, gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả sức cạnh tranh. Bảo đảm phúc lợi xã hội và an sinh xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Tăng cường hoạt động đối ngoại và nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế. Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội, tạo nền tảng đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Trong 23 năm đầu Kế hoạch tập trung thực hiện mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, tăng trưởng ở mức hợp lý và tiến hành khởi động mạnh mẽ cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, 23 năm tiếp theo bảo đảm hoàn thành cơ bản cơ cấu lại nền kinh tế để phát triển nhanh và bền vững, hài hòa giữa mục tiêu tăng trưởng, ổn định kinh tế vĩ mô và an sinh xã hội”. Muốn Việt Nam đứng vững trên con đường phát triển thì cần phải hiểu đúng nghĩa về tăng trưởng kinh tế. Vì vậy nhóm em xin trình bày về vấn đề: “ Tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam”. Qua những con số về tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam trong những năm gần đây, từ đó đánh lại chung, khái quát lại tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam và đưa ra những gợi ý để phát triển kinh tế những năm tiếp theo. 2. Mục tiêu của bài nghiên cứu 2.1. Mục tiêu chung Bài nghiên cứu lựa chọn và bổ sung một số cơ sở khoa học phù hợp về tăng trưởng kinh tế và đề xuất các giải pháp chủ yếu để hoàn thiện hơn về vấn đề tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam. 2.2. Mục tiêu cụ thể Xây dựng cơ sở lý luận về tăng trưởng kinh tế Đánh giá hiện trạng về vấn đề tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam những năm gần đây. Đề xuất giải pháp để Việt Nam tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ trong các năm tiếp theo.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của bài nghiên cứu
Tăng trưởng kinh tế là một trong những vấn đề cốt lõi của lý luận về phát triểnkinh tế Tăng trưởng và phát triển kinh tế là mục tiêu hàng đầu của tất cả các nước trênthế giới, là thước đo chủ yếu về sự tiến bộ trong mỗi giai đoạn của mỗi quốc gia
Mục tiêu tổng quát của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm giai đoạn
2011-2015, cụ thể là: “Phát triển kinh tế nhanh, bền vững, gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả sức cạnh tranh Bảo đảm phúc lợi xã hội và an sinh xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân Tăng cường hoạt động đối ngoại và nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững
an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội, tạo nền tảng đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại Trong 2-3 năm đầu Kế hoạch tập trung thực hiện mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, tăng trưởng ở mức hợp
lý và tiến hành khởi động mạnh mẽ cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, 2-3 năm tiếp theo bảo đảm hoàn thành cơ bản cơ cấu lại nền kinh tế để phát triển nhanh và bền vững, hài hòa giữa mục tiêu tăng trưởng, ổn định kinh tế vĩ mô và an sinh xã hội” Muốn Việt Nam đứng vững trên con đường phát triển thì cần phải hiểu
đúng nghĩa về tăng trưởng kinh tế
Vì vậy nhóm em xin trình bày về vấn đề: “ Tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam”.
Qua những con số về tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam trong những năm gần đây, từ đóđánh lại chung, khái quát lại tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam và đưa ra những gợi ý đểphát triển kinh tế những năm tiếp theo
2 Mục tiêu của bài nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Bài nghiên cứu lựa chọn và bổ sung một số cơ sở khoa học phù hợp về tăngtrưởng kinh tế và đề xuất các giải pháp chủ yếu để hoàn thiện hơn về vấn đề tăng trưởngkinh tế ở Việt Nam
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Xây dựng cơ sở lý luận về tăng trưởng kinh tế
- Đánh giá hiện trạng về vấn đề tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam những năm gầnđây
- Đề xuất giải pháp để Việt Nam tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ trong các năm tiếptheo
3 Giới hạn của bài nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Trang 2Đối tượng nghiên cứu là tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Nghiên cứu cả về mặt lý luận và thực tiễn về tăng trưởng kinh tế.Bài nghiên cứu có sử dụng số liệu từ năm 2011-2016 để giải thích thực trạng tăng trưởngkinh tế của Việt Nam, từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm tăng trưởng kinh tế ở ViệtNam trong những năm tiếp theo (đặc biệt là giai đoạn 2017-2020)
Trang 3B NỘI DUNG PHẦN I CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
1 Tăng trưởng kinh tế và ý nghĩa của tăng trưởng kinh tế
1.1 Khái niệm về tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng sản phẩm quốc gia (GNP) hoặc quy mô sản lượng quốc gia tính bình quân đầu người (PCI) trong một thời gian nhất định.
