MỤC LỤC MỞ ĐẦU 2 CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG 3 1.1 Sản phẩm sau cùng của giáo dục Ngữ Văn 3 1.2 Khái niệm con người công dân mang đậm cá tính 4 1.3 Tầm quan trọng của việc hình thành và phát triển con người công dân mang đậm cá tính. 5 1.3.1 Tầm quan trọng giáo dục trong việc hình thành và phát triển con người công dân mang đậm cá tính 5 1.3.2 Tầm quan trọng giáo dục Ngữ Văn trong việc hình thành và phát triển con người công dân mang đậm cá tính 6 CHƯƠNG 2: GIÁO DỤC NGỮ VĂN ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CON NGƯỜI CÔNG DÂN MANG ĐẬM CÁ TÍNH 8 2.1. Những khía cạnh của con người công dân mang đậm cá tính 8 2.1.1. Con người công dân mang đậm cái tôi cá nhân 8 2.1.2. Con người công dân có thế giới quan cá nhân và lí tưởng cách mạng 9 2.1.3 Con người công dân có tri thức, kĩ năng 11 2.2 Một số nguyên tắc xây dựng con người cá tính trong giáo dục Ngữ văn 13 2.2.1. Tính đa dạng và thống nhất của sản phẩm giáo dục Ngữ văn 13 2.2.2. Dạy học Ngữ văn hướng về tính đa dạng với các cá thể độc đáo 14 2.2.3 Người học cần được tôn trọng, khuyến khích tự do suy tư, tự do biểu đạt từ những gì mình cảm thụ được qua giờ học 16 2.3. Vai trò của giáo dục Ngữ văn trong việc hình thành con người công dân mang đậm cá tính 17 2.4. Mối quan hệ giữa con người công dân mang đậm cá tính và cộng đồng 19 KẾT LUẬN 22 MỞ ĐẦU Từ xưa đến nay, giáo dục luôn được xem là một hoạt động quan trọng trong cuộc sống con người. Ngày nay, khi khoa học công nghệ ngày càng phát triển, nhu cầu về vật chất, tinh thần, trí tuệ của con người tăng lên thì vai trò của giáo dục ngày càng được đề cao và có ý nghĩa quyết định không chỉ đối với sự phát triển kinh tế xã hội mà cả đối với công cuộc bảo vệ độc lập, chủ quyền của đất nước. Hoạt động giáo dục nói chung và dạy học Ngữ Văn nói riêng đều nhằm một mục tiêu chung là sự tác động có hệ thống, có kế hoạch đến con người để hình thành cho họ những phẩm chất nhân cách, nhằm giúp người học nhận thức, phát triển trí tuệ thông qua một lực lượng giáo dục. Cung cấp cho người học hệ thống kiến thức khoa học, bồi dưỡng phương pháp tư duy sáng tạo và kỹ năng hoạt động thực tiễn, nâng cao trình độ học vấn, hình thành lối sống văn hoá mà mục đích cuối cùng là tạo ra những người công dân mang đậm cá tính của thời đại, nghĩa là hội tụ đầy đủ các yếu tố về tri thức, kỹ năng và phẩm chất. Muốn như vậy, đòi hỏi hệ thống giáo dục nói chung phải thay đổi từng ngày theo hướng tích cực nhằm đáp ứng nhu cầu dạy học. Cần phải đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá và phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân. Trong đó, dạy học Ngữ văn nói riêng cũng cần phải đảm bảo một số yêu cầu, nguyên tắc nhất định trong quá trình day và học nhằm một mục tiêu chung, tạo nên sản phẩm cuối cùng của dạy học Ngữ văn con người công dân mang cá tính. CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG 1.1 Sản phẩm sau cùng của giáo dục Ngữ Văn Giáo dục (education) theo nghĩa chung là hình thức học tập theo đó kiến thức, kỹ năng, và thói quen của một nhóm người được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua giảng dạy, đào tạo, hay nghiên cứu. Giáo dục hoàn toàn là một quá trình, nên điểm đến cuối cùng luôn là những mục tiêu nhất định. Từ những năm 70, UNESCO luôn khẳng định: “Xét từ bản chất của nó, giáo dục là một định hướng mà con người sáng tạo ra, sử dụng để tác động đến chính bản than mình, để tạo ra con người thứ hai từ con người thứ nhất có tính tự nhiên”; “Xuất phát từ những không gian, thời gian cụ thể, do sự thay đổi liên tục của môi trường lịch sử xã hội, các mục tiêu giáo dục luôn luôn được vạch ra cụ thể, phù hợp với định chế và quan niệm của từng thời kỳ nhất định”. Ngày nay khi nền kinh tế thị trường phát triển thì có sự hoán đổi về vai trò của các mục đích. Đặc biệt trong giai đoạn kinh tế khó khăn và cạnh tranh khốc liệt như ngày nay ở Việt Nam, mục đích của giáo dục hướng tới là giúp người học đặt nhiều kỹ năng tốt cho bản thân để có được một công việc tốt. Mỗi khu vực trên thế giới sẽ có những có những mục tiêu giáo dục cụ thể, nhưng tựu chung, tất cả mọi nền giáo dục đều hướng đến thành quả cuối cùng giống nhau: Sản phẩm của giáo dục là năng lực và chất lượng nguồn nhân lực tương lai của một đất nước. Mục tiêu giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện đã được xác định trong các chương trình trước đây, nhưng thường được quan niệm đó là nhiệm vụ đào tạo những con người phát triển hài hòa đức, trí, thể, mỹ. Nghĩa là giáo dục, đào tạo con người đáp ứng nhu cầu Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa đất nước, con người cho xã hội. Thực hiện công cuộc đổi mới, ngoài việc phát triển con người cho xã hội, sẽ chú trọng thêm phần phát huy cao nhất tiềm năng sẵn có của riêng mỗi người, đó là con người cá nhân. Ngay từ năm 1945, trong thư gửi học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: một nền giáo dục nó sẽ đào tạo các em nên những người công dân hữu ích cho nước Việt Nam, chính là đào tạo con người xã hội, và một nền giáo dục làm phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của các em, chính là đào tạo con người cá nhân. Giáo dục Ngữ Văn thuộc về phạm trù giáo dục bằng nghệ thuật. Con đường này giúp phát triển tối đa khả năng sáng tạo và sự ý thức về phẩm cách, nhân cách của con người ở giai đoạn sớm nhất thông qua ý thức về cái Đẹp. Người học sẽ không còn được giáo dục phải là một công dân tốt nữa, mà với hình thức giáo dục này chúng ta, cả người học và người dạy sẽ cũng gieo những hạt giống tốt đẹp và để nó tự nảy nở trong quá trình trưởng thành và phát triển của người học. Tình yêu đất nước được biểu hiện qua những hành động bé nhỏ hằng ngày, tình đoàn kết được thể hiện qua những thói quen giúp đỡ người khác, … Ngoài những phẩm chất tốt đẹp thiết yếu của một người công dân, con người còn được giáo dục thúc đẩy cá tính của bản thân. Mỗi cá nhân là một cá thể độc lập, vì vậy sẽ không ai giống ai, bằng hình thức riêng của mình, giáo dục Ngữ Văn hoàn toàn có thể làm tốt được trọng trách này. 1.2 Khái