1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giáo dục đạo đức người công an cách mạng cho học viên trường cao đẳng cảnh sát nhân dân i trong tình hình hiện nay

88 245 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 1,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI --- NGUYỄN THỊ MINH PHƯƠNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NGƯỜI CÔNG AN CÁCH MẠNG CHO HỌC VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG CẢNH SÁT NHÂN DÂN I TR

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

-

NGUYỄN THỊ MINH PHƯƠNG

GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NGƯỜI CÔNG AN CÁCH MẠNG CHO HỌC VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG CẢNH SÁT NHÂN

DÂN I TRONG TÌNH HÌNH HIỆN NAY

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của

cá nhân, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Đặng Thái

Trang 4

CÔNG AN CÁCH MẠNG CHO HỌC VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG 26 CẢNH SÁT NHÂN DÂN I 26

2.1 Đặc điểm tình hình có liên quan đến công tác giáo dục đạo đức của học viên Trường Cao đẳng CSND I 262.2 Thực trạng công tác giáo dục đạo đức người Công an cách mạng đối với học viên Trường Cao đẳng CSND I hiện nay 33

Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG, HIỆU QUẢ CÔNG TÁC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NGƯỜI CÔNG AN CÁCH MẠNG CHO HỌC VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG CẢNH SÁT NHÂN DÂN I GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 58

3.1 Những yếu tố tác động tới công tác giáo dục đạo đức người Công an cách mạng cho học viên Trường Cao đẳng CSND I trong tình hình hiện nay 543.2 Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục đạo đức người Công an cách mạng cho học viên Trường Cao đẳng CSND I trong tình hình hiện nay 62

KẾT LUẬN 77 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 79

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đạo đức là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng, của ý thức xã hội, một mặt bị quy định bởi cơ sở hạ tầng, tồn tại xã hội; mặt khác nó cũng có tính độc lập tương đối và tác động trở lại cơ sở hạ tầng, tồn tại xã hội Khi cơ

sở hạ tầng thay đổi, nền tảng kinh tế thay đổi, đạo đức xã hội cũng phải thay đổi theo cho phù hợp và tác động tích cực thúc đẩy phát triển kinh tế Xu thế hội nhập quốc tế đã và đang tác động mạnh mẽ đến đạo đức xã hội và ngược lại, để phát triển nền kinh tế thị trường rất cần xây dựng và củng cố, phát triển những chuẩn mực đạo đức truyền thống trên cơ sở mới và bổ sung những

chuẩn mực đạo đức phù hợp

Giáo dục đào tạo nói chung và giáo dục đạo đức nói riêng cho thanh niên trong thời kỳ đổi mới có nhiều thuận lợi song cũng đứng trước không ít khó khăn, thách thức Dưới tác động tiêu cực của cơ chế thị trường, của hội nhập với thế giới, của âm mưu “Diễn biến hòa bình”… đã làm phát sinh nguy

cơ “tự diễn biến’, “tự chuyển hóa”, một bộ phận nhỏ thanh niên sinh ra tâm lý coi thường các giá trị nhân văn, bất chấp đạo lý, giảm sút tình cảm, đạo đức cách mạng

Trong những năm qua, xu thế hội nhập đã và đang tạo ra những chuyển biến sâu sắc đối với mọi mặt của đời sống xã hội nước ta Việc đi vào kinh tế thị trường, mở rộng hội nhập quốc tế, chúng ta có nhiều thành tựu to lớn rất đáng tự hào về phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa - giáo dục Bên cạnh những thành tựu về kinh tế thì về mặt xã hội, trong đó có đạo đức đang nảy sinh ngày càng nhiều những vấn đề, những tình huống phức tạp, nhức nhối, những mất mát giá trị truyền thống, những lệch lạc trong định hướng giá trị và lối sống trong nhiều tầng lớp xã hội, trong đó có thanh niên, học viên Một bộ phận học viên suy thoái về đạo đức, lối sống, thiếu ước mơ và hoài bão, lập thân, lập nghiệp Trong thi cử, hiện tượng quay cóp, gian lận đang có xu hướng gia tăng, ý thức tổ chức kỷ luật kém, tinh thần trách nhiệm, ý thức

Trang 6

cộng đồng thấp Thêm vào đó, sự du nhập văn hóa phẩm đồi trụy phản nhân văn thông qua các phương tiện như phim ảnh, games, mạng internet làm ảnh hưởng đến những quan điểm về tình bạn, tình yêu, ảnh hưởng đến đạo đức trong lứa tuổi thanh thiếu niên và học sinh hiện nay Đây là nỗi lo chung của toàn xã hội Thực tế đó cho thấy, việc giáo dục đạo đức trong xã hội ta, nhất là đối với thanh niên, học viên là nhiệm vụ hết sức cần thiết và cấp bách

Ở đây, nhấn mạnh đến việc giáo dục đạo đức cho học viên không chỉ xuất phát từ tình huống suy thoái đạo đức hiện nay, cần phải cứu chữa mà còn quan trọng hơn vì định hướng phát triển lâu dài trong tương lai với tầm nhìn

và hành động chiến lược Bởi vì, sinh viên, học viên là tầng lớp xã hội đặc thù, là bộ phân ưu tú, là nguồn nhân lực chất lượng cao trong tương lai của đất nước Việc xây dựng đội ngũ tri thức tương lai đủ sức đủ tài đáp ứng sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc có tầm quan trọng đặc biệt Học viên Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I cũng nằm trong vấn đề chung đó

Mặt khác, đối với các trường công an nhân dân, việc đào tạo ra những chiến sỹ công an có phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao, có khả năng tư duy sáng tạo trong công tác điều tra được là một đòi hỏi khách quan Đặc biệt, do đặc thù của công tác công an luôn phải trực tiếp tiếp xúc với mọi mặt của đời sống xã hội, kể cả những hiện tượng tiêu cực trong

xã hội; vì vậy, việc giáo dục đạo đức trong các trường công an nhân dân cần phải được chú ý nhiều hơn để đào tạo ra những người chiến sỹ có năng lực, phẩm chất đạo đức tốt và có lập trường tư tưởng chính trị vững vàng, đáp ứng được yêu cầu của công cuộc đổi mới và nhiệm vụ chính trị được giao

Với những lý do trên, tác giả chọn đề tài: “Giáo dục đạo đức người

Công an cách mạng cho học viên Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I trong tình hình hiện nay” làm luận văn tốt nghiệp cao học triết học

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong thời gian qua đã có nhiều công trình khoa học về vấn đề đạo đức

và giáo dục đạo đức từ nhiều góc độ khác nhau Đó là:

Trang 7

+ Quan điểm về đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường của các nhà

lý luận Việt Nam được trình bày trong quyển sách “Mấy vấn đề đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay” do Nguyễn Trọng Chuẩn và

Nguyễn Văn Phúc (đồng chủ biên) (Nxb Chính trị quốc gia, 2003) Các tác giả đã phân tích những vấn đề lý luận, thực trạng và những phương hướng, giải pháp để xây dựng đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay khá sâu sắc, tuy nhiên, đây mới là tập hợp những bài viết riêng lẻ của nhiều tác giả với những quan niệm khác nhau

+ Cuốn “Giáo dục đạo đức mới cho cán bộ, đảng viên trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” của Ban Tư tưởng - Văn hóa

Trung ương (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004) đã đề cập một cách có hệ thống nội dung lý luận cũng như thực tiễn đạo đức xã hội của Chủ nghĩa Mác

- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đồng thời đã khái quát một cách cô đọng những chuẩn mực, truyền thống giá trị đạo đức của dân tộc ta, những nguyên tắc phương hướng và giải pháp xây dựng đạo đức mới cho đội ngũ cán bộ, đảng viên nhằm thực hiện đường lối cách mạng Việt Nam

+ Quyển sách “Đạo đức xã hội ở nước ta hiện nay - Vấn đề và giải pháp” do Nguyễn Duy Quý chủ biên (Nxb Chính trị quốc gia, 2006) tìm hiểu

vấn đề đạo đức xã hội dưới tác động, ảnh hưởng của kinh tế, chính trị của nước ta hiện nay và phân tích đạo đức của từng nhóm đối tượng, hoàn cảnh cụ thể đạo đức của cán bộ, đảng viên và công chức, đạo đức của sinh viên, đạo đức trong lao động, giao tiếp, đạo đức trong gia đình

+ Quyển sách “Xây dựng đạo đức mới trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” của Trịnh Duy Huy (Nxb Chính trị quốc gia, 2009),

có nội dung khá đầy đủ và hệ thống lý luận, về thực trạng và một số phương hướng, giải pháp để xây dựng đạo đức mới trong điều kiện kinh tế thị trường

ở nước ta hiện nay Tác giả cho rằng xây dựng và phát triển đạo đức phải dựa trên cơ sở kế thừa và phát huy các giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam

và chỉ ra những chuẩn mực cơ bản của đạo đức đang được xây dựng ở nước ta

Trang 8

bao gồm: chủ nghĩa yêu nước và tinh thần quốc tế trong sáng; tinh thần tập thể, ý thức cộng đồng; tinh thần lao động tự giác, sáng tạo; tinh thần nhân đạo

và một số giá trị khác nhau như: bình đẳng, công lý, nhân quyền, yêu thiên nhiên, sự lương thiện, thận trọng, tự giác, tự trọng

+ “Giáo dục lý tưởng cách mạng cho thế hệ trẻ Việt Nam trong tình hình mới” của Phạm Đình Nghiệp (Nxb Thanh niên, Hà Nội, 2000)

+ “Phát huy kết quả 65 năm CAND học tập và thực hiện 6 điều Bác Hồ dạy, quyết tâm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ an ninh, trật tự trong tình hình mới”, GS - TS Trần Đại Quang, Tạp chí KHGD & AN 5/2013

+ “Giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên CAND theo tư tưởng

Hồ Chí Minh”, Nguyễn Xuân Lý, Tạp chí KHGD & AN 5/2013

Ngoài ra có rất nhiều luận văn, luận án nghiên cứu về vấn đề giáo dục đạo đức cho sinh viên, học viên và thế hệ trẻ ở Việt Nam hiện nay Đó là:

+ Đề tài “Quan hệ biện chứng giữa truyền thống và hiện đại trong giáo dục đạo đức cho sinh viên Việt Nam hiện nay” của Lê Thị Hoài Thanh (Luận

