Ngày nay, để thực hiện chức năng dự báo ứng xử khai thác của vỉa, ta thường phải xây dựng các mô hình 3D của toàn mỏ bằng các phần mềm mô phỏng số (simulator) như ECLIPSE hay Tnavigator. Để xây dựng và hiệu chỉnh các mô hình này, đò i hỏi sự hợp tác toàn diện của các ngành chuyên môn khác nhau (Geoscience, RE, Production, Drilling… ), cùng biện luận để đảm bảo sự phù hợp của mô hình là công việc lâu dài và tốn nhiều thời gian, công sức với rất nhiều thông số khác nhau. Và đôi khi kết quả từ mô hình lại bị che lấp bởi rất nhiều các thông số, do đó người kỹ sư cần nhận thức được các quá trình thực đang xảy ra trong điều kiện vỉa hay nguyên nhân nào dẫn đến sự sai lệch của mô hình so với thực tế. Một cách tiếp cận khác là sử dụng phương pháp cân bằng vật chất, xây dựng các mô hình đơn giản hóa của vỉa bằng phần mềm MBAL (một phần mềm trong gói phần mềm Petroleum Expert của PETEX) để đánh giá các ứng xử động của vỉa trong quá trình khai thác. Phương pháp cân bằng vật chất xây dựng mô hình đơn giản hơn mô hình ECLIPSE nhưng vẫn có thể giúp ta hiểu được các quá trình trong vỉa một cách tương đối dễ dàng và nhanh chóng.
Trang 1viii
MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA i
NHIỆM VỤ ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP ii
PHIẾU NHẬN XÉT ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP iii
LỜI CAM KẾT v
TÓM TẮT ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP vi
LỜI CẢM ƠN vii
MỤC LỤC viii
DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ xi
DANH MỤC BẢNG BIỂU xv
DANH MỤC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT xvii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT PHƯƠNG PHÁP CÂN BẰNG VẬT CHẤT 3
1.1 Đặc tính PVT của chất lưu 3
1.2 Phương trình cân bằng vật chất (Material Balance Equations – MBE) 6
1.2.1 Giới thiệu lịch sử phương pháp cân bằng vật chất 6
1.2.2 Giả thiết và giới hạn của phương trình cân bằng vật chất 7
1.2.3 Xây dựng dạng tổng quát của phương trình cân bằng vật chất 9
1.3 Phương trình cân bằng vật chất biễu diễn các cơ chế năng lượng vỉa 13
1.4 Phương trình cân bằng vật chất dưới dạng phương trình đường thẳng 16
Trang 2ix
1.5 Phương pháp tìm nghiệm cho MBE dạng đường thẳng 17
1.5.1 Xác định N ở vỉa thể tích dưới bão hòa (Volumetric Undersaturated-Oil Reservoir) : 17
1.5.2 Vỉa dầu thể tích bão hòa (Volumetric Saturated-Oil Reservoir): 19
1.5.3 Vỉa dầu có mũ khí (Gas-Cap-Drive Reservoirs): 19
1.5.4 Vỉa dầu có nước áp lực (Water-Drive Reservoirs): 21
1.5.5 Vỉa dầu có cơ chế năng lượng tổng hợp (Combination-Drive Reservoirs): 28 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ PHẦN MỀM MBAL 30
2.1 Khả năng ứng dụng của phần mềm MBAL 30
2.2 Phương pháp cân bằng vật chất trong MBAL 31
2.3 Quy trình phân tích bằng phần mềm MBAL 32
2.2.1 Thu thập và kiểm tra tính chính xác của dữ liệu 34
2.2.2 Xây dựng mô hình MBAL 37
2.2.3 Khớp lịch sử (History Matching) 39
2.3.4 Mô phỏng (Simulation) 44
2.3.5 Dự báo (Prediction) 47
CHƯƠNG 3: GIỚI THIỆU VỀ MỎ X 49
3.1.1 Vị trí địa lý - kiến tạo 49
3.1.2 Địa tầng 50
3.1.3 Hệ thống dầu khí 51
3.2 Đặc điểm địa chất và tình trạng khai thác mỏ X 52
3.2.1 Vị trí địa lý, lịch sử phát triển và tổ chức khai thác mỏ 52
Trang 3x
3.2.2 Tình trạng khai thác mỏ X 56
CHƯƠNG 4: ÁP DỤNG PHẦN MỀM MBAL 58
4.1 Áp dụng phần mềm MBAL trong mỏ X 58
4.1.1 Mô hình tank trong MBAL 58
4.1.2 Nhập dữ liệu đầu vào 59
4.1.3 Phù hợp lịch sử (History matching) 66
4.1.4 Mô phỏng lịch sử (History simulation) 71
4.1.5 Dự báo khai thác 74
4.2 Đánh giá một số kết quả của MBAL 81
KẾT LUẬN & KIẾN NGHỊ 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
Trang 4xi
DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 1.1: Dầu và khí khai thác được nhờ sự giãn nở của dầu/khí trong một vỉa dầu [2]
3
Hình 1.2: Sự phụ thuộc của các thông số PVT vào áp suất [1] 5
Hình 1.3: Số liệu độ nhớt của dầu đo trong phòng thí nghiệm 5
Hình 1.4: Mô hình thùng chứa lý tưởng (Tank Model) [1] 9
Hình 1.5: Giản đồ năng lượng (Energy graph) 15
Hình 1.6: Phân loại vỉa [1] 18
Hình 1.7: F theo (Eo + Ew,f) [1] 18
Hình 1.8: F theo (Eo + mEg) [1] 19
Hình 1.9: (F/N − Eo) theo Eg [1] 20
Hình 1.10: (F/Eo) theo Eg /Eo [1] 21
Hình 1.11: Cấu trúc hình học của aquifer dạng Radial [1] 22
Hình 1.12: (F/Eo) theo (Δp/Eo) [1] 23
Hình 1.13: Thể tích nước xâm nhập KTN WeD phụ thuộc vào thời gian KTN tD và các giá trị tỷ số bán kình aquifer và bán kính vỉa re/rR [1] 25
Hình 1.14: Đường thẳng Havlena và Odeh [1] 26
