Quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong tố tụng hình sự theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Long An (LV thạc sĩ)Quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong tố tụng hình sự theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Long An (LV thạc sĩ)Quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong tố tụng hình sự theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Long An (LV thạc sĩ)Quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong tố tụng hình sự theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Long An (LV thạc sĩ)Quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong tố tụng hình sự theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Long An (LV thạc sĩ)Quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong tố tụng hình sự theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Long An (LV thạc sĩ)Quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong tố tụng hình sự theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Long An (LV thạc sĩ)Quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong tố tụng hình sự theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Long An (LV thạc sĩ)Quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong tố tụng hình sự theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Long An (LV thạc sĩ)
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN VĂN TIỆT
QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TỈNH LONG AN
Chuyên ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 62.38.01.04
TÓM LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2017
Trang 2Công trình được hoàn thành tại: Học viện khoa học xã hội Người hướng dẫn khoa học: TS Đinh Thị Mai
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ họp tại: Học viện Khoa học xã hội giờ ngày
tháng năm
Có thể tìm hiểu luận văn tại: Thư viện Học viện Khoa học xã hội
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa
vụ liên quan là người tham gia tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam Việc tham gia tố tụng của họ không chỉ nhằm bảo vệ, khôi phục những quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức đã bị hành vi phạm tội xâm hại mà còn góp phần quan trọng vào việc xác định sự thật khách quan của vụ án, xác định đúng thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra và buộc người có hành vi tội phạm phải chịu trách nhiệm Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 không định nghĩa thế nào là đương
sự Bộ luật tố tụng hình sự 2015 định nghĩa: “Đương sự gồm nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự” Nghiên cứu về quyền và lợi ích hợp pháp của
đương sự theo qui định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Long An là một đề tài có giá trị tham khảo nhất định đối với pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay Bên cạnh đó, việc nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong tố tụng hình sự ở nước ta hiện nay
để đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng chế định này trong thực tế còn là một nhu cầu khách quan và cần thiết hiện nay Với những lý do trên, học viên đã chọn đề tài: “Quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong tố tụng hình sự theo pháp luật tố tụng hình
sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Long An” làm Luận văn thạc sĩ Luật học
Trang 42 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong thời gian qua, ở nước ta đã có rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu về việc quy định và áp dụng pháp luật trong tố tụng hình sự như Luận văn thạc sỹ Luật học, các bài viết, công trình nghiên cứu phân tích, giải quyết và làm rõ được một số vấn đề lý luận về bị hại, đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong tố tụng hình sự như: khái niệm, ý nghĩa, các kiến nghị hoàn thiện Bộ luật tố tụng hình sự nhưng chưa có công trình nghiên cứu về quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ
án hình sự Đây là một đề tài mới nên không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận
và thực tiễn về quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong tố tụng hình sự theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Long An
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn thông qua nghiên cứu thực tiễn áp dụng qui định về quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong tố tụng hình sự theo tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Long An với mong muốn sẽ đóng góp một cách tiếp cận nghiên cứu về quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự theo qui định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam tại một địa bàn cụ thể, từ đó góp phần nâng cao nhận thức về quyền
và lợi ích hợp pháp của đương sự theo qui định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam nói chung cũng như đề xuất các giải pháp mang tính cụ thể về vấn đề này Trên cơ sở đối tượng và phạm vi nghiên cứu trên, tác giả tập trung vào giải quyết những nhiệm vụ như sau: Khái quát các vấn đề lý luận về quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong trong tố tụng hình sự như: khái niệm, bản chất, đặc
Trang 5điểm, phân loại về quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ năm 1988 đến năm 2016 Đánh giá thực trạng áp dụng các qui định về quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự từ thực tiễn tỉnh Long An trong thời gian từ năm 2010 đến năm 2016