Sự tăng trưởng được so sánh theo các thời điểm liên tục trong một giai đoạn nhấtđịnh cụ thể, từ đó sẽ cho ta khái niệm về tốc độ tăng trưởng Đó là sự tăng của sản lượngnhanh hay chậm so với thời điểm gốc so sánh
Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là giá trị tính bằng tiền của tất cả sản phẩm và
dịch vụ cuối cùng được sản xuất tạo ra trong phạm vi một nền kinh tế trong một khoảngthời gian nhất định thường là một năm tài chính
Tổng sản phẩm quốc gia (GNP) là giá trị tính bằng tiền của tất cả sản phẩm và
dịch vụ cuối cùng được tạo ra bởi công dân một nước trong một khoảng thời gian nhấtđinh (thường là một năm) Tổng sản phẩm quốc dân bằng tổng sản phẩm quốc nội cộngvới thu nhập ròng
Tổng sản phẩm bình quân đầu người (PCI) là tổng sản phẩm quốc nội chi cho
dân số Tổng thu nhập bình quân đầu người là tổng sản phẩm quốc dân chi cho dân số
1 2 Phương pháp đo lường tăng trưởng kinh tế
1.2.1 Tổng sản phẩm trong nước (hay tổng sản phẩm quốc nội – GDP)
- Về phương diện tiêu dùng: thì GDP biểu hiện ở toàn bộ hàng hoá và dịch vụ cuốicùng tính theo giá hiện hành của thị trường được tạo ra trên phạm vi lãnh thổ quốc giahàng năm
GDP=C + I + G + (X-M)
+ C: Tiêu dùng của hộ gia đình
+ I: Đầu tư cho sản xuất của các doanh nghiệp
+ Cp: Các khoản hộ gia đình được quyền tiêu dùng
+ Ip: Tiết kiệm mà doanh nghiệp dùng để đầu tư, bao gồm cả thuế khấu hao
+ T: Chi tiêu của Nhà nước từ nguồn thu thuế
Trang 4GDP theo cách xác định trên đã thể hiện là một thước đo sự tăng trưởng kinh tế docác hoạt động sản xuất trong phạm vi lãnh thổ quốc gia tạo ra, không phân biệt sở hữutrong hay ngoài nước đối với kết quả đó Do vậy, GDP phản ánh chủ yếu khả năng sảnxuất của nền kinh tế một nước.
1.2.2 Tổng sản phẩm quốc dân (GNP)
GNP là thước đo sản lượng gia tăng mà nhân dân của một nước thực sự thu nhậpđược So với GDP thì GNP chênh lệch một khoản thu nhập tài sản với nước ngoài
GNP = GDP + Thu nhập tài sản ròng từ nước ngoài
Như vậy, với ý nghĩa là thước đo thu nhập của nền kinh tế với sự tăng lên của GNP thực tế đó chính là sự gia tăng tăng trưởng kinh tế, nó nói lên hiệu quả của các hànhđộng kinh tế đem lại
GNP thực tế là GNP được tính theo giá cố định nhằm phản ánh đúng sản lượng
gia tăng hàng năm, loại trừ những sai lệch do biến động giá cả tạo ra Khi GNP tính theo giá thị trường thì đó là GNP danh nghĩa
Trang 51.2.3 Thu nhập bình quân đầu người
Thu nhập bình quân đầu người được tính bằng cách chia tổng thu nhập của hộ
dân cư cho số nhân khẩu của hộ
Là chỉ tiêu kinh tế xã hội quan trọng nhằm phản ánh mức thu nhập và cơ cấu thunhập của các tầng lớp dân cư để đánh giá mức sống, phân hóa giàu nghèo, tính tỷ lệnghèo làm cơ sở cho hoạch định chính sách nhằm nâng cao mức sống của người dân, xóađói giảm nghèo
Khả năng nâng cao phúc lợi vật chất cho nhân dân một số nước, không chỉ là tăngsản lượng của nền kinh tế, mà còn liên quan đến vấn đề dân số - con người Nó tỷ lệthuận với qui mô sản lượng và tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ nghịch với dân số và tốc độtăng trưởng dân số tự nhiên hằng năm Do vậy chỉ số thu nhập bình quân đầu người làmột chỉ số thích hợp hơn để phản ánh sự tăng trưởng và phát triển kinh tế