Hình 1.15: Cambell plot [4] 28
Hình 1.16: Campbell Plot dùng trong MBAL [4] 29
Hình 2.1: So sánh hướng tiếp cận bằng cân bằng vật chất và mô phỏng số [7] 30
Hình 2.2: Minh họa mô hình tank chứa cân bằng vật chất [6] 31
Hình 2.3: Quy trình tính toán trên MBAL 33
Trang 5xii
Hình 2.4: Nhập tính chất chất lưu vỉa 34
Hình 2.5: Bảng PVT 34
Hình 2.6: Khớp dữ liệu PVT với các tương quan thực nghiệm được chọn 35
Hình 2.7: Thông số hàm Corey trong MBAL 36
Hình 2.8: Đường cong độ thấm tương đối 36
Hình 2.9: Xây dựng mô hình trên MBAL 37
Hình 2.10: Các thông số của vỉa chứa 38
Hình 2.11: Thông số và mô hình aquifer được chọn 38
Hình 2.12: Lịch sử khai thác 38
Hình 2.13: Lựa chọn các thông số không chắc chắn để hồi quy 40
Hình 2.14: Giản đồ Analytical đã khớp được lịch sử và mô hình 40
Hình 2.15: Phương pháp đồ thị tính OIIP 42
Hình 2.16: Giản đồ năng lượng 43
Hình 2.17: Giản đồ WD 44
Hình 2.18: Kết quả mô phỏng MBAL thể hiện sự khớp giữa mô phỏng và lịch sử áp suất và lượng dầu khai thác cộng dồn 44
Hình 2.19: Đường cong tốc độ dòng chảy tỷ đối (fractional flow curve) và đường cong độ thấm tương đối là hàm của độ bão hòa chất lưu [1] 46
Hình 2.20: Quy trình phù hợp dòng chảy tỷ đối (MBAL user manual, 2010) [6] 46
Hình 2.21: Khớp fw theo các điểm lịch sử và đường cong lý thuyết 47
Hình 2.22: Phương pháp khai thác và dự báo 47
Hình 2.23: Các giới hạn khai thác 48
Trang 6xiii
Hình 2.24: Thời điểm vận hành giếng 48
Hình 2.25: Chạy dự báo 48
Hình 3.1: Bản đồ các tỉnh địa chất bể Malay [5] 49
Hình 3.2: Cột địa tầng tổng hợp bể Malay [5] 50
Hình 3.3: Vị trí địa lý mỏ X [5] 53
Hình 3.4: Bản đồ biên độ địa chấn - cấu trúc nóc vỉa I-90U, mỏ X [5] 53
Hình 3.5: Mặt cắt địa chất hướng Tây - Đông qua tầng vỉa I-90U, mỏ X [5] 54
Hình 3.6: Bản đồ cấu trúc đẳng sâu nóc vỉa vỉa I-90U, mỏ X [5] 54
Hình 3.7: Log địa vật lý ở các giếng thăm dò cho mỏ X [5] 55
Hình 3.8: Vùng khai thác và bơm ép của các giếng trong mỏ X [5] 56
Hình 4.1: Tương quan địa chất và mô hình tank chứa của mỏ X xây dựng trên MBAL 59
Hình 4.2: Kết quả khớp tương quan thực nghiệm dữ liệu PVT của mỏ X 61
Hình 4.3: Áp suất vỉa Buildup test cho 4 giếng trong vỉa X [6] 62
Hình 4.4: Biến thiên áp suất trong 2 khối của vỉa [5] 64
Hình 4.5: Lịch sử khai thác trên toàn mỏ [5] 64
Hình 4.6: Hiệu quả bơm ép trên toàn mỏ [5] 65
Hình 4.7: Các đường cong độ thấm tương đối 66
Hình 4.8: Analytic method cho 2 tank thể hiện trên MBAL 67
Hình 4.9: Kết quả hồi quy phi tuyến 68
Hình 4.10: Kết quả dạng đường thẳng của cân bằng vật chất 69
Hình 4.11: Cơ chế năng lượng vỉa ở 2 Tank thể hiện trên MBAL 70
Trang 7xiv
Hình 4.12: Kết quả history simulation trên MBAL 72
Hình 4.13: Phù hợp tốc độ dòng chảy tỷ đối trong 2 Tank 73
Hình 4.14: VLP và IPR từ mô hình giếng Well 3 xây dựng trong PROSPER 75
Hình 4.15: Dự báo áp suất trong 2 Tank 76
Hình 4.16: Dự báo hệ số thu hồi ở 2 Tank 77
Hình 4.17: Dự báo lượng dầu khai thác cộng dồn ở 2 Tank 77
Hình 4.18: Dự báo sản lượng dầu khai thác ở 2 Tank 78
Hình 4.19: Dự báo sản lượng dầu khai thác và water cut ở Well 03 79
Hình 4.20: Dự báo sản lượng dầu khai thác và water cut ở Well 05 80
Hình 4.21: Kết quả dự báo theo phương pháp DCA từ 30/12/2013 đến 31/12/2027 82
Hình A.1: Sản lượng dầu, khí, nước của khối East từ 2006 đến 2013 [6] 87
Hình A.2: Sản lượng dầu, khí, nước của khối West từ 2006 đến 2013 [6] 88
Hình A.3: Sản lượng khai thác và lượng bơm ép của hai khối từ 2006 đến 2013 [6] 89
Trang 8xv
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Các tương quan thực nghiệm thông dụng trong ước tính thông số PVT [2] 6
Bảng 1.2: Các ký hiệu dùng trong phương trình MBE theo SPE [1] 10
Bảng 1.3: Đặc điểm các mô hình Aquifer (MBAL User manual, 2010) [6] 27
Bảng 2.1: Các phương pháp đồ thị dùng cho vỉa dầu 42
Bảng 3.1 : Tình trạng giếng trong mỏ X [5] 56
Bảng 3.2 : Trữ lượng mỏ X (đơn vị MMTB) [5] 56
Bảng 3.3 : Khai thác mỏ X [5] 56
Bảng 3.4 : Tình trạng khai thác mỏ X [5] 57
Bảng 4.1: Tính chất chất lưu vỉa I-90U 59
Bảng 4.2: Tương quan thực nghiệm được dùng 60
Bảng 4.3: Dữ liệu PVT từ CCE test 60
Bảng 4.4: Thông số vỉa khối West hay Tank 01 61
Bảng 4.5: Thông số vỉa khối East hay Tank02 62
Bảng 4.6: Thông số aquifer khối East hay Tank02 62
Bảng 4.7: Áp suất vỉa đo được từ Well test ở các giếng khác nhau được quy về cùng độ sâu tầng vỉa 63
Bảng 4.8: Hàm Corey cho độ thấm tương đối 65
Bảng 4.9: Thông số aquifer khối East sau khi hồi quy 68
Bảng 4.10: Phương pháp hoạt động của giếng 74