Đề ra những giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và thực hiện chức năng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong tố tụng hình sự Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực trạng các quy định về quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ năm 1988 đến năm 2016, nghiên cứu đánh giá thực trạng áp dụng các qui định của pháp luật về quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự từ thực tiễn tỉnh Long An từ năm 2010 đến năm 2016 Trong đó, khái niệm đương sự được hiểu theo quan điểm của Bộ luật tố tụng hình sự mới 2015, bao gồm: Nguyên đơn dân sự,
bị đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu:
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về lý luận nhà nước và pháp luật
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội và khoa học pháp lý: phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê …
6 Ý nghĩa luận và thực tiễn của luận văn:
Tập hợp những nhận thức của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng về ý nghĩa của việc
Trang 6quy định và áp dụng các quy định về quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong tố tụng hình sự theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Long An giai đoạn từ ngày 01/10/2010 đến ngày 31/10/2016
Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong
tố tụng hình sự, góp phần nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, tuyên truyền, giáo dục và áp dụng pháp luật của các cơ quan có thẩm quyền
và góp phần hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
7 Cơ cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có kết cầu gổm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về quyền và lợi
ích hợp pháp của đương sự trong tố tụng hình sự Việt Nam
Chương 2: Thực trạng áp dụng pháp luật tố tụng hình sự Việt
Nam về quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự từ thực tiễn tỉnh Long An
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình
sự Việt Nam về quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
Trang 7Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HƠP PHÁP CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG
HÌNH SỰ VIỆT NAM 1.1 Những vấn đề lý luận và pháp luật về quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong tố tụng hình sự
1.1.1 Khái niệm quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong tố tụng hình sự
- Khái niệm đương sự trong tố tụng hình sự:
Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 không định nghĩa thế nào là đương sự Bộ luật tố tụng
hình sự 2015 định nghĩa: “Đương sự gồm nguyên đơn dân sự, bị đơn
dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự”
Bộ luật tố tụng hình sự 2015 qui định: Nguyên đơn dân sự là
cá nhân, cơ quan, tổ chức bị thiệt hại do tội phạm gây ra và có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại Bị đơn dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức mà pháp luật quy định phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự
- Khái niệm quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong
Trang 8Các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng có trách nhiệm bảo đảm cho nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thực hiện các quyền của họ
Như vậy, quyền của đương sự trong tố tụng hình sự là quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại và quyền bồi thường thiệt hại do tội phạm gây ra và lợi ích hợp pháp của đương sự là lợi ích phát sinh từ quyền của đương sự
1.1.2 Bản chất quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong tố tụng hình sự
Từ phân tích quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự nêu trên thì đương sự nhìn chung có một số quyền giống Tuỳ theo tư cách tham gia tố tụng mà các đương sự có những quyền và lợi ích khác nhau Nguyên đơn dân sự còn được quyền đề nghị mức bồi thường thiệt hại, biện pháp bảo đảm bồi thường thiệt hại Bị đơn dân sự được quyền chấp nhận hoặc bác bỏ một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn dân sự Nguyên đơn dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức
bị thiệt hại do tội phạm gây ra và có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại Để trở thành nguyên đơn dân sự thì cá nhân, cơ quan, tổ chức bị thiệt hại do tội phạm gây ra phải có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại Nếu bị thiệt hại nhưng cá nhân, cơ quan, tổ chức bị thiệt hại không
có đơn yêu cầu bồi thường thì cũng không phải là nguyên đơn dân
sự Nếu cá nhân, cơ quan hoặc tổ chức tuy có bị thiệt hại nhưng họ không có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại thì họ không thể tham gia
tố tụng với tư cách là nguyên đơn dân sự Cơ quan tiến hành tố tụng cũng không thể buộc họ phải tham gia tố tụng trong vụ án hình sự với tư cách nguyên đơn dân sự Không có nguyên đơn dân sự thì sẽ không có bị đơn dân sự Trong trường hợp này, tòa án phải tách phần dân sự trong vụ án hình sự để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự,
Trang 9nếu việc tách đó không ảnh hưởng đến trách nhiệm hình sự của bị cáo
Như vậy, quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong tố tụng hình sự là quyền dân sự nên mang bản chất dân sự mà cụ thể là bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
1.1.3 Đặc điểm quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong tố tụng hình sự
Đặc điểm thứ nhất: Quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
trong tố tụng hình sự gắn liền với hành vi phạm tội
Đặc điểm thứ hai: Quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