1.3 Ý nghĩa của tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế làm cho mức thu nhập của dân cư, tăng cao phúc lợi xã hội,chất lượng cuộc sống của người đân được cải thiện: Văn hóa, giáo dục, y tế … phát triển
Tăng trưởng kinh tế tạo ra điều kiện rất lớn giải quyết vấn đề công ăn việc làm,giảm thất nghiệp Từ đó thu nhập được cải thiện, thu nhập tăng, đời sống người lao độngđược nâng cao
Tăng trưởng kinh tế là tiền đề rất to lớn về vật chất, tiền lực kinh tế củng cố anninh quốc phòng, củng cố chế độ chính trị, nâng cao uy tín và vai trò quản lý của nhànước đối với xã hội
Như vậy, tăng trưởng kinh tế nhanh là mục tiêu thường xuyên của mỗi quốc giatrên thế giới nhưng không phải vì vậy mà theo đuổi mục tiêu tăng trưởng kinh tế bằngmọi giá Thực tế cho thấy không phải bất kì sự tăng trưởng kinh tế nào cũng mang lạihiệu quả kinh tế - xã hội như mong muốn, chẳng hạn như tăng trưởng kinh tế làm chongười dân giàu lên nhưng đi kèm với nó là sự phân hóa giàu nghèo ngày càng cao haytăng trưởng kinh tế quá cao (tăng trưởng nóng) gây ra lạm phát…Vì vậy, mỗi quốc gia,mỗi chính phủ trong mỗi thời kỳ cần tìm ra những biện pháp tích cực để đạt được sự tăngtrưởng kinh tế hợp lý và bền vững
2 Các yếu tố quyết định đến tăng trưởng kinh tế
2.1 Các yếu tố kinh tế
2.1.1 Nguồn nhân lực (L)
Trang 6Con người: trong tất cả các yếu tố tham gia vào quá trình lao động sản xuất tạo rasản phẩm, giá trị cuối cùng, sức lao động là yếu tố quyết định, mang tính sáng tạo, lànguồn lực thiết yếu của mỗi quá trình Có thể nói: “nguồn lực con người là nguồn lực tolớn trong mọi nguồn lực”, là “tài nguyên vô cùng quý giá” Vì vậy, con người có sứckhoẻ, trí tuệ, tay nghề trình độ cao, có động lực và nhiệt huyết, được tổ chức chặt chẽ sẽ
là nhân tố cơ bản của tăng trưởng kinh tế bền vững
Để phát huy hết tiềm lực, khả năng nhân tố con người, chúng ta cần phải xác định:đầu tư cho con người về thực chất là đầu tư cho sự phát triển Nhà nước cần phải có chiếnlược phát triển con người, mà trước hết phải nâng cao về số lượng và chất lượng hệ thốnggiáo dục, y tế, bảo hiểm xã hội, bồi dưỡng nhân tài… cùng với việc quản lý và sử dụnghợp lý nguồn nhân lực
Nhân tố con người là sự biểu hiện và khẳng định vai trò của con người trên cả haiphương diện: tính cá thể và tính xã hội (cộng đồng) Vì vậy, nhà nước cần phải có cơ chế,chính sách thích hợp nhằm kết hợp sự nỗ lực của mỗi người với sự hỗ trợ của cộng đồng
xã hội để tạo ra động lực, lợi thế cho sự tăng trưởng kinh tế
Vốn, tư bản là yếu tố được trực tiếp sử dụng vào quá trình sản xuất Vốn, tư bảnbao gồm các máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải, nhà xưởng và cơ sở hạ tầng máymóc kỹ thuật Trong điều kiện các nhân tố khác không đổi thì tăng tổng số vốn sẽ làmtăng sản lượng
2.1.3 Tài nguyên thiên nhiên (R)
Tài nguyên thiên nhiên là những yếu tố sẵn có trong tự nhiên mà con người có thểkhai thác, chế biến và sử dụng để tạo ra các sản phẩm vật chất cần thiết tham gia vào quátrình tạo ra của cải vật chất xã hội
Trang 7Tài nguyên thiên nhiên là yếu tố thúc đẩy sản xuất phát triển, góp phần chuyểndịch cơ cấu kinh tế.
