Tính cấp thiết của đề tài Giám đốc thẩm trong tố tụng hình sự là thủ tục tố tụng đặc biệt để xem xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì ph
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN VĂN TUẤN
GIÁM ĐỐC THẨM ÁN HÌNH SỰ THEO PHÁP LUẬT
TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2017
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN VĂN TUẤN
GIÁM ĐỐC THẨM ÁN HÌNH SỰ THEO PHÁP LUẬT
TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỦ TỤC GIÁM ĐỐC THẨM HÌNH SỰ 7
1.1 Khái niệm và đặc điểm của thủ tục giám đốc thẩm hình sự 7 1.2 Cơ sở lý luận và thực tiễn của thủ tục giám đốc thẩm 14 1.3 Thủ tục giám đốc thẩm trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam và của một số nước trên thế giới 18
Chương 2:THỰC TIỄN ÁP DỤNG GIÁM ĐỐC THẨM TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 32
2.1 Đặc điểm tình hình có liên quan đến thủ tục giám đốc thẩm của tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh 32 2.2 Một số vướng mắc trong nhận thức và áp dụng giám đốc thẩm từ thực tiễn xét
xử của tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh 33 2.3 Một số ưu điểm và tồn tại trong quá trình áp dụng thủ tục giám đốc thẩm của tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh 58
Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG THỦ TỤC GIÁM ĐỐC THẨM TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 65
3.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật 65 3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng thủ tục giám đốc thẩm của tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh 71
KẾT LUẬN 75 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 77 PHỤ LỤC
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Giám đốc thẩm trong tố tụng hình sự là thủ tục tố tụng đặc biệt để xem xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án, nhằm khắc phục vi phạm của bản án, quyết định đó
Thủ tục giám đốc thẩm được quy định tại Chương XXX BLTTHS năm năm
2003, là cơ sở pháp lý quan trọng, đã và đang phát huy vai trò tích cực trong thực tiễn, góp phần bảo vệ trật tự pháp luật, lợi ích của xã hội, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải
cách tư pháp đến năm 2020 đã xác định nhiệm vụ: “Từng bước hoàn thiện thủ tục
giám đốc thẩm, tái thẩm theo hướng quy định chặt chẽ những căn cứ kháng nghị và quy định rõ trách nhiệm của người ra kháng nghị đối với bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật; khắc phục tình trạng kháng nghị tràn lan, thiếu căn cứ” Trên tinh thần đó, BLTTHS năm 2015 đã hoàn thiện thủ tục giám
đốc thẩm theo hướng quy định chặt chẽ những căn cứ kháng nghị, nhằm khắc phục tình trạng kháng nghị tràn lan, thiếu căn cứ, qua đó nâng cao hiệu quả áp dụng thủ tục giám đốc thẩm, đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn giải quyết vụ án hình sự
Mặc dù các quy định của BLTTHS về thủ tục giám đốc thẩm đã từng bước được hoàn thiện Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu các quy định của BLTTHS năm 2015 về thủ tục giám đốc thẩm, đối chiếu với thực tiễn áp dụng, nhận thấy quy định này vẫn còn không ít tồn tại, hạn chế, gây khó khăn, vướng mắc cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc nhận thức và áp dụng Bên cạnh đó, trong khoa học pháp lý nước ta, thủ tục giám đốc thẩm được một số tác giả nghiên cứu từ các góc độ và với các mức độ khác nhau, nhưng nhìn chung lý luận về thủ tục giám đốc thẩm so với các vấn đề khác của tố tụng hình sự chưa phát triển Đặc biệt là chưa có công trình nào nghiên cứu về thủ tục giám đốc thẩm từ thực tiễn xét xử của TAND cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh Mảng tri thức về đề tài này hiện còn nhiều nội dung cần được tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện
Trang 6Thực tiễn áp dụng thủ tục giám đốc thẩm của TAND cấp cao tại thành phố
Hồ Chí Minh cơ bản đáp ứng yêu cầu đặt ra Số lượng và chất lượng kháng nghị của Tòa án và VKS ngày càng được nâng lên Tuy nhiên vẫn có trường hợp do nhận thức không đúng dẫn đến kháng nghị chưa chính xác và tạm đình chỉ thi hành bản
án, sau đó HĐXX giám đốc thẩm không chấp nhận
Chính vì vậy, việc nghiên cứu một cách toàn diện và chuyên sâu về thủ tục giám đốc thẩm hình sự là một yêu cầu khách quan và cần thiết, nhằm lý giải một cách khoa học những vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra
Từ những lý do trên tác giả đã chọn đề tài: “Giám đốc thẩm án hình sự theo
pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn xét xử của TAND cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh” làm Luận văn Thạc sĩ luật học
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Qua nghiên cứu các công trình khoa học đã công bố, cho thấy có một số công trình đề cập về giám đốc thẩm hình sự như sau:
- Về Giáo trình có các công trình: Trường Đại học Luật Hà nội (2008), Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, NXB Công an nhân dân, Hà Nội; Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà nội (2013), Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội; và Giáo trình Luật Tố tụng Hình sự Việt Nam của các cơ
sở đào tạo luật khác ở nước ta
- Về Bình luận khoa học có các công trình: GS.TS Võ Khánh Vinh (chủ biên) (2004), Bình luận khoa học BLTTHS, NXB Công an nhân dân, Hà Nội; GS.TS Nguyễn Ngọc Anh (chủ biên) (2011), Bình luận khoa học BLTTHS năm
2003, NXB Chính trị Quốc gia, Hà nội
Các công trình trên khi đề cập đến thủ tục giám đốc thẩm chỉ nêu khái quát
và ngắn gọn về tính chất của giám đốc thẩm, căn cứ và trình tự kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm; thẩm quyền giám đốc thẩm, thủ tục phiên tòa giám đốc thẩm và một số vấn đề liên quan khác
- Nghiên cứu dưới góc độ Luận án Tiến sĩ Luật học, có công trình: Phan Thị Thanh Mai (2007), Giám đốc thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam, Luật án Tiến sĩ Luật học, bảo vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội
Trang 7- Nghiên cứu dưới góc độ Luận văn Thạc sĩ Luật học có các công trình: Nguyễn Thị Hạnh Vân (2015), Giám đốc thẩm trong luật tố tụng hình sự Việt Nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk), Luật văn Thạc sĩ Luật học, bảo
vệ tại Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội; Quản Thị Ngọc Thảo (2007), Giám đốc thẩm: một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Luật văn Thạc sĩ Luật học, bảo vệ tại Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Ngoài còn một số bài viết đăng trên các tạp chí khoa học chuyên ngành như: Nguyễn Quang Hiền, “Một số vấn đề về thủ tục giám đốc thẩm”, Tạp chí TAND, số 7/2009; Vũ Gia Lâm, Lê Kim Quế, “Một số vấn đề về giám đốc thẩm hình sự”, Tạp chí TAND, số 14/2006; Nguyễn Văn Trượng, “Thực trạng thi hành quy định của BLTTHS về phạm vi giám đốc thẩm và những vấn đề cần hoàn thiện”, Tạp chí TAND, số 7/2011; Đinh Văn Quế, “Vấn đề kháng nghị giám đốc thẩm về “dân sự” trong vụ án hình sự”, Tạp chí TAND, số 9/2005; Đinh Văn Quế, “Căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm theo BLTTHS năm 2003”, Tạp chí TAND, số 22/2004
Qua nội dung các công trình nghiên cứu dưới góc độ Luận án Tiến sĩ Luật học, Luận văn Thạc sĩ Luật học và các bài viết nêu trên cho thấy đề tài về thủ tục giám đốc thẩm đã được một số nhà khoa học, cán bộ nghiên cứu và những người làm công tác thực tiễn quan tâm nghiên cứu Các tác giả đã nghiên cứu những vấn
đề cơ bản về giám đốc thẩm và có những kiến nghị, đề xuất có giá trị về mặt lý luận
và thực tiễn Nhưng xét về nội dung, một số công trình có phạm vi nghiên cứu quá rộng, ngược lại một số công trình chỉ nghiên cứu một số khía cạnh nhất định liên quan thủ tục giám đốc thẩm, như phát hiện một số bất cập trong luật thực định cũng như một số vướng mắc trong thực tiễn áp dụng pháp luật Một số vấn đề về mặt lý luận liên quan đến thủ tục giám đốc thẩm chưa được làm rõ, còn nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn, nhiều khía cạnh pháp lý cần được tiếp tục nghiên cứu một cách toàn diện và sâu sắc hơn Mặt khác, thực tiễn hoạt động xét xử giám đốc thẩm chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra, một phần là do các quy định của pháp luật tố tụng hình sự liên quan đến vấn đề này còn nhiều bất cập, chưa phù hợp trong tình hình hiện nay, cần phải tiếp tục nghiên cứu, làm rõ
Trang 8Như vậy đề tài: “Giám đốc thẩm án hình sự theo pháp luật tố tụng hình sự
Việt Nam từ thực tiễn xét xử của TAND cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh” không
trùng với bất kỳ công trình khoa học nào đã được công bố
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Làm rõ những vấn đề lý luận và thực trạng áp dụng thủ tục Giám đốc thẩm của TAND cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh
Trên cơ sở đó đề ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn giải quyết các vụ án hình sự của TAND cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu trên, trong quá trình nghiên cứu phải thực hiện được các nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống những vấn đề lý luận về thủ tục giám đốc thẩm nhằm đưa ra những khái niệm, khái quát các quy định của pháp luật nước ta cũng như của một số nước trên thế giới;
- Nghiên cứu những quy định cụ thể về thủ tục giám đốc thẩm trong BLTTHS hiện hành của Việt Nam, từ đó rút ra những bất cập của các quy định về thủ tục giám đốc thẩm trong luật thực định Việt Nam cần khắc phục;
- Khảo sát thực trạng áp dụng giám đốc thẩm của TAND cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh, đồng thời phân tích làm rõ những tồn tại, hạn chế xung quanh việc áp dụng và những nguyên nhân của nó;
- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng thủ tục Giám đốc thẩm trong thực tiễn giải quyết các vụ án hình sự của TAND cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Những vấn đề lý luận cơ bản về thủ tục Giám đốc thẩm trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam và thực tiễn áp dụng giám đốc thẩm của TAND cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh
Trang 94.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản và thực tiễn áp dụng thủ tục giám đốc thẩm, trên cơ sở tiếp cận các văn bản pháp luật có liên quan, chủ yếu là văn bản pháp luật tố tụng hình sự ban hành từ năm 1988 đến nay Tập trung chủ yếu vào thủ tục giám đốc thẩm trong mối liên hệ với các chế định khác của tố tụng hình sự
- Về không gian: Thực tiễn xét xử của TAND cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh, trên cơ sở các vụ án được TAND cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh xét xử theo giám đốc thẩm
- Về thời gian: từ khi thành lập TAND cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh (ngày 01/6/2015) đến nay
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Đề tài Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận là Phép biện chứng duy vật của Chủ nghĩa Mác - Lênin; Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật, những quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, về cải cách tư pháp
5.2 Phương nghiên cứu cụ thể
- Phương pháp phân tích, thống kê, so sánh, tổng hợp được sử dụng trong quá trình phân tích các quy định của pháp luật hiện hành và so sánh với các quy định của pháp luật trước đó
- Phương pháp nghiên cứu điển hình được sử dụng trên cơ sở nghiên cứu một
số vụ án điển hình đã xét xử
- Phương pháp chuyên gia được sử dụng trên cơ sở tham khảo ý kiến đánh giá của các chuyên gia có trình độ cao trong ngành Tòa án và VKS để xem xét, nhận định và tìm ra giải pháp về vấn đề nghiên cứu
- Phương pháp điều tra xã hội học được sử dụng trên cơ sở điều tra quan điểm của những người trực tiếp làm công tác giám đốc thẩm hình sự của TAND cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh
Trang 106 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Về mặt khoa học: Đề tài đã góp phần làm rõ bản chất pháp lý, cơ sở lý luận
và thực tiễn của việc hình thành thủ tục giám đốc thẩm trong pháp luật tố tụng hình
sự Việt Nam và đề ra giải pháp hoàn thiện một số vấn đề lý luận về thủ tục giám đốc thẩm
- Về mặt thực tiễn: Các kết quả nghiên cứu của Đề tài góp phần nâng cao
hiệu quả áp dụng giám đốc thẩm của TAND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh Với ý nghĩa đó, kết quả nghiên cứu của Đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho
công tác nghiên cứu, giảng dạy và đào tạo về pháp luật hình sự và tố tụng hình sự
7 Cơ cấu của luận văn
Đề tài ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục thì nội dung được chia làm 3 chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về thủ tục giám đốc thẩm hình sự
Chương 2: Thực tiễn áp dụng giám đốc thẩm của TAND cấp cao tại thành
phố Hồ Chí Minh
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng thủ
tục giám đốc thẩm của TAND cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh
Trang 11Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỦ TỤC GIÁM ĐỐC THẨM HÌNH SỰ 1.1 Khái niệm và đặc điểm của thủ tục giám đốc thẩm hình sự
1.1.1 Khái niệm thủ tục giám đốc thẩm hình sự
Tố tụng hình sự là trình tự, thủ tục tiến hành giải quyết vụ án hình sự theo quy định của pháp luật Tố tụng hình sự bao gồm toàn bộ hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, của cá nhân, cơ quan nhà nước khác và tổ chức xã hội góp phần vào việc giải quyết vụ án theo quy định của luật tố tụng hình sự
Ở các nước trên thế giới, do truyền thống pháp luật khác nhau mà quan niệm
về thủ tục giám đốc thẩm cũng có sự khác nhau Ở các nước theo truyền thống luật dân sự (civil law), thường thực hiện chế độ “hai cấp xét xử” Theo đó, sau khi vụ án được xét xử theo thủ tục sơ thẩm (xét xử lần đầu), bản án, quyết định của Toà án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực ngay, đương sự, bị cáo có quyền kháng cáo, VKS/Viện công tố có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn luật định để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm Bản án, quyết định của Toà án cấp sơ thẩm chỉ có hiệu lực khi đã hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị mà không có kháng cáo, kháng nghị Bản án, quyết định của Toà án cấp phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ngay sau khi tuyên án (có tính chung thẩm) Tuy nhiên,
kể cả sau khi bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật, nếu phát hiện
có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án cấp trên vẫn có quyền xét lại bản án, quyết định đó theo thủ tục luật định nhằm khắc phục vi phạm của bản án, quyết định đó Thủ tục xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án thường được gọi là thủ tục giám đốc thẩm hoặc thủ tục phá án
Trái lại, ở các nước theo truyền thống thông luật (common law), thường không thực hiện chế độ “hai cấp xét xử” Sau khi vụ án được xét xử, nếu không đồng ý với phán quyết của Toà án, bị cáo có quyền kháng cáo Việc kháng cáo có thể tiến hành ở Toà án các cấp Như vậy thủ tục tố tụng chỉ bao gồm: thủ tục tố tụng tại Toà sơ thẩm và thủ tục tố tụng tại Toà kháng cáo Tuy nhiên, ở mỗi cấp Toà án,
Trang 12pháp luật lại quy định căn cứ, thủ tục kháng cáo khác nhau Như vậy, ở các nước này, pháp luật không quy định thủ tục giám đốc thẩm hay thủ tục phá án như ở các nước theo truyền thống luật dân sự
Việt Nam thực hiện chế độ “hai cấp xét xử” như các nước theo truyền thống luật dân sự Việc xét lại bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật được tiến hành theo thủ tục giám đốc thẩm khi có kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm của chủ thể có thẩm quyền
Thủ tục xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án đã được pháp luật Việt Nam quy định khá sớm Tuy nhiên, thuật ngữ “giám đốc thẩm” chính thức được pháp luật quy định lần đầu tiên trong Luật tổ chức TAND năm
1981 Tiếp đó, được quy định trong các văn bản pháp luật tố tụng hình sự, trong đó
có BLTTHS năm 1988, 2003 và 2015
Điều 241 BLTTHS năm 1988 quy định tính chất của giám đốc thẩm là “việc xét lại bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật trong việc xử lý vụ án” Theo quy định này, trường hợp phát hiện thấy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án có vi phạm pháp luật, những người có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm (Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKSND tối cao, Chánh án, Phó Chánh án TAND tối cao, Viện trưởng VKSND cấp tỉnh và Chánh án TAND cấp tỉnh) sẽ kháng nghị bản án, quyết định đó Trên cơ sở kháng nghị, Toà án có thẩm quyền giám đốc thẩm sẽ xem xét lại vụ án và ra một trong những quyết định: bác kháng nghị, sửa bản án, quyết định
bị kháng nghị hoặc huỷ bản án quyết định bị kháng nghị (và giao cho Toà án cấp dưới) xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm hoặc phúc thẩm Như vậy, cũng giống như giai đoạn trước đây, trong giai đoạn này, giám đốc thẩm được hiểu là việc Toà án cấp giám đốc thẩm xét xử lại vụ án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị Biểu hiện rõ nhất của hoạt động “xét xử lại vụ án” là ở quy định Toà án giám đốc thẩm có quyền sửa lại nội dung của bản án hoặc quyết định bị kháng nghị
Điều 272 BLTTHS năm 2003 quy định “giám đốc thẩm là việc xét lại bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có vi
Trang 13phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc xử lý vụ án” Điểm khác biệt của BLTTHS
năm 2003 là phải có vi phạm pháp luật nghiêm trọng thì mới xem xét theo thủ tục
giám đốc thẩm Đồng thời, xuất phát từ nguyên tắc hai cấp xét xử, BLTTHS năm
2003 đã quy định bỏ thẩm quyền của Hội đồng giám đốc thẩm trong việc sửa bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực Hội đồng giám đốc thẩm chỉ có quyền bác kháng nghị, giữ nguyên bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật hoặc huỷ bản án, quyết định đó để điều tra lại hoặc xét xử lại theo quy định của pháp luật
Điều 370 BLTTHS năm 2015 giữ nguyên quy định về tính chất của giám đốc thẩm nhưng có một số sửa đổi, bổ sung về thẩm quyền của Hội đồng giám đốc thẩm trong việc sửa bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực, tương tự như BLTTHS năm
1988 Quy định của BLTTHS năm 2015 về thủ tục giám đốc thẩm là phù hợp, tương đồng với pháp luật các nước
Trong những năm gần đây, khoa học luật tố tụng hình sự nước ta đã có một
số nghiên cứu về thủ tục giám đốc thẩm Tuy nhiên, chưa có công trình nào đưa ra khái niệm về giám đốc thẩm, ngoài quy định trong BLTTHS về “tính chất của giám đốc thẩm”, được xem là định nghĩa về giám đốc thẩm như đã nêu trên Những định nghĩa nêu trên của BLTTHS năm 1988, BLTTHS năm 2003 và BLTTHS năm 2015
đã nêu được tính chất, căn cứ và nội dung của việc kháng nghị để bản án có hiệu lực pháp luật được xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm Tuy nhiên, định nghĩa này còn thiếu những đặc điểm quan trọng của giám đốc thẩm với tư cách là một thủ tục đặc biệt của tố tụng hình sự nhằm khắc phục những vi phạm, sai lầm trong quá trình giải quyết vụ án
Tính chất của thủ tục giám đốc thẩm là xét lại bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc xử lý vụ án Tính chất này của giám đốc thẩm là một trong những căn cứ để phân biệt với thủ tục phúc thẩm cũng như thủ tục tái thẩm trong tố tụng hình sự Một vấn đề quan trọng đặt ra là để xác định được vi phạm nghiêm trọng trong quá trình giải quyết vụ án thì cơ chế phát hiện, trình tự, thủ tục mà Toà án và các cơ quan tiến hành tố tụng phải tuân theo là gì để hướng tới mục đích khắc phục