Bảng 4.11: Thông số hoạt động của giếng 75
Trang 9xvi Bảng 4.12: So sánh HCIIP của vỉa tính theo hai phương pháp: Volumetric và MBE 81 Bảng 4.13: So sánh kết quả dự báo khai thác theo hai phương pháp: DCA và MBE 82
Trang 10xvii
DANH MỤC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
Bgi Hệ số thể tích thành hệ khí ban đầu bbl/scf
Bginj Hệ số thể tích thành hệ khí bơm ép bbl/scf
Bg Hệ số thể tích thành hệ khí ở áp suất đang xét bbl/scf
Bo Hệ số thể tích thành hệ dầu ở áp suất đang xét bbl/STB
Bt Hệ số thể tích thành hệ của 2 pha dầu + khí hòa tan bbl/scf
EDI Expansion (rock and liquid)-drive index -
Ef,w Lượng giãn nở của nước vỉa ban đầu và sự giảm thể tích lỗ
Ex Điểm cuối của phase x trên đường thấm tương đối
F Lượng dầu/khí khai thác cộng dồn quy về điều kiện vỉa bbl
Trang 11xviii
m Tỷ số thể tích mũ khí ban đầu và thể tích dầu ban đầu bbl/bbl
pr Áp suất trung bình của vỉa tại thời điểm đang xét psi
Trang 12xix
Qo Lưu lượng dầu khai thác tại áp suất đáy giếng pwf bbl
Rs Tỷ số khí hòa tan – dầu ở áp suất đang xét scf/STB
SDI Segregation (gas-cap)-drive index -
Trang 131
MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết và lý do lựa chọn đề tài:
Ngày nay, để thực hiện chức năng dự báo ứng xử khai thác của vỉa, ta thường phải xây dựng các mô hình 3D của toàn mỏ bằng các phần mềm mô phỏng số (simulator) như ECLIPSE hay Tnavigator Để xây dựng và hiệu chỉnh các mô hình này, đòi hỏi sự hợp tác toàn diện của các ngành chuyên môn khác nhau (Geoscience, RE, Production, Drilling… ), cùng biện luận để đảm bảo sự phù hợp của mô hình là công việc lâu dài và tốn nhiều thời gian, công sức với rất nhiều thông số khác nhau Và đôi khi kết quả từ
mô hình lại bị che lấp bởi rất nhiều các thông số, do đó người kỹ sư cần nhận thức được các quá trình thực đang xảy ra trong điều kiện vỉa hay nguyên nhân nào dẫn đến sự sai lệch của mô hình so với thực tế
Một cách tiếp cận khác là sử dụng phương pháp cân bằng vật chất, xây dựng các mô hình đơn giản hóa của vỉa bằng phần mềm MBAL (một phần mềm trong gói phần mềm Petroleum Expert của PETEX) để đánh giá các ứng xử động của vỉa trong quá trình khai thác Phương pháp cân bằng vật chất xây dựng mô hình đơn giản hơn mô hình ECLIPSE nhưng vẫn có thể giúp ta hiểu được các quá trình trong vỉa một cách tương đối dễ dàng
Mục đích của đồ án:
Góp phần làm rõ về tình trạng năng lượng vỉa
Xác dịnh lượng OIIP tại chỗ
Trang 142
Đánh giá mức độ hoạt động của cơ chế áp lực nước đối với quá trình khai thác
Tìm hiểu hiệu chỉnh thông số trung bình của vỉa
Dự báo khai thác (định tính) cho đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Tầng Mioxen sớm I-40U của mỏ X thuộc bể Malay -Thổ Chu
vùng chồng lấn thềm lục địa Việt Nam và Malaysia
Bố cục đồ án: đồ án gồm phần mở đầu, 4 chương và phần kết luận kiến nghị:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết về phương pháp cân bằng vật chất
Chương 2: Cơ sở phần mềm MBAL
Chương 3: Địa chất khu vực nghiên cứu, tình trạng khai thác mỏ
Chương 4: X lý số liệu, áp dụng phần mềm và đánh giá kết quả của phương pháp
Tóm tắt đồ án: Nội dung đầu tiên của đồ án được trình bày là cơ sở lý thuyết phương
pháp cân bằng vật chất, mô hình tầng ngậm nước, thông số PVT, các cơ chế năng lượng vỉa Chương hai trình bày cơ sở áp dụng của phần mềm MBAL Chương ba trình bày đặc điểm địa chất, thành phần chất lưu cũng như trữ lượng dầu khí tại khu vực nghiên cứu, các số liệu đầu vào của mô hình cân bằng vật chất cũng được xử lý và trình bày Các dữ liệu này dùng làm số liệu đầu vào cho quá trình phân tích và làm tài liệu tham khảo cho việc đánh giá kết quả Phần chính của đồ án là xây dựng mô hình cân bằng vật chất, phù hợp mô hình khai thác với lịch sử khai thác qua đó đưa ra các dự báo khai thác cho đối tượng
Trang 153
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT PHƯƠNG PHÁP
CÂN BẰNG VẬT CHẤT
1.1 Đặc tính PVT của chất lưu
Tương quan giữa thể tích chất lưu ở điều kiện vỉa và điều kiện bề mặt: Thể tích dầu và
khí khai thác được từ vỉa được đo ở điều kiện tiêu chuẩn (áp suất 14.7 psia và nhiệt độ
60o F) có thể quy về thể tích tương ứng ở điều kiện vỉa (hoặc ngược lại) nhờ các hệ số
thể tích: Bo, Bg, Rs và GOR Các hệ số này được xác định như hình 1.1 dưới đây
Điều kiện vỉa: p, T Điều kiện bề mặt: pn ,Tn
Hình 1.1: Dầu và khí khai thác được nhờ sự giãn nở của dầu/khí trong một vỉa dầu [2]
Các hệ số thể tích được xác định trong phòng thí nghiệm đối với các mẫu dầu và khí lấy