niệm con người công dân mang đậm cá tính Cá tính là từ Hán Việt được tạo bởi 2 từ cá nhân và tính cách, chỉ tính cách của mỗi con người. Tương tự từ cái tôi, cá tính của người này giúp ta phân biệt được bản thân họ với những người khác, vì mỗi người đều có những có ý kiến, cách hành xử riêng của mình, không ai giống ai. Là một con người công dân mang đậm cá tính, trước hết phải là một người ý thức đầy đủ về quyền lợi và trách nhiệm công dân của mình, phải là một công dân tốt. Họ phải thể hiện mình thông qua hành động cụ thể để chứng tỏ mình là người có ích cho cộng đồng, xã hội. Đồng thời, những cá nhân này còn ý thức được con người cá nhân của mình, tiếp tục phát huy những thế mạnh và khắc phục những nhược điểm của bản thân. Nền giáo dục Việt Nam, từ bao nhiêu năm nay vẫn đặt mục tiêu “công dân tốt” để giáo dục nhân cách của người học. Còn vấn đề con người cá nhân vẫn chưa được hệ thống chú trọng nhiều. Điều này cho thấy giáo dục vẫn còn đóng khuôn, và chú trọng quá nhiều vào hình thức. 1.3 Tầm quan trọng của việc hình thành và phát triển con người công dân mang đậm cá tính. Sự hình thành và phát triển con người là một quá trình lâu dài và phức tạp. Trong quá trình đó, giữa các yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài, giữa cái sinh học và cái xã hội thường xuyên tác động lẫn nhau và vai trò của mỗi yếu tố đó thay đổi trong từng giai đoạn phát triển của mỗi người. Trong quá trình sống, con người có được những kinh nghiệm sống, niềm tin, thói quen… và ngược lại, khi tiếp nhận bất cứ việc gì, nhân cách cũng dựa trên chuẩn mực xã hội để điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp. Không chỉ thế, mỗi cá nhân còn phải dựa vào những cái bên trong, những kinh nghiệm của mình để đánh giá, tiếp nhận hay gạt bỏ cái bên ngoài. Vì vậy, những yếu tố bên ngoài là khách quan, con người không thểdễ dàng cải tạo được, nhưng con người có thể xây dựng, tích lũy cho mình những nội dung, kinh nghiệm, kiến thức ở bên trong. Giáo dục có vai trò quan trọng trong việc hình thành những chuẩn mực đúng sai để con người có thể dựa vào đó mà thay đổi cá nhân. 1.3.1 Tầm quan trọng giáo dục trong việc hình thành và phát triển con người công dân mang đậm cá tính Cuốn Tâm lý học đại cương đã chỉ ra năm vai trò cơ bản của giáo dục: Giáo dục vạch phương hướng cho sự hình thành và phát triển nhân cách; đem lại cho con người những cái mà yếu tố bẩm sinh – di truyền hay môi trường tự nhiên không thể đem lại được; phát huy tối đa các mặt mạnh của các yếu tố khác chi phối sự hình thành nhân cách (yếu tố sinh thể, hoàn cảnh sống…); giáo dục còn có thể bù đắp những thiếu hụt, hạn chế do các yếu tố bẩm sinh – di truyền không bình thường, hoàn cảnh bị tai nạn hay chiến tranh gây nên; cuối cùng là giáo dục có thể đón trước sự phát triển, “hoạch định nhân cách tương lai” để tác động hình thành và phát triển phự hợp với sự phát triển của xã hội. Tất cả các vai trò của giáo dục đều trực tiếp hoặc gián tiếp thúc đẩy tích lực lên sự hình thành và phát triển nhân cách, chính những điều này cũng sẽ giúp hình thành nên những công dân có ích cho xã hội, đất nước. Thời đại mới với nhiều những cơ hội và nhiều những khó khăn thách thức, giáo dục nhân cách còn phải chú trọng phát huy, bảo vệ các cá tính bẩm sinh. Sản phẩm của giáo dục chính là tương lai của đất nước, sự giáo dục tôn trọng tính đọc lập, tự do của mỗi cá nhân ở Phương Tây cũng chính là một trong những nguyên nhân đưa các nước này phát triển nhanh và ổn định. Ngoài những phẩm chất tốt cần phải có, chú trọng phát triển các bản sắc cá nhân là hết sức quan trọng. Phẩm chất đạo đức chỉ có một thang điểm chung để đánh giá, nhưng bản sắc cá nhân thì không. Có những cá nhân có ưu điểm ở lĩnh vực này, lại có những cá nhân sẽ có những ưu điểm vượt trội ở những lĩnh vực khác. Sự chuyên môn hóa các ngành nghề trong xã hội ngày càng ở mức độ cao, và chính những yếu tố cá nhân này mới là bước đệm thần kì giúp xã hội ngày càng văn minh, tiên tiến. Ngoài ra, tận dụng và phát huy các yếu tố của từng cá nhân sẽ khiến những cá nhân thêm ý thức về vai trò của mình đối với xã hội, càng ngày càng cố gắng phát huy thêm mạnh mẽ bản thân mình. 1.3.2 Tầm quan trọng giáo dục Ngữ Văn trong việc hình thành và phát triển con người công dân mang đậm cá tính Ngữ Văn là một bộ môn của nghệ thuật, mà nghệ thuật thì hết sức coi trọng tinh thần tự do của mỗi cá nhân, giúp con người ý thức mãnh liệt về làm đẹp bản thân mình và xã hội. Nhà bác học nổi tiếng S. Đacuyn đã nói lên vai trò của nghệ thuật trong phát triển nhân cách con người như sau: “Nếu tôi phải trải qua lần thứ hai cuộc sống của mình, thi tôi sẽ tự đặt cho mình quy tắc là đọc các tác phẩm thi ca và nghe âm nhạc, dù cho chỉ là một lần trong tuần lễ. Mất mát những thị hiếu đó là sự mất mát một phần hạnh phúc của đời người và có thể là ảnh hưởng tai hại không chỉ đến những năng lực trí tuệ và mà còn có thể đến tính cách đạo đức nữa, vì rằng sự mất mát đó đã làm yếu đi mặt xúc cảm của bản chất người trong chúng ta”. Giáo dục nghệ thuật trong nhà trường là một quá trình hoạt động chung của nhà giáo dục và người được giáo dục nhằm giúp người được giáo dục có rung cảm trước cái đẹp trong nghệ thuật, có kiến thức, quan điểm nhìn nhận cái đẹp trong nghệ thuật, biết lựa chọn và chiêm ngưỡng nghệ thuật, có khả năng đồng sáng tạo và sáng tạo nghệ thuật. Học Văn không phải để trở thành nhà văn, nhà biên kịch, làm báo… mà trước hết nó giúp con người cảm nhận cái Đẹp và hiểu về bản thân mình. Các tác phẩm văn chương không có vai trò giáo dục, nhưng bằng cách riêng của nó, văn chương chạm sâu vào tâm hồn của người đọc. Lúc này, môi trường giáo dục trở thành là môi trường của cảm xúc, và cảm xúc chính là thứ định hướng tốt nhất và hiệu quả nhất tại con người. Đó là sự hướng về và trân trọng các giá trị: Chân, Thiện, Mỹ. Tính sáng tạo của các bộ môn nghệ thuật trong đó có Văn học giúp cá nhân được là chính mình. Những nguyên tắc khuôn khổ chỉ có thế quy định ở bên ngoài, nhưng những tình cảm, nhận định của mỗi cá nhân thì lúc nào cũng luôn chân thật và những cái khuôn