Trang 14sai lầm, trả lại sự khách quan, công bằng cho cho những đối tượng liên quan đến vụ
án Những nội dung này được qui định trong pháp luật tố tụng hình sự các nước và tuỳ theo đặc điểm kinh tế, xã hội, pháp luật cũng như tình hình đấu tranh chống tội phạm của mỗi quốc gia mà có những qui định cho phù hợp
Như vậy, thủ tục giám đốc thẩm được quy định với mục đích nhằm kịp thời sửa chữa khắc phục những sai lầm trong bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật khi có kháng nghị của người có thẩm quyền Việc sửa chữa sai lầm được thực hiện thông qua quyết định của Hội đồng giám đốc thẩm Bằng các quyết định của mình Hội đồng giám đốc thẩm khắc phục gián tiếp các sai lầm thông qua việc hủy
án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật để điều tra lại, xét xử lại hoặc đình chỉ
vụ án; và sắp tới khi BLTTHS năm 2015 chính thức có hiệu lực thì Hội đồng giám đốc thẩm còn có thêm thẩm quyền sửa bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật
Từ những phân tích nêu trên, có thể rút ra khái niệm về giám đốc thẩm như
sau: Giám đốc thẩm là một thủ tục đặc biệt trong tố tụng hình nhằm xác định và
khắc phục những vi phạm, sai lầm nghiêm trọng trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án dựa trên những căn cứ kháng nghị của người có thẩm quyền kháng nghị theo qui định của pháp luật”
1.1.2 Đặc điểm của thủ tục giám đốc thẩm hình sự
Từ những phân tích ở trên, chúng ta có thể thấy giám đốc thẩm có những đặc điểm sau:
- Thứ nhất, giám đốc thẩm không phải là một giai đoạn mà chỉ là thủ tục đặc
biệt của tố tụng hình sự nhằm xem xét, khẳng định có hay không các vi phạm của bản án hoặc quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật
Sau khi bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Toà án bị kháng nghị thì được xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm Việc thẩm tra, xem xét những bản
án, quyết định bị kháng nghị theo trình tự giám đốc thẩm được tiến hành theo các qui định của luật tố tụng hình sự nhằm xác định lại sự thật khách quan vụ án Tuy nhiên, cũng cần lưu ý là Hội đồng giám đốc thẩm không xử lại bản án mà chỉ xem
Trang 15xét và khẳng định có hay không các vi phạm của bản án hoặc quyết định của Tòa án
có hiệu lực pháp luật
Với đặc điểm này, thẩm quyền của Hội đồng giám đốc thẩm được đưa ra các quyết định sau:
1/ Không chấp nhận kháng nghị và giữa nguyên bản án hoặc quyết định đã
có hiệu lực pháp luật, đây là sự khẳng định không có sự vi phạm nghiêm trong trong bản án có hiệu lực pháp luật, việc kháng nghị là không có căn cứ
2/ Huỷ bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ vụ án, trường hợp này được coi là có sự vi phạm pháp luật nghiêm trọng dẫn đến việc giải quyết vụ án không khách quan, sự việc phạm tội không xẩy ra hoặc có sự việc phạm tội nhưng hành vi của người bị kết án không cấu thành tội phạm Vì vậy, bản án có hiệu lực pháp luật bị Hội đồng giám đốc thẩm ra quyết định hủy đồng thời với quyết định đình chỉ vụ án
3/ Huỷ bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật để điều tra lại hoặc xét xử lại Đây là trường hợp Hội đồng giám đốc thẩm xác nhận và khẳng định có
sự vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và cần phải tiến hành lại ở các giai đoạn điều tra hoặc xét xử để đảm bảo tính khách quan của vụ án
BLTTHS năm 2015 bổ sung thêm thẩm quyền: 1/ Hủy bản án, quyết định đã
có hiệu lực pháp luật và giữ nguyên bản án, quyết định đúng pháp luật của Tòa án cấp sơ thẩm hoặc Tòa án cấp phúc thẩm bị hủy, sửa không đúng pháp luật 2/ Sửa bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật
Thứ hai, Giám đốc thẩm là sự khắc phục những sai lầm của các hoạt động
điều tra, truy tố, xét xử đối với những bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật
Theo pháp luật hiện hành, hoạt động điều tra, truy tố, xét xử là hoạt động chứng minh nhằm làm sáng tỏ bản chất của vụ án Nghĩa vụ chứng minh thuộc về trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, còn người
bị kết án có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội Qui định như
Trang 16vậy, bởi vì quan hệ pháp luật hình sự là mối quan hệ giữa Nhà nước và người phạm tội Nhà nước với tư cách là chủ thể của quan hệ pháp luật hình sự có quyền quy định hành vi nào là tội phạm đồng thời buộc người có hành vi phải gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi bằng bản án của Toà án hoặc các quyết định của cơ quan có thẩm quyền
Trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền, để truy cứu trách nhiệm của một người buộc Nhà nước phải có những chứng cứ chứng minh hành vi của họ là phạm tội và đi ngược lại với lợi ích của xã hội Nếu các cơ quan tiến hành tố tụng không chứng minh được hành vi phạm tội của họ thì không thể buộc tội và truy cứu trách nhiệm hình sự họ
Để việc thu thập chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của một người nào
đó, Nhà nước lập ra các cơ quan chuyên trách làm nhiệm vụ chứng minh tội phạm
Ở Việt Nam các cơ quan đó là CQĐT, VKS, Toà án Các cơ quan này có nhiệm vụ phải áp dụng các biện pháp cần thiết để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, đúng người, đúng tội, làm rõ những chứng cứ xác định
có tội và những chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiện hình sự
Khi các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện nghĩa vụ chứng minh, pháp luật quy định cho các cơ quan này được áp dụng các biện pháp thu thập chứng cứ cần thiết, phù hợp với nhiệm vụ chứng minh tội phạm đồng thời phải đảm bảo tôn trọng các quyền tự do của công dân
Nhưng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử nếu có giai đoạn nào cơ quan tiến hành tố tụng mắc sai lầm mà khi bản án hoặc quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật mới phát hiện ra sai lầm đó thì nghĩa vụ khắc phục phải là các cơ quan tiến hành tố tụng thông qua thủ tục giám đốc thẩm
Quyết định của Hội đồng giám đốc thẩm là chung thẩm không bị kháng nghị
và có hiệu lực thi hành ngay sau khi quyết định đó được tuyên Đây là hậu quả pháp
lý của thủ tục giám đốc thẩm trong tố tụng hình sự buộc các bên liên quan phải thi hành Đồng thời, quyết định của Hội đồng giám đốc thẩm trong trường hợp này là
Trang 17sự khắc phục những sai lầm của các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử đối với những bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, trả lại sự khách quan, công bằng cho vụ án
Thứ ba, Thủ tục giám đốc thẩm chỉ được tiến hành khi phát hiện và khẳng
định được những vi phạm pháp luật của bản án có hiệu lực pháp luật và được những người có thẩm quyền kháng nghị dựa trên những căn cứ kháng nghị được qui định trong luật
Việc phát hiện vi phạm pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án pháp luật các nước đều qui định cho mọi công dân, các cơ quan nhà nước và tổ chức xã hội, nhưng trước hết thuộc về người bị kết án, VKS và Toà án Qui định này xuất phát từ quyền được giám sát đối với hoạt động của cơ quan nhà nước nói chung và các cơ quan tiến hành tố tụng nói riêng của công dân
và xã hội
Ở nước ta, theo qui định tại điều 274 BLTTHS năm 2003 thì: “Người bị kết
án, cơ quan, tổ chức và mọi công dân có quyền phát hiện những vi phạm pháp luật trong các bản án và quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật và thông báo cho những người có quyền kháng nghị quy định tại Điều 275 của Bộ luật này”
Điều 372 BLTTHS năm 2015 giữ nguyên quy định này
Chủ thể của quyền phát hiện vi phạm pháp luật đối những bản án và quyết định có hiệu lực của toà án rất rộng, có thể nói đó là quyền của tất cả xã hội nhưng việc xác định và chấp nhận sự phát hiện đó lại thuộc về một số cơ quan tiến hành tố tụng Do đặc điểm về cơ cấu tổ chức của hệ thống cơ quan nhà nước ta nên VKS ngoài chức năng thực hành quyền công tố còn có chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự Vì vậy, việc xem xét và chấp nhận phát hiện vi phạm của bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật được luật tố tụng hình sự được qui định đối với cả những người có thẩm quyền của cơ quan Toà án và VKS
Việc chấp nhận phát hiện vi phạm của bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật được thể hiện bằng quyết định kháng nghị của người có thẩm quyền theo qui định của pháp luật và phải dựa trên những căn cứ nhất định Thông thường, luật tố
Trang 18tụng hình sự các nước qui định căn cứ kháng nghị thuộc về bốn nhóm vấn đề, đó là: 1/ Thủ tục điều tra, xét hỏi tại phiên toà phiến diện hoặc không đầy đủ; 2/ Kết luận trong bản án hoặc quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án; 3/ Có sự vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong khi điều tra, truy tố hoặc xét xử; 4/ Có những sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng BLHS Nội dung của những căn cứ này thực chất là những biểu hiện của việc phạm pháp luật trong các bản án quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án
1.2 Cơ sở lý luận và thực tiễn của thủ tục giám đốc thẩm
Thủ tục giám đốc thẩm trong tố tụng hình sự được hình thành dựa trên những
cơ sở lý luận và thực tiễn sau đây
1.2.1 Cơ sở lý luận
Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, cơ quan tiến hành tố tụng có nhiệm
vụ áp dụng mọi biện pháp của luật tố tụng hình sự qui định nhằm xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ những chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng Bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh mình vô tội Đây là nguyên tắc cơ bản trong tố tụng hình sự không chỉ ở Việt Nam mà hầu hết các nước trên thế giới đều quy định trách nhiệm này
Tuy nhiên, không phải tất cả các vụ án đều được giải quyết khách quan, công bằng, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Mà có một số trường hợp sau khi bản