từ vỉa Định nghĩa cụ thể của các hệ số này như sau:
Rs : Tỷ số thể tích của khí hòa tan trong dầu [scf/STB] là số feet khối tiêu chuẩn của khí
hòa tan (tại một áp suất p và nhiệt độ T xác định) trong một thùng dầu thương mại (stock
tank barrel) khi cả hai thể tích này cùng đo ở điều kiện bề mặt
V ogn R
Trang 164
Bo: Hệ số thể tích thành hệ của dầu [bbl/STB] được định nghĩa là tỷ số thể tích của dầu
Vo [bbl] ở điều kiện vỉa (ở áp suất p, nhiệt độ T) và thể tích của lượng dầu đó (kèm khí hòa tan) trong một thùng dầu thương mại ở điều kiện tiêu chuẩn Von [STB],
V o B
o Von
(1.2)
Bg: Hệ số thể tích thành hệ của khí [bbl/scf] được định nghĩa là tỷ số thể tích của khí Vg
[bbl] ở điều kiện vỉa (ở áp suất p, nhiệt độ T) và thể tích của cùng lượng khí đó ở điều kiện tiêu chuẩn [scf],
V g B
g Vggn
(1.3)
GOR: Tỷ số khí dầu tức thời (gas-oil ratio) [scf/STB], là tỷ số thể tích khí ở điều kiện
tiêu chẩn Vgn [scf] khai thác được và thể tích dầu khai thác được Von [STB] ở điều kiện tiêu chuẩn
V gn O
G R
V on
(1.4)
Các hệ số Bo, Rs, Bg và GOR là các hàm phụ thuộc áp suất, như minh họa ở hình 1.2
Hệ số nén của dầu (Co): có thể được xác định cả trên hoặc dưới điểm bọt khí, tuy nhiên
giá trị cần trong quá trình mô phỏng phải được xác định ở điều kiện chưa bảo hòa, khi đó hệ số nén được sử dụng để hiệu chỉnh cho hệ số thành thể tích thành hệ dầu
Hệ số nén của nước (Cw): được xác định thông qua các mối tương quan thực nghiệm,
thông thường ở điều kiện vỉa Cw vào khoảng 2.10-6 l/psi
Hệ số nén của thành hệ (Cf): được xác định thông qua các mối tương quan thực nghiệm,
thông thường ở điều kiện vỉa Cf vào khoảng 3.10-6 1/psi ÷ 8.10-6 l/psi
Độ nhớt của nước (µw): được xác định trong phòng thí nghiệm dựa vào nhiệt độ và áp
suất của vỉa, giá trị thường trong khoảng 0.3÷0.8 cp
Trang 17Độ nhớt của khí (µg): được tính toán trong phòng thí nghiệm dựa vào áp suất khí quyển
hoặc áp suất vỉa, khi áp suất giảm thì độ nhớt của khí cũng giảm
Hình 1.2: Sự phụ thuộc của các thông số PVT vào áp suất [1]
Độ nhớt của dầu (μo): được xác định qua phân tích trong phòng thi nghiệm hoặc có thể
ước tính từ các mối tương quan thực nghiệm
Hình 1.3: Số liệu độ nhớt của dầu đo trong phòng thí nghiệm
Trang 186
Các thông số vừa trình bày ở trên có thể thu được từ kết quả trong phòng thí nghiệm PVT hoặc từ các tương quan thực nghiệm được nêu ở bảng 1.1 tùy theo điều kiện vỉa và tính chất chất lưu vỉa
Bảng 1.1: Các tương quan thực nghiệm thông dụng trong ước tính thông số PVT [2]
Standing (1947) Beggs - Robinson (1975) Corresponding states Lee et al (1966) McCain (1988) McCain (1988) Osif and McCain(1984)
McCain (1973)
15 < API < 30 API < 15
16 < API < 58 Non-polar hydrocarbons
1.2 Phương trình cân bằng vật chất (Material Balance Equations – MBE)
1.2.1 Giới thiệu lịch sử phương pháp cân bằng vật chất
Năm 1936, Schilthius lần đầu tiên đã giới thiệu phương trình cân bằng vật chất tổng quát dựa trên nguyên lý bảo toàn khối lượng cho các chất lưu tồn tại trong vỉa Kể từ đây, phương trình này được máy tính hỗ trợ để xây dựng các mô hình hoàn thiện và phức tạp hơn, cho phép xử lý chính xác hơn
DeSorcy (1979) ước tính được độ chính xác của các biến trong phương trình cân bằng vật chất Galas (1994) khảo sát kỹ thuật khớp lịch sử bằng hàm hồi quy phi tuyến (non-linear regression function) cho phương pháp cân bằng vật chất và kết luận rằng cần xác định miền giá trị của các thông số đã khớp
Bui et al (2006) dùng phương pháp phân tích cân bằng vật chất để xác định đặc tính phân chia các khối (compartmentalization) của mỏ Samarang Tác giả đã xây dựng quy trình phân tích tích cân bằng vật chất và đánh giá ảnh hưởng của đường cong độ thấm tương đối đến khả năng khớp lịch sử (history match)
Trang 197
Mazloom et al, (2007) đã so sánh kết quả từ cân bằng vật chất theo mô hình single tank
và mô hình multi-tank với kết quả từ mô hình số dạng ô lưới (grid simulation model) Tác giả kết luận rằng mô hình single-tank dự báo hệ số thu hồi cao hơn hai mô hình kia
và không thể đánh giá được tính bất đồng nhất của vỉa cho mỏ condensate mà họ nghiên cứu, trong khi mô hình multi-tank cho kết quả trong miền chấp nhận được khi so sánh với kết quả mô phỏng số
Hơn nữa, một số nghiên cứu thể hiện khả năng dịch chuyển của chất lưu vỉa qua hệ số truyền qua (transmissibility) Vera et al (2009) phân tích hệ số truyền qua cho mô hình single-tank và multi-tank và kết luận rằng kỹ thuật cân bằng vật chất multi-tank là phương pháp hiệu quả để kiểm tra sự dịch chuyển của chất lưu vỉa