án tiến sĩ Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2003) Đề tài phân tích quan hệ biện chứng giữa truyền thống và hiện đại trong giáo dục đạo đức cho sinh viên Trên cơ sở đó, đề tài nêu một số giải pháp cụ thể: Kết hợp giáo dục truyền thống và hiện đại trong gia đình, nhà trường và xã hội, tạo môi trường giáo dục lành mạnh và thống nhất; kết hợp giáo dục đạo đức với giáo dục pháp luật, tạo mội trường pháp lý cho việc kết hợp truyền thống

và hiện đại trong giáo dục đạo đức; đổi mới hình thức và phương pháp giáo dục

+ “Vấn đề giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho sinh viên Việt Nam hiện nay (qua thực tế một số trường cao đẳng, đại học ở Hà Nội)”, Luận

văn thạc sĩ của Doãn Thị Chín (2004)

+ Đề tài “Đạo đức của sinh viên trong điều hiện kinh tế thị trường hiện nay ở Việt Nam - thực trạng và giải pháp” của Vũ Thanh Hương (Luận văn

thạc sĩ triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2004) Qua khảo

Trang 9

sát một số trường đại học và cao đẳng ở Hà Nội, đề tài phân tích thực trạng đạo đức sinh viên trong điều kiện hiện nay và nêu ra một số giải pháp nhằm nâng cao phẩm chất đạo đức cho sinh viên trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay như: Tạo lập môi trường kinh tế - xã hội lành mạnh, nâng cao ý thức tự giác giáo dục đạo đức của sinh viên, đổi mới nội dung và hình thức giáo dục đạo đức cho sinh viên

Như vậy, vấn đề đạo đức, giáo dục đạo đức là vấn đề rất được xã hội quan tâm Đối với học viên trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I là đối tượng có những nét đặc thù riêng Vì thế, việc giáo dục đạo đức người Công

an cách mạng cho đối tượng này cần tiếp tục tìm hiểu, lý giải khoa học thêm

để có được phương hướng và những giải pháp hữu hiệu nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức hiện nay trong trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I Những công trình trên là nguồn tài liệu quý giá để chúng tôi kế thừa và tiếp tục đi sâu

nghiên cứu về vấn đề “Giáo dục đạo đức người Công an cách mạng cho

học viên Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I trong tình hình hiện nay”

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

- Phân tích tầm quan trọng, thực trạng, nguyên nhân của giáo dục đạo

đức mới cho học viên trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I trong thời gian qua từ đó, đưa ra phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức người Công an cách mạng cho đối tượng này trong giai đoạn hiện nay

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Phân tích nội dung những vấn đề lý luận và thực tiễn của việc giáo

dục đạo đức người Công an cách mạng cho học viên trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I trong tình hình ở Việt Nam hiện nay

Trang 10

- Đánh giá thực trạng, rút ra ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế trong công tác giáo dục đạo đức cho học viên trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I trong tình hình hiện nay

- Đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục đạo đức cho học viên trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I trong tình hình hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Vấn đề đạo đức và đạo đức người Công an cách mạng

- Thực tiễn giáo dục, rèn luyện đạo đức đối với học viên trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Học viên trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I và vấn đề giáo dục

đạo đức cho học viên trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, các quan điểm của Đảng về đạo đức và giáo dục đạo đức Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể là: phân tích - tổng hợp, lịch sử - logic , so sánh, điều tra xã hội học và thống kê toán học

Trang 11

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận của luận văn

Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần làm rõ cở sở lý luận và thực tiễn của việc giáo dục đạo đức người Công an cách mạng cho học viên trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I trong tình hình hiện nay, từ đó, đưa ra phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả của công tác giáo dục đạo đức cho học viên Trường Cao đẳng CSND I

6.2 Ý nghĩa thực tiễn của luận văn

Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là tài liệu tham khảo cho các công trình nghiên cứu khoa học, ứng dụng vào công tác giảng dạy và giáo dục đạo đức người Công an cách mạng nói chung và giáo dục đạo đức cho học viên Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I và các trường Công an nhân dân trong

cả nước

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,

đề tài bao gồm 3 chương, 6 tiết

Trang 12

Chương 1 NHẬN THỨC CHUNG VỀ ĐẠO ĐỨC VÀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC

NGƯỜI CÔNG AN CÁCH MẠNG 1.1 Một số khái niệm

1.1.1 Đạo đức và đạo đức người Công an cách mạng

1.1.1.1 Đạo đức

Đạo đức là một trong những hình thái ý thức xã hội ra đời từ rất sớm trong lịch sử, nó phản ánh khả năng tự chủ của con người Do lịch sử hình thành và phát triển của mỗi cộng đồng khác nhau Do vậy, mỗi cộng đồng, mỗi dân tộc có nhiều quan điểm khác nhau về đạo đức

* Quan niệm Nho giáo

Người đặt nền móng, xây dựng nên học thuyết Nho giáo là Khổng Tử (551- 479 tr.CN) , với việc đề ra học thuyết Nhân - Lễ - Chính danh

Nhân theo Khổng Tử gồm: trung, hiếu, kính, khoan, hòa, cần mẫn, thật thà, khiêm tốn, dũng cảm, học gắn với hành, tự trách mình hơn trách người, thận trọng, biết yêu người đáng yêu, ghét người đáng ghét… Nhân là nguyên

lý đạo đức cơ bản quy định bản tính con người và những mối quan hệ giữa người với người từ trong gia đình, gia đình đến ngoài xã hội Nhân là gốc của đạo đức con người, là đạo làm người

Lễ theo Khổng Tử là hình thức biểu hiện của “nhân”, là những quy phạm, nguyên tắc đạo đức của nhà Chu (thế kỷ IX tr.CN), tức là những phong tục, tập quán, những quy tắc trật tự xã hội, những thể chế pháp luật của nhà nước

Chính danh là con đường để đạt tới điều nhân, để đưa xã hội từ loạn thành trị Khổng Tử kịch liệt phản đối đấu tranh để giải quyết mâu thuẫn trong xã hội, ông chủ trương “lấy hòa làm quý”, lấy “nghèo làm vui”, ông khuyên mọi người hãy an phận Ông cho rằng mỗi cá nhân, sự sống, cái chết, phú quý hay nghèo hèn đều là do “thiên mệnh” (mệnh trời) quy định Nhưng bằng nỗ lực chủ quan của mình con người có thể thay đổi được “thiên tính”

Trang 13

ban đầu qua quá trình tiếp xúc, học tập và “tu thân” Đây là điểm rất đáng chú

ý trong quan niệm của Khổng Tử

Người tiếp tục phát triển Nho giáo là Mạnh Tử (371 - 289 tr.CN) Theo Mạnh Tử “bản tính con người ta là thiện, còn như người ta làm những điều bất thiện chẳng qua là họ theo dự định của mình, chứ không phải bản tính con người ta là như vậy” Theo ông, tính thiện của con người vốn sinh ra đã có Tính thiện bắt nguồn từ tâm, nhờ tâm mà phân biệt được phải trái, thiện ác Nhờ tâm mà nhận biết được nhân, lễ, nghĩa, trí, vì “tâm” có “lương năng” - không học mà biết và “lương tri” - không suy nghĩ mà biết Để bảo tồn và phát triển “tâm, tính” - lương tâm, tính thiện của con người, Mạnh Tử chủ trương cần phải có sự rèn luyện, giáo dục đạo lý cho con người Nhược điểm lớn của Mạnh Tử là lảng tránh hiện thực, tìm về con đường nội tỉnh, tự suy xét, tự kiểm điểm mình về đạo đức làm chính, coi đó là niềm vui duy nhất, phải “chờ thời”, phải “đợi mệnh trời”, không được “làm việc nguy hiểm để cầu may” Tuy nhiên, có điểm đúng là ông khuyên mọi người phải luôn tự sửa mình, giữ tâm mình cho chính thì mới giáo dục được người khác, vì theo ông

“mình cong queo không thể nào sửa cho người khác ngay thẳng được”

Nho giáo coi tu thân là gốc, là nền tảng để củng cố các mối quan hệ trong gia đình và ngoài xã hội Nho giáo cho rằng bản thân mình có tốt, có thiện, có hiểu biết, sống có nhân nghĩa, nói có tín thực và giao tiếp đúng lễ thì mới làm gương cho người khác noi theo, mới có khả năng “tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” Nho giáo coi trọng đạo tu thân, tu dưỡng đạo đức theo “lễ”, ứng xử đúng với danh phận, tích cực rèn luyện bản thân bằng học tập đi đôi với thực hành đạo đức và phải hàng ngày tự kiểm điểm bản thân Như vậy, Nho giáo có cả mặt tích cực và tiêu cực, nó hướng cá nhân mỗi người cũng như mọi người vào con đường ham tu dưỡng đạo đức theo nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, tích cực học tập để tiến bộ giúp ích cho nước, cho dân, nhưng nó cũng kích thích tính gia trưởng độc đoán, không khuyến khích phát triển các ngành

Trang 14

khoa học tự nhiên Do đó đã kìm hãm sự phát triển của sản xuất, kìm hãm sự phát triển xã hội

* Quan điểm của Đạo giáo

Lão Tử (khoảng thế kỷ VI tr.CN) là ông tổ của Đạo giáo, với việc đề ra: học thuyết về “đạo”; tư tưởng về phép biện chứng và học thuyết “vô vi” hay những vấn đề về đạo đức nhân sinh, chính trị - xã hội Ông cho rằng

“Đạo” vừa là duy nhất, vừa thiên bình, vạn trạng, biến hóa vô cùng và mang tính bất biến, vừa là “hữu”, vừa là “vô” “Đạo” sinh ra vạn vật, không có ý chí dục vọng và không có mục đích định trước, nó không làm chúa tể để chi phối vạn vật mà thuộc theo sự phát triển tự nhiên của vạn vật Mở rộng quan điểm

về “đạo” trong đời sống xã hội, Lão Tử chủ trương thuyết “vô vi”, nghĩa là sống, hoạt động theo lẽ tự nhiên, thuần phác, không hành động có tính giả tạo,

gò ép, trái bản tính tự nhiên của mình, không can thiệp vào guồng máy của tự nhiên “Vô vi” là “không làm gì”, mà chỉ bảo vệ, giữ gìn bản tính tự nhiên của mình và của vạn vật, không ham muốn, không dục vọng, không thể chế, không pháp luật, không bị ràng buộc bởi truyền thống đạo đức Từ đó ông phản đối hiện tượng bất bình đẳng trong xã hội, phản đối sự áp bức, bóc lột của bọn quý tộc, nhưng trong hành động lại thụ động, tiêu cực, thủ tiêu đấu tranh