không thể nào có thể chạm được đến. Mặc dù vậy, nhưng giáo dục Ngữ Văn hiện nay còn gặp nhiều những tiêu cực đáng buồn và chương trình dạy học còn chưa thực sự tôn trọng tinh thần cá nhân. Chúng ta cần phải làm tốt hơn nữa để xây dựng một chương trình hướng đến mỗi cá nhân và tôn trọng cá tính của cá người học và người dạy. Chỉ điều này mới giúp cho xã hội bên cạnh trở nên tốt đẹp còn là xã hội văn minh, với những gam màu phong phú, rực rỡ. CHƯƠNG 2: GIÁO DỤC NGỮ VĂN ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CON NGƯỜI CÔNG DÂN MANG ĐẬM CÁ TÍNH 2.1. Những khía cạnh của con người công dân mang đậm cá tính 2.1.1. Con người công dân mang đậm cái tôi cá nhân Quá trình giáo dục rất đề cao đến việc dạy dỗ và rèn luyện cho người học những kĩ năng về giao tiếp, trong đó chú trọng đến việc thể hiện cái tôi cá nhân trong đời sống xã hội, đối với bộ môn Ngữ văn thì nhiệm vụ này càng được quan tâm. Giao tiếp gắn với cái tôi, mà cái tôi là sự thể hiện của một nền văn hóa. Nếu như văn hóa phương Tây đề cao giá trị cá nhân thì văn hóa phương Đông lại chú trọng đến giá trị cộng đồng. Có thể hiểu về cái tôi cái như sau, cái tôi hay còn gọi là bản ngã chính là cái làm nên tính cách riêng biệt của mỗi người. Trong Triết học, cái tôi được hiểu như là cái tôi ý thức hay đơn giản là tôi, bao hàm trong đó những đặc tính để phân biệt tôi với những cá nhân khác. Trong phân tâm học, cái tôi (ego) là phần cốt lõi của tính cách liên quan đến thực tại và chịu ảnh hưởng của tác động xã hội. Trong triết lí Phật giáo, cái tôi hay thường gọi là ngã, là cái tôi được thiên thuyết như là một thể tính trường tồn, không bị ảnh hưởng bới tụ tán, sinh tử. Cái tôi vừa mang giá trị cá nhân vừa mang giá trị cộng đồng. Giá trị cá nhân chú trọng tới giá trị của bản thân, là tinh thần tự chịu trách nhiệm với cuộc đời mình. Tính cá nhân (Individualism) ở đây không phải là tính vị kỉ hay ích kỉ mà là sự tự nhận thức được giá trị của bản thân, đề cao tính độc lập, tự do lựa chọn, quyết định và tôn trọng sự riêng tư cá nhân. Còn giá trị cộng đồng (community) lại chú trọng đến hài hòa nhóm và dư luận xã hội, hành vi của các cá nhân trong cộng đồng được điều chỉnh thông qua dư luận xã hội. Từ giá trị cá nhân và giá trị cộng đồng đã định hình tính cách, quan điểm, lòng tin, quy tắc giao tiếp. Với ảnh hưởng của các cuộc vận động xã hội của cách mạng, “cái tôi” ở người Việt Nam hiện nay đã có những biến đổi sâu sắc, được biểu hiện khá rõ rệt và rất đa dạng. Quá trình xã hội hoá cá nhân ngày càng nhanh, quá trình dân chủ hoá xã hội càng sâu sắc thì “cái tôi” ngày càng vững vàng và tự khẳng định mạnh mẽ. Văn học Việt Nam từ thập kỷ đầu của thế kỷ XX đã bắt đầu đề cao cá nhân và đề cao sự giải phóng con người. Ngôn ngữ văn học, bên cạnh những đại từ nhân xưng ở ngôi thứ ba như “chàng”, “nàng”, “anh”, “em”, “ta”, “mình”… đã bắt đầu xuất hiện bóng dáng của “cái tôi”. Qua câu thơ: “Nhà nàng ở cạnh nhà tôi Cách nhau cái dậu mùng tơi xanh rờn”, có thể thấy một sự quá độ từ cộng đồng sang cá nhân, từ chỗ chưa xác định đến chỗ xác định. Với nhiều tiểu thuyết và thi ca khác, “cái tôi” xuất hiện nhiều hơn và rõ hơn. Cho đến câu thơ của Chế Lan Viên: “Đường về thu trước xa xa lắm Mà kẻ đi về chỉ một tôi” thì “cái tôi” ở đây mới được biểu hiện ra một bản chất đích thực của nó: tự ý thức, tự chủ, tự thân, tự khẳng định, độc lập, khác với người xung quanh, với đồng loại, đứng đối diện với mọi người, chứ không phải nép vào bên cạnh, đứng đằng sau người khác như trước đây. Từ chỗ chỉ dám dùng những từ “mình”, “ta”, “ai” không tách bạch, không xác định giữa chủ thể và khách thể đến chỗ “mà kẻ đi về chỉ một tôi” là một bước ngoặt lớn, một bước tiến trên con đường tự khẳng định, tự xác định, tự chủ của “cái tôi”. Như vậy, tự khẳng định, tự xác định, tự chủ, tự thân, tự ý thức về chính mình, về cá tính của mình đã có những biểu hiện rõ ràng hơn trong sự tiến hoá từ cá thể đến con người, đến cá nhân, đến cá tính và nhân cách. 2.1.2. Con người công dân có thế giới quan cá nhân và lí tưởng cách mạng Hành trang cuộc sống của mỗi người luôn luôn cần tới những tri thức, trí tuệ sâu sắc. Thế giới quan là thứ không thể thiếu được trong hành trang trí tuệ ấy của mỗi người. Nó là cái cần phải được từng người tự học hỏi, chăm lo, đổi mới để có thể nhìn, hiểu và làm theo những luận điểm tổng quát góp phần như một chiếc la bàn định hướng cuộc sống, làm cho cuộc sống thêm hiệu quả, hạnh phúc và thành đạt. Quan trọng nhất là nó có mối quan hệ mật thiết trong quá trình phát triển, hình thành và thể hiện cá tính của mỗi người. Thế giới quan cá nhân có thể hiểu là các quan điểm về tự nhiên, xã hội, bản thân được hình thành ở mỗi cá nhân. Nó quy định xu hướng chính trị, đạo đức và các phẩm chất tư tưởng khác, nó chi phối cách nhìn, thái độ và hành động của mỗi cá nhân. Thế giới quan đóng vai trò nhân tố sống động của ý thức cá nhân, giữ vai trò chỉ dẫn cách thức tư duy và hành động của cá nhân. Nó đồng thời cũng thể hiện lý luận và khái quát hóa các quan điểm và hoạt động của nhóm xã hội. Mỗi cá nhân cũng luôn mong muốn tiếp nhận những thế giới quan khác nhau từ đó làm phong phú thế giới quan cho mình, góp phần định hướng cuộc sống. Xuất phát từ lập trường, biện giải thế giới quan đúng đắn, con người có thể có được những cách giải quyết vấn đề đúng đắn do cuộc sống đặt ra. Ngược lại, xuất phát từ lập trường sai lầm, con người khó có thể tránh khỏi hành động sai lầm. Vì vậy để trở thành một người công dân mang đậm cá tính thì trong quá trình giáo dục đòi hỏi người học phải hình thành cho mình một thế giới quan đúng đắn, phù hợp với nhận thức của bản thân và xã hội. Khi đã hình thành cho mình được một thế giới quan cá nhân đúng đắn thì đó sẽ là động lực, là kim chỉ nam cho việc đưa ra những ý kiến, quan điểm, bày tỏ thái độ yêu, ghét, khen, chê của cá nhân mình đối với những sự việc trong quá trình học tập, rèn luyện và trong cuộc sống thường ngày. Đặc biệt, một thế giới quan phong phú, độc đáo sẽ giúp cho người học có những cái nhìn mới lạ, phát huy được khả năng tư duy, sáng tạo của mình trong mọi