Garcia et al (2007) đề xuất phương pháp đánh giá các thông số ảnh hưởng tính toán cân bằng vật chất, cụ thể OOIP tính được sẽ rất nhạy với dữ liệu áp suất vỉa và PVT
Amudo et al (2011) và Esor et al (2004) đã áp dụng phương pháp cân bằng vật chất và phần mềm MBAL để thiết lập sự liên kết giữa thể tích hydrocarbon in place và các cơ chế năng lượng vỉa (drive mechanism)
1.2.2 Giả thiết và giới hạn của phương trình cân bằng vật chất
MBE đã được xem là công cụ cơ sở của kỹ sư công nghệ mỏ cho việc minh giải và dự báo ứng xử của vỉa MBE được áp dụng để:
Tính trữ lượng hydrocarbon ban đầu tại chỗ;
Dự báo áp suất vỉa;
Tính toán lượng nước xâm nhập vào vỉa (water influx);
Dự báo ứng xử của vỉa trong tương lai;
Dự báo hệ số thu hồi cuối cùng dưới tác dụng của các cơ chế năng lượng khác nhau
Các giả thiết cơ bản của MBE bao gồm:
Nhiệt độ vỉa là hằng số: Sự biến đổi áp suất - thể tích trong vỉa diễn ra đẳng nhiệt
Trang 208
Áp suất cân bằng toàn vỉa: Mỗi thời điểm, mọi vị trí trong vỉa đều có cùng một
áp suất và tính chất PVT từng loại chất lưu là giống nhau tại cùng điều kiện nhiệt áp Nếu áp suất khác biệt đáng kể giữa các vùng trong vỉa sẽ gây sai số khi tính toán
Thông số PVT được sử dụng từ thí nghiệm giãn nở đẳng thành phần (Constant Compositional expansion hay CCE) đối với mẫu chất lưu có thành phần cố định và đại diện cho toàn vỉa Do đó đó dữ liệu PVT được dùng là hàm của nhiệt độ - áp suất, sẽ kém chính xác ở vỉa khí condensate có thành phần chất lưu thay đổi ảnh hưởng đến tính chất PVT
Thể tích vỉa là hằng số: ngoại lệ là khi ta xét sự giãn nở của khung đá và chất lưu vỉa trong phương trình cân bằng vật chất
Dữ liệu khai thác chính xác, đáng tin cậy: Dữ liệu khai thác phải được ghi nhận đầy đủ và thường xuyên theo thời gian, bao gồm: tỷ trọng dầu, tỷ trọng khí, lưu lượng bơm ép khí /nước, sản lượng dầu, khí, nước, áp suất vỉa trung bình…
Giới hạn của phương pháp cân bằng vật chất
• Tính toán của MBE dựa trên sự thay đổi điều kiện vỉa theo thời gian lịch sử khai thác Do các giả thiết trên mà độ chính xác của phương pháp này bị ảnh hưởng ở thời gian đầu của quá trình khai thác, khi mà sự dịch chuyển của chất lưu vỉa bị giới hạn và
áp suất vỉa thay đổi nhỏ Phương pháp này cũng giảm độ chính xác đối với vỉa được phát triển từng phần, không đồng đều trên toàn vỉa
• Kết quả tính toán của MBE nhạy với áp suất vỉa và sự chính xác của thông số PVT Áp suất vỉa được xác định bằng cách lấy trung bình trọng số áp suất tĩnh đo được tại các giếng ở các vùng khác nhau trong vỉa Nếu vỉa gồm các vùng khác biệt độ thấm,
áp suất đo được ở các vùng độ thấm thấp thường cao, ở các vùng độ thấm cao áp suất thường thấp và áp suất đo được lại thường lại thường gần giá trị vùng độ thấm cao hơn nên áp suất trung bình của vỉa sẽ thấp hơn và kết quả tính sẽ ít dầu hơn thực tế Hiện tượng này là do dầu ở vùng thấm cao hoạt động hơn (active oil) nên dễ quan sát hơn, trong khi dầu ở vùng thấm thấp giãn nỡ chậm hơn để bù lại sự giảm áp suất, khiến lượng active oil quan sát được tăng từ từ theo thời gian hiện tượng trên cũng quan sát được ở các vỉa chỉ khai thác một phần, không phát triển đồng đều toàn vỉa khiến áp suất ghi
Trang 219
nhận được chỉ từ một phần của vỉa mà không phải áp suất cao hơn tại vùng chưa phát triển
• Áp suất trong MBE dùng để xác định hiệu các giá trị PVT như: (Bo – Boi); (Bg
– Bgi); (Rsi – Rs) Sai số đo áp suất có thể ảnh hưởng kết quả tính OIIP và water influx tùy theo tỷ số sai số đo trên áp suất vỉa suy giảm Trong vỉa dầu dưới bão hòa hay vỉa
có nước áp lực hoạt động mạnh hoặc mũ khí lớn để bù sự suy giảm áp suất, áp suất suy giảm ít nên tỷ số vừa nêu sẽ lớn, làm sai số tính toán tăng cao
1.2.3 Xây dựng dạng tổng quát của phương trình cân bằng vật chất
Xem không gian lỗ rỗng vỉa như một bình chứa lý tưởng (có thể tích không đổi) như minh họa trên hình 1.4, ta có thể suy ra cân bằng thể tích dựa trên sự biến thiên thể tích của chất lưu vỉa trong suốt đời mỏ
Hình 1.4: Mô hình thùng chứa lý tưởng (Tank Model) [1]
Trang 2210
Để xây dựng phương trình MBE, SPE quy định ký hiệu các thông số theo bảng 1.2
Bảng 1.2: Các ký hiệu dùng trong phương trình MBE theo SPE [1]
Áp suất
p Áp suất trung bình theo thể tích vỉa psi
Δp Biến thiên áp suất vỉa = pi – pr psi
Dầu
Boi Hệ số thể tích thành hệ dầu ban đầu bbl/STB
Bo Hệ số thể tích thành hệ dầu ở áp suất đang xét bbl/STB