Trong giai đoạn đầu của các nước đang phát triển thường quan tâm đến việc xuấtkhẩu sản phẩm thô, đó là những sản phẩm có được từ nguồn tài nguyên chưa qua sơ chếhoặc ở dạng sơ chế Nguồn tài nguyên thiên nhiên là cơ sở để phát triển kinh tế nôngnghiệp, công nghiệp khai thác, công nghiệp chế biến
Tài nguyên thiên nhiên là yếu tố quan trọng tạo điều kiện thuận lợi cho quá trìnhtích luỹ vốn và phát triển ổn định Việc tích luỹ vốn đối với hầu hết các nước đòi hỏi phảitrải qua một quá trình lâu dài, liên quan chặt chẽ với tiêu dùng trong nước và thu hút vốnđầu tư nước ngoài Tuy nhiên với những nước đã được thiên nhiên ưu đãi nguồn tàinguyên lớn, đa dạng có thể rút ngắn quá trình tích luỹ vốn bằng cách khai thác các sảnphẩm thô để bán hoặc để đa dạng hoá nền kinh tế tạo nguồn vốn tích ban đầu cho sựnghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước Sự giàu có về tài nguyên, là cơ sở để pháttriển nhiều ngành kinh tế, ít bị phụ thuộc vào nguồn tài nguyên, vốn là một yếu tố không
ổn định trên thị trường thế giới Điều này cho phép những nước có nguồn tài nguyênphong phú có thể tăng trưởng trong những điều kiện ổn định.Trong khi những nước ítmay mắn hơn về tài nguyên phải căng thẳng để điều chỉnh sự lên xuống về giá cả khiphải nhập khẩu các nguồn nguyên liệu
2.1.4 Tri thức công nghệ (T)
Khoa học và công nghệ là nguồn lực quan trọng để tăng trưởng và phát triển kinh
tế Khoa học và công nghệ được coi là “chìa khóa” để mở ra cánh cửa tăng năng suất lao động, phát triển lực lượng sản xuất Nhờ ứng dụng những thành tựu khoa học và công nghệ đã làm cho chi phí về lao động, vốn, tài nguyên trên một đơn vị sản phẩm giảm xuống, hay nói cách khác, hiệu quả sử dụng của các yếu tố lao động, vốn, tài nguyên tănglên
Sự phát triển khoa học và công nghệ cho phép tăng trưởng và tái sản xuất mở rộngtheo chiều sâu, làm xuất hiện những ngành kinh tế có hàm lượng khoa học cao như: công nghệ điện tử, công nghệ thông tin, công nghệ hóa học, công nghệ sinh học,… đang là cơ hội và thách thức đối với các quốc gia hướng tới nền kinh tế tri thức Như vậy, khoa học
và công nghệ cũng là một yếu tố đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự tăng trưởng nhanh và bền vững
2.2 Các yếu tố phi kinh tế
2.2.1 Văn hóa xã hội
Trang 8Là một nhân tố quan trọng có ảnh hưởng đến nhiều quá trình phát triển của mỗiquốc gia Nói đến văn hoá dân tộc là một khái niệm rất rộng, bao hàm nhiều mặt từ các trithức phổ thông, đến các tích luỹ tinh hoa của nhân loại về khoa học nghệ thuật văn học,lối sống và cách ứng xử trong quan hệ giao tiếp, những tập tục tốt đẹp đã xây dựng đư-
ợc, mà mọi người thừa nhận từ lâu đời Mỗi quốc gia mỗi khu vực đều có một nền vănhóa, nét đặc trưng riêng của mỗi nơi Trình độ văn hoá cao đồng nghĩa với trình độ vănminh cao và sự phát triển cao của mỗi quốc gia
Nói cho cùng trình độ văn hoá của mỗi dân tộc là một nhân tố cơ bản nhất để tạo