án đã có hiệu lực pháp luật mới phát hiện những sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật Như vậy, vấn đề đặt ra là phải có cơ chế khắc phục những sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật được phát hiện sau khi bản án đã có hiệu lực pháp luật
Những sai lầm được phát hiện từ những bản án hoặc quyết định của Toà án
đã có hiệu lực pháp luật do những nguyên nhân khách quan hoặc chủ quan và nó tồn tại như một quy luật Bởi lẽ, nhận thức chân lý là một quá trình phản ánh nhận thức của con người từ chưa biết đến biết, biết ít đến biết nhiều, từ hiện tượng đến
Trang 19bản chất Đó là quá trình trải qua hai giai đoạn tất yếu từ nhận thức cảm tính (trực quan sinh động) đến nhận thức lý tính (tư duy trừu tượng), từ việc thu thập, kiểm tra chứng cứ đến việc đánh giá tổng hợp các chứng cứ đã thu thập được nhằm làm rõ tình tiết của vụ án Mặt khác, nhận thức còn là một quá trình mâu thuẫn giữa biết ít
và biết nhiều, biết chưa đầy đủ và biết đầy đủ và phải đặt các sự vật hiện tượng trong mối quan hệ tổng thể, luôn vận động biến đổi nên nó phụ thuộc rất nhiều vào chủ thể của quá trình nhận thức Do vậy, có nhận thức sai lầm là không tránh khỏi
Sai lầm của bản án hoặc quyết định của Toà án được thể hiện dưới dạng bỏ lọt tội phạm (bỏ lọt hành vi phạm tội và người phạm tội); làm oan người vô tội (xét
xử người không có tội, hành vi của họ không cấu thành tội phạm); xét xử không đúng tội danh, mức án không phù hợp (xử nặng hoặc xử nhẹ, không đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội); có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử Điều đó gây thiệt hại đến lợi ích của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, ảnh hưởng đến uy tín của các cơ quan tiến hành tố tụng, gây mất niềm tin trong nhân dân, vi phạm các nguyên tắc của BLTTHS như: xác định
sự thật của vụ án; đảm bảo quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân
Việc khắc phục những sai lầm của các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở các giai đoạn trước đó là việc làm cần thiết mang tính tất yếu, là yêu cầu khách quan đặt ra đối với Toà án và các cơ quan tiến hành tố tụng khác Thủ tục giám đốc thẩm là cơ chế đặc biệt để khắc phục sai lầm trong các bản
án hoặc quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật
1.2.2 Cơ sở thực tiễn
Thực tiễn giải quyết án cho thấy có rất nhiều sai lầm troHng quá trình điều tra, truy tố, xét xử, dẫn đến bản án, quyết định của Tòa án không đúng pháp luật Nhiều vụ án oan trong lịch sử tố tụng hình sự Việt Nam trước đây và một số vụ chấn động gần đây trong cả nước và khu vực phía nam như vụ Huỳnh Văn Nén, Hàn Đức Long cho thấy cơ chế khắc phục oan, sai trong quá trình giải quyết vụ
án hình sự thong qua thủ tục xét lại bản án, quyết định đã co hiệu lực pháp luật của Tòa án là hết sức cần thiết
Trang 20Khi bản án hoặc quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật mới phát hiện có sai lầm thì tuỳ theo từng hình thức và mức độ của sai lầm đó mà chia thành các dạng khác nhau: Thứ nhất, phát hiện ra các tình tiết mới của vụ án mà trong các giai đoạn tố tụng trước đó không xác định được; Thứ hai, phát hiện ra những vi phạm pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng
Đối với những bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng phát hiện có những tình tiết mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án hoặc quyết định mà trong quá trình giải quyết vụ án chưa xác định được Những tình tiết mới này do những người tiến hành tố tụng không phát hiện và xác định được khi giải quyết vụ án và nó ảnh hưởng đến tính khách quan của vụ án thì được được xét lại theo trình tự tái thẩm Khi tiến hành thủ tục này thì bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật đó có thể được hủy để điều tra lại, truy tố lại hoặc xét xử lại
Đối với những bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng phát hiện có những vi phạm pháp luật thì được tiến hành theo trình tự giám đốc thẩm Giám đốc thẩm không phải là một cấp xét xử mà chỉ là một thủ tục đặc biệt của tố tụng hình sự Thủ tục này chỉ có thể tiến hành khi có kháng nghị của những cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng có thẩm quyền Tuy nhiên, không phải tất cả các vi phạm pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án được phát hiện đều là căn cứ để xem xét lại bản án theo thủ tục giám đốc thẩm mà chỉ là những vi phạm nghiêm trọng ảnh hưởng tới tính khách quan của bản án Qui định này nhằm đảm bảo sự ổn định của các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nên những vi phạm không nghiêm trọng, không ảnh hưởng nhiều tới tính khách quan của vụ án
và đặc biệt là không ảnh hưởng tới trách nhiệm hình sự của người bị kết án thì thì không được xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm
Việc “xét lại” bản án đã có hiệu lực pháp luật của cấp giám đốc thẩm được
hiểu đó là hoạt động thẩm tra, xem xét lại tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản
án hoặc quyết định đó có phù hợp với các quy định của luật hình sự không và quá trình giải quyết vụ án các cơ quan tiến hành tố tụng có tuân thủ những qui định của
Trang 21luật tố tụng hình sự không Khi xác định tính hợp pháp và tính có căn cứ phải xem xét một số vấn đề như: việc định tội có đúng tội danh được quy định trong BLHS không? Căn cứ áp dụng hình phạt có đúng không? áp dụng các tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng có đúng với quy định Luật hình sự không, phần kết luận của bản
án hoặc quyết định đó có phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án, phù hợp các chứng cứ, tình tiết được thẩm tra, xác minh tại phiên tòa không
Như vậy, giữa thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm tuy có điểm chung là xét lại bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật khi phát hiện ra sai lầm ảnh hưởng tới tính khách quan của vụ án và trách nhiệm hình sự đối với người bị kết án nhưng khác nhau ở chỗ nếu phát hiện ra tình tiết mới làm thay đổi bản chất vụ án thì xét lại theo thủ tục tái thẩm còn nếu có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong quá trình giải quyết vụ án thì được xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm Chính sự khác biệt này của hai thủ tục này đã quyết định nội dung việc xem xét và phán quyết của bản án tái thẩm và giám đốc thẩm Nếu như quyết định tái thẩm liên quan đến nội dung của bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực của Toà án thì bản án quyết định giám đốc thẩm chỉ xác định có hay không có vi phạm pháp luật trong quá trình giải quyết vụ
án
Giám đốc thẩm cũng khác với giám đốc xét xử Giám đốc xét xử là việc Tòa
án cấp trên kiểm tra hoạt động xét xử của TAND cấp dưới về công tác xét xử thông qua đó kịp thời uốn nắn, sửa chữa hoặc hủy bỏ những sai lầm, thiếu sót nhằm đảm bảo bản án được ban hành đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Giám đốc xét xử bao gồm nhiều hoạt động khác nhau như: Kiểm tra, phát hiện những thiếu sót thông qua đoàn thanh tra; giải quyết các khiếu nại, tố cáo của cơ quan nhà nước, tổ chức
xã hội, bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và của các công dân khác; thẩm định lại các bản án hoặc quyết định của Tòa án cấp dưới; kháng nghị bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm; thực hiện xét xử giám đốc thẩm; hướng dẫn Tòa án các cấp áp dụng thống nhất pháp luật; tổng kết kinh nghiệm hàng năm của TAND tối cao
Như vậy, thủ tục giám đốc thẩm được quy định với mục đích nhằm kịp thời sửa chữa khắc phục những sai lầm trong bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp
Trang 22luật khi có kháng nghị của người có thẩm quyền Việc sửa chữa được thực hiện thông qua quyết định của Hội đồng giám đốc thẩm Bằng các quyết định của mình Hội đồng giám đốc thẩm khắc phục gián tiếp bằng việc hủy án hoặc quyết định đã
có hiệu lực pháp luật để điều tra lại, xét xử lại hoặc đình chỉ vụ án Thông qua hoạt động đó Tòa án cấp giám đốc thẩm thực hiện mục đích bảo vệ lợi ích xã hội, quyền
và lợi ích hợp pháp của công dân tránh bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội
Ngoài những mục đích trên, giám đốc thẩm có ý nghĩa rất lớn trong hoạt động tổng kết xét xử của ngành Tòa án hàng năm Kết quả thống kê toàn ngành giúp cho Hội đồng thẩm phán TAND tối cao đề ra các Nghị quyết hoặc phối hợp với các cơ quan hữu quan ra Thông tư liên tịch hướng dẫn Tòa án các cấp trong hoạt động xét xử Đồng thời, qua việc giám đốc thẩm, các cơ quan tiến hành tố tụng còn phát hiện ra những quy định bất hợp lý của BLHS, BLTTHS và các văn bản quy phạm pháp luật khác để kịp thời có những kiến nghị nhằm sửa đổi bổ sung cho phù hợp với thực tiễn
1.3 Thủ tục giám đốc thẩm trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam và của một số nước trên thế giới
1.3.1 Thủ tục giám đốc thẩm trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
1.3.1.1 Quá trình hình thành, phát triển thủ tục giám đốc thẩm trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
Trong quá trình nghiên cứu chế định giám đốc thẩm thì việc nghiên cứu một cách khoa học và đầy đủ có hệ thống quá trình hình thành và phát triển các quy phạm pháp luật tố tụng hình sự về thủ tục giám đốc thẩm là thực sự cần thiết Nó
cung cấp cho chúng ta một kiến thức pháp lý, khoa học để từ đó giúp cho việc hoàn
thiện pháp luật tố tụng hình sự nói chung và chế định giám đốc thẩm nói riêng cho phù hợp với tình hình thực tế xã hội Có thể đánh giá quá trình hình thành, phát triển thủ tục giám đốc thẩm trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam theo các giai đoạn như sau:
- Giai đoạn trước cách mạng Tháng 8 năm 1945