Rsi Tỷ số khí hòa tan - dầu ban đầu scf/STB
Rs Tỷ số khí hòa tan – dầu ở áp suất đang xét scf/STB
Rp Tỷ số khí – dầu khai thác cộng dồn scf/STB
Bt Hệ số thể tích thành hệ của 2 pha dầu + khí hòa tan bbl/scf
m Tỷ số thể tích mũ khí ban đầu và thể tích dầu ban
Nước
We Thê tích nước xâm nhập vào vỉa cộng dồn bbl
Winj Thể tích nước nén vào vỉa cộng dồn STB
Bw Hệ số thể tích thành hệ nước vỉa bbl/STB
Đá P.V Tổng thể tích lỗ rỗng chứa Hydrocarbon bbl
Trang 2311
Phương trình MBE tổng quát có thể viết như sau:
Thể tích OIIP tại pi + Thể tích khí ở mũ khí ban đầu tại pi
= Thể tích dầu còn lại tại p + Thể tích khí của mũ khí tại p
+ Thể tích khí hòa tan giải phóng tại p + Thể tích của net water influx tại p
+ Thể tích connate-water giãn nở + Thể tích lỗ rỗng giảm do khung đá giãn nở tại p + Thể tích nước bơm ép tại p + Thể tích khí bơm ép tại p (1.5) Trong quá trình tính toán, ta xem tổng thể tích phần lỗ rỗng chứa Hydrocarbon P.V chỉ chứa dầu và khí
Tỷ số thể tích mũ khí và thân dầu ban đầu:
gi oi
G.BInitial volume of gas cap
Initial volume oil-in-place = N.B (1.10)
Thể tích khí ở mũ khí ban đầu tại pi
Initial volume of gas capG.B m.N.B (1.11)
Trang 2412
Thể tích dầu còn lại tại p
Volume of remaining oil(NN ).B (1.12)
Thể tích khí của mũ khí tại p (giả sử mũ khí không bị khai thác)
oi g gi
Thể tích khí hòa tan giải phóng tại p = Thể tích khí ban đầu trong dầu tại pi
- Thể tích khí đã khai thác tại p – Thể tích khí còn lại trong dầu tại p
Vol released solution gasN.RsiN Rp pNNpRsBg (1.14)
Thể tích của net water influx tại p
Change in Pore volume N.B 1 m c p
1 S
(1.17)
Thể tích nước + khí bơm ép tại p
inj ginj inj w
Total InjectedvolumeG B W B (1.18)
Trang 25N.B
B B B / B W W B N
1.3 Phương trình cân bằng vật chất biễu diễn các cơ chế năng lượng vỉa
Phương trình (1.23) có thể biểu diễn dưới dạng:
DDI SDI WDI EDI 1 (1.25) Với: DDI = depletion-drive index = chỉ số năng lượng khí hòa tan
SDI = segregation (gas-cap)-drive index = chỉ số năng lượng mũ khí
WDI = water-drive index = chỉ số năng lượng nước áp lực
EDI = expansion (rock and liquid)-drive index = chỉ số năng lượng giãn nở (của
đá + chất lưu)
Trang 2614
Bốn hệ số trong phương trình (1.25) biểu diễn các cơ chế năng lượng chính trong quá trình thu hồi dầu vỉa, bao gồm:
Cơ chế khí hòa tan: Năng lượng do sự giãn nở của thể tích dầu và khí hòa tan ban đầu
trong vỉa Trong cơ chế năng lượng này, nguồn năng lượng chính đến từ khí tách ra từ dầu và sự giãn nở tiếp theo đó của khí hòa tan khi áp suất giảm Khi áp suất vỉa dưới áp suất điểm bọt (bubble-point pressure), các bọt khí tách ra trong các vi lỗ rỗng, giãn nở
Khai thác dầu nhờ cơ chế năng lượng này là phương pháp thu hồi kém hiệu quả nhất, áp
suất vỉa giảm nhanh và hệ số thu hồi thay đổi trong khoảng dưới 5% đến 30%
Cơ chế mũ khí: Năng lượng do sự giãn nở của mũ khí tự do ban đầu và khí hòa tan tách
ra từ dầu trong vỉa Áp suất vỉa suy giảm chậm, GOR tăng nhanh Hệ số thu hồi thay đổi
trong khoảng dưới 20% đến 40%
Cơ chế nước áp lực: Năng lượng do lượng nước xâm nhập (sau khi trừ đi lượng nước
khai thác) từ tầng ngậm nước (aquifer) đi vào vùng dầu bù lại lượng dầu và khí bị khai thác Nhờ đó, áp suất vỉa được duy trì và suy giảm chậm nhưng tỷ lệ nước trong sản lượng khai thác tăng nhanh tại thời điểm đạt tới ngưỡng nước (water breakthrough) Hệ
số thu hồi thay đổi trong khoảng dưới 35% đến 75%
Cơ chế giãn nỡ: Đây là cơ chế chính trong vỉa dưới bão hòa (áp suất trên áp suất điểm
bọt) và không có nước áp lực, năng lượng do sự giãn nở của đất đá và chất lưu vỉa để đẩy dầu Do đá vỉa và chất lưu vỉa ứng xử ít nén, áp suất vỉa sẽ suy giảm nhanh chóng
Trang 2715
Nếu cùng hiện diện với các cơ chế năng lượng khác,năng lượng giãn nở là không đáng
kể và cho khả năng thu hồi dầu thấp nhất, thấp hơn 5%
wi w f
w i
i o
S c +.N.B
Phương trình (1.25) được dùng để xác định cường độ của các cơ chế năng lượng Trong quá trình khai thác, cơ chế năng lượng sẽ thay đổi theo thời gian kéo theo sự biến thiên của lưu lượng khai thác (mà cơ chế năng lượng đóng vai chủ chính) nên cần dùng phương trình (1.25) định kỳ để nhận ra sự biến đổi này
Hình 1.5: Giản đồ năng lượng (Energy graph)
Từ đây, ta có thể được giản đồ năng lượng để tóm tắt vai trò của các cơ chế năng lượng
ở các pha khác nhau trong quá trình phát triển mỏ theo mô hình cân bằng vật chất Như hình vẽ 1.5, cơ chế nước áp lực đóng vai trò tương đương trong giai đoạn đầu của quá
Trang 2816