Một trong những nhà tư tưởng lớn của trường phái Đạo giáo là Trang

Tử (369-286 tr.CN), với việc ngã theo chủ nghĩa hoài nghi, tương đối luận và chủ nghĩa thần bí Ông cho rằng những điều phải trái, thiện ác không có tiêu chuẩn khách quan, không thể biết được chân lý khách quan, mọi vật đều chỉ là tương đối, mỗi người đều có chỗ phải, chỗ trái, chỗ tốt, chỗ xấu của riêng mình, không người nào giống người nào Từ đó ông khẳng định những hiện tượng thiện ác, đẹp xấu, lớn nhỏ, sang hèn, sống chết, còn mất… đều là những thể như nhau, cần phải có thái độ làm ngơ để mặc cho phải trái tự nhiên phát triển, không cần phân biệt chân lý và sai lầm, nên thực hiện “vô vi,

vô sự”, không nên “lấy người hại trời, lấy việc hại mệnh, làm tổn hại đến tự

do bình đẳng của vạn vật và con người” Như vậy, quan điểm đạo đức của

Trang 15

Trang Tử thực chất cũng là thoát ly thực tiễn, phủ nhận mọi giá trị đạo đức, phủ nhận đấu tranh giai cấp trong xã hội phong kiến mục nát, suy tàn, bảo vệ hình thái ý thức chủ nô thời chiến quốc

* Quan điểm Phật giáo

Người sáng lập Phật giáo là Thích Ca Mâu Ni, còn gọi là Siddharta (563 - 483 tr CN) Đạo Phật ra đời là sự phản kháng sự ngự trị của Đạo Bàlamôn và chế độ phân chia đẳng cấp cực kỳ hà khắc trong xã hội Ấn Độ cổ đại Phật giáo cho rằng đời người là bể khổ, cái khổ đó tồn tại triền miên trong suốt con người từ lúc sinh ra cho đến lúc chết đi Phật giáo đã lý giải căn nguyên của nỗi khổ ấy và tìm con đường giải thoát khỏi nỗi khổ trầm luân Con đường giải thoát khỏi bể khổ nằm trong “Tứ diệu đế”: Khổ đế, Tập

đế, Diệt đế, Đạo đế

Theo con đường “bát chính đạo”, “tiêu diệt vô minh” con người có thể diệt trừ được vô minh, giải thoát và lên cõi Niết bàn, là trạng thái hoàn toàn yên tĩnh, sáng suốt, chấm dứt vòng sinh tử luân hồi Phật giáo khuyên con người ta tự giác tu luyện, điều chỉnh nhận thức đúng đắn, kiên trì hành vi hướng thiện thì sẽ chuyển ác thành hiện, sửa tà thành chính để đạt tới sự giải thoát Phật giáo không thừa nhận có thần thánh, đồng thời “còn tích cực chống chế độ đẳng cấp khắc nghiệt, tố cáo bất công, đòi tự do tư tưởng và bình đẳng xã hội; nói lên khát vọng giải thoát con người khỏi những bi kịch của cuộc đời, kêu gọi lòng từ bi, hỉ xả, nêu cao thiện tâm, bình đẳng, bác ái hướng con người “vào con đường thiện nghiệp, tu dưỡng đạo đức”

* Quan điểm đạo đức trong xã hội Hy Lạp cổ đại

Đêmôcrít (khoảng 460 - 370 tr CN) quan niệm đối tượng nghiên cứu của đạo đức học là cuộc sống, hành vi, số phận của mỗi cá nhân Hạt nhân trung tâm trong đạo đức của ông là lương tâm trong sáng, là sự lành mạnh về tinh thần của từng cá nhân Ông yêu cầu “mỗi người phải sống đúng mực, ôn hòa, không vô độ mà gây hại cho người khác”, ông chống lại sự giàu có quá đáng và thu lợi bất lương Ông cho rằng, hạnh phúc hay bất hạnh, giàu có hay

Trang 16

nghèo nàn, thành công hay thất bại đều do hoạt động kinh tế (thủ công và thương mại) tạo ra, không do “Thượng đế” chi phối Ông đề ra tiêu chuẩn đánh giá đạo đức tốt hay xấu của từng cá nhân là để nhận ra người trung thực ra không trung thực, phải căn cứ không chỉ vào việc làm của họ mà còn vào ý muốn của họ, gắn động cơ, ý thức với hành động, đó là quan niệm tiến bộ của ông

Platôn (427 - 347 tr.CN), là học trò của Xôcrát nên ông tiếp thu và phát triển quan niệm đạo đức của Xôcrát theo hướng duy tâm khách quan Nếu Xôcrát thừa nhận đạo đức con người và tri thức thống nhất là một, cái thiện phổ biến (cái chung) là cơ sở của đạo đức, là tiêu chuẩn của đức hạnh, thì Platôn lại cho rằng linh hồn được tạo ra bởi “Thượng đế” mới là cơ sở, nền tảng tạo nên đời sống đạo đức Theo Platôn, giữa linh hồn và thể xác hoàn toàn đối lập nhau, thể xác chỉ là chỗ trú ngụ tạm thời của linh hồn Thể xác không bất diệt, chỉ có linh hồn mới bất diệt Nhưng linh hồn cũng bao gồm ba phần: lý tính, xúc cảm và cảm tính, trong ba phần ấy chỉ có lý tính là bất diệt; tương ứng với ba phần của linh hồn con người, xã hội sẽ có ba hạng người, ba đẳng cấp tùy thuộc người ấy có bộ phận linh hồn nào giữ vai trò chủ đạo

Theo ông, sở hữu tư nhân là nguồn gốc sinh ra điều ác, các mối bất hòa làm băng hoại đời sống đạo đức, nên cần loại bỏ sở hữu tư nhân khỏi đời sống

xã hội, nhưng cần phải duy trì các hạng người khác nhau do giữa các hạng người này không có sự bình đẳng hoàn toàn Như vậy về đạo đức học của Platôn là nhà đạo đức duy tâm, phân biệt đẳng cấp, bênh vực, bảo vệ lợi ích của tầng lớp quý tộc chủ nô, chống lại nền dân chủ Aten, đối lập với đạo đức học tiến bộ duy vật của Đêmôcrít Mặc dù ông đã phát hiện ra nguồn gốc sinh

ra mọi bất công xã hội là sở hữu tư nhân

Sau thời kỳ cổ đại, với sự phát triển mạnh mẽ của sản xuất, cuộc đấu tranh giai cấp quyết liệt của giai cấp nô lệ chống giai cấp chủ nô và các cuộc đấu tranh liên miên, tàn khốc giữa các nhà nước chủ nô đã dẫn đến sự tan rã của chế độ chiếm hữu nô lệ ở cả phương Đông lẫn phương Tây làm xuất hiện chế độ xã hội mới: xã hội phong kiến Nho giáo, Đạo giáo, Bàlamôn giáo,

Trang 17

Phật giáo… ở phương Đông trở thành tư tưởng thống trị đời sống tinh thần của xã hội, còn ở phương Tây là thần học, giáo hội, nhà thờ và tín ngưỡng tôn giáo Các vua, chúa phong kiến trở thành những “thiên tử”, những “đấng tối cao” thống trị xã hội, bóc lột, đàn áp thậm tệ người nông dân

* Quan niệm mác - xít về đạo đức

Những quan niệm đạo đức trước Mác tuy có những hạn chế do hoàn cảnh lịch sử, do địa vị giai cấp và nhận thức, nhưng cũng có những sự đóng góp nhất định để hình thành một bộ môn khoa học mới - đạo đức học mác - xít Đạo đức học mác - xít đã khắc phục mặt hạn chế, kế thừa yếu tố tiến bộ

để đưa ra quan niệm đúng đắn, khoa học về đạo đức

Theo quan niệm Mác - xít, “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, quy chuẩn, chuẩn mực xã hội, nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với

xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội” [50, tr.8]

Định nghĩa trên cho thấy, triết học, chính trị, pháp quyền, nghệ thuật, tôn giáo… đạo đức là hình thái ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội, phản ánh hiện thực đời sống xã hội dưới các góc độ, khía cạnh khác nhau Đời sống xã hội (xét đến cùng là chế độ kinh tế - xã hội) là nguồn gốc nảy sinh các quan điểm về đạo đức của con người - như Ph.Ăngghen đã khẳng định trong tác phẩm Chống Đuyrinh: “Chung quy mọi học thuyết đạo đức đã có từ trước đến nay đều là sản phẩm của tình hình kinh tế của xã hội lúc bấy giờ” [68, tr.161]

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin , đạo đức được sinh ra trước hết từ nhu cầu phối hợp hành động trong lao động sản xuất vật chất, trong đấu tranh xã hội, quản lý xã hội, phân phối sản phẩm và trong quan hệ giữa con người với con người để con người tồn tại và phát triển Chính lao động là giá trị đạo đức hàng đầu của mọi thang bậc giá trị, vì nó sáng tạo ra giá trị cao nhất, sáng tạo ra con người, hoàn thiện phẩm cách con người để xã

Trang 18

hội tồn tại và phát triển vì: “Lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người” [15, tr.641].

Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, xã hội tư bản tất yếu sẽ bị diệt vong,

xã hội cộng sản chủ nghĩa nhất định sẽ thay thế xã hội tư bản, người thực hiện

sứ mệnh lịch sử ấy là giai cấp công nhân, giai cấp vô sản Sau khi giành được chính quyền, thiết lập sự thống trị chính trị của mình, cùng với việc xây dựng

xã hội mới tiến bộ, giai cấp vô sản sẽ xây dựng nên nền đạo đức mới của mình, đó là đạo đức cộng sản

Đạo đức cộng sản là giai đoạn cao trên con đường phát triển của đạo đức nhân loại, theo V.I.Lênin, đạo đức cộng sản đó là: “Những gì góp phần phá hủy xã hội cũ của bọn bóc lột và góp phần đoàn kết tất cả những người lao động xung quanh giai cấp vô sản đang sáng tạo xã hội mới của người cộng sản”[69,tr.41], vì vậy đạo đức cộng sản phản ánh lợi ích căn bản của giai cấp công nhân xóa bỏ xã hội cũ, xây dựng xã hội mới - xã hội XHCN và cộng sản chủ nghĩa

1.1.1.2 Đạo đức người Công an cách mạng

Kế thừa truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc với đạo đức mang bản chất giai cấp công nhân và tinh hoa đạo đức của nhân loại Hồ Chí Minh quan niệm đạo đức cách mạng là trung với nước, hiếu với dân, suốt đời phấn đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì CNXH, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng; là cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; luôn yêu thương, quý trọng con người, sống có tình, có nghĩa và tinh thần quốc tế trong sáng

Theo Hồ Chí Minh, tiêu chí để đánh giá chính xác đạo đức con người là

ở hành động, việc làm, cách đối nhân xử thế Đạo đức phải được xem xét trong 3 mối quan hệ cơ bản: với mình, với người và với công việc Trong 3 mối quan hệ đó, hoạt động của con người hình thành nên những hành vi, chuẩn mực đạo đức Đó là việc mình có nghiêm khắc với bản thân hay không? Thái độ của mình với ông bà, bố mẹ, anh chị, em, đối với đồng chí, đồng đội, cấp trên, cấp dưới, đối với quần chúng nhân dân, đối với Đảng, với

Trang 19

Nhà nước, đối với kẻ thù như thế nào? Mình có hết lòng, toàn tâm, toàn ý với công việc này không? Điều đó xác định đạo đức của mỗi con người Trong thư gửi đồng chí Hoàng Mai - Giám đốc Sở Công an khu XII, Người viết: Tư cách người Công an cách mạng là:

“Đối với tự mình, phải cần, kiệm, liêm, chính

Đối với đồng sự, phải thân ái giúp đỡ

Đối với Chính phủ, phải tuyệt đối trung thành

Đối với nhân dân, phải kính trọng, lễ phép

Đối với công việc, phải tận tụy

Đối với địch, phải cương quyết, khôn khéo” [35, tr.406]

Như vậy, trong quan niệm của Hồ Chí Minh, đạo đức không phải chỉ là những lý tưởng cao xa mà đó là những thái độ, hành vi, việc làm cụ thể của mỗi người hàng ngày, hàng giờ trong cuộc sống sinh hoạt, trong học tập, trong lao động và trong chiến đấu Mặt khác, Hồ Chí Minh còn chỉ ra đạo đức cách mạng và đạo đức đời thường là hoàn toàn thống nhất với nhau, sẽ không

có đạo đức đời thường tách rời với đạo đức cách mạng và cũng không thể có đạo đức cách mạng đứng ngoài với đạo đức đời thường Vì vậy, không thể bào chữa cho khuyết điểm của bản thân mình đó là việc riêng của mình không liên quan gì với cái chung Cái riêng phải phù hợp với cái chung, cái riêng mà

đi ngược với cái chung là chủ nghĩa cá nhân là vi phạm đạo đức

Vấn đề đạo đức được Hồ Chí Minh đặt ra và xem xét một cách toàn diện trong tất cả mọi lĩnh vực hoạt động của con người, từ việc tư đến việc công, từ học tập, công tác đến sinh hoạt hàng ngày, từ gia đình tới xã hội, từ giai cấp đến dân tộc và từ quốc gia đến quốc tế Việc Hồ Chí Minh xem xét vấn đề đạo đức một cách toàn diện là một cách nhìn mang tính khách quan, phù hợp với hoạt động của đời sống xã hội và mỗi con người Đồng thời, Hồ Chí Minh đã nêu những chuẩn mực chung có ý nghĩa cơ bản và có tính phổ cập đối với mọi người, mọi tầng lớp, đồng thời Người cũng chỉ rõ những chuẩn mực cụ thể đối với từng tầng lớp như: công nhân, nông dân, thanh niên,

Trang 20

phụ nữ, thiếu niên, nhi đồng, Bộ đội, Công an Song đối tượng Người chú ý

nhiều nhất là đạo đức của người cách mạng, người cán bộ, đảng viên

Hồ Chí Minh xem đạo đức là nền tảng của người cách mạng cũng giống như gốc của cây, ngọn nguồn của sông, của suối Người còn ví đạo đức đối với người cách mạng như là sức khỏe của người gánh nặng và đi xa Theo

Hồ Chí Minh, nhiệm vụ cách mạng hoàn toàn không dễ dàng, đơn giản mà bao giờ cũng khó khăn, phức tạp Thực hiện nhiệm vụ cách mạng, đòi hòi người cách mạng phải có quyết tâm phấn đấu thật cao, phải dám hy sinh, phải kiên trì bền bỉ Vì thế: “Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ vẻ vang” [42, tr.283] Người cán bộ đảng viên lại càng cần phải có đạo đức cách mạng Vì “không có đạo đức thì

dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân” [35, tr.253] Theo Hồ Chí Minh, lãnh đạo không phải là ra lệnh mà chủ yếu bằng lôi kéo, thuyết phục Để lôi kéo thuyết phục con người, trước hết phải từ cái tâm, cái đức của con người, phải miệng nói, tay làm, phải đầu tầu gương mẫu

Hồ Chí Minh cho rằng, lấy đạo đức làm gốc, không có nghĩa là tuyệt đối hóa mặt đức, xem nhẹ mặt tài Đức là gốc, nhưng đức và tài, “hồng” và

“chuyên” phải kết hợp, phẩm chất và năng lực phải đi đôi, không thể có mặt này, thiếu mặt kia, Tại Đại hội sinh viên Việt Nam lần thứ II, Người nói:

“Thanh niên phải có đức, có tài Có tài mà không có đức ví như một anh làm kinh tế tài chính rất giỏi nhưng lại đi đến thụt két thì chẳng những không làm được gì ích lợi cho xã hội mà còn có hại cho xã hội nữa Nếu có đức mà không có tài ví như ông Bụt không làm hại gì, nhưng cũng không lợi gì cho loài người” [42, tr.172] Người thực sự có đức thì bao giờ cũng cố gắng học tập, nâng cao trình độ, nâng cao năng lực, tài năng để hoàn thành nhiệm vụ

được giao

Như vậy, đạo đức theo quan niệm của Hồ Chí Minh được hiểu là toàn

bộ những chuẩn mực xã hội nhằm điều chỉnh hành vi của con người trong quan hệ với người khác và với cộng đồng

Trang 21

1.1.2 Nội dung giáo dục đạo đức người Công an cách mạng

Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc giáo dục, bồi dưỡng phẩm chất đạo đức cách mạng cho thanh niên nhằm đào tạo ra những người công dân tốt, người lao động tốt, người cán bộ tốt của nước nhà, những người vừa “hồng”, vừa “chuyên”, xứng đáng là chủ nhân tương lai của đất nước Trong Di chúc, Người căn dặn: “Đảng phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ để đào tạo họ thành lớp người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên” Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết” [39, tr.510] Hồ Chí Minh coi đạo đức là cái gốc của người cán bộ, đảng viên, của người đoàn viên thanh niên cộng sản: có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó, có tài mà không

có đức là người vô dụng

Từ cuộc sống thực của nhân dân, cuộc đời thực của con người và xã hội Việt Nam, Hồ Chí Minh đã khái quát những phẩm chất cơ bản của con người Việt Nam, những chuẩn mực đạo đức cách mạng mà mỗi chúng ta cần học tập

1 Trung với nước, hiếu với dân, suốt đời phấn đấu hi sinh vì độc lập tự

do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội Đây là phẩm chất bao trùm nhất, quan

trọng nhất chi phối các phẩm chất khác, là điểm xuất phát mang tính cách mạng trong quan niệm về đạo đức, “là chuẩn mực đạo đức bao trùm của con người Việt Nam, là định hướng chính trị - đạo đức lớn nhất cho mỗi người, là khát vọng vươn lên tự hoàn thiện mình của tất cả chúng ta theo ngọn cờ, tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh” [23, tr.53] “Trung” và “hiếu” là hai khái niệm

cơ bản, đứng đầu trong “tam cương” và “ngũ luân” của đạo đức Nho giáo Ở đây, Hồ Chí Minh, trên cơ sở kế thừa truyền thống yêu nước của người Việt Nam, giữ lại ý nghĩa trách nhiệm, bổn phận của người dân, của người con trong khái niệm “trung, hiếu” để đưa vào đây nội dung mới, hoàn toàn mang tính cách mạng, “trung với nước, hiếu với dân” “Trung với nước” là trung thành với sự nghiệp dựng nước, giữ nước và xây dựng đất nước của nhân dân

và của Đảng “Hiếu với dân” là đem lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc

Trang 22

cho nhân dân, thương dân, gần dân, gắn bó với dân, kính trọng lễ phép với dân và học tập dân, dựa vào dân, lấy dân làm gốc

Đối với cán bộ, đảng viên, Hồ Chí Minh đặt ra yêu cầu cao hơn là “tận trung với nước, tận hiếu với dân”, vì cán bộ, đảng viên vừa là người lãnh đạo, người dẫn dắt, nhưng lại là đầy tớ trung thành của nhân dân Suốt đời phấn đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì CNXH phải trở thành phẩm chất của con người mới, đồng thời phải được hiện thực hóa trong hành vi, trong hoạt động thực tiễn để hoàn thành nhiệm vụ cách mạng

2 Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư - mình vì mọi người là những phẩm chất đạo đức cơ bản của người cán bộ cách mạng Phẩm chất này luôn

gắn liền với hoạt động thực tiễn mỗi người sống trong xã hội, nó tiềm ẩn trong tầng sâu của ý thức, nhưng lại chứa đựng mặt biểu hiện ra bên ngoài bằng hành vi đạo đức có thể cảm nhận được, gắn bó chặt chẽ giữa lời nói và việc làm, giữa suy nghĩ và hành động Phẩm chất này có quan hệ mật thiết với phẩm chất “trung với nước, hiếu với dân”

Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư là những khái niệm quen thuộc của truyền thống đạo đức phương Đông và đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam Những khái niệm này được Hồ Chí Minh cải biến nội dung, đưa vào nó những yêu cầu mới, nội dung mới trên cơ sở kế thừa, giữ lại những yếu tố tinh túy, tốt đẹp, phù hợp, lọc bỏ những yếu tố lạc hậu, lỗi thời không còn phù hợp với điều kiện lịch sử mới, thời đại mới

Theo Hồ Chí Minh:

“Cần” tức là lao động siêng năng, lao động có kế hoạch, sáng tạo, có năng suất cao, lao động với tinh thần tự lực cánh sinh, không lười biếng, không ỷ lại, không dựa dẫm Cần có nghĩa là “làm việc phải đến đúng giờ, chớ đến trễ về sớm Làm cho chóng, cho chu đáo Việc ngày nào nên làm xong ngày ấy, chớ để chờ ngày mai” [35, tr.104] Người dạy thế hệ trẻ phải học tập tốt, lao động tốt Rèn luyện đức “cần”, thanh niên phải chống tâm lý ham sung sướng và tránh khó nhọc