trong tố tụng hình sự là quyền về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Đặc điểm thứ ba: Quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
trong tố tụng hình sự là quyền tự thoả thuận, tự định đoạt
Đặc điểm thứ tư: Quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự là
quyền được chứng minh không phải nghĩa vụ phải chứng minh
Đặc điểm thứ năm: Quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
không bắt buộc phải hoà giải
1.1.4 Phân loại quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong tố tụng hình sự
Có nhiều tiêu chí để phân loại quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự như: phân loại dựa trên quyền và nghĩa vụ, phân loại theo nhóm quyền chung của đương sự và quyền riêng của nguyên đơn dân
sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ
án, phân loại dựa theo từng chủ thể của quyền, phân loại dựa trên luật thực định … Bộ luật tố tụng hình sự 2015 đã đưa ra định nghĩa
khái niệm đương sự: “Đương sự gồm nguyên đơn dân sự, bị đơn dân
sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự” Tuy
Trang 10nhiên Bộ luật lại qui định quyền và nghĩa vụ của từng chủ thể là đương sự Trong luận văn này tác giả chia quyền của đương sự trong
tố tụng hình sự gồm hai nhóm quyền:
Thứ nhất: Nhóm quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự bị
thiệt hại do tội phạm gây ra: Nhóm này bao gồm quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn dân sự và quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi liên quan đến vụ án hình sự Đây là quyền và lợi ích hợp pháp của nhóm chủ thể mà pháp luật qui định được bồi thường thiệt hại do tội phạm gây ra
Thứ hai: Nhóm quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự mà
pháp luật quy định phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tội phạm gây ra: Nhóm này bao gồm quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn dân sự và quyền và lợi ích hợp pháp của người có nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự Đây là quyền và lợi ích hợp pháp của nhóm chủ thể mà pháp luật qui định phải bồi thường thiệt hại do tội phạm gây ra
Trong các Bộ luật tố tụng hình sự 1988, 2003 và 2015 lại có cách phân loại khác Các Bộ luật nêu trên lại qui định quyền của từng chủ thể gồm: nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và quyền của người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Nhìn chung các cách phân loại là tương đối nhằm mục đích khác nhau tuỳ theo cách nghiên cứu của từng tác giả
1.2 Pháp luật về quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong tố tụng hình sự
1.2.1 Lịch sử các qui định về quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong tố tụng hình sự Việt Nam
Giai đoạn từ năm 1945 đến trước khi có Bộ luật tố tụng hình
sự 1988:
Trang 11Từ năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 nước ta chưa có một bộ luật hoàn thiện về tố tụng hình sự Các qui định về giải quyết các vụ án hình sự được qui định trong các văn bản hướng dẫn của Toà án nhân dân tối cao như: Thông tư số 2252/HCTP ngày 29/10/1953, Thông tư số 16/TATC ngày 27/09/1974 của Toà án nhân dân tối cao Do đó quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự cũng chưa được qui định cụ thể và thống nhất trong cả nước
Giai đoạn từ năm 1988 đến trước khi có Bộ luật tố tụng hình
sự nhưng Bộ luật đã xếp nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền và lợi ích liên quan đến vụ án vào nhóm người tham gia tố tụng và qui định cụ thể một số quyền của họ khi tham gia tố tụng Từ đây địa vị pháp lý của họ chính thức được luật hoá
Giai đoạn từ năm 2003 đến trước khi có Bộ luật tố tụng hình
sự 2015:
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 cũng không đưa ra khái niệm đương sự Tuy nhiên thuật ngữ đương sự đã được sử dụng Bộ luật cũng chưa qui định cụ thể các chủ thể được tham gia tố tụng để bảo vệ quyền lợi cho đương sự Mặt khác Bộ luật cũng không qui định về việc vắng mặt của người bảo vệ quyền lợi cho đương sự Việc qui định như trên tạo ra nhiều cách hiểu khác nhau dẫn tới việc
Trang 12áp dụng pháp luật không thống nhất Dù vậy, Bộ luật tố tụng hình sự
2003 qui định cụ thể về quyền của các chủ thể tham gia tố tụng: Quyền của nguyên đơn dân sự được qui định tại khoản 2, điều
52, Bộ luật tố tụng hình sự 2003; Quyền của bị đơn dân sự được qui định tại khoản 2, điều 53, Bộ luật tố tụng hình sự 2003; Quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được qui định tại khoản 1, điều 54, Bộ luật tố tụng hình sự
Giai đoạn chuyển tiếp từ Bộ luật tố tụng hình sự 2003 đến sự
ra đời của Bộ luật tố tụng hình sự 2015:
Sau khi tổng kết 10 năm thực thi Bộ luật tố tụng hình sự 2003 các nhà làm luật nhận thấy Bộ Luật tố tụng hình sự hiện hành bộc lộ nhiều bất cập Nhất là sau khi Hiến pháp 2013 có hiệu lực pháp luật, rất nhiều Luật, Bộ luật cần phải sửa đổi bổ sung để đáp ứng nhu cầu đổi mới trng Hiến pháp 2013 trong đó có Bộ luật tố tụng hình sự Bộ luật tố tụng hình sự 2013 ra đời trong hoàn cảnh đó Bộ luật tố tụng
2015 đã đưa ra định nghĩa khái niệm đương sự tại điểm g, khoản 1,
điều 4, Bộ luật tố tụng hình sự 2015: “Đương sự gồm nguyên đơn
dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ
án hình sự” Từ khái niệm đương sự trên, Bộ luật đã qui định cụ thể
về quyền và nghĩa vụ của từng chủ thể là đương sự trong tố tụng hình
sự
1.2.2 Pháp luật hiện hành về quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong tố tụng hình sự Việt Nam
- Quyền của nguyên đơn dân sự:
Các quyền của nguyên đơn dân sự đương qui định tại khoản
2, điều 63, Bộ luật tố tụng hình sự 2015