trình khai thác so với cơ chế giãn nở của chất lưu và đất đá Sau đó, từ năm 1985, bắt đầu bơm ép nước, và về sau, nước bơm ép đã cung cấp 70% tổng năng lượng vỉa
1.4 Phương trình cân bằng vật chất dưới dạng phương trình đường thẳng
Trong phương trình (1.20) có 3 ẩn số, đó là: (a) OIIP hay N, (b) Lượng nước xâm nhập cộng dồn We (water influx ); (c) Kích thước mũ khí so với kích thước chân dầu m
Để xác định 3 ẩn số trên, Havlena and Odeh (1963) đã phát triển phương pháp biến đổi phương trình MBE (1.20) về dạng đường thẳng bằng cách sắp xếp lại như sau:
Phương trình trên có thể chuyển về dạng:
FN E om.Eg Ef ,w(WeG Binj ginjW B )inj w (1.31) Nếu không có bơm ép nước/khí để duy trì áp suất vỉa:
FN E m.E E W (1.32) Trong đó:
F là lượng dầu/khí khai thác cộng dồn quy về điều kiện vỉa
Trang 2917
f ,w oi
f wi
1.5 Phương pháp tìm nghiệm cho MBE dạng đường thẳng
1.5.1 Xác định N ở vỉa thể tích dưới bão hòa (Volumetric Undersaturated-Oil Reservoir) :
Đối với vỉa thể tích dưới bão hòa, nếu không có duy trì áp suất vỉa: We = 0 (vỉa thể tích); m = 0 (vỉa dưới bão hòa, mũ khí không tồn tại); Rs = Rsi = Rp (khí hòa tan vẫn ở trong dầu) Khi đó, từ phương trình (1.32) ta được
FN B W B (1.37)
FN E o Ef ,w (1.38) Đối với một mỏ mới phát hiện, người kỹ sư công nghệ mỏ trước tiên cần xác định xem vỉa đang khai thác ó phải vỉa thể tích (We = 0) hay không Cách tiếp cận của MBE là sử dụng các số liệu khai thác (sản lượng, áp suất, PVT ) để ước tính vế phải của phương trình (1.38) Hình (1.6) vẽ hệ số F/(Eo + Ef,w) tại mỗi thời điểm theo trục thời gian hay sản lượng cộng dồn Np
Dake (1994) cho rằng đồ thị này có 2 dạng khác nhau:
Đồ thị là đường thẳng nằm ngang (đường A): Chứng tỏ đây là vỉa thể tích, cơ chế năng lượng chính là từ sự giãn nở của đất đá, của chất lưu (dầu, nước), và tung độ của đường này là OIIP hay N
Đồ thị dạng đường cong đi lên (B và C), chứng tỏ vỉa có nước xâm nhập, thành
hệ bị nén mạnh hay cả hai hiện tượng Đường cong C có thể là cơ chế áp lực nước mạnh
và aquifer biểu hiện như biên vô hạn Đường cong B cho thấy áp suất ở biên của aquifer cũng bị suy giảm cùng với áp suất vỉa, xu hướng đi xuống cho thấy năng lượng của aquifer đã giảm bớt Xu hướng của đường cong phụ thuộc nhiều vào lưu lượng khai thác Khi sản lượng lớn hơn lượng water influx thì đường cong xuống do aquifer thiếu năng lượng, nếu sản lượng giảm thì đường cong có xu hướng đi lên
Trang 3018
Hình 1.6: Phân loại vỉa [1]
Phương trình (1.38) cũng có thể giúp ta xác nhận cơ chế năng lượng vỉa và N Nếu vẽ lượng khai thác cộng dồn F theo (Eo + Ef,w) và thu được đường thẳng qua gốc tọa độ như hình (1.7) thì ta xác định được vỉa là loại thể tích dưới bão hòa với N là hệ số góc đường thẳng Ngược lại, nếu đường thẳng bị lệch thì có thể suy đoán vỉa có thêm cơ chế nước áp lực
Hình 1.7: F theo (Eo + Ew,f) [1]
Trang 3119
1.5.2 Vỉa dầu thể tích bão hòa (Volumetric Saturated-Oil Reservoir):
Vỉa dầu mà áp suất ban đầu ngay tại điểm bọt (bubble-point pressure ) là vỉa bảo hòa
Cơ chế năng lượng chính là sự giải phóng và giãn nở của khí hòa tan khi áp suất giảm dưới điểm bọt N là ẩn duy nhất trong vỉa dạng này, ta có thể giả sử Ef,w nhỏ và có thể
bỏ qua khi so sánh với sự giãn nở của khí hòa tan Phương trình (1.32) đưa về dạng:
o
FNE (1.39) Đây là một đường thẳng qua gốc tọa độ với hệ số góc N khi vẽ trên hệ trục F theo Eo Nếu đồ thị phi tuyến, có thể vỉa có water influx để duy trì áp suất vỉa
1.5.3 Vỉa dầu có mũ khí (Gas-Cap-Drive Reservoirs):
Nếu vỉa có cơ chế mũ khí là cơ chế chính, (giả sử We = 0, Ef,w không đáng kể), ta được:
FN E m.E (1.40)
Ta xét 3 trường hợp cơ bản:
a Đã biết m, N là ẩn:
Phương trình (1.40) chỉ ra rằng đồ thị F theo (Eo + mEg) là đường thẳng qua gốc tọa độ với hệ số góc N như hình 1.8
Hình 1.8: F theo (Eo + mEg) [1]
Trang 3321
Hình 1.10: (F/Eo) theo Eg /Eo [1]
1.5.4 Vỉa dầu có nước áp lực (Water-Drive Reservoirs):
Một phần hay toàn bộ chu vi vỉa thường được bao quanh bởi tầng đất đá ngậm nước gọi
là aquifer Kích thước của aquifer có thể lớn so với vỉa lân cận để trong khoảng thời gian đang xét được xem như có kích thước vô hạn, aquifer cũng có thể nhỏ đến mức có thể
bỏ qua khi xét đến ảnh hưởng lên vỉa Nếu vỉa bị chặn bởi tầng đá không thấm ở vị trí
kế cận aquifer, vỉa khép kín và không nhận được hỗ trợ từ aquifer được gọi là vỉa thể tích (volumetric)
Trong vỉa áp lực nước, ưu tiên hàng đầu là phải xác định được loại và tính chất đặc trưng của aquifer để có thể đánh giá tình trạng vỉa một cách chính xác