Trang 23

“Kiệm” tức là “tiết kiệm, không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi” [35, tr.636] Tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm thời giờ, tiết kiệm tiền của của dân, của nước, của bản thân mình; phải tiết kiệm từ cái to đến cái nhỏ, nhiều cái nhỏ cộng lại thành cái to, mọi người đều phải tiết kiệm Theo Người, tiết kiệm là: Khi không cần tiêu thì một đồng xu cũng không tiêu Khi có việc đáng làm, việc ích lợi cho đồng bào, cho Tổ quốc, thì dù bao nhiêu công, tốn bao nhiêu của, cũng vui lòng

“Liêm” tức là “trong sạch, không tham lam” [35, tr.640], luôn tôn trọng gìn giữ của công và của dân, không xâm phạm một đồng xu, hạt thóc của nhà nước, của nhân dân, không tham địa vị, không tham tiền tài, không tham sung sướng

“Chính”, “nghĩa là không tà, nghĩa là thẳng thắn, đúng đắn Điều gì không đứng đắn, thẳng thắn tức là tà” [35, tr.643] Đối với mình, người chính tức là không tự cao tự đại, luôn chịu khó học tập cầu tiến bộ, luôn tự kiểm điểm những lời mình đã nói, những việc mình đã làm để phát triển điều hay, sửa chữa điều dở của bản thân mình, không nịnh hót người trên, xem thường người dưới, luôn giữ thái độ chân thành, khiêm tốn, thật thà đoàn kết, không dối trá, lừa lọc, phải học người và giúp người tiến bộ

Về “chí công, vô tư”, chí công là công bằng, công tâm, vô tư là không thiên tư, thiên vị Người nói: “Đem lòng chí công mà đối với người, với việc”,

“khi làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, khi hưởng thụ thì mình nên đi sau”, “phải lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ” [35, tr.186] Chí công, vô tư về thực chất là nối tiếp cần, kiệm, liêm, chính Cần, kiệm, liêm, chính sẽ dẫn đến chí công, vô tư; ngược lại, đã chí công, vô tư, một lòng vì nước, vì dân, vì Đảng thì nhất định sẽ thực hiện được cần, kiệm, liêm, chính

và có nhiều tính tốt khác Chí công, vô tư còn là nêu cao chủ nghĩa tập thể, trừ

bỏ chủ nghĩa cá nhân Người cho rằng: chí công, vô tư là phải biết đặt lợi ích

bộ phận dưới lợi ích chung, căn bản của cách mạng Luôn luôn đặt lợi ích của Đảng và nhân dân lao động lên trên hết, lên trước lợi ích của cá nhân mình

3 Yêu thương con người

Trang 24

Yêu thương con người là một trong những phẩm chất đạo đức cao đẹp nhất mà Hồ Chí Minh yêu cầu và khẳng định đối với con người Việt Nam và chính Người đã chứng minh phẩm chất đó bằng toàn bộ cuộc đời hoạt động thực tiễn sinh động và đầy sóng gió của mình Đây chính là phẩm chất cao quý của Người mà thanh niên cần học tập và noi theo Tình yêu thương con người được thể hiện trong quan hệ bạn bè, đồng chí, đồng đội, với mọi người trong quan hệ hàng ngày Nó đòi hỏi mọi người phải luôn chặt chẽ nghiêm khắc với mình, rộng rãi, độ lượng với người khác Nó đòi hỏi thái độ tôn trọng con người, phải biết cách nâng con người lên chứ không phải hạ thấp, càng không phải vùi dập con người Tình thương yêu con người, theo Hồ Chí Minh, không chỉ dừng lại ở lời nói mà phải biểu hiện thành những việc làm cụ thể như mang lại cơm ăn, nước uống hàng ngày; là kiên quyết đấu tranh chống lại mọi hành vi xúc phạm, chà đạp lên phẩm giá con người; ra sức phấn đấu vì độc lập của Tổ quốc, tự do, hạnh phúc của nhân dân Tình thương yêu

đó không chỉ giới hạn trong phạm vi dân tộc mà vươn tới tầm nhân loại

4 Tinh thần quốc tế trong sáng , chân chính là phẩm chất đạo đức mới,

là yêu cầu cao về đạo đức cách mạng ở tầm quan hệ rộng lớn, vượt ra ngoài khuôn khổ quốc gia, dân tộc vì phẩm chất này được hình thành trên cơ sở bản chất quốc tế của giai cấp vô sản và được hun đúc lên bởi chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng tiên tiến nhất của mọi thời đại

Theo Hồ Chí Minh, tinh thần yêu nước phải gắn liền với tinh thần quốc

tế trong sáng, chân chính Nếu chỉ có tinh thần yêu nước mà không có tinh thần quốc tế trong sáng, chân chính thì sẽ dẫn đến hoặc là kỳ thị dân tộc, chủng tộc sôvanh nước lớn hoặc là dân tộc hẹp hòi Tinh thần quốc tế trong sáng, chân chính là tinh thần quốc tế vô sản, đoàn kết các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản toàn thế giới trong cuộc đấu tranh cho tiến bộ, hòa bình, độc lập dân tộc, hữu nghị và công lý, vì CNXH và chủ nghĩa cộng sản

Đây là phẩm chất đạo đức hoàn toàn mới nên đòi hỏi phải có sự quyết tâm cao của mỗi người, mỗi dân tộc và loài người tiến bộ trong cuộc đấu

Trang 25

tranh chung lâu dài, gian khổ trên cơ sở của chủ nghĩa Mác - Lênin chân chính, sự tiến bộ văn minh của nhân loại, sự giác ngộ giai cấp và sự phát triển cao của nền sản xuất xã hội

1.2 Công tác giáo dục đạo đức người Công an cách mạng

Trong giai đoạn hiện nay, công tác giáo dục đạo đức cho cán bộ chiến

sĩ công an cần tập trung vào một số nội dung lớn, gắn liền với sự hình thành lối sống, nhân cách văn hóa thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chủ động hội nhập quốc tế

Thực hiện Chỉ thị 23-CTTW, ngày 27/3/2003 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa IX, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đã tổ chức nhiều đợt học tập tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh Đối với CBCS công an, việc học tập

và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh có tầm quan trọng đặc biệt Điều đó được thể hiện ở tư tưởng chỉ đạo của Bộ Chính trị tại Chỉ thị số 03/CT-TW ngày 14/5/2011, Kế hoạch số 03/KH-TW ngày 1/7/2011 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, Hướng dẫn số 12/HD-BTGTW ngày 27/7/2011 và Hướng dẫn số 25/HD-BTGTW ngày 25/11/2011 của Ban Tuyên giáo Trung ương

Với tính chất đặc biệt quan trọng như vậy, ngày 17/1/2007, Bộ Công an

đã ban hành Kế hoạch số 05/KH-BCA (X11) về việc thực hiện Chỉ thị số 06/CT-TW của Bộ Chính trị Về tổ chức Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trong CAND Các chuẩn mực đạo đức cần giáo dục cho CBCS công an bao gồm một hệ thống các chuẩn mực mà nội dung cốt lõi là đạo lý yêu nước, thương đồng bào, giàu lòng nhân ái, xây dựng phong cách làm việc văn minh, lối sống và ứng xử văn hóa, vì nhân dân phục

vụ, đồng thời hướng tới và giữ gìn nét đẹp: chân, thiện, mỹ truyền thống của con người Việt Nam Cụ thể là:

Luôn nêu cao tinh thần yêu nước và hành động yêu nước; tận trung với nước, tận hiếu với dân; thực hiện nghiêm 6 điều Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy CAND; kiên định và quyết tâm thực hiện lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền

Trang 26

với CNXH, ra sức phấn đấu vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” Trung với nước hiếu với dân ngày nay thể hiện ở ý chí quyết tâm bảo vệ Đảng, bảo vệ sự nghiệp của Đảng và Nhà nước, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ nhân dân

Thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng; rèn luyện phẩm chất: cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư Học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức của Người đối với CBCS công an hiện nay là: nỗ lực hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, tích cực học tập, rèn luyện với tinh thần sáng tạo, có chất lượng hiệu quả cao; thực hiện chí công vô tư, luôn ưu tiên đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, của tập thể lên trên lợi ích cá nhân, xây dựng nội bộ đoàn kết, vững mạnh, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực dụng; kiên quyết chống bệnh lười biếng, thỏa mãn trong công tác, rèn luyện, tích cực bài trừ tư tưởng trung bình chủ nghĩa, không có động cơ, phấn đấu đúng đắn trong công tác chuyên môn

Có lối sống giản dị, trong sáng và đức tính cần cù, trung thực, khiêm tốn; tinh thần cảnh giác cách mạng; có ý thức đấu tranh chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; kiên quyết chống các hành vi vi phạm đạo đức nghề nghiệp, sách nhiễu nhân dân, các tệ nạn xã hội như đánh bạc, lô đề,

cá độ, vay tiền, cắm quán, bảo kê cho tội phạm,…

Rèn luyện phong cách tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo; luôn có ý thức tự học hỏi vươn lên, xác định việc học tập và rèn luyện phẩm chất đạo đức, chuyên môn nghiệp vụ là nhiệm vụ hàng đầu, không ngừng phấn đấu nâng cao trình độ mọi mặt trong mọi lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực công tác được giao; phấn đấu trở thành người CAND thời đại mới vừa “hồng”, vừa “chuyên”

Đối với đội ngũ CBCS trẻ, đó là luôn nêu cao tinh thần tiên phong, xung kích tình nguyện đi đầu đảm nhận các việc khó, việc khổ nơi vùng sâu, vùng xa, nơi biên giới, hải đảo… không đòi hỏi Tổ quốc phải làm gì cho mình

mà luôn tự hỏi mình đã là được gì có lợi, dù rất nhỏ cho Tổ quốc, cho nhân

Trang 27

dân, cho ngành; thực hiện tốt khẩu hiệu hành động “CAND vì nước quên thân, vì dân phục vụ”

Luôn phát huy tinh thần độc lập tự chủ, ý thức tự lực tự cường, sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao trong bất kỳ hoàn cảnh nào; sẵn sàng chiến đấu, hy sinh bảo vệ sự nghiệp của Đảng, bảo vệ độc lập tự do của Tổ quốc và CNXH