ra các yếu tố về chất lượng của lao động, của kĩ thuật, của công nghệ, của trình độ quản líkinh tế - xã hội Vì thế trình độ văn hoá – xã hội cao là mục tiêu của sự phát triển Đểphát triển lâu dài và ổn định, đầu tư cho phát triển văn hoá được coi là đầu tư cần thiếtnhất và đi trước một bước so với đầu tư sản xuất
2.2.2 Thể chế chính trị
Thể chế chính trị của quốc gia tiến bộ có khả năng định hướng sự tăng trưởng kinh
tế vào những mục tiêu mong muốn, khắc phục được những nguyên nhân gây ra ô nhiễmmôi trường, phân hoá giàu nghèo sâu sắc… Bởi vì, trên thực tế đã từng xảy ra sự tăngtrưởng kinh tế không phát triển cùng chiều với tiến bộ xã hội Chẳng hạn, quá trình tăngtrưởng kinh tế ở các nước tư bản chủ nghĩa phát triển đã làm xuất hiện những vấn đề xãhội mà bản thân nền kinh tế dù có tiếp tục tăng trưởng hơn nữa cũng không thể giải quyếtđược những vấn đề xã hội cơ bản
Hệ thống chính trị mà đại diện là nhà nước có vai trò hoạch định đường lối, chiếnlược phát triển kinh tế – xã hội, cùng hệ thống chính sách đúng đắn sẽ hạn chế được tácđộng tiêu cực của cơ chế thị trường, khuyến khích tích luỹ, tiết kiệm, kích cầu… làmcho nền kinh tế tăng trưởng nhanh, đúng hướng
Một đất nước có nền chính trị ổn định sẽ là môi trường lý tưởng thu hút các nhàđầu tư trong nước cũng như nước ngoài đầu tư vào quốc gia đó Sự ổn định về chính trịtạo tâm ý yên tâm của các nhà đầu tư về vốn cũng như môi trường mà họ đầu tư từ đó tạotiền đề tăng trưởng kinh tế của quốc gia đó
2.2.3 Dân tộc tôn giáo
Trang 9Vấn đề tôn giáo đi đôi với vấn đề dân tộc, mỗi tộc người có thể theo một tôn giáo.Trong một quốc gia có thể có nhiều tôn giáo Mỗi đạo giáo có những quan niệm, triết lí
tư tưởng riêng, ăn sâu vào cuộc sống dân tộc từ lâu đời, tạo ra những ý thức tâm lí -xã hộiriêng của dân tộc Nhưng ý thức tôn giáo thường là cố hữu, ít thay đổi theo sự biến đổicủa sự phát triển của xã hội Những thiên kiến của tôn giáo nói chung thường có ảnh h-ưởng tới sự tiến bộ xã hội tuỳ theo mức độ, song có thể có sự hoà hợp, nên có chính sáchđúng đắn của Chính phủ
2.2.4 Nhà nước và khuôn khổ pháp lý
Nhân tố quan trọng trong quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế Nó thể hiệnnhư một lực lượng đại diện ý chí của một cộng đồng, nhằm điều chỉnh các mối quan hệkinh tế, chính trị, xã hội theo lợi ích của cộng đồng đặt ra Thể chế được thông qua cácmục tiêu phát triển dự kiến, các nguyên tắc quản lí kinh tế -xã hội, các luật pháp, các chế
độ, chính sách, các công cụ và bộ máy tổ chức thực hiện
Một thể chế chính trị xã hội ổn định và mềm dẻo sẽ tạo điều kiện đổi mới liên tục
cơ cấu và công nghệ sản xuất phù hợp với những điều kiện thực tế, tạo ra tốc độ tăngtrưởng và phát triển nhanh chóng Ngược lại một thể chế không phù hợp, sẽ gây ra nhữngcản trở, mất ổn định thậm chí đi đến chỗ phá vỡ những quan hệ kinh tế cơ bản làm chonền kinh tế đi vào tình trạng suy thoái, khủng hoảng trầm trọng hoặc gây ra xung độtchính trị, xã hội Một thể chế phù hợp với phát triển hiện đại phải thể hiện ở các mặt:
+ Phải có tính năng động, linh hoạt, mềm dẻo luôn thích nghi được với những biếnđộng phức tạp do tình hình thế giới và trong nước khó lường trước
+ Phải đảm bảo sự ổn định của đất nước, khắc phục được những mâu thuẫn vàxung đột có thể xảy ra trong quá trình phát triển
+ Phải tạo cho nền kinh tế mở một sự hoạt động có hiệu quả, nhằm tranh thủ đượcvốn đầu tư và công nghệ tiên tiến của thế giới, là cơ sở của sự tăng tốc trong quá trìnhphát triển
+ Tạo ra một sự kích thích mạnh mẽ mọi tiềm lực vật chất trong nước hướng vàođầu tư cho sản xuất và xuất khẩu
+ Tạo được đội ngũ đông đảo những người có năng lực quản lí, có trình độ khoahọc kĩ thuật tiên tiến đủ sức lựa chọn và áp dụng những thành công các kĩ thuật và côngnghệ tiên tiến vào sản xuất trong nước, cũng như đổi mới cơ chế quản lí kinh tế
Dù quan trọng đến đâu, thể chế cũng chỉ tạo điều kiện thúc đẩy sự tăng trưởng, tức
là tạo ra những điều kiện thuận lợi để hướng các hoạt động theo hướng có lợi và hạn chếcác mặt bất lợi
3 Các lý thuyết về tăng trưởng kinh tế
3.1 Mô hình tăng trưởng ngoại sinh
Trang 103.1.1 Mô hình tăng trưởng Solow
Mô hình Solow-Swan là mô hình tăng trưởng ngoại sinh, một mô hình kinh tế về tăng trưởng kinh tế dài hạn được thiết lập dựa trên nền tảng và khuôn khổ của kinh tế họctân cổ điển Mô hình này được đưa ra để giải thích sự tăng trưởng kinh tế dài hạn bằng cách nghiên cứu quá trình tích lũy vốn, lao động hoặc tăng trưởng dân số, và sự gia tăng năng suất, thường được gọi là tiến bộ công nghệ Bản chất của nó là hàm tổng sản xuất tân cổ điển, thường là dưới dạng hàm Cobb-Douglas
Mô hình Solow là sự phát triển rộng hơn của mô hình Harrod – Domar,với việc xem xét cả tác động của lao động, công nghệ, tỷ lệ các yếu tố và tăng trưởng
Các giả thiết của mô hình:
- Nền KT có một đầu ra đồng nhất, duy nhất (Y hay GDP) được sản xuất bằng 2 loại đầu vào là tư bản (K) và lao động (L)
- Nền KT là cạnh tranh và luôn hoạt động ở mức toàn dụng nhân công, do đó có thể phân tích mức tăng trưởng của sản lượng tiềm năng
- Đồng nhất dân số và lực lượng lao động
- Hàm sản xuất Cobb – Douglas ổn định, tức là công nghệ không thay đổi, và có hiệu suất không đổi theo quy mô
- Vốn và lao động tuân theo quy luật năng suất cận biên thay đổi theo quy mô
Tiếp cận mô hình:
Vì hàm sản xuất có dạng: Y = AKαL1-α nên ta có thể viết lại như sau:
Y/L= A*Kα/Lα
Đặt K/L=k, Y/L=y ta có hàm: y=Akα= f(k) được gọi là hàm sản xuất APF
Ngoài ra, trong quá trình sản xuất, có một khoản chi phí phải bỏ ra cho việc duy trì, sửa chữa máy móc, nhà xưởng, chi phí này gọi là khấu hao của tư bản Đầu tư làm tư bản tăng lên còn khấu hao làm tư bản giảm xuống
Giả sử tỷ lệ khấu hao là δ thì lượng tư bản khấu hao hàng năm là δK và tư bản khấu hao bình quân một công nhân là δk
Các nhân tố tác động đến tăng trưởng kinh tế theo mô hình Solow:
- Tăng khối lượng tư bản và trạng thái dừng
Ta sẽ xem xét tác động của đầu tư và khấu hao đến sản lượng trong điều kiện tăng trưởng kinh tế bằng 0