Giá trị Ef,w có thể được bỏ qua vì số nén của đất đá và nước vỉa tương đối nhỏ cũng như nhờ tác động của nước áp lực, áp suất vỉa được duy trì, Δp trong công thức Ef,w giảm Nếu vỉa không có mũ khí, phương trình (1.32) đưa về dạng:
FN.E W (1.43)
Trang 34do quá trình khai thác sẽ truyền tức thời qua mặt phân cách vỉa dầu – aquifer, nước aquifer giãn nở và chảy vào vỉa Phương trình cơ bản:
W (c c ).W f (p p) (1.45)
Hệ số f là góc xâm nhập của water influx vào vỉa do nước không thể đi vào vỉa
từ tất cả các hướng hay vỉa không có cấu trúc dạng tròn
Hình 1.11: Cấu trúc hình học của aquifer dạng Radial [1]
Wi là thể tích nước [bbl] ban đầu trong Aquifer dạng hình học radial
Trang 35
(1.47) Với ra = bán kính aquifer, [ft]; re = bán kính vỉa, [ft]; h = độ dày của aquifer, [ft] và ϕ =
Hình 1.12: (F/Eo) theo (Δp/Eo) [1]
b Mô hình dòng chảy ổn định (Steady-State)
Mô hình này được Schilthuis đề xuất năm 1936 Có dạng:
t
0
W C (p p)dt (1.49) Với: C = hằng số water influx,[bbl/day/psi] và t = thời gian, [days]
Trang 3624
Phương trình (1.44) trở thành:
t i 0
(p p)dtF
, ta được đường thẳng thẳng cắt trục tung tại N và
hệ số góc là C tương tự như hình 1.12 (chỉ thay k bằng C)
c Mô hình dòng chảy không ổn định ( Unsteady -State)
Mô hình này do Van Everdingen và Hurst đề xuất dựa trên kết quả tính toán phương trình khuếch tán bằng biến đổi Laplace nên đây được xem như mô hình có độ chính xác cao
Van Everdingen and Hurst đưa vào các hệ số không thứ nguyên (KTN) như thời gian KTN tD và bán kính KTN rD , bằng cách tra bảng (tính sẵn) các hệ số này, ta xác định được lượng nước xâm nhập (water influx) KTN WeD
W B.p.W (1.51) Với:
2
t e
B 1.119 c r h.f (1.52) Các thông số KTN cho bởi:
rrr
(1.54)
c c c (1.55)
Trang 3725
Với: k = độ thấm của aquifer, [md];
μw = độ nhớt của nước trong aquifer, [cp]
ct = tổng hệ số nén của thành hệ và nước [psi-1]
Hình 1.13: Thể tích nước xâm nhập KTN WeD phụ thuộc vào thời gian KTN tD và các
giá trị tỷ số bán kình aquifer và bán kính vỉa re/rR [1]
Quy trình giải theo phương pháp này như sau:
Bước 1 Từ lịch sử khai thác và áp suất vỉa, tính F và Eo
Bước 2 Giả sử cấu hình aquifer (linear hay radial)
Bước 3 Giả sử ra và tính rD
Bước 4 Vẽ đồ thị (F/Eo) theo (ΣΔp WeD)/Eo Nếu các thông số aquifer giả sử chính xác, ta được đường thẳng với N là giao điểm trục tung và B là hệ số góc
Trang 3826
Hình 1.14: Đường thẳng Havlena và Odeh [1]
Ngoài ra còn có 4 trường hợp có thể xảy ra được minh họa trên hình 1.14, bao gồm:
Hệ các điểm rời rạc, chứng tỏ quá trình tính toán hoặc dữ liệu bị sai
Đường cong đi lên, có thể do bán kính aquifer giả sử (hoặc rD) quá nhỏ
Đường cong đi xuống, có thể do bán kính aquifer giả sử (hoặc rD) quá lớn
Đường cong chữ S, nên giả sử cấu hình linear water influx
d Các dạng mô hình toán Aquifer khác nhau
Một số dạng mô hình aquifer đã được phát triển và áp dụng trong tính toán MBE Trong công trình của Marques et al (2007) đã trình bày phân tích cụ thể từng mô hình, khái quát cơ sở lý thuyết và các phương trình liên quan So sánh đặc điểm của các mô hình này được cho trong bảng 1.3 trên đây
Qua những phân tích kết quả áp dụng thực tế, mô hình aquifer chính xác nhất là mô hình ‘Hurst-van Everdingen-modified’ do PETEX phát triển nhờ khả năng giải được nghiệm chính xác của phương trình khuếch tán thủy lực (hydraulic diffusivity equation)
Trang 39Pot aquifer 𝜕𝑡 = 0 và
VA=const W e (c w c ).W f (p f i i p)
Chỉ dùng cho aquifer nhỏ
∆P truyền tức thời
Schilthuis
steady state
Chế độ dòng Steady-state
e
i
dW C.(p p)
Hurst steady
state
Chế độ dòng Steady-state
t e 0
Hurst-van
Everdingen
Dake
Chế độ dòng Unsteady-state
w f w aq
kdW (c c ).L
Áp dụng phương trình khuếch tán áp suất và phép biến đổi Laplace
Carter-Tracy
Phương pháp xấp xỉ cho phương trình khuếch tán
Lưu lượng water influx không đổi trên mỗi khoảng thời gian giới hạn
Không cần dùng nguyên
lý chồng chất
Trang 4028
1.5.5 Vỉa dầu có cơ chế năng lượng tổng hợp (Combination-Drive Reservoirs):
Đây là trường hợp tương đối phức tạp, yêu cầu phải giải phương trình (1.32) tìm ba ẩn số: N, m và We Một cách tiếp cận trường hợp này của Campbell là biến đổi phương trình (1.32) về dạng:
F
NWE
(1.59)
Ta giả sử các thông số của mô hình aquifer We , kích thước mũ khí m, rồi vẽ đồ thị
(F-We)/Et theo F Nếu kết quả giả sử là chính xác, ta được đường thẳng nằm ngang cho biết giá trị N Nếu giả sử sai, ta tiến hành điều chỉnh giá trị giả sử để tìm kết quả phù hợp