Luôn nêu cao ý thức xây dựng đoàn kết nội bộ trong tập thể đơn vị; nêu cao tinh thần tương thân, tương ái, giúp đỡ đồng chí, đồng nghiệp Có lòng yêu ngành, yêu nghề, tâm huyết với nghề, có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc; có lương tâm nghề nghiệp trong sáng xứng đáng là người CAND suốt đời phấn đấu vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì cuộc sống bình yên của nhân dân

Để thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ giáo dục chuẩn mực đạo đức cho CBCS công an theo tư tưởng, tấm gương đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh, cần tập trung vào một số nhiệm vụ trọng tâm

Một là, thường xuyên tổ chức các đợt sinh hoạt chính trị, các cuộc thi

tìm hiểu về tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, hình thành phông

tư liệu, xây dựng và phổ biến nội dung chuẩn mực đạo đức cho CBCS công

an thông qua các bài giảng, bài nói chuyện về chính trị, về truyền thống CAND, về thân thế, sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Hai là, triển khai hướng dẫn CBCS trong toàn lực lượng CAND xây

dựng nội dung, đăng ký kế hoạch học tập thực hiện theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh gắn với từng CBCS, từng lĩnh vực, vị trí công tác cụ thể Nội dung học tập, thực hiện phải ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ và dễ thực hiện, tránh việc làm mang tính hình thức, hô khẩu hiệu

Ba là, nâng cao hơn nữa chất lượng công tác tuyên truyền về tư tưởng,

tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước Việt Nam XHCN; từ đó liên hệ với nâng cao phẩm chất đạo đức nghề nghiệp cho CBCS công an; lồng ghép hợp lý các nội dung tuyên truyền với các lĩnh vực công tác nhằm không chỉ giáo dục về chuyên

Trang 28

môn, năng lực tư duy lý luận mà quan trọng hơn là hình thành kỹ năng sống, hoàn thiện nhân cách người cán bộ công an trong giai đoạn mới

Bốn là, đẩy mạnh công tác chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra đánh giá, báo cáo

kết quả, tổng kết; kịp thời biểu dương những tập thể và cá nhân có nhiều thành tích trong thực hiện chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp theo tư tưởng, tấm gương đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh; đồng thời phê bình những tập thể, cá nhân chưa có ý thức tu dưỡng, học tập, làm theo tấm gương đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh, coi đây là một trong những tiêu chí đánh giá thi đua hằng năm

Tiểu kết chương 1

Đạo đức là một trong những hình thái ý thức xã hội, nó xuất hiện tương đối sớm trong lịch sử loài người Đạo đức là một trong những phương thức dùng để điều chỉnh hành vi con người, là sự phản ánh tồn tại xã hội về lĩnh vực đạo đức

Cho đến nay, xã hội đã trải qua năm hình thái kinh tế - xã hội, tương ứng với nó có năm kiểu đạo đức khác nhau, mỗi kiểu đạo đức ít nhiều “người ta có một sự tiến bộ” nhất định, “đó là điều không còn nghi ngờ gì nữa” (Ph Ăngghen) Nhưng chỉ có “đạo đức vô sản” là “thứ đạo đức hiện nay đang tiêu biểu cho sự lật

đổ hiện tại, biểu hiện cho lợi ích của tương lai…là thứ đạo đức có một số lượng nhiều nhất những nhân tố hứa hẹn một sự tồn tại lâu dài” [15, tr.136]

Nhận thức đúng vai trò to lớn của đạo đức cộng sản trong sự nghiệp cách mạng, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chú trọng xây dựng đạo đức XHCN cho nhân dân đặc biệt là thế hệ trẻ, trong đó có giáo dục đạo đức cách mạng, để tạo nên những con người XHCN vừa “hồng” lại vừa “chuyên”

CSND là lực lượng vũ tranh trọng yếu của Đảng và Nhà nước Việt Nam, có nhiệm vụ bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, giữ gìn an toàn và trật

tự xã hội Để hoàn thành nhiệm vụ vẻ vang của mình với tính cách là lực lượng xã hội đặc thù, ngoài việc rèn luyện để không ngừng nâng cao trình độ

Trang 29

nghiệp vụ, chuyên môn thì vấn đề giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, chiến sĩ có tầm quan trọng đặc biệt

Giáo dục đạo đức cách mạng cho người CSND là quá trình hình thành, phát triển và hoàn thiện ý thức đạo đức cũng như năng lực thực hiện hành vi đạo đức của mỗi cá nhân Đây cũng là quá trình giúp cho mỗi cá nhân không chỉ hình thành mà còn góp phần củng cố những nhu cầu đạo đức, đặc biệt là hình thành và nuôi dưỡng những tình cảm, niềm tin và lý tưởng đạo đức Từ

đó sẽ có ý thức trách nhiệm hơn, dám vì mình, vì mọi người và vì những giá trị đạo đức đích thực Tất cả sẽ tạo thành động lực thúc đẩy cá nhân thực hiện hành vi đạo đức, đồng thời sáng tạo ra những giá trị đạo đức mới, phù hợp với giai đoạn lịch sử mới

Vì vậy, hơn lúc nào hết, cùng với việc đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế thị trường, việc chú trọng công tác giáo dục đạo đức cách mạng với nhiều nội dung, bằng nhiều hình thức phù hợp, thiết thực, sẽ giúp mỗi cán bộ chiến sĩ CSND biết vươn lên với tinh thần, tình cảm và trách nhiệm của mình, làm chủ được một cách đúng đắn tri thức hiện đại, trở thành những con người

có đầy tâm, đủ tài

Vấn đề giáo dục và nâng cao đạo đức cách mạng cho cán bộ, chiến sĩ CSND không chỉ là việc riêng của Bộ Công an, từ khi được thành lập đến nay, lực lượng CSND luôn nhận được sự chăm sóc giáo dục của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, luôn nhận được sự quan tâm, tin yêu, giúp đỡ của nhân dân Đó là những nguồn lực to lớn cổ vũ động viên cán bộ, chiến sĩ CSND tiến lên giành nhiều chiến thắng to lớn hơn nữa trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Trang 30

Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NGƯỜI CÔNG

AN CÁCH MẠNG CHO HỌC VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG

CẢNH SÁT NHÂN DÂN I 2.1 Đặc điểm tình hình có liên quan đến công tác giáo dục đạo đức của học viên Trường Cao đẳng CSND I

Trường Cao đẳng CSND I được thành lập ngày 30/12/1965 theo Quyết định số 155A/CA-QĐ của Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn Trải qua 50 năm xây dựng và phát triển, hiện nay Trường Cao đẳng CSND I là cơ sở giáo dục đại học công lập, trực thuộc Bộ Công an, có nhiệm vụ đào tạo cán bộ CSND có trình độ cao đẳng và trình độ trung cấp chuyên ngành theo quy chế đào tạo của Bộ Giáo dục & Đào tạo và quy định của Bộ Công an Cơ cấu tổ chức của Trường Cao đẳng CSND I gồm: 07 Khoa, 06 Bộ môn, 08 Phòng và 03 Trung tâm với tổng số cán bộ có hơn 700 đồng chí Trong đó giảng viên chiếm 48,76%; cán bộ quản lý giáo dục và nghiên cứu khoa học có chiếm 20,65%; cán bộ tham mưu, phục vụ chiếm 30,59% Đội ngũ cán bộ, giảng viên ngày càng được tăng cường về số lượng, trưởng thành về chất lượng đáp ứng được yêu cầu đào tạo các bậc học, hệ học trong nhà trường Đội ngũ cán bộ, giảng viên nhà trường đã có nhiều cố gắng, vượt qua nhiều khó khăn, luôn luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, ý thức nghề nghiệp, không ngừng học tập, nghiên cứu để nâng cao trình độ, tích cực cải tiến nội dung, phương pháp giảng dạy, nâng cao chất lượng đào tạo Hoạt động chuyên môn của Nhà trường đã có bước phát triển mạnh mẽ Các chuyên ngành được mở rộng và đào tạo liên tục theo niên khóa Nhà trường không ngừng mở rộng các hoạt động hợp tác liên kết đào tạo với các đối tác trong và ngoài nước Hệ thống chương trình, giáo trình thường xuyên được đổi mới, cập nhật Chất lượng đào tạo được nâng cao, đáp ứng kịp thời nhu cầu cán bộ CAND cho Đảng và Nhà nước

Trang 31

2.1.1 Về đội ngũ cán bộ, giảng viên Trường Cao đẳng CSND I

Về đội ngũ cán bộ giảng viên Trường Cao đẳng CSND I

Về trình độ đội ngũ giảng viên: cùng với sự phát triển của Nhà trường,

đội ngũ giảng viên cũng ngày càng trưởng thành, đến nay đã có trên 38% giảng viên có trình độ sau đại học trong đó: 01 Tiến sĩ, chiếm 0,39%; 97 Thạc

sĩ, chiếm 38,04%; Cử nhân: 137, chiếm 53,72%; Cao đẳng: 01, chiếm 0,39%; Trung cấp: 19, chiếm 7,45% [Phụ lục 2.1]

Về danh hiệu nhà giáo có: 01 nhà giáo ưu tú, nhiều giảng viên đã nỗ lực phấn đấu đạt danh hiệu Giảng viên giỏi cấp Bộ, cấp Trường, Chiến sĩ thi đua tiêu biểu của lực lượng CAND Công tác nghiên cứu khoa học, biên soạn chương trình, giáo trình, tài liệu dạy học… đã có bước phát triển cả về số lượng, chất lượng và được nghiên cứu, vận dụng, đưa vào giảng dạy trong nhà trường

Về thâm niên đội ngũ giảng viên: Số giảng viên có thâm niên giảng dạy trên 10 năm là 38 đồng chí, chiếm 14,8%; thâm niên giảng dạy từ 5 năm đến

10 năm là 77 đồng chí, chiếm 30%; đặc biệt là số giảng viên có thâm niên giảng dạy dưới 5 năm là 147 đồng chí, chiếm 55,2% [Phụ lục 2.1]

Về chức danh đội ngũ giảng viên: Trong tổng số 255 giảng viên của

nhà trường, số giảng viên trẻ chiếm tỷ lệ cao Cụ thể: số giảng viên chính 07 đồng chí, chiếm 2,75%; giảng viên 119 đồng chí, chiếm 46,67%; trợ giảng 80 đồng chí, chiếm 31,37%; huấn luyện viên cấp cao 03 đồng chí, chiếm 1,18%; huấn luyện viên chính 09, chiếm 3,53%; huấn luyện viên 19 đồng chí, chiếm 7,45%; chưa có chức danh 10 đồng chí, chiếm 3,92% [Phụ lục 2.2]