Trong thời kỳ pháp thuộc, nền tư pháp nước ta là nền tư pháp thuộc địa và nửa phong kiến được đặt dưới chính sách chia để trị Thời kỳ này Việt Nam chia
Trang 23thành ba kỳ, mỗi kỳ được đặt dưới một chế độ chính sách khác nhau Nam Kỳ là thuộc địa của Pháp, Trung Kỳ và Bắc Kỳ được đặt dưới sự bảo hộ của Pháp Tại Trung Kỳ, chính quyền nhà Nguyễn tuy vẫn có một số quyền lực nhất định nhưng đều bị thực dân Pháp kiểm soát gắt gao Còn Bắc Kỳ tuy không phải là thuộc địa nhưng hầu hết mọi quyền lực đều tập trung vào tay nhà cầm quyền Pháp
Do khác nhau về chế độ chính trị nên hệ thống Toà án ở Việt Nam trở nên phức tạp Có thể phân thành hai loại: Toà án Pháp và Toà án Việt Nam Tại khắp ba
kỳ, các Toà án Pháp đủ các cấp được thành lập, có thẩm quyền xét xử hầu hết các
vụ án hình sự, dân sự, thương sự Những Toà án này thuộc hệ thống tư pháp thuộc địa Pháp, đặt dưới quyền kiểm soát của Toà phá án Paris Nguyên tắc xét xử hai cấp được áp dụng khá triệt để Đương sự có quyền kháng cáo một lần đề nghị Toà thượng thẩm xét lại bản án hình sự Các Toà án thượng thẩm xét xử phúc thẩm các bản án của Toà án cấp dưới bị kháng cáo Các Bản án phúc thẩm chỉ có thể được xét lại bởi Toà phá án Paris theo trình tự phá án (giám đốc thẩm) Bên cạnh đó tại mỗi
kỳ còn có Toà án Việt Nam do người Việt Nam đảm nhiệm nhưng đặt dưới sự kiểm soát của công viên sứ người Pháp Hệ thống Toà án này bao gồm Toà sơ cấp và Toà thượng thẩm Các Toà án này xét xử những vụ án liên quan đến quyền lợi người Việt Nam Hệ thống Toà án Việt Nam không có Toà phá án nên quyền hạn giám đốc thẩm giao luôn cho Toà thượng thẩm
Thời kỳ này thủ tục giám đốc thẩm chưa được quy định chặt chẽ nhưng nó cũng đặt nền tảng cho việc phát triển các quy phạm sau này
- Giai đoạn từ cách mạng tháng 8 năm 1945 đến trước năm 1988
Khi cách mạng tháng 8 thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hoà được thành lập Nhà nước ta đã ban hành một số sắc lệnh nhằm điều chỉnh tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp như: Sắc lệnh số 33C ngày 13/9/1945 về thiết lập Tòa án Quân sự [5]; Sắc lệnh 13/SL ngày 24/01/1946 về tổ chức các Toà án và các ngạch Thẩm phán [6]; Sắc lệnh số 51/SL ngày 17/4/1946 ấn định thẩm quyền các Toà án và sự phân công trong Toà án [7]; Sắc lệnh 85/SL ngày 22/5/1950 về cải cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng [8]
Trang 24Khi miền Bắc hoàn toàn giải phóng, thẩm quyền của Toà án ngày càng được
mở rộng Đồng thời trong quá trình giải quyết vụ án đã xuất hiện những sai lầm, thiếu sót của cơ quan tiến hành tố tụng Do vậy, thủ tục xét lại bản án, quyết định đã
có hiệu lực pháp luật của Toà án được pháp luật Việt Nam quy định trong giai đoạn này Đầu tiên phải kể đến Thông tư số 321/VHH-CT ngày 12/2/1958 của Bộ Tư pháp về việc yêu cầu các Toà án phải nghiên cứu giải quyết các đơn thư khiếu nại
về các vụ án đã xét xử chung thẩm quy định “Đối với những việc đã xử rồi… nếu thấy sai hoặc đúng không rõ ràng thì tuỳ từng trường hợp có kế hoạch giải quyết thích đáng (báo cáo cấp trên đề nghị kháng cáo hay xin xử lại hoặc đặt vấn đề điều tra, xác minh lại…)” [14, tr.14] Sau đó Bộ tư pháp và TAND tối cao ra Thông tư số 02/TT ngày 13/1/1959 và thông tư số 04/TT ngày 3/2/1959 quy định thủ tục xét lại bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật nay phát hiện có sai lầm Các thông tư này quy định chỉ đặt ra việc xét lại bản án hoặc quyết định hình sự đã có hiệu lực pháp luật đối với các can phạm đang bị giam giữ thi hành án và thuộc một trong ba trường hợp: xử oan, tội nặng xử nhẹ, tội nhẹ xử nặng Xử oan là trường hợp Toà án tiến hành xét xử và ra bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật Sau đó xuất hiện bằng chứng chứng minh can phạm không phạm tội, có phạm tội nhưng được đại xá hoặc những căn cứ mà cơ quan tiến hành tố tụng tìm được không đủ cơ sở kết luận can phạm đã phạm tội Nếu phát hiện ra vụ án bị xử oan TAND tối cao sẽ
ra quyết định tiêu án và giao cho Toà án cấp phúc thẩm xử lại và tha cho người bị oan Tội nặng xử nhẹ là trường hợp Toà án áp dụng hình phạt nhẹ hơn so với hình phạt đáng lẽ phải áp dụng hoặc đã áp dụng điều luật nhẹ hơn so với điều luật đáng
lẽ phải áp dụng Tội nhẹ xử nặng là trường hợp Toà án áp dụng hình phạt đối với bị cáo cao hơn so với hình phạt đáng lẽ phải áp dụng [19, tr.30-33] Nghị định của Thủ tướng Chính phủ số 318/TTG ngày 20/10/1959 quy định TAND tối cao là cơ quan xét xử cao nhất có nhiệm vụ, quyền hạn xử lại hoặc chỉ thị cho Toà án cấp dưới xử lại các vụ án đã có hiệu lực pháp luật nhưng có sai lầm Thông tư số 29/TT ngày 11/11/1959 quy định đối với bản án có hiệu lực pháp luật của Toà án phúc thẩm cần báo ngay cho TAND tối cao để TAND tối cao tiêu án và tuỳ từng trường hợp có thể
tự mình xử lại hoặc giao cho TAND cấp tỉnh xử lại [9]
Trang 25Tiếp đó, thủ tục này đã được quy định cụ thể hơn trong Luật tổ chức TAND năm 1960 Điều 10, Luật tổ chức TAND năm 1960 quy định “những bản án và quyết định đã có hiệu lực nếu phát hiện có sai lầm thì được xét lại” Pháp lệnh ngày 23/3/1969 về nhiệm vụ của Toà hình sự TAND tối cao cũng quy định nhiệm vụ “xử lại những vụ án do Toà hình sự hoặc Toà phúc thẩm TAND tối cao đã xử mà bản
án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, nhưng Toà án tối cao giao cho xử lại Xử lại những vụ án do TAND cấp dưới đã xử và bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật, nhưng Uỷ ban thẩm phán, Chánh án TAND tối cao hoặc Viện trưởng VKSND tối cao kháng nghị” Như vậy, theo quy định trong giai đoạn này, giám đốc thẩm là việc Toà án có thẩm quyền xét xử lại vụ án bị kháng nghị [26, tr.13]
Thủ tục giám đốc thẩm chính thức được quy định trong Luật tổ chức TAND năm 1981, tại Điều 12 Luật tổ chức TAND năm 1981 quy định: “Những bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật được xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm, nếu thấy có vi phạm pháp luật”
Có thể thấy, các quy định trong giai đoạn từ cách mạng tháng 8 năm 1945 đến trước năm 1988 đã góp phần rất lớn trong việc đấu tranh phòng chống tội phạm cũng như kịp thời sửa chữa, khắc phục những sai lầm trong bản án hoặc quyết định
đã có hiệu lực pháp luật của Toà án các cấp Tuy nhiên, do tình hình chính trị, kinh
tế, xã hội chưa ổn định nên các quy định về giám đốc thẩm còn có những hạn chế nhất định nên việc hoàn thiện các quy định pháp luật cho phù hợp với thực tiễn cuộc
sống là rất cần thiết
- Giai đoạn từ năm 1988 đến trước năm 2003
Trong công cuộc đổi mới đất nước theo hướng xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, theo định hướng XHCN, vận động theo cơ chế thị trường có
sự quản lý của nhà nước đã đưa đến những thành tựu trong việc ổn định về chính trị, kinh tế, xã hội Tuy nhiên, ngoài những mặt tích cực thì cũng xuất hiện những hiện tượng tiêu cực mới, pháp luật có lúc bị buông lỏng, tình hình tội phạm diễn biến phức tạp, còn nhiều vi phạm pháp luật trong lĩnh vực tố tụng hình sự dẫn đến oan sai, vi phạm quyền và lợi ích của công dân trong điều tra, truy tố, xét xử Trong
Trang 26tình hình đó, những văn bản pháp luật tố tụng hình sự đơn lẻ đã ban hành thể hiện
sự không toàn diện, không đồng bộ và có nhiều quy định không còn phù hợp, không thực sự đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng và chống tội phạm Mặt khác, BLHS năm
1985 cũng đòi hỏi phải có một hệ thống các văn bản pháp luật tố tụng hình sự hoàn chỉnh, thống nhất và đồng bộ nhằm thực hiện các quy định của BLHS, giải quyết tốt các vụ án hình sự cả về nội dung và hình thức
Để đáp ứng yêu cầu trên ngày 18/6/1988, tại kỳ họp thứ ba, khoá VIII, Quốc hội đã thông qua BLTTHS có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1989 (gọi tắt là BLTTHS năm 1988) BLTTHS năm 1988 ra đời đánh dấu sự phát triển của pháp luật tố tụng hình sự Bộ luật này là thành tựu khoa học lớn, là kết quả của quá trình
kế thừa và phát triển các kinh nghiệm và kiến thức trong quá trình xây dựng và phát triển khoa học luật tố tụng hình sự Lần đầu tiên các quy phạm pháp luật về giám đốc thẩm được pháp điển hoá và được quy định chi tiết ở chương XXIX, gồm 19 Điều, từ Điều 241 đến Điều 259 BLTTHS năm 1988 Trong Bộ luật này, các quy định về giám đốc thẩm đã được quy định một cách có hệ thống, đầy đủ và khoa học,
về cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn xét xử trong thời kỳ mới
BLTTHS năm 1988 đã có sự kế thừa các quy định pháp luật trong thời kỳ trước, giữ nguyên một số quy định về những vấn đề cơ bản như: tiếp tục phân biệt thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm, xác định tính chất của giám đốc thẩm, duy trì quy định về thẩm quyền giám đốc thẩm và quyền hạn của Hội đồng giám đốc thẩm BLTTHS năm 1988 đã quy định cụ thể về bốn căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng pháp luật BLTTHS năm 1988 cũng quy định thêm về quyền của người bị kết án, cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và mọi công dân trong việc phát hiện những vi phạm pháp luật trong các bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án và thông báo cho người có thẩm quyền kháng nghị
- Giai đoạn từ năm 2003 đến nay
Qua mười lăm năm thực hiện, BLTTHS năm 1988 đã được sửa đổi bổ sung vào tháng 6/1990, tháng 12/1992 và lần thứ ba tháng 6/2000 nhưng các quy định
Trang 27trong BLTTHS năm 1988 nói chung và các quy định về giám đốc thẩm nói riên đã bộc lộ những thiếu sót, nhược điểm không còn phù hợp với tình hình xã hội có nhiều thay đổi, không còn phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ của nền kinh tế, cải cách hành chính, cải cách từ pháp Vì vậy, việc sửa đổi một cách toàn diện BLTTHS hiện hành là yêu cầu cấp thiết để đáp ứng được những đòi hỏi của thực tiễn đấu tranh phòng và chống tội phạm trong tình hình mới Thể chế hoá chủ trương của Đảng về cải cách tư pháp đồng thời để cụ thể hoá các quy định của Hiến pháp, đảm bảo tính đồng bộ và thống nhất với các văn bản pháp luật mới được ban hành có những nội dung liên quan đến tố tụng hình sự như: BLHS năm 1999, luật tổ chức TAND năm