vấn đề trong cuộc sống. Điều này sẽ góp phần xây dựng, phát triển người học mang đậm cá tính. Để thực hiện được nhiệm vụ đó thì đòi hỏi người học phải không ngừng trau dồi, rèn luyện mình và giáo dục cần góp phần to lớn trong việc xây dựng thế giới quan cá nhân cho người học một cách phù hợp. Lí tưởng là biểu tượng của con người về cái mà họ cảm thấy cao đẹp và họ mong muốn đạt tới. Vì vậy, nó là lẽ sống của con người, có sức lôi cuốn mạnh mẽ toàn bộ cuộc sống của cá nhân vào những hoạt động để vươn tới mục tiêu cao cả đã định, một mục tiêu cao đẹp, một hình ảnh mẫu mực tương đối hoàn chỉnh mà con người mong muốn vươn tới, nó có tác dụng lôi cuốn toàn bộ hoạt động và cuộc sống của cá nhân. Lý tưởng vừa có tính hiện thực, vừa có tính lãng mạn. đồng thời lý tưởng còn mang tính xã hội lịch sử và tính giai cấp. Lý tưởng là biểu hiện tập trung nhất của xu hướng nhân cách, nó có chức năng xác định mục tiêu, chiều hướng phát triển của cá nhân, là động lực thúc đẩy điều khiển toàn bộ hoạt động của con người, nó trực tiếp chi phối sự hình thành và phát triển nhân cách của cá nhân. Đối với người học thì việc giáo dục lí tưởng để xây dựng một con người mang đậm cá tính là rất quan trọng. Khi đã có lí tưởng, có ước mơ thì người học sẽ dễ dàng trong việc định hướng quá trình học tập và rèn luyện của mình. Từ những nền tảng cơ bản để giáo dục lí tưởng cho người học thì đối với mỗi người học với những quan điểm về thế giới quan, về năng lực, về nhận thức riêng sẽ tự hình thành cho mình những lí tưởng riêng, đó là lí tưởng về nghề nghiệp, về đạo đức, về đam mê hay về tất cả những vấn đề trong đời sống. Qua những lí tưởng, ước mơ mà người học đặt ra, chúng ta có thể hiểu được phần nào nét cá tính trong bản thân người học, qua đó chúng ta có cái nhìn đúng đắng và cụ thể hơn về họ và tạo điều kiện nhất có thể để họ có thể thực hiện được những mong muốn và ước mơ. 2.1.3 Con người công dân có tri thức, kĩ năng Đối với giáo dục nói chung và giáo dục Ngữ văn nói riêng thì việc cung cấp những tri thức và kĩ năng cho người học là nhiệm vụ đã được định hướng từ lâu nay. Tri thức cần trang bị cho người học trong quá trình giáo dục là tri thức, kỹ năng khoa học và tri thức, kỹ năng đời sống. Qua vốn kiến thức này sẽ giúp người học biết vận dụng để giải quyết những vấn đề trong nghề nghiệp và trong đời sống thực tế. Mỗi người trong quá trình học tập sẽ tiếp cận được vốn tri thức và kỹ năng khác nhau từ đó họ có những năng lực cá nhân khác nhau. Năng lực được hình thành bằng chính hoạt động của cá nhân. Trong hoạt động mà những thành phần của năng lực, các chức năng tâm lý được hình thành và phát triển. Năng lực luôn gắn liền với lĩnh vực hoạt động chủ đạo của người đó, giúp cho cá nhân đạt kết quả cao trong hoạt động của mình. Nó là chỉ số để so sánh nhân cách của người này với người khác. Mỗi người sinh ra đều mang trong mình mầm mống của năng lực này hay năng lực khác, nhưng không phải có mầm mống là sẽ có năng lực tương ứng, kỹ xảo, kiến thức mà còn được thể hiện trong quá trình lĩnh hội tri thức. Để thể hiện được cá tính của bản thân thì đòi hỏi người học phải có đầy đủ những tri thức và kỹ năng cần thiết, khi đó người học sẽ có những cách giải quyết, thể hiện khác nhau trong một tình huống chung, điều này phụ thuộc vào sự tiếp nhận tri thức, kỹ năng đã được người đó tiếp nhận như thế nào trong quá trình được giáo dục. Từ đó sẽ tạo nên sự khác biệt giữa cá nhân này với cá nhân khác trong hành vi, thái độ và ứng xử. Có nhiều người cho rằng, việc thể hiện một con người mang đậm cá tính chỉ phụ thuộc vào việc thế hiện cái tôi của họ và cách mà họ ứng xử, giao tiếp theo một cách đặc biệt với những người xung quanh. Vấn đề về tri thức và năng lực không có sự tác động đến cá tính của mỗi người, bởi lẽ dù không có tri thức hay không có kỹ năng thì con người vẫn có thể trở thành một người mang đậm cá tính với những đặc điểm riêng biệt không nhầm lẫn với một ai. Những suy nghĩ và ý kiến này hoàn toàn sai lầm. Vì tri thức và kỹ nămg là những mặt biểu hiện quan trọng của một con người cá tính. Qua những tri thức, hiểu biết của họ về đời sống xã hội và những kỹ năng, kỹ xảo họ vận dụng trong các mối quan hệ giao tiếp hay trong các tình huống ứng xử đã bộc lộ được những nét tính cách đặc trưng của họ để phân biệt với những người khác. Những người không có tri thức và kỹ năng thì họ không thể hoặc rất hạn chế trong việc thể hiện cá tính của mình, do đó mà người khác không thể nhìn nhận đúng bản chất của họ và gọi họ là người có cá tính. Qua đó cho ta thấy được tầm quan trọng của việc giáo dục người học trên phương diện cung cấp và giáo dục về tri thức, kỹ năng. 2.2 Một số nguyên tắc xây dựng con người cá tính trong giáo dục Ngữ văn Giáo dục là một quá trình có mục đích được tổ chức một cách có kế hoạch định, có phương pháp nhằm hình thành và phát triển nhân cách con người phù hợp với những yêu cầu của xã hội trong giai đoạn phát triển của nó. Như vậy, có thể nói rằng, những tác động của quá trình giáo dục đối với sự hình thành và phát triển nhân cách không phải mang tính tự phát, trái lại, mang tính tự giác rõ rệt. Giáo dục Ngữ văn cũng là bộ môn giảng dạy tuân theo quá trình này, để đào tạo những người công dân tương lai có nhân cách tốt đẹp, đặc biệt trong đó là con người công dân mang đậm cá tính thì giáo dục Ngữ văn cần phải được thực hiện và tuân thủ theo những nguyên tắc giáo dục phù hợp) 2.2.1. Tính đa dạng và thống nhất của sản phẩm giáo dục Ngữ văn Giáo dục đóng một vai trò quan trọng không thể thiếu trong việc giáo dục nhân cách con người “Giáo dục là sự dẫn dắt của thế hệ đi trước với thế hệ đi sau, một sự dẫn dắt theo mục đích, có kế hoạch, có phương pháp. Giáo dục là con đường ngắn nhất giúp các thế hệ trẻ phát triển bỏ qua những mò mẫm, vấp váp không cần thiết trong cuộc đời mỗi con người.” (Giáo trình giáo dục học, tr. 17) Việc hướng đến từng nhân cách, cá tính riêng trong quá trình dạy học Ngữ văn đã góp phần tạo nên tính đa dạng trong cộng đồng. Bởi mỗi cá thể là một cá tính, trong mối quan hệ với cộng đồng, những bản sắc riêng ấy sẽ tạo nên cái đa dạng của xã hội. Ngữ văn ở trường phổ thông không được dạy học như một bộ môn khoa học nhằm trang bị cho học sinh hệ thống các khái niệm khoa học. Tất cả các năng lực và phẩm chất trên ấy đều được phát triển thông qua các hoạt động dạy học, xoay quanh bốn lĩnh vực giao tiếp cơ bản: đọc, viết, nói và nghe. Các kiến thức lí thuyết về tiếng Việt, lịch sử văn học, lí luận văn học và tập làm văn chủ yếu được dùng như là phương tiện tiến hành các hoạt động dạy học đó. Dạy học Ngữ văn cần phải tuân theo những giá trị chung của xã hội khi thực hiện mục tiêu tạo nên sản phẩm con người cá nhân. Điều đó có nghĩa là cá nhân với những bản sắc riêng, duy nhất, không giống ai sẽ tạo nên một tính cách lập dị nếu không có mối liên hệ với các giá trị chung của cộng đồng xã hội. Vì thế, hoạt động giáo dục Ngữ văn trước hết phải xác định rõ các giá trị chung này. Các giá trị đạo đức học, mỹ học, triết học phải gắn liền với từng giai đoạn lịch sử xã hội cụ thể. Trên nền tảng đó, sự đa dạng mới thực sự đem lại ý nghĩa phong phú trong đời sống xã hội. Chẳng hạn, trong xã hội phát triển hiện nay với xu hướng toàn cầu hóa giáo dục Ngữ văn phải đáp ứng được nhu cầu xã hội nghĩa là tạo nên những con người năng động, sáng tạo dựa trên tri thức, kỹ năng sống của bản thân. Xã hội càng ngày càng phát triển thì môi trường việc làm càng đặt ra tiêu chuẩn cao, dẫn đến sự cạnh tranh khốc liệt giữa các cá nhân. Giáo dục ngày nay với chức năng hướng nghiệp phải thúc đẩy những năng lực riêng biệt ở mỗi cá nhân, để khi kết thúc quá trình giáo dục, các cá nhân có thể vững vàng với khả năng của mình, cọ xát với môi trường bên ngoài. Mỗi một bước tiến của mỗi cá nhân đều giúp cho đất nước ngày càng phát triển. Như vậy, có thể nói rằng, hoạt động giáo dục Ngữ văn, khi xây dựng những con người mang cá tính thì đồng thời phải xác định rõ giá trị chung của xã hội qua từng thời kì. Bởi mỗi thời kì là những yêu cầu, đặc điểm khác nhau. Các giá trị đạo đức, thẩm mĩ trong quá trình dạy phải đáp ứng yêu cầu của xã hội để trên nền tảng ấy, sự đa dạng mới thật sự đem lại ý nghĩa trong đời sống xã hội. 2.2.2. Dạy học Ngữ văn hướng về tính đa dạng với các cá thể độc đáo Trong cuộc sống xã hội ngày nay, cùng với sự phát triển nhanh chóng đến chóng mặt, xã hội luôn đặt ra cho con người những thách thách, khó khăn. Bản thân mỗi người cần phải bản lĩnh, có năng lực riêng nhất định mới có thể vượt qua, đáp ứng được sự phát triển của thời đại. Giáo dục nói chung và dạy học Ngữ văn nói riêng ở một chừng mực nào đó đều giúp học sinh phát triển, thích nghi với các điều kiện xã hội lịch sử mới nhằm xử lí các mối quan hệ giữa quyền lợi và trách nhiệm, giữa lợi ích riêng và lợi ích chung, về ý nghĩa cuộc sống thật sự và lối sống chạy theo vật chất tầm thường, … Hoạt động dạy học Ngữ văn sẽ loại bỏ đi những cái cũ, phát triển những giá trị thẩm mĩ mới. Chính vì thế mà nền giáo dục nước ta nói chung đang từng bước đổi mới sao cho phù hợp với yêu cầu xã hội. Dạy học Ngữ văn cần đề cao những nhân cách cao thượng như lòng trắc ẩn, biết cảm thương với các số phận bất hạnh, bị đối xử tàn bạo... bằng cách thông qua một số tác phẩm văn học cụ thể trong nhà trường như “Chuyện người con gái Nam Xương”, “Chiếc thuyền ngoài xa”, “Truyện Kiều”...Việc được học tập những tác phẩm văn học giàu tính nhân văn đó sẽ có nhiều tác động tích cực trong nhận thức của mỗi cá nhân người học, bằng những cách tiếp nhận, cảm thụ khác nhau mà người học đã tự nhận thức về thế giới quan, về con người và cuộc sống điều đó có những cách ứng xử riêng biệt mà theo họ đó là những hành vi nên làm và mang giá trị tốt đẹp trong cuộc sống. Như vậy điểm hay của người giáo dục là đã biết khơi dậy những khả năng tiềm ẩn đa dạng của mỗi người, đồng thời hỗ trợ và bổ túc những điều cần thiết, gợi ý những sáng kiến và đưa ra những phương pháp, cách thức, để mỗi người tự do lựa chọn và điều chỉnh cho phù hợp với khả năng và tính cách của mình. Eward Gibbon cho thấy rằng: “Mọi người đều hấp thụ được hai thứ giáo dục: một thứ do người khác tạo ra, còn một thứ quan trọng hơn nhiều là do chính mình tự tạo cho mình”. Từ đó, học sinh không chỉ tích lũy những kiến thức cần thiết mà còn có cả tình cảm, cảm xúc; không chỉ noi gương các hình tượng đẹp mà còn biết nêu gương đẹp trong mắt người khác. Từ đó, nhờ vào văn chương nhân cách của các em ngày càng hoàn thiện, phát triển theo một chiều hướng tích cực. Dạy học ngữ văn tạo không chỉ cung cấp cho các em kiến thức mà là tạo lập từng nhân cách mỗi học sinh. Dạy học ngữ văn tạo cho bao nhiêu nhân cách học sinh là bấy nhiêu cá tính độc đáo. Như vậy giáo dục Ngữ văn khi đó sẽ hướng tới từng cá thể, có bản sắc riêng, hoàn thiện tốt nhất năng lực của riêng mình, thay vì tạo ra những con người giống hệt nhau trong nhận thức và cá tính. Mỗi con người với tư cách là một cá thể trong cộng đồng, chịu sự chi phối, tác động của đời sống xã hội. Mỗi cá nhân là sự độc lập, riêng lẻ nhưng khi xét trong cộng đồng, nó lại có mỗi quan hệ mật thiết. Chính vì thế mà trong quá trình dạy Văn học, người dạy phải hướng về con người cộng đồng với tính đa dạng để tạo nên những cá thể mang cá tính. 2.2.3 Người học cần được tôn trọng, khuyến khích tự do suy tư, tự do biểu đạt từ những gì mình cảm thụ được qua giờ học Một trong những nguyên tắc cần phải tuân thủ trong giáo dục nói chung và dạy học Ngữ văn nói riêng là sự tôn trọng người học trong mọi phương diện. Ngoài tôn trọng nhân cách, lắng nghe ý kiến của các em thì người học Ngữ văn đòi hỏi cần phải được tôn trọng, khuyến khích tự do trong suy nghĩ, biểu đạt những gì mà mình cảm thụ được qua giờ học. Như quan điểm của nhà báo Kim DungKỳ Duyên về mục tiêu và triết lý hãy đi theo hướng “Giáo dục đứa trẻ trở thành chính nó”. Bản thân con người từ khi là đứa trẻ đã có bản ngã riêng, nhưng giáo dục phải làm sao giúp đứa trẻ đó khi trưởng thành, vừa có kiến thức của nhà trường trang bị, vừa phát triển nhân cách, và có tính cách, cá tính riêng. Tính cách này là “sản phẩm” của giáo dục ở nhà trường, trong gia đình, và ngoài xã hội. Quan điểm này nhấn mạnh