Về đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục Trường Cao đẳng CSND I

Về trình độ đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục: đội ngũ cán bộ quản lý

giáo dục đến nay đã có 43,52% cán bộ quản lý giáo dục có trình độ sau đại học trong đó: Tiến sĩ: 6 đồng chí, chiếm 5,56%; Thạc sĩ: 41 đồng chí, chiếm

Trang 32

37,96%; Cử nhân: 49 đồng chí, chiếm 45,37%; Trung cấp: 12 đồng chí, chiếm 11,11% [Phụ lục 2.3]

Về danh hiệu nhà giáo: 01 nhà giáo nhân dân, nhiều cán bộ quản lý giáo dục đã nỗ lực phấn đấu đạt chiến sĩ thi đua tiêu biểu của lực lượng Công

Về chức danh đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục: Trong tổng số 108 cán

bộ quản lý giáo dục của nhà trường, số cán bộ quản lý giáo dục trẻ chiếm tỷ lệ cao Cụ thể: số chuyên viên 35 đồng chí, chiếm 32%; số trợ lý 49 đồng chí, chiếm 45%; chưa được bổ nhiệm 04 đồng chí, chiếm 4% [Phụ lục 2.3]

Về đội ngũ cán bộ Đoàn, Hội của Trường Cao đẳng CSND I

Về đội ngũ cán bộ làm chuyên trách công tác Đoàn Thanh niên, Hội

Phụ nữ nhà trường có 6/523 đồng chí, chiếm 1,15% Về trình độ đội ngũ công tác Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ đến nay: trình độ đại học và sau đại học có

4 đồng chí, chiếm 66,7%; Trung cấp: 02, chiếm 33,3% [Phụ lục 2.4]

Về thâm niên đội ngũ cán bộ làm công tác Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ:

có thâm niên trên 10 năm là 01 đồng chí, chiếm 16,67%; từ 5 năm đến 10 năm

01 đồng chí, chiếm 16,67%; dưới 5 năm 4 đồng chí, chiếm 66,7% [Phụ lục 2.4]

Đội ngũ cán bộ, giảng viên Nhà trường đều có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, được đào tạo cơ bản, được tuyển chọn chủ yếu

từ những học viên tốt nghiệp Học viện ANND, Học viện CSND và những cán

bộ thực tiễn có kinh nghiệm, trình độ Ngoài ra, Nhà trường còn tuyển chọn làm giảng viên là những sinh viên tốt nghiệp các trường đại học ngành ngoài như Đại học sư phạm, Đại học KHXH&NV, Đại học Thể dục thể thao,

Trang 33

Trường Sỹ quan lục quân I … Đây là những sinh viên có học lực khá trở lên,

có phẩm chất đạo đức tốt, được thẩm tra xác minh theo đúng quy định đảm bảo tốt các tiêu chuẩn chính trị để được tuyển dụng vào ngành Công an

Trong quá trình công tác, đội ngũ cán bộ, giảng viên thường xuyên được học tập, bồi dưỡng nâng cao nhận thức và bản lĩnh chính trị Giảng viên nhà trường đã chủ động nghiên cứu, nắm vững các quy định của Luật Giáo dục, Luật giáo dục đại học, nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban chấp hành Trung ương Đảng Khóa XI về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”; Nghị quyết số 17/NQ-ĐUCA ngày 28/10/2014 Đảng ủy Công an Trung ương

về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo trong Công an nhân dân” [27] và Chỉ thị số 13/CT-BCA ngày 28/10/2014 của Bộ trưởng Bộ Công an

về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo trong Công an nhân dân [14]

và các quy định về chức trách, nhiệm vụ của giảng viên trong CAND Luôn

có ý thức tổ chức, chấp hành nghiêm sự điều động phân công của tổ chức, có

ý thức tập thể, phấn đấu vì lợi ích tập thể; gương mẫu thực hiện tốt các nghĩa

vụ công dân, tích cực, chủ động tham gia các hoạt động chính trị, xã hội

Đội ngũ cán bộ, giảng viên nhà trường luôn tâm huyết với nghề, luôn

có ý thức giữ gìn danh dự, lương tâm nhà giáo, luôn nêu cao tinh thần đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ đồng nghiệp trong cuộc sống và công tác, luôn có lòng nhân ái, bao dung với học viên và đồng nghiệp, sẵn sàng giúp đỡ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của học viên, đồng nghiệp và cộng đồng Luôn tận tụy với công việc, chấp hành tốt các quy định của Ngành và nhà trường, luôn công bằng trong đánh giá Thực hiện nghiêm túc việc tự phê bình và phê bình, luôn chú ý học tập nâng cao trình độ ngoại ngữ, tin học, chuyên môn nghiệp vụ để đáp ứng tốt các yêu cầu nhiệm vụ được giao Mỗi

Trang 34

cán bộ, giảng viên luôn là tấm gương về lòng trung thành tuyệt đối với Đảng với chế độ XHCN, luôn chú ý tu dưỡng và rèn luyện theo tấm gương đạo đức

Hồ Chí Minh, hết lòng, hết sức vì học viên

2.1.2 Về học viên Trường Cao đẳng CSND I

Học viên Trường Cao đẳng CSND I một bộ phận của sinh viên cả nước

và cũng mang đặc điểm chung của sinh viên cả nước Trong những năm qua, cùng với sự phát triển và đổi mới của ngành giáo dục, sự phát triển của đất nước và nhu cầu về công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm ngày càng gia tăng, số lượng và chất lượng học viên của Trường Cao đẳng CSND I ngày càng tăng Thực tế tổ chức đào tạo có những năm cho thấy, lưu lượng học viên nhà trường luôn có xu hướng tăng và vượt mức quy mô, chỉ tính riêng hệ chính quy, năm học 2010-2011 lưu lượng học viên là 5502 bằng 172% quy

mô đào tạo, năm học 2011-2012 lưu lượng học viên là 4973 bằng 156% quy

mô đào tạo Học viên của Nhà trường khi tuyển sinh đầu vào nhìn chung đều

là những người có học vấn, có lòng nhiệt tình, hăng hái, say mê, năng động và sáng tạo, có hoài bão, dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm, có cố gắng trong học tập, rèn luyện, trau dồi tri thức và đạo đức, tự khẳng định mình và bước vào cuộc sống một cách tự tin, vững chắc Tuy nhiên, học viên trường Cao đẳng CSND I là những chiến sỹ CAND ngoài những đặc điểm chung của sinh viên cả nước nói chung, họ còn có những đặc điểm riêng

Thứ nhất, hầu hết các học viên Trường Cao đẳng CSND I ở độ tuổi

thanh niên, khoảng từ 18-25 tuổi và có một số ít học viên là cán bộ đi học trên

25 tuổi, đang trong thời kỳ phát triển mạnh về thể chất, thể lực nhưng phần lớn chưa ổn định về nhân cách Bản thân học viên là những người rất nhanh nhạy với những cái mới, ham học hỏi, sôi nổi, nhiệt tình, có quyết tâm cao, có khả năng tiếp thu và thích ứng nhanh với sự biến đổi của xã hội và môi

Trang 35

trường Trong hoạt động, công tác họ sáng tạo, miệt mài, tích cực rèn luyện

và sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao

Thứ hai, từ tính chất, nhiệm vụ và yêu cầu rất cao của việc xây dựng

lực lượng CAND trong giai đoạn hiện nay, Bộ Công an có những quy định rất chặt chẽ về việc tuyển sinh các trường CAND nói chung Ngoài việc đảm bảo những quy định về tuyển sinh của Bộ giáo dục và Đào tạo, trước kỳ thi tuyển các học viên đăng ký thi tuyển phải qua kỳ sơ tuyển với những đòi hỏi cao và chặt chẽ do Công an các tỉnh, thành phố tiến hành theo quy định của Bộ Công

an Họ phải đạt những tiêu chuẩn về cá nhân, về lý lịch theo quy định tại Điều 6, Luật Công an nhân dân quy định tiêu chuẩn của người được tuyển vào Ngành Công an: “Người được tuyển vào Ngành Công an phải cơ đủ các phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức, trình độ học vấn, sức khỏe, có nguyện vọng

và năng khiếu phù hợp với công tác Công an ” [56] Mặt khác, học viên Trường Cao đẳng CSND I trong quá trình học tập, rèn luyện được Nhà nước bao cấp, khi ra trường được phân công công tác

Thứ ba, đặc thù và yêu cầu của ngành là rèn luyện bản lĩnh chính trị

vững vàng cho cán bộ chiến sĩ CAND, đặc biệt là những cán bộ, chiến sĩ trẻ Yêu cầu này đặt ra là phải thường xuyên chăm lo, rèn luyện, giáo dục bản lĩnh chính trị cho mỗi cán bộ, chiến sĩ CAND Vì vậy, học viên các trường CAND nói chung trong đó có học viên Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I, có điều kiện học tập, nghiên cứu các môn lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam

Thứ tư, học viên tuyển sinh đầu vào hàng năm của Nhà trường có nhiều

đối tượng khác nhau: cán bộ cử tuyển đi học, cán bộ phục vụ có thời hạn trong quân ngũ và học sinh phổ thông Học viên được tuyển vào trường (học viên là nam giới và nữ giới) theo quy định tỉ lệ % của Bộ Công an đề ra Điểm tuyển sinh đầu vào các năm tương đối cao (đều trên 20 điểm) và đặc biệt là

Trang 36

điểm tuyển sinh đầu vào của học viên nữ rất cao (từ 25-28 điểm) Có nhiều học viên là cán bộ cử đi học, học viên phục vụ có thời hạn trong quân ngũ đã đứng trong hàng ngũ của đảng và đặc biệt đã có nhiều học viên là cán bộ được cử đi học đã lập gia đình