2002, luật tổ chức VKSND năm 2002 Ngày 26/11/2003 Quốc hội thông qua BLTTHS và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1/7/2004 Trong Bộ luật này thủ tục giám đốc thẩm được quy định tại chương XXX, phần thứ sáu gồm 18 Điều, từ Điều 272 đến Điều 289 Bộ luật mới giữ nguyên bốn điều bỏ một điều quy định trong luật cũ, các điều luật còn lại đều được sửa đổi, bổ sung
Cùng với công cuộc cải cách kinh tế và cải cách hành chính, Đảng và Nhà nước ta đang chủ trương đẩy mạnh cải cách tư pháp, coi đây là nhân tố quan trọng thúc đẩy quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam Theo đó các quy định của Pháp luật nước ta nói chung và pháp luật tố tụng hình sự nói riêng cũng phải có những thay đổi cho phù hợp với các nước Trong tình hình đó, Bộ
chính trị đã ban hành Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 về “Chiến lược xây
dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020” và Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” Nghị quyết 49-NQ/TW nêu rõ chủ trương hoàn thiện thủ tục
giám đốc thẩm theo hướng quy định chặt chẽ những căn cứ kháng nghị và quy định
rõ trách nhiệm của người ra kháng nghị đối với bản án hoặc quyết định của Toà án
đã có hiệu lực pháp luật; khắc phục tình trạng kháng nghị tràn lan thiếu căn cứ
Đồng thời, qua hơn 10 năm thi hành, BLTTHS năm 2003 đã bộc lộ nhiều vướng mắc, bất cập, trong đó căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm thiếu chặt chẽ đang
là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến kháng nghị giám đốc thẩm còn nhiều như hiện nay
Trang 28Do vậy, sửa đổi BLTTHS nói chung và chế định giám đốc thẩm nói riêng là rất cần thiết, nhằm khắc phục những tồn tại, hạn chế sau hơn 10 năm triển khai thi hành BLTTHS năm 2003; tiếp tục thể chế hóa các chủ trương, quan điểm của Đảng về cải cách tư pháp, thể chế hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013 và bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật; đồng thời, đáp ứng yêu cầu của quá trình hội nhập quốc tế, nhất là trong hợp tác đấu tranh phòng chống tội phạm
Ngày 27/11/2015 Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 10 đã thông qua BLTTHS năm 2015, gồm 9 phần, 36 chương và 510 điều (tăng 154 điều, bổ sung 176 điều, sửa đổi 317 điều, giữ nguyên 17 điều, bãi bỏ 26 điều) Trong đó thủ tục giám đốc thẩm được quy định tại Chương XXV gồm 27 điều (từ Điều 370 đến Điều 396) quy định về tính chất của giám đốc thẩm; căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm; những người có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm; quyết định kháng nghị giám đốc thẩm; thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm; thẩm quyền v, phạm vi giám đốc thẩm; quyết định giám đốc thẩm
Như vậy, qua các giai đoạn phát triển của các quy phạm pháp luật tố tụng hình sự thì các quy định về thủ tục giám đốc thẩm của Nhà nước ta kể từ sau Cách mạng tháng Tám đến này được hình thành và từng bước phát triển, vận động theo những quy luật khách quan, vừa kế thừa vừa phát triển vừa mang tính tất yếu, phổ biến vừa mang tính đặc thù, phù hợp với thực tế khách quan ở từng giai đoạn lịch sử khác nhau Cùng với sự phát triển của đất nước, pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
về thủ tục giám đốc thẩm cũng từng bước phát triển và ngày càng hoàn thiện, góp phần vào công cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm, đảm bảo việc xét xử và áp dụng hình phạt đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, đảm bảo công bằng xã hội
1.3.1.2 Thủ tục giám đốc thẩm theo quy định của BLTTHS hiện hành
- Về căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm
BLTTHS năm 2003 quy định căn cứ kháng nghị gồm: (1) Việc điều tra xét hỏi tại phiên tòa phiến diện hoặc không đầy đủ; (2) Kết luận trong bản án hoặc quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án; (3) Có sự vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong khi điều tra, truy tố hoặc xét xử; (4) Có
Trang 29những sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng BLHS BLTTHS năm 2015 đã sửa
đổi, bổ sung theo hướng quy định chặt chẽ hơn về căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm, theo đó, chỉ kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm khi thuộc một trong ba trường hợp sau: (1) Kết luận trong bản án, quyết định của Tòa án không phù hợp với tình tiết khách quan của vụ án; (2) Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử dẫn đến sai lầm nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ
án; (3) Có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật
Như vậy so với BLTTHS năm 2003, BLTTHS năm 2015 đã bỏ căn cứ “việc
điều tra xét hỏi tại phiên toà phiến diện hoặc không đầy đủ”, điều này là phù hợp
với thực tiễn vì việc xác định căn cứ này chủ yếu dựa trên đánh giá chủ quan của người có thẩm quyền kháng nghị nên trong một số trường hợp sẽ không bảo đảm sự chính xác Hơn nữa việc điều tra xét hỏi tại phiên toà “phiến diện” được hiểu là việc xét hỏi tại phiên toà không bảo đảm tính khách quan, chỉ chú ý đến chứng cứ buộc tội mà bỏ qua chứng cứ gỡ tội hoặc ngược lại, hoặc quá chú ý đến các tình tiết tăng nặng mà không xét hỏi các tình tiết giảm nhẹ hoặc ngược lại Việc điều tra xét hỏi
“không đầy đủ” được hiểu là hoạt động xét hỏi tại phiên toà còn thiếu những chứng
cứ, tình tiết mà lẽ ra phải được xem xét, đánh giá tại phiên toà và việc thiếu những chứng cứ, tình tiết này dẫn đến không có đủ cơ sở để xác định tội phạm được chính xác Từ những thiếu sót này sẽ dẫn đến kết luận trong bản án, quyết định của Tòa án không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án, đây cũng là căn cứ để
kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm Việc bỏ căn cứ “việc điều tra xét hỏi tại
phiên toà phiến diện hoặc không đầy đủ” là phù hợp và cần thiết
Đồng thời BLTTHS năm 2015 quy định rõ những “vi phạm nghiêm trọng thủ
tục tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử” phải “dẫn đến sai lầm nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án” mới trở thành căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm Bởi lẽ thực
tế thời gian qua, việc kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm với căn cứ “Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử” thường gắn thêm hậu quả “mà vi phạm này dẫn đến sai lầm nghiêm trọng trong việc xử lý vụ án” Nếu có vi phạm thủ tục tố tụng nhưng bản án vẫn bảo đảm có căn cứ và đúng pháp luật thì việc kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm cũng không cần thiết
Trang 30Ngoài ra BLTTHS năm 2015 cũng mở rộng căn cứ kháng nghị, không chỉ
giới hạn ở “những sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng BLHS” mà mở rộng căn
cứ kháng nghị khi “có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật” Bởi lẽ,
trong thực tiễn khi có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật khác (ngoài BLHS) dẫn đến việc ra bản án sai cũng là căn cứ để kháng nghị theo thủ tục này
Việc sửa đổi, bổ sung căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm là những thay đổi hết sức cơ bản và quan trọng Ngoài ra, BLTTHS năm 2015 cũng sửa đổi, bổ sung các quy định để làm rõ trách nhiệm của Tòa án, VKS trong công tác giám đốc, kiểm sát việc xét xử, theo đó khi Tòa án thực hiện công tác giám đốc việc xét xử, VKS kiểm sát việc xét xử hoặc qua các nguồn thông tin khác mà phát hiện thấy những vi phạm pháp luật trong bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật thì thông báo ngay bằng văn bản cho người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục
giám đốc thẩm
- Thẩm quyền giám đốc thẩm và thành phần Hội đồng giám đốc thẩm
Trên cơ sở mô hình Tòa án 03 cấp, BLTTHS năm 2003 quy định TAND cấp tỉnh và TAND tối cao có quyền giám đốc thẩm Theo Điều 279 BLTTHS năm 2003, việc giám đốc thẩm vụ án hình sự thuộc thẩm quyền của Uỷ ban thẩm phán Toà án cấp tỉnh; Uỷ ban thẩm phán Toà án quân sự cấp quân khu; Toà hình sự TAND tối cao, Toà án quân sự Trung ương và Hội đồng thẩm phán TAND tối cao Theo đó,
Ủy ban Thẩm phán TAND cấp tỉnh giám đốc thẩm những bản án hoặc quyết định
đã có hiệu lực pháp luật của TAND cấp huyện Ủy ban Thẩm phán Tòa án quân sự cấp quân khu giám đốc thẩm những bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án quân sự khu vực Tòa hình sự TAND tối cao giám đốc thẩm những bản
án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TAND cấp tỉnh Tòa án quân sự trung ương giám đốc thẩm những bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án quân sự cấp quân khu Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao giám đốc thẩm những bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án quân sự trung ương, của Toà hình sự, các Toà phúc thẩm TAND tối cao bị kháng nghị
Trang 31Những bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật về cùng một vụ án hình sự thuộc thẩm quyền giám đốc thẩm của các cấp khác nhau thì cấp có thẩm quyền cấp trên giám đốc thẩm toàn bộ vụ án
Do mô hình tổ chức Tòa án thay đổi, Điều 382 BLTTHS năm 2015 quy định:
Ủy ban Thẩm phán TAND cấp cao giám đốc thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TAND cấp tỉnh, cấp huyện trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ bị kháng nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án quân sự trung ương giám đốc thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án quân sự cấp quân khu và khu vực bị kháng nghị Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao giám đốc thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TAND cấp cao, Tòa án quân sự trung ương bị kháng nghị Bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị thuộc thẩm quyền giám đốc thẩm của các cấp khác nhau thì Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao giám đốc thẩm toàn bộ vụ án Đồng thời Quy định thành phần Hội đồng giám đốc thẩm của Ủy ban Thẩm phán TAND cấp cao gồm 03 Thẩm phán hoặc toàn thể Ủy ban Thẩm phán; Hội đồng giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao gồm 05 Thẩm phán hoặc toàn thể Hội đồng Thẩm phán Đồng thời, quy định cụ thể phạm vi, thẩm quyền xét xử của các Hội đồng này
- Về thẩm quyền của Hội đồng giám đốc thẩm
BLTTHS năm 2003 quy định thẩm quyền của Hội đồng giám đốc thẩm có quyền: (1) Không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án hoặc quyết định đã
có hiệu lực pháp luật; (2) Hủy bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ vụ án; (3) Hủy bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật để điều tra
lại hoặc xét xử lại
Ngoài ba thẩm quyền trên, BLTTHS năm 2015 bổ sung thêm hai thẩm quyền: (1) Hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và giữ nguyên bản án, quyết định đúng pháp luật của Tòa án cấp cấp dưới đã bị hủy hoặc bị sửa để đồng
bộ với thẩm quyền của Hội đồng giám đốc thẩm dân sự, hành chính; (2) Sửa bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để phù hợp với thực tiễn giám đốc thẩm thời
Trang 32gian qua, nếu chứng cứ rõ ràng thì có thể sửa ngay mà không nhất thiết hủy án để điều tra lại, làm kéo dài thời hạn tố tụng
Việc sửa đổi về thẩm quyền của Hội đồng giám đốc thẩm là rất quan trọng vì đây là phương thức giúp Hội đồng giám đốc thẩm có thể tự mình và trực tiếp khắc phục sai lầm của Toà án cấp dưới, tránh tình trạng phải hủy án để xét xử lại dẫn đến việc giải quyết vụ án bị kéo dài không cần thiết Đồng thời cũng tránh trường hợp Toà án cấp dưới không xét xử theo hướng trong quyết định giám đốc thẩm, mà tiếp tục xét xử như cũ hoặc theo hướng khác, dẫn đến làm phát sinh kháng nghị và mở lại phiên toà giám đốc thẩm một lần nữa Nghĩa là “giám đốc thẩm” không đồng nhất và không nhất thiết phải là “phá án”, mà có thể đồng thời vừa là cấp “phá án” khi Hội đồng giám đốc thẩm giữ nguyên hoặc huỷ án, vừa là cấp đưa ra phán quyết
về các vấn đề áp dụng pháp luật, giải thích pháp luật của Toà án cấp dưới khi Hội đồng giám đốc thẩm hủy bản án, quyết định phúc thẩm và giữ nguyên bản án, quyết định sơ thẩm; hoặc sửa bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật
1.3.2 Pháp luật tố tụng hình sự một số nước trên thế giới về thủ tục giám đốc thẩm hình sự
Báo cáo tham khảo pháp luật tố tụng hình sự của một số nước trên thế giới của VKSND tối cao trước Quốc Hội [10] Dựa trên kết quả nghiên cứu 7 quốc gia điển hình trên thế giới (Pháp, Đức, Anh, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Liên bang Nga, Trung Quốc) về thủ tục giám đốc thẩm, cho thấy BLTTHS của 7 quốc gia này đều quy định thủ tục giám đốc thẩm đối với bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa
- Về quyền khiếu nại, kháng nghị: đa số các quốc gia đều quy định Cơ quan công tố có quyền kháng nghị; bị cáo, người bào chữa của bị cáo có quyền khiếu nại
Trang 33theo trình tự giám đốc thẩm đối với bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật (Điều 621 BLTTHS Pháp; Điều 402 BLTTHS Liên bang Nga; điều 296,
297, 298, 299, 301 BLTTHS Đức) Trung Quốc còn quy định Chánh án Tòa án các cấp có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm đối với bản án, quyết định của Tòa án cấp dưới do mình phụ trách (Điều 241 BLTTHS Trung Quốc)
- Về thời hạn kháng nghị: Thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm ở các quốc gia có sự khác biệt khá lớn Ở Pháp thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm tối đa là 1 năm Ở Đức, thời hạn kháng nghị được quy định tương đối ngắn, chỉ 1 tuần kể từ khi bản án được tuyên, trong trường hợp bị cáo vắng mặt khi tuyên án thì thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm được tính từ khi bản án
đó được tống đạt (Điều 341,345 BLTTHS Đức)
- Về thẩm quyền giám đốc thẩm: Ở Pháp, Đức, Nhật Bản, Hoa Kỳ và Anh, thẩm quyền xét xử giám đốc thẩm thuộc về Tòa án tối cao (Tòa án tối cao Liên bang, Tòa án tối cao bang) (Điều 455 BLTTHS Nhật Bản) Ở Trung Quốc thẩm quyền giám đốc thẩm thuộc về Tòa án cấp trên của Tòa án đã ra bản án, quyết định
bị xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm và TAND tối cao (Điều 241, 243 BLTTHS Trung Quốc) Ở Nga, thẩm quyền xét xử giám đốc thẩm thuộc về Hội đồng Thẩm phán Toà án tối cao nước cộng hoà, Toà án vùng hoặc khu vực, Toà án thành phố trực thuộc Liên bang, Toà án vùng hoặc khu vực tự trị; Uỷ ban Thẩm phán về các vụ án hình sự - Toà án tối cao Nga; Hội đồng Thẩm phán Toà án quân
sự vùng (hạm đội); Uỷ ban Thẩm phán quân sự của Toà án tối cao Nga (Điều 403 BLTTHS Liên bang Nga)
- Về phạm vi giám đốc thẩm: đa số các nước quy định Tòa giám đốc thẩm chỉ xem xét các vấn đề pháp lý đã được nêu trong khiếu nại, kháng nghị, như phán quyết bị khiếu nại, kháng nghị có tuân theo đúng trình tự tố tụng hay không, có phù hợp với quy định của pháp luật về nội dung hay không BLTTHS Đức quy định Tòa
án giám đốc thẩm chỉ xem xét những vấn đề được trình bày trong khiếu nại, kháng nghị (Điều 352 BLTTHS Đức)
Trang 34- Về thủ tục tố tụng tại phiên tòa giám đốc thẩm: Thủ tục giám đốc thẩm ở hầu hết các quốc gia về cơ bản có sự tương đồng, theo đó, thủ tục này được bắt đầu bằng việc một thành viên của Hội đồng giám đốc thẩm báo cáo về những tình tiết của vụ án, nội dung bản án, quyết định bị kháng nghị, đề nghị xét lại và những lý do của kháng nghị, đề nghị KSV/Công tố viên phát biểu ý kiến về nội dung đề nghị giám đốc thẩm Người khiếu nại giám đốc thẩm, người bào chữa nếu được tham gia phiên toà có quyền đưa ra lời giải thích của mình (điều 407 BLTTHS Liên bang Nga; Điều 351 BLTTHS Đức)
- Về thẩm quyền của Tòa án cấp giám đốc thẩm: Đa số các quốc gia đều quy định giám đốc thẩm là “cấp phá án”, Tòa giám đốc thẩm có thẩm quyền hủy bản án, quyết định trái pháp luật đã có hiệu lực pháp luật để xét xử lại (Điều 245, 246, 247 BLTTHS Trung Quốc; Điều 408 BLTTHS Liên bang Nga; Điều 610 BLTTHS Pháp; Điều 455 BLTTHS Nhật Bản) Riêng Liên bang Nga cho phép Tòa giám đốc thẩm có quyền sửa bán án, quyết định của Tòa án (Khoản 1 Điều 408 BLTTHS Liên bang Nga)
Như vậy có thể thấy pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam phù hợp với đa số các nước về căn cứ giám đốc thẩm là sai lầm nghiêm trọng trong trình tự, thủ tục tố tụng và áp dụng pháp luật nội dung, VKS/Viện công tố (đa số) và Tòa án có quyền kháng nghị (Trung Quốc); TAND tối cao (Pháp, Đức, Nhật Bản, Hoa Kỳ, Anh) và Tòa án cấp trên của Tòa án đã ra quyết định (Trung Quốc, Nga) có thẩm quyền kháng nghị Về phạm vi xét xử giám đốc thẩm chủ yếu xem xét về vấn đề pháp lý
đã được trình bày trong khiếu nại, kháng nghị Về thẩm quyền của Tòa án giám đốc thẩm, ngoài thẩm quyền hủy án như BLTTHS Việt Nam năm 2003 thì Tòa giám đốc thẩm của Liên bang Nga có quyền sửa bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật, tương tự như quy định mới trong BLTTHS năm 2015
Kết luận chương 1
Chương 1 đã làm rõ khái niệm và đặc điểm của thủ tục giám đốc thẩm hình
sự, cơ sở lý luận và thực tiễn của thủ tục giám đốc thẩm, khái quát thủ tục giám đốc
Trang 35thẩm trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam và của một số quốc gia điển hình trên thế giới
Trên cơ sở phân tích tính chất của giám đốc thẩm, tác giả đưa ra khái niệm:
“Giám đốc thẩm là một thủ tục đặc biệt trong tố tụng hình nhằm xác định và khắc
phục những vi phạm, sai lầm nghiêm trọng trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án dựa trên những căn cứ kháng nghị của người có thẩm quyền kháng nghị theo qui định của pháp luật” Đồng thời rút ra những đặc điểm của thủ
tục giám đốc thẩm hình sự
Việc khắc phục những sai lầm của các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án là yêu cầu tất yếu, khách quan đặt ra cả về lý luận và thực tiễn Đây là cơ sở hình thành thủ tục giám đốc thẩm, một cơ chế đặc biệt để xét lại các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật
Sau khi khái quát quá trình hình thành, phát triển thủ tục giám đốc thẩm trong lịch sử tố tụng hình sự Việt Nam, tác giả đã phân tích thủ tục giám đốc thẩm theo quy định của BLTTHS Việt Nam hiện nay Đồng thời, trên cơ sở nghiên cứu pháp luật tố tụng hình sự 7 quốc gia điển hình trên thế giới (Pháp, Đức, Anh, Hoa
Kỳ, Nhật Bản, Nga, Trung Quốc) về thủ tục giám đốc thẩm, tác giả có một số nhận xét đánh giá sơ bộ về thủ tục giám đốc thẩm trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam và các nước trên thế giới
Các nội dung chính đã nghiên cứu ở Chương 1 là cơ sở để khảo sát thực tiễn
ở Chương 2 và đề xuất các giải pháp ở Chương 3
Trang 36Chương 2 THỰC TIỄN ÁP DỤNG GIÁM ĐỐC THẨM TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP
CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2.1 Đặc điểm tình hình có liên quan đến thủ tục giám đốc thẩm của tòa
án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh
2.1.1 Đặc điểm địa bàn, dân cư thuộc địa hạt tư pháp của tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh
Địa hạt tư pháp của TAND cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh gồm 23 tỉnh, thành phố từ Ninh Thuận, Đăk Nông trở vào, bao gồm:
- 06 tỉnh Đông Nam Bộ là Bình Phước, Bình Dương, Đồng Nai, Tây Ninh,
Bà Rịa-Vũng Tàu, Thành phố Hồ Chí Minh; diện tích 23.598 km2, dân số 14,890 triệu người, mật độ trung bình 631 người/km2