Tại trạng thái dừng, do vốn không đổi, duy ra sản lượng, tiết kiệm và
tiêu dùng là hằng số, nền kinh tế không có tăng trưởng
Trang 11- Tăng tiết kiệm
k1* k2* k
Tại trạng thái dừng k*, nếu tỷ lệ tiết kiệm tăng lên sẽ làm đầu tư tăng và đầu tư trởlên lớn hơn so với khấu hao tại trạng thái k* đó, do đó cả k và y đều tăng Từ đó có thểthấy, tỷ lệ tiết kiệm là nhân tố đóng vai trò quan trọng trong quyết định khối lượng tư bản
và sản lượng dừng Tuy nhiên quá trình này kéo dài cho đến khi nền kinh tế đạt trạng tháidừng mới, có nghĩa là tỷ lệ tiết kiệm cao hơn không mang lai tăng trưởng kinh tế trongdài hạn
- Trạng thái dừng theo quy tắc vàng
Nếu coi phúc lợi kinh tế phụ thuộc vào tiêu dùng thì trạng thái dừng tốt nhất làtrạng thái dừng tại đó mức tiêu dùng cao nhất, ký hiệu là cg* Trạng thái này được gọi làtrạng thái dưng theo quy tắc vàng (Gold Rule), gọi tắt là trạng thái vàng
* Ý nghĩa của mô hình tăng trưởng Solow
- Các nước nghèo có tiềm năng tăng trưởng nhanh
- Khi thu nhập quốc gia tăng lên, tăng trưởng có xu hướng chậm lại
Trang 12- Nếu có chung những tính chất quan trọng, các nước nghèo có tiềm năng đuổi kịpcác nước giàu.
- Tăng tỷ lệ tiết kiệm không dẫn đến tăng trưởng bền vững dài hạn
- Tiếp thu công nghệ mới là yếu tố quyết định đến tăng trưởng kinh tế bền vững
* Ưu điểm của mô hình Solow
- Linh hoạt hơn về tỷ lệ của các biến yếu tố sản xuất
- Hiệu suất biên giảm dần của vốn có ý nghĩa thực tế và chính xác hơn
- Tập trung vào quá trình di chuyển về trạng thái dừng
* Hạn chế của mô hình Solow
- Không phân tích được ảnh hưởng khác có tác động đến trạng thái dừng (ổn địnhkinh tế và chính trị, giáo dục và y tế tốt, chính phủ hiệu quả, mở cửa thương mại, vị tríđịa lý thuận lợi )
Đặt K là thước đo tổng hợp của vốn, hàm sản xuất có dạng tuyến tính
Trang 133.2.2 Mô hình Lucas giản đơn – mô hình tăng trưởng hai khu vực
Mô hình tăng trưởng hai khu vực hay còn gọi là mô hình “Học hay làm”
( Learning – or – doing model) được xây dựng dựa trên giải thiết:
Giả sử một nền kinh tế có 2 khu vực:
- Khu vực sản xuất (gồm các doanh nghiệp): các doanh nghiệp sản xuất ra hàng hóa và dịch vụ
- Khu vực giáo dục (gồm các trường dạy học, các viện nghiên cứu): các trường đạihọc và viện nghiên cứu sản xuất ra “kiến thức”
Nền kinh tế được mô tả bằng hai hàm sản xuất:
Y K 1 uH1
Trong đó: u : tỷ lệ lao động làm trong khu vực giáo dục
(1 – u) : tỷ lệ lao động làm việc trong khu vực sản xuất
E : lượng kiến thức (quyết định hiệu quả lao động)Như vậy, thu nhập của khu vực SX phụ thuộc
- Kết quả của tích luỹ vốn vật chất (K) Vốn vật chất được tích luỹ theo quy luậtvận động thông thường Phương trình tích luỹ vốn: ∆K = sY – Δkk
- Hiệu quả tích lũy vốn của khu vực giáo dục thể hiện ở số lao động hiệu quả trongkhu vực sản xuất
Vốn con người được tạo ra thông qua giáo dục và kiến thức hiện có là yếu tố chủyếu tạo ra giáo dục Do đó, chúng ta giả định vốn con người tương lai được sản xuất rachỉ nhờ chính vốn con người chứ không phải vốn vật chất Sự gia tăng vốn con ngườitương lai phụ thuộc vào thời gian 1 – u được sử dụng vào giáo dục