rằng đường hướng giáo dục nào cũng phải để cho những người được giáo dục có cơ hội và điều kiện để thể hiện chính mình. Mọi hình thức áp đặt, nhồi nhét, nắn đúc, thúc ép, rập khuôn, đều là xúc phạm và gây tai hại, làm mất đi tính cách giáo dục. Vai trò của người giáo dục là giúp họ trở nên chính họ, chứ không trở nên giống mình tức là là phải tôn trọng những nét cá tính này, nhiệm vụ của giáo dục không phải là cố gắng thay thế những nét cá tính trong nhân cách người học mà là bằng những phương pháp giáo dục phù hợp để phát huy tính tích cực của cá tính đó, làm cho những nét cá tính đó phát triển và ngày càng được thể hiện một cách rõ ràng. Không ai được quyền ép buộc người khác trở nên một loại người hay một kiểu người theo một thứ khuôn thước đã định sẵn, cho dù là cha mẹ. Mỗi cá nhân là một cá thể riêng biệt, có những tính cách, năng lực riêng biệt khác nhau vì thế không thể áp đặt suy nghĩ của giáo viên vào suy nghĩ của các em. Để hiểu được các em, biết các em đang nghĩ gì, mỗi giáo viên cần phải tôn trọng ý kiến, lắng nghe ý kiến của các em. Trong quá trình dạy học Ngữ văn, người dạy cần phải tạo nên tính công bằng, bình đẳng. Không thiên vị cũng như không áp đặt, có cách nhìn không thiện cảm đối với các em. Có như vây, dạy học Ngữ văn mới trở thành một môn khoa học mang tính nhân văn. Trong quá trình học, có sự tương tác qua lại giữa giáo viên và học sinh mới đạt được hiệu quả chất lượng cao. Khi các em suy tư, tự do biểu đạt những gì các em nghĩ thì vấn đề đó các em sẽ hiểu sâu hơn. Nói cách khác, mỗi học sinh là mỗi cách hiểu khác nhau, điều đó tạo nên sự đa dạng về kiến thức trong tiết học. Cùng một vấn đề, giáo viên chỉ là người hướng dẫn, định hướng cho các em. Và mỗi em học sinh sẽ có mỗi cách hiểu khác nhau, cách nhìn nhận vấn đề của các em cũng sẽ khác nhau. Từ đó, tạo nên sự đa dạng trong quá trình tiếp nhận cũng như hình thành và phát triển cá tính cho các em, tính nhân văn trong hoạt động dạy học Ngữ văn. 2.3. Vai trò của giáo dục Ngữ văn trong việc hình thành con người công dân mang đậm cá tính Ngữ văn là môn học mang tính nhân văn bởi “Văn học là nhân học”. Đây là một môn học mang tính đặc thù, khác với những môn khoa học khác. Với môn học này, học sinh không chỉ lĩnh hội những kiến thức cần thiết trong chuẩn chương trình các cấp mà ngoài ra, hoạt động dạy học Ngữ văn còn giúp học sinh phát triển những năng lực, phẩm chất cần thiết mang tính tổng quát góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục của nhà trường phổ thông nói chung. Bao gồm những năng lực như năng lực tư duy, sáng tạo và tưởng tượng, năng lực hợp tác tác, tự học… Tuy nhiên, điều cần nói ở đây là ngoài những năng lực ấy dạy học Ngữ văn còn phát triển năng lực sử dụng ngôn ngữ và năng lực thẩm mĩ, chủ yếu liên quan đến cảm thụ văn học. Những năng lực ấy là cơ sở để phân biệt Ngữ văn với các môn khoa học khác khác với học Toán, Lí, Hóa…, trong đó năng lực sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp và tư duy đóng vai trò hết sức quan trọng trong học tập của các em, giúp các em nâng cao chất lượng cuộc sống. Đồng thời giúp học sinh phát triển các năng lực tổng quát và đặc thù, môn Ngữ văn có sứ mạng giáo dục tình cảm và nhân cách cho người học. Như vậy, trong quá trình dạy học, người giáo viên cần phải vận dụng những năng lực cần thiết của một người giáo viên để giúp các em phát triển từng năng lực đó. Để từ đó hướng đến việc hình thành, phát triển từng cá tính, nhân cách riêng cho từng học sinh. Bởi mỗi cá nhân là mỗi nhân cách khác nhau, nhân cách ấy còn phụ thuộc vào yếu tố khác nhau như di truyền, hoàn cảnh – môi trường sống,...trong đó giáo dục là một yếu tố không thể bỏ qua. Sự tác động theo một quá trình (Giáo viên => tác phẩm văn học => người học => con người cá tính ), trong quá trình tác động ấy, giáo viên là người quan trong nhất. Để hình thành được con người cá tính, giáo viên cần phải vận dụng một số kỹ năng cần thiết để thông qua tác phẩm văn chương, phát triển một số năng lực cho người học như năng lực thẩm mĩ, năng lực ngôn ngữ, năng lực tự học, giải quyết vấn đề… Mỗi năng lực đều tạo nên những giá trị, cá tính, đặc điểm riêng cho học sinh. Chẳng hạn, với năng lực thẩm mĩ các em phát hiện được cái đẹp, cảm thụ và đánh giá nó. Giúp bồi dưỡng cho các em cả về mặt cảm xúc, lí trí đối với cái đẹp. Đồng thời, người giáo viên còn có nhiệm vụ phát hiện, định hướng và bồi dưỡng nhân cách cho học sinh. Trong quá trình học văn, nhân cách các em được bộc lộ, sẽ có một số em phát triển theo hướng tích cực và người lại. Nhiệm vụ của người giáo viên là quan sát tinh tế, lắng nghe các em nhiều hơn để hiểu được những nhân cách đang tồn tại trong chính bản than các em. Tại sao giáo dục có khi lại tạo ra những con người công dân tích cực cũng có khi có những người là tệ nạn của xã hội, có phải là vì trong quá trình giáo dục, các em không được định hướng một cách đúng đắn. Giáo dục Ngữ văn cũng thế, đòi hỏi người dạy văn phải có tâm huyết với nghề, dạy văn là dạy người, giúp cho con người ngày một hoàn thiện nhân cách. Hơn thế nữa văn học ngày nay còn tác động trực tiếp đến tâm tư tình cảm của con người nó làm cho cuộc sống của chúng ta có ý nghĩa hơn, lạc quan, yêu đời hơn. Dạy văn không chỉ nhằm gây rung động cảm xúc , rung động là con đường đảm bảo hiệu quả dạy văn nhưng rung động (và các xúc cảm thẩm mĩ khác), không phải là mục đích duy nhất mà văn chương và dạy văn chương hướng đến. Mục đích của dạy văn là tạo được sự phát triển cân đối, toàn diện về cả trí tuệ tâm hồn, thẩm mĩ và những hiểu biết để xây dựng những nhân cách xã hội chủ nghĩa cho học sinh. Từ đó, tạo ra những con người cá thể mang tính cá nhân nhưng có quan hệ thống nhất với cộng đồng. Như Lenin nói: “nếu không tích lũy những kiến thức của nhân loại thì người cộng sản chỉ là những người nói khoác. Văn như một môn học phải vũ trang, nhất thiết phải vũ trang cho học sinh những kiến thức cơ bản có hệ thống, vững chắc được quy định trong chương trình. Như vậy, giáo dục Ngữ văn đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành, phát triển