- 13 tỉnh Tây Nam Bộ (hay Đồng Bằng sông Cửu Long) là Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Đồng Tháp, Hậu Giang, Sóc Trăng, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau, và Cần Thơ; diện tích 40.548 km2, dân số 17,331 triệu người, mật độ trung bình 427 người/km2
- 02 tỉnh Nam Trung bộ là Bình Thuận, diện tích 7.813 km2, dân số 1,180 triệu người, mật độ trung bình 151 người/km2; Ninh Thuận, diện tích 3.358 km2, dân số 569 ngàn người, mật độ trung bình 169 người/km2
- 02 tỉnh Nam Tây Nguyên là Lâm Đồng, diện tích 9.774 km2, dân số 1,219 triệu người, mật độ trung bình 125 người/km2; Đăk Nông, diện tích 6.516 km2, dân
số 516 ngàn người, mật độ trung bình 79 người/km2
[12]
Đây là vùng có tốc độ tăng dân số cao nhất nước, do thu hút nhiều dân nhập
cư từ các vùng khác đến sinh sống.Đây cũng là khu vực kinh tế phát triển nhất Việt Nam, đóng góp trên 2/3 thu ngân sách hàng năm của cả nước Các đặc điểm này cũng tác động đến tình hình tội phạm, đặc biệt là ở các thành phố lớn như thành phố
Trang 37và đi vào hoạt động tư ngày 01/6/2015, có phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ đối với 23 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, bao gồm: Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Cần Thơ; các tỉnh: Bình Thuận, Ninh Thuận, Đồng Nai, Bà Rịa Vũng Tàu, Bình Dương, Bình Phước, Long An, Tây Ninh, Đắk Nông, Lâm Đồng, Hậu Giang, Đồng Tháp, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, An Giang và Kiên Giang
TAND cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh có Chánh án và 04 Phó Chánh
án, cơ cấu tổ chức có 06 Tòa là Hình sự, Dân sự, Hành chính, Kinh tế, Lao động, Gia đình và người chưa thành niên, mỗi Tòa chuyên trách có Chánh Tòa và 01 Phó Chánh Tòa
Ủy ban Thẩm phán TAND cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh có 12 Thẩm phán cao cấp Các đơn vị trong bộ máy giúp việc của TAND cấp cao tại Thành phố
Hồ Chí Minh có Văn phòng và 03 phòng nghiệp vụ: Dân sự, kinh tế; Hành chính, hình sự; Lao động, Gia đình và người chưa thành niên, các phòng nghiệp vụ có Trưởng phòng và 01 Phó Trưởng phòng
TAND cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh được định biên là 150 cán bộ bao gồm 50 Thẩm phán cao cấp; còn lại bao gồm Thẩm tra viên, Thư ký và người lao động khác là 100 người Tuy nhiên, hiện có nay mới chỉ có 123 biên chế, trong đó
có 42 Thẩm phán cao cấp, 32 thẩm tra viên, 25 thư ký, 9 chuyên môn khác, còn lại
là người lao động khác
2.2 Một số vướng mắc trong nhận thức và áp dụng giám đốc thẩm từ thực tiễn xét xử của tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh
Thực tiễn giải quyết theo thủ tục giám đốc thẩm của TAND cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh cho thấy hệ thống pháp luật nói chung, pháp luật tố tụng hình sự trong đó có thủ tục giám đốc thẩm nói riêng đã được các cơ quan có thẩm quyền từng bước nghiên cứu đổi mới theo hướng nâng cao hiệu quả áp dụng, đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn để một mặt bảo vệ trật tự pháp luật, lợi ích của xã hội, tôn trọng và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Nhưng bên cạnh đó, vẫn còn một số vướng mắc trong nhận thức và áp dụng thủ tục giám đốc thẩm,
Trang 38những vướng mắc này xuất phát từ quy định trong BLTTHS chưa đầy đủ, chưa rõ
ràng
2.2.1 Về tính chất của giám đốc thẩm
Theo Điều 272 BLTTHS năm 2003 thì “Giám đốc thẩm là xét lại bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc xử lý vụ án” Điều 370 BLTTHS năm 2015 giữ nguyên quy định này Theo lời văn của quy định trên thì giám đốc thẩm chỉ là hoạt động của Hội đồng giám đốc thẩm sau khi có kháng nghị giám đốc thẩm và hoạt động này kết thúc bằng một quyết định giám đốc thẩm Vấn đề đặt ra là các hoạt động được thực hiện trước khi có kháng nghị giám đốc thẩm như: Hoạt động phát hiện ra bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật cần xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm; Hoạt động kháng nghị; Hoạt động trả lời cho người đã phát hiện biết rõ lí do khi có kháng nghị; Hoạt động tạm đình chỉ thi hành bản án hoặc quyết định bị kháng nghị Đây là hoạt động gì? Tiến hành theo thủ tục nào? Nội dung này chưa được quy định rõ rang trong luật Vì vậy, điều luật về tính chất của giám đốc thẩm chưa phản ánh đầy đủ nội hàm giai đoạn giám đốc thẩm với các hoạt động trước khi có kháng nghị giám đốc thẩm
Một vấn đề cũng đang có nhiều cách hiểu khác nhau là xét lại bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị hay là xét lại vụ án mà bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị Cách hiểu thứ nhất cho rằng giám đốc thẩm chỉ dừng lại trong việc xét lại bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật khi phát hiện có vi phạm pháp luật trong việc xử lí vụ án Bởi vì bản án hoặc quyết định là bản tổng kết quá trình điều tra, truy tố, xét xử Do đó bản án cũng đánh giá đầy đủ tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà trong bản án hoặc quyết định cũng thể hiện tất cả các quy phạm pháp luật mà Tòa án đã áp dụng Vì vậy, Hội đồng giám đốc thẩm chỉ cần xét lại bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật đó Cách hiểu thứ hai cho rằng giám đốc thẩm là xét lại vụ án mà bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị giám đốc thẩm Cách hiểu này xuất phát từ quy định tại Điều 284 BLTTHS: “Hội đồng giám đốc thẩm phải
Trang 39xem xét lại toàn bộ vụ án mà không chỉ hạn chế trong nội dung kháng nghị” Chỉ khi xét lại toàn bộ vụ án thì mới xác định được toàn bộ sự thật khách quan của vụ
án Theo chúng tôi, cách hiểu này là hợp lý hơn Nó phù hợp với những quy phạm pháp luật trong BLTTHS và thực tiễn xét xử Tuy nhiên để thống nhất trong nhận thức và áp dụng pháp luật thì cần quy định cụ thể hơn
2.2.2 Về điều kiện giám đốc thẩm
BLTTHS năm 2003 đã dành một chương riêng quy định về thủ tục giám đốc thẩm vụ án hình sự (Chương XXX, gồm các điều từ Điều 272 đến Điều 289) Theo quy định tại Điều 272 BLTTHS, việc giám đốc thẩm một bản án hoặc quyết định đã
có hiệu lực pháp luật của Toà án chỉ được tiến hành khi có đủ các điều kiện cần thiết sau đây:
Một là, bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật Giám đốc
thẩm không phải là cấp xét xử thứ ba, mà giám đốc thẩm là thủ tục “xét lại” bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật của TAND các cấp, trừ quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao không xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm
Hai là, có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong quá trình giải quyết vụ án
Nghĩa là, thủ tục giám đốc thẩm chỉ được tiến hành khi việc xử lý vụ án hình sự có
vi phạm pháp luật ở mức “nghiêm trọng” Việc thông báo của những người phát hiện bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật cần xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm được coi như một hình thức “yêu cầu khiếu nại, khiếu tố” giám đốc thẩm và do đó, người có quyền kháng nghị phải có trách nhiệm trả lời cho tất cả những người thông báo biết lý do trong trường hợp không kháng nghị Thẩm quyền giám đốc thẩm không chỉ giới hạn ở việc kiểm tra tính hợp pháp của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án khi “có sự vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong khi điều tra, truy tố hoặc xét xử” hoặc khi “có những sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng BLHS”, mà bao gồm cả việc kiểm tra tính có căn cứ của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án khi “việc điều tra xét hỏi tại phiên toà phiến diện hoặc không đầy đủ” hoặc khi “kết luận trong bản án hoặc
Trang 40quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án” Điều đó cũng
có nghĩa, Hội đồng giám đốc thẩm trong tố tụng hình sự không những chỉ xem xét vấn đề áp dụng pháp luật (pháp luật nội dung và pháp luật tố tụng) mà còn xem xét
cả vấn đề đánh giá chứng cứ của vụ án
Ba là, có kháng nghị của người có thẩm quyền đối với bản án, quyết định đó,
việc kháng nghị phải theo đúng các trình tự và thủ tục mà BLTTHS quy định BLTTHS chỉ ghi nhận quyền kháng nghị giám đốc thẩm của một số ít người có thẩm quyền trong cơ quan Toà án và VKS mà không quy định quyền kháng cáo giám đốc thẩm của người bị kết án, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự “trong vụ án hình sự”
Như vậy, để khởi động thủ tục giám đốc thẩm, bắt buộc phải có kháng nghị của người có thẩm quyền Theo quy định tại Điều 275 BLTTHS năm 2003, người
có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bao gồm: Chánh án TAND tối cao
và Viện trưởng VKSND tối cao; Chánh án Toà án quân sự trung ương và Viện trưởng VKS quân sự trung ương; Chánh án TAND cấp tỉnh và Viện trưởng VKSND cấp tỉnh, Chánh án Toà án quân sự cấp quân khu và Viện trưởng VKS quân sự cấp quân khu Luật tổ chức TAND năm 2014 và Luật tổ chức VKSND năm
2014 và sau đó BLTTHS năm 2015 đã bỏ thẩm quyền giám đốc thẩm của TAND cấp tỉnh và Toà án quân sự cấp quân khu, chuyển thẩm quyền của TAND cấp tỉnh, Toà án quân sự cấp quân khu và một phần thẩm quyền của TAND tối cao cho TAND cấp cao Điều 373 BLTTHS năm 2015 quy định: Chánh án TAND tối cao, Viện trưởng VKSND tối cao có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản
án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TAND cấp cao; bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án khác khi xét thấy cần thiết, trừ quyết định của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao Chánh án Tòa án quân sự trung ương, Viện trưởng VKS quân sự trung ương có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án quân sự cấp quân khu, Tòa án quân
sự khu vực Chánh án TAND cấp cao, Viện trưởng VKSND cấp cao có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TAND cấp tỉnh, TAND cấp huyện trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