3 Những chính sách thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
3.1 Chính sách khuyến khích tiết kiệm và đầu tư trong nước
Cách để nâng cao năng suất trong tương lai là đầu tư nguồn lực hiện có nhiều hơnvào quá trình sản xuất hàng hóa đầu tư: mỗi quốc gia có nhưng nguồn lực hiện hữu nộitại khác nhau, nguồn lực này vô cùng to lớn Chính phủ cần có những chính sách ưu tiênthúc đẩy đầu tư trong nước, tạo môi trường cạnh tranh công bằng để tăng cường vốn đầu
tư trong nước của các nhà đầu tư
Nguồn lực khan hiếm nên buộc phải hy sinh tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ hiện tại
để hưởng mức tiêu dùng cao hơn trong tương lai
3.2 Chính sách thu hút đầu tư nước ngoài
* Nguồn vốn FDI
Ngoài tăng cường thu hút vốn FDI thì điều quan trọng là phải nâng cao hiệu quả
sử dụng vốn FDI đã thu hút được, làm cho vốn đã thực hiện phát huy hiệu quả cao nhất
Trang 14và mang lại lợi nhuận cao nhất cho nhà đầu tư cũng như mang lại lợi ích cho quốc gia Các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư nước ngoài:
- Nâng cao chất lượng công tác, xây dựng chiến lược đầu tư
- Cải tiến công tác quản lý dự án trong quá trình thực hiện dự án.\
- Nâng cao chất lượng công tác tư vấn, khảo sát thiết kế và xây dựng dự án
- Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ tham gia quá trình đầu tư xây dựng
* Nguồn vốn ODA
Cần có chính sách, định hướng thu hút sử dụng ODA hiệu quả
- Phát triển nông nghiệp – nông thôn gắn với xóa đói giảm nghèo góp phần thựchiện chương trình tăng trưởng kinh tế toàn diện
- Ưu tiên sử dụng ODA cho giao thông vận tải, cải thiện điều kiện cấp thoát nước
và vệ sinh môi trường
- Trong lĩnh vực năng lượng, vốn ODA dùng để hỗ trợ phát triển hệ thống đườngdây, trạm biến thế, lưới điện phân phối …
- Tập trung sử dụng vốn ODA cho các dự án nâng cao chất lượng giáo dục, y tế,chất lượng cuộc sống của người dân
3.3 Chính sách về vốn nhân lực
Đầu tư phát triển nguồn nhân lực để nâng cao chất lượng tăng trưởng Cần đầu tưcho cho giáo dục và đào tạo với tỷ trọng phù hợp Coi trọng đầu tư cho giáo dục đào tạovới quan điểm “đầu tư cho giáo dục là quốc sách” , tiếp tục mở rộng nâng cao chất lượnggiáo dục đào tạo ở các cấp
Nâng cao trình độ văn hóa, trình độ nhận thức cho người lao động
Chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý trong các cơ sở đào tạo cũng cầnđược nâng cao trên tất cả các mặt như phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn
Đặc biệt là đầu tư cho nguồn nhân lực có trình độ khoa học công nghệ cao, nắmbắt được nhanh chóng sự thay đổi của khoa học công nghệ, xây dựng và phát triển độingũ cán bộ có năng lực cao Bên cạnh đó cũng cần chú trọng đến nguồn nhân lực ở khuvực nông thôn Tiến hành đầu tư đồng bộ cơ sở vật chất kỹ thuật góp phần nâng cao chấtlượng tăng trưởng kinh tế
3.4 Chính sách mở của nền kinh tế