những con người công dân cho xã hội – những con người mang đậm tính dân tộc, cá tính của từng thời đại. 2.4. Mối quan hệ giữa con người công dân mang đậm cá tính và cộng đồng Nếu như văn hóa phương Tây đề cao giá trị cá nhân thì văn hóa phương Đông lại chú trọng đến giá trị cộng đồng. Sở dĩ, người Việt chú trọng đến giá trị cộng đồng là bởi: Xét từ trong phương thức sinh tồn, yêu cầu đoàn kết chống thiên tai, yêu cầu đoàn kết chống giặc ngoại xâm của dân tộc; còn từ trong phương thức tổ chức xã hội truyền thống căn bản dựa trên cộng đồng gia đình làng, xã. Giá trị cộng đồng hình thành và phát triển mang “đặc trưng màu sắc nhân văn chủ nghĩa”, thiên về duy tình. Điều đó được phản ánh từ trong ca dao, tục ngữ: “Một bồ cái lí không bằng một tí cái tình” “Cả bè hơn cây nứa” “Lá lành đùm lá rách” Hay: “Một cây làm chẳng nên non Ba cây chụm lại nên hòn núi cao” Người Việt luôn tìm đến sự hài hòa, mềm dẻo, vui vẻ, bảo đảm sự đoàn kết nhất trí giữa những thành viên trong cùng một cộng đồng. Đặc biệt, trong giáo dục thì cần phải hướng tới đào tạo con người hiện đại có cá tính, khuyến khích con người tự khẳng định mình, con người có chủ kiến, lý tưởng, lập trường. Trong giao tiếp và và cuộc sống biết thể hiện những thái độ dứt khoát, quan điểm rõ ràng và cái tôi đặc biệt của mình để xây dựng đời sống tinh thần ngày một tốt đẹp hơn. Tuy nhiên, con người công dân mang đậm cá tính cần tránh một thái độ bảo thủ, duy lí, chủ quan trong nhận thức và hành động của mình, con người cá tính cần biết kết hợp hài hòa giữa việc khẳng định bản thân với những chuẩn mực, quy tắc mà cộng đồng đưa ra, họ cần biết bao dung, biết giao tiếp và hợp tác, biết làm việc có hiệu quả, có tư duy cởi mở với cái mới, thích dấn thân, không ngại đương đầu với thách thức, khó khăn, sẵn sàng chấp nhận mạo hiểm vì mục đích lớn và nhất là lương thiện, trung thực và có đầu óc sáng tạo, là những đức tính tối cần thiết trong đời sống xã hội hiện đại mà đúng như quan điểm của Chủ tịch thu Hồ Chí Minh đã từng nhấn mạnh đến điểm quan trọng và thiết yếu trong nội dung đạo đức mới của con người Việt Nam hiện nay là chống chủ nghĩa cá nhân. Đây là một trong những nội dung đạo đức cách mạng mà Người đã nói trước đây “đạo đức mới như người hai chân đứng vững được dưới đất, đầu ngẩng lên trời”. “Đạo đức mới, đạo đức vĩ đại, nó không phải là danh vọng của cá nhân, mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của loài người” hay quan điểm của bà Phạm Thị Lệ Nhân, Hiệu trưởng Trường THPT Nguyễn Thị Minh Khai, Q.3, TPHCM: Cái tôi phải gắn với tập thể. Theo tôi, thể hiện cá tính riêng biệt là tốt, nhưng tốt hơn nếu biết gắn “cái tôi” với số đông, với tập thể. Tóm lại, không có cái cộng đồng, nếu không có cái cá nhân, cũng như không có cá nhân, nếu không có cái cộng đồng, cái xã hội. Cái cá nhân nằm trong cái cộng đồng, cái cộng đồng nằm trong cái cá nhân. Cái cá nhân hình thành và phát triển nhờ cái cộng đồng, cái cộng đồng tồn tại và duy trì nhờ cái cá nhân. Đó sẽ là một nhận thức đúng đắn trong việc hình thành và phát triển con người công dân mang đậm cá tính Điểm hay của người thầy là biết khơi dậy những khả năng tiềm ẩn đa dạng của mỗi người, đồng thời hỗ trợ và bổ túc những điều cần thiết, gợi ý những sáng kiến và đưa ra những phương pháp, cách thức, để mỗi người tự do lựa chọn và điều chỉnh cho phù hợp với khả năng và tính cách của mình. Eward Gibbon cho thấy rằng: “Mọi người đều hấp thụ được hai thứ giáo dục: một thứ do người khác tạo ra, còn một thứ quan trọng hơn nhiều là do chính mình tự tạo cho mình”. KẾT LUẬN Giáo dục nói chung và giáo dục Ngữ văn nói riêng luôn từng ngày phát triển và đổi mới để nhằm đạt đến mục tiêu truyền đạt tri thức và giáo dục nhân cách đạo đức cho người học. Trong đó, hình thành và phát triển con người công dân mang đậm cá tính là một yêu cầu cấp thiết và quan trọng nhằm đáp ứng được những kì vọng cũng như yêu cầu của xã hội đặt ra. Tạo ra những sản phẩm giáo dục có chất lượng, có đặc trưng và hội tụ đầy đủ những yếu tố của một người công dân hiện đại, vừa mang những nét cá tính riêng và vừa có sự gắn kết, hòa nhập với cộng đồng là một nhiệm vụ mà giáo dục luôn quan tâm và đặt lên hàng đầu. Để hoàn thành nhiệm vụ đó, đòi hỏi giáo dục, đặc biệt là giáo dục Ngữ văn, một bộ môn gần gũi và tác động trực tiếp đến nhân cách, phẩm chất người học cần có những phương pháp, nguyên tắc phù hợp để tạo nên chất lượng cao của đầu ra cho nền giáo dục, hướng đến sản phẩm cuối cùng là đào tạo một thế hệ trẻ phát triển toàn diện và đặc biệt mang đậm cá tính. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. http:www.chungta.comndtulieutracuuthe_gioi_quanchiec_la_ban_dinh_huong_cuoc_song.html 2. Đề cương bài giảng: Giáo dục học đại cương, Bùi Văn Vân, Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng, 2016 3. Nguyễn Đăng Châu, Giáo trình Lí luận dạy học Ngữ văn, Nxb ĐH Sư Phạm Đà Nẵng, 2016,tr.9 BẢNG PHÂN CÔNG CÔNG VIỆC STT Họ và tên Công việc % công việc hoàn thành 1 Trần Thị Hạnh Đoan Viết bài chương 1 phần 1.1, 1.2 và 1.3 Tổng hợp và sửa bản word 100% 2 Bùi Thị Thanh Nhàn Viết bài mục Mở đầu, chương 2 phần 2.2, 2.3 Làm Power Point Thuyết trình 100% 3 Đào Hồng Thủy Viết bài mục Kết luận, chương 2 phần 2.1 và 2.4 Lên dàn bài Tổng hợp bài 100%
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG 3
1.1 Sản phẩm sau cùng của giáo dục Ngữ Văn 3
1.2 Khái niệm con người công dân mang đậm cá tính 4
1.3 Tầm quan trọng của việc hình thành và phát triển con người công dân mang đậm cá tính 5
1.3.1 Tầm quan trọng giáo dục trong việc hình thành và phát triển con người công dân mang đậm cá tính 5
1.3.2 Tầm quan trọng giáo dục Ngữ Văn trong việc hình thành và phát triển con người công dân mang đậm cá tính 6
CHƯƠNG 2: GIÁO DỤC NGỮ VĂN ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CON NGƯỜI CÔNG DÂN MANG ĐẬM CÁ TÍNH 8
2.1 Những khía cạnh của con người công dân mang đậm cá tính 8
2.1.1 Con người công dân mang đậm cái tôi cá nhân 8
2.1.2 Con người công dân có thế giới quan cá nhân và lí tưởng cách mạng 9
2.1.3 Con người công dân có tri thức, kĩ năng 11