Thứ năm, đặc thù là trường lực lượng vũ trang nên 100% học viên sống

tập trung tại ký túc xá của Nhà trường, hầu hết các học viên của Nhà trường có tình cảm gắn bó mật thiết với nhau và giúp đỡ nhau trong những lúc khó khăn,

có tinh thần đoàn kết, có tính kỷ luật cao Học viên được biên chế và quản lý chặt chẽ theo từng tiểu đội, trung đội, việc học tập, sinh hoạt luôn được đảm bảo

theo những quy định về Điều lệnh Nội vụ của lực lượng CAND

2.1.3 Về cơ sở vật chất phục vụ cho cán bộ, giảng viên và học viên Trường Cao đẳng CSND I

Đội ngũ cán bộ, giảng viên và học viên Nhà trường được làm việc trong môi trường sư phạm lành mạnh, kỷ luật, kỷ cương của một trường CAND, bên cạnh đó còn được quan tâm, tạo điều kiện, phòng làm việc, phòng học và phòng ở của học viên được bố trí gọn gàng, trang bị đầy đủ các trang thiết bị phục vụ làm việc, học tập Nhà trường đã đầu tư xây dựng và đưa vào sử dụng mạng nội bộ, kết nối toàn trường để tạo điều kiện thuận lợi trong công tác thông tin, phối hợp, thực hiện chế độ chính sách cho đội ngũ cán bộ, giảng viên Các nhà làm việc của giảng viên được lắp đặt mạng internet không dây phục vụ công tác tra cứu, cập nhật thông tin Nhà trường cũng đã đầu tư trang bị 250 máy tính xách tay và 80 máy tính để bàn cho đội ngũ giảng viên Hệ thống phòng ở học viên được xây dựng hệ thống truyền hình cáp tới từng phòng ở của học viên, phục vụ học viên có thể nắm bắt tình hình thời sự trong nước cũng như quốc tế một cách thường xuyên, liên tục

Hệ thống phòng học thực hành: Nhà trường đã đầu tư trang bị 01 khu thực hành nghiệp vụ Cảnh sát giao thông đường bộ đường sắt với diện tích

Trang 37

hơn 3000m2

đạt chuẩn; 01 phòng thực hành chuyên dùng cho chuyên ngành Trinh sát phòng chống tội phạm về môi trường; 01 phòng thực hành chuyên dùng cho chuyên ngành Kỹ thuật hình sự Có 4 phòng học học ngoại ngữ chuyên ngành với 124 cabin chuyên dùng; 05 phòng thực hành tin học với

160 máy tính phục vụ, hỗ trợ cho việc giảng dạy ngoại ngữ và thực hành tin học Bên cạnh đó là hệ thống các phòng học thực hành của các chuyên ngành còn lại, đã được đầu tư từ trước, đang trong quá trình lập dự án xây dựng, bổ sung hoàn thiện

Hệ thống phòng học lý thuyết: Nhà trường đã đầu tư, xây dựng 39 phòng học lý thuyết đạt chuẩn về âm thanh, ánh sáng, các trang thiết bị hỗ trợ giảng dạy như máy chiếu, micro, amply, loa…

Với những điều kiện về cơ sở vật chất như vậy đã tạo những điều kiện tốt để cán bộ, giảng viên và học viên Nhà trường phát huy vai trò, trách nhiệm của mình trong công tác giảng dạy, quản lý và học tập

2.2 Thực trạng công tác giáo dục đạo đức người Công an cách mạng đối với học viên Trường Cao đẳng CSND I hiện nay

2.2.1 Thực trạng đạo đức của học viên Trường Cao đẳng CSND I

Về mục đích, lý tưởng của học viên

Mục đích, lý tưởng sống của học viên Trường Cao đẳng CSND I hiện nay là học tập, rèn luyện không chỉ vì tương lai của bản thân mà còn xuất phát

từ mong muốn được góp một phần công sức vào việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN

Kết quả điều tra nhận thức của học viên Trường Cao đẳng CSND I về các vấn đề trong cuộc sống cho thấy, có 98,3% học viên cho rằng giá trị xã hội quan trọng nhất là sống có lý tưởng, tiếp đến quý trọng gia đình 97,9%, yêu thương con người 97,6%, công bằng 97%, tôn trọng lẽ phải 96%, có ích cho xã hội 95,3% Có 98,6% số học viên được điều tra chọn tiêu chí tính

Trang 38

trung thực là yếu tố quan trọng nhất để thuận lợi trong cuộc sống [Phụ lục 2.6] Điều này chứng tỏ học viên Trường Cao đẳng CSND I có nhận thức rõ

và đúng đắn về những giá trị xã hội chân chính, thể hiện nhận thức chính trị vững vàng, tin tưởng vào sự nghiệp xây dựng XHCN vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh dưới sự lãnh đạo của Đảng Như vậy, qua kết quả khảo sát ta thấy học viên Trường Cao đẳng CSND I đã biết hướng tới một lối sống tích cực, lành mạnh Đó là lối sống có mục đích, có lý tưởng tốt đẹp phù hợp với xu thế chung của toàn xã hội Mục đích và lý tưởng sống tích cực sẽ là đôi cánh nâng đỡ cho các học viên trên con đường phấn đấu, rèn luyện để trở thành những chiến sỹ Công an nhân dân hữu ích cho xã hội

Về lòng yêu nước và tinh thần tự hào dân tộc của học viên

Yêu nước và tinh thần tự hào dân tộc là một trong những truyền thống văn hóa và đạo đức quý báu của dân tộc ta Yêu nước ngày nay là yêu CNXH, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, ra sức cống hiến nhằm xây dựng

đất nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”

Trên cơ sở nhận thức rõ Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của

giai cấp công nhân, đại biểu trung thành cho lợi ích của nhân dân lao động và

cả dân tộc, mục tiêu của Đảng là đấu tranh cho độc lập của Tổ quốc, tự do, ấm

no, hạnh phúc cho nhân dân, đưa đất nước đi lên CNXH, học viên Trường Cao

đẳng CSND I luôn trung thành với Đảng, tin vào mục tiêu và đường lối đúng đắn sáng suốt của Đảng Đa số học viên ra sức phấn đấu để được đứng vào hàng ngũ của Đảng với mong muốn góp phần hiện thực hóa mục tiêu trên

Theo kết quả điều tra đối với học viên Trường Cao đẳng CSND I thì có đến 98% học viên Trường Cao đẳng CSND I có nguyện vọng trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam Tuy nhiên, có 2% số học viên cho rằng là tiêu chuẩn vào Đảng chưa phù hợp vì tiêu chí kết nạp đảng còn cao (đặc biệt là số cán bộ được cử đi học và số học viên là chiến sĩ phục vụ có thời hạn thi đỗ)

Trang 39

Biểu đồ: Nguyện vọng vào Đảng của học viên

Việc học viên cho rằng tiêu chuẩn đảng viên cao, nhìn ở một góc độ khác cho thấy học viên Trường Cao đẳng CSND I đã có sự quan tâm, tìm hiểu

và nắm được tiêu chuẩn trở thành Đảng viên Tuy nhiên, cũng cần khắc phục tâm lý ngại khó trong việc phấn đấu vào Đảng của học viên Cuộc điều tra của chúng tôi cũng cho kết quả tương tự Có 300 học viên trong tổng số 300 học viên được điều tra, chiếm tỷ lệ 100%, đồng ý với quan điểm người cán bộ CAND cần có bản lĩnh chính trị vững vàng, tin vào Đảng, vào CNXH Hơn thế nữa, họ còn khẳng định đó là một trong những phẩm chất rất quan trọng Đây là những động cơ hết sức trong sáng, tốt đẹp vì lý tưởng của Đảng, góp phần xây dựng đất nước giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh Nhiều học viên đã vinh dự được đứng trong hàng ngũ của Đảng ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường

Lòng yêu nước và tự hào dân tộc của học viên Trường Cao đẳng CSND

I còn biểu hiện ở sự quan tâm đến tình hình chính trị, kinh tế - xã hội của đất nước, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế So với các vấn đề khác như: thể thao, văn hóa, phim ảnh, khoa học kỹ thuật, tình hình thời sự trong nước

và quốc tế được nhiều học viên chú ý khi đọc báo hoặc xem ti vi, nghe đài, lên mạng Internet Có 95,3% học viên được hỏi cho rằng họ rất thường xuyên và thường xuyên theo dõi thời sự trong nước; có 91,6% quan tâm đến

Trang 40

thời sự quốc tế [Phụ lục 2.6] Với câu hỏi: “Bạn có tâm trạng gì khi thấy Việt Nam còn nghèo, lạc hậu so với các nước trong khu vực và trên thế giới ?”, thì đại đa số học viên cho rằng họ rất băn khoăn, chỉ có rất ít không quan tâm Chính lòng yêu nước và tinh thần tự hào dân tộc làm cho đại bộ phận học viên Trường Cao đẳng CSND I có 95% băn khoăn, trăn trở trước thực trạng đất nước hiện nay Điều này chứng tỏ học viên không chỉ biết nghĩ đến tương lai của bản thân mà còn rất quan tâm đến các vấn đề chính trị - xã hội của đất nước Họ ý thức được trách nhiệm, bổn phận của mình đối với Tổ quốc Tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc còn được biểu hiện bằng chính những hoạt động của học viên Trường Cao đẳng CSND I nhằm góp phần thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, với những biểu hiện cụ thể như sau:

Một là, học viên thấy được vai trò quan trọng của việc học tập đối với

việc lập nghiệp của bản thân và với việc cống hiến cho xã hội Động cơ học tậpcủa học viên luôn có xu hướng tập trung đến lợi ích của đất nước, dân tộc, đồng thời xu hướng tập trung đến lợi ích của bản thân rất ít Và như vây, nếu học viên trang bị cho mình tri thức, tự bồi dưỡng những phẩm chất nhân cách thì họ càng có khả năng cống hiến cho xã hội nhiều hơn Nhìn chung, động cơ học tập của học viên Trường Cao đẳng CSND I là rất lành mạnh và luôn gắn với nhu cầu lập nghiệp, có sự định hướng giáo dục rất khoa học để xây dựng lối sống đúng đắn, luôn biết kết hợp hài hòa giữa lợi ích cá nhân với lợi ích xã hội, góp phần đắc lực trong công cuộc bảo vệ ANQG, giữ gìn TTATXH và xây dựng đất nước trong giai đoạn hiện nay

Hai là, học viên còn biết quan tâm đến cộng đồng, tự giác, tích cực và

tình nguyện tham gia hoạt động vì cộng đồng Từ nhận thức của mình về các vấn đề xã hội, những khó khăn của đất nước trong quá trình xây dựng CNXH, học viên Trường Cao đẳng CSND I luôn hăng hái tham gia các hoạt động xã hội do các tổ chức Đoàn, Hội phát động như: hiến máu nhân đạo, tiếp sức

Ngày đăng: 13/12/2017, 10:26

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w