2.2 Một số nguyên tắc xây dựng con người cá tính trong giáo dục Ngữ văn 13
2.2.1 Tính đa dạng và thống nhất của sản phẩm giáo dục Ngữ văn 13
2.2.2 Dạy học Ngữ văn hướng về tính đa dạng với các cá thể độc đáo 14
2.2.3 Người học cần được tôn trọng, khuyến khích tự do suy tư, tự do biểu đạt từ những gì mình cảm thụ được qua giờ học 16
2.3 Vai trò của giáo dục Ngữ văn trong việc hình thành con người công dân mang đậm cá tính 17
2.4 Mối quan hệ giữa con người công dân mang đậm cá tính và cộng đồng 19
KẾT LUẬN 22
1
Trang 3MỞ ĐẦU
Từ xưa đến nay, giáo dục luôn được xem là một hoạt động quan trọng trongcuộc sống con người Ngày nay, khi khoa học công nghệ ngày càng phát triển, nhucầu về vật chất, tinh thần, trí tuệ của con người tăng lên thì vai trò của giáo dụcngày càng được đề cao và có ý nghĩa quyết định không chỉ đối với sự phát triểnkinh tế - xã hội mà cả đối với công cuộc bảo vệ độc lập, chủ quyền của đất nước Hoạt động giáo dục nói chung và dạy học Ngữ Văn nói riêng đều nhằm mộtmục tiêu chung là sự tác động có hệ thống, có kế hoạch đến con người để hìnhthành cho họ những phẩm chất nhân cách, nhằm giúp người học nhận thức, pháttriển trí tuệ thông qua một lực lượng giáo dục Cung cấp cho người học hệ thốngkiến thức khoa học, bồi dưỡng phương pháp tư duy sáng tạo và kỹ năng hoạt độngthực tiễn, nâng cao trình độ học vấn, hình thành lối sống văn hoá mà mục đích cuốicùng là tạo ra những người công dân mang đậm cá tính của thời đại, nghĩa là hội tụđầy đủ các yếu tố về tri thức, kỹ năng và phẩm chất
Muốn như vậy, đòi hỏi hệ thống giáo dục nói chung phải thay đổi từng ngày
theo hướng tích cực nhằm đáp ứng nhu cầu dạy học Cần phải đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá và phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân Trong đó, dạy học Ngữ văn nói
riêng cũng cần phải đảm bảo một số yêu cầu, nguyên tắc nhất định trong quá trìnhday và học nhằm một mục tiêu chung, tạo nên sản phẩm cuối cùng của dạy họcNgữ văn - con người công dân mang cá tính
3
Trang 4CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG
1.1 Sản phẩm sau cùng của giáo dục Ngữ Văn
Giáo dục (education) theo nghĩa chung là hình thức học tập theo đó kiến thức,
kỹ năng, và thói quen của một nhóm người được trao truyền từ thế hệ này sang thế
hệ khác thông qua giảng dạy, đào tạo, hay nghiên cứu Giáo dục hoàn toàn là mộtquá trình, nên điểm đến cuối cùng luôn là những mục tiêu nhất định Từ nhữngnăm 70, UNESCO luôn khẳng định: “Xét từ bản chất của nó, giáo dục là một địnhhướng mà con người sáng tạo ra, sử dụng để tác động đến chính bản than mình, đểtạo ra con người thứ hai từ con người thứ nhất có tính tự nhiên”; “Xuất phát từnhững không gian, thời gian cụ thể, do sự thay đổi liên tục của môi trường lịch sử
xã hội, các mục tiêu giáo dục luôn luôn được vạch ra cụ thể, phù hợp với định chế
và quan niệm của từng thời kỳ nhất định” Ngày nay khi nền kinh tế thị trường pháttriển thì có sự hoán đổi về vai trò của các mục đích Đặc biệt trong giai đoạn kinh
tế khó khăn và cạnh tranh khốc liệt như ngày nay ở Việt Nam, mục đích của giáodục hướng tới là giúp người học đặt nhiều kỹ năng tốt cho bản thân để có được mộtcông việc tốt
Mỗi khu vực trên thế giới sẽ có những có những mục tiêu giáo dục cụ thể,nhưng tựu chung, tất cả mọi nền giáo dục đều hướng đến thành quả cuối cùnggiống nhau: Sản phẩm của giáo dục là năng lực và chất lượng nguồn nhân lựctương lai của một đất nước Mục tiêu giáo dục con người Việt Nam phát triển toàndiện đã được xác định trong các chương trình trước đây, nhưng thường được quanniệm đó là nhiệm vụ đào tạo những con người phát triển hài hòa đức, trí, thể, mỹ.Nghĩa là giáo dục, đào tạo con người đáp ứng nhu cầu Công nghiệp hóa, Hiện đạihóa đất nước, con người cho xã hội Thực hiện công cuộc đổi mới, ngoài việc pháttriển con người cho xã hội, sẽ chú trọng thêm phần phát huy cao nhất tiềm năngsẵn có của riêng mỗi người, đó là con người cá nhân Ngay từ năm 1945, trong thư
Trang 5gửi học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa,Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "một nền giáo dục nó sẽ đào tạo các em nênnhững người công dân hữu ích cho nước Việt Nam", chính là đào tạo con người xãhội, và "một nền giáo dục làm phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của cácem", chính là đào tạo con người cá nhân
Giáo dục Ngữ Văn thuộc về phạm trù giáo dục bằng nghệ thuật Con đường nàygiúp phát triển tối đa khả năng sáng tạo và sự ý thức về phẩm cách, nhân cách củacon người ở giai đoạn sớm nhất thông qua ý thức về cái Đẹp Người học sẽ khôngcòn được giáo dục phải là một công dân tốt nữa, mà với hình thức giáo dục nàychúng ta, cả người học và người dạy sẽ cũng gieo những hạt giống tốt đẹp và để nó
tự nảy nở trong quá trình trưởng thành và phát triển của người học Tình yêu đấtnước được biểu hiện qua những hành động bé nhỏ hằng ngày, tình đoàn kết đượcthể hiện qua những thói quen giúp đỡ người khác, … Ngoài những phẩm chất tốtđẹp thiết yếu của một người công dân, con người còn được giáo dục thúc đẩy cátính của bản thân Mỗi cá nhân là một cá thể độc lập, vì vậy sẽ không ai giống ai,bằng hình thức riêng của mình, giáo dục Ngữ Văn hoàn toàn có thể làm tốt đượctrọng trách này
1.2 Khái niệm con người công dân mang đậm cá tính
Cá tính là từ Hán Việt được tạo bởi 2 từ cá nhân và tính cách, chỉ tính cách củamỗi con người Tương tự từ "cái tôi", cá tính của người này giúp ta phân biệt đượcbản thân họ với những người khác, vì mỗi người đều có những có ý kiến, cáchhành xử riêng của mình, không ai giống ai
Là một con người công dân mang đậm cá tính, trước hết phải là một người ýthức đầy đủ về quyền lợi và trách nhiệm công dân của mình, phải là một công dântốt Họ phải thể hiện mình thông qua hành động cụ thể để chứng tỏ mình là người
có ích cho cộng đồng, xã hội Đồng thời, những cá nhân này còn ý thức được con
5
Trang 6người cá nhân của mình, tiếp tục phát huy những thế mạnh và khắc phục nhữngnhược điểm của bản thân
Nền giáo dục Việt Nam, từ bao nhiêu năm nay vẫn đặt mục tiêu “công dân tốt” đểgiáo dục nhân cách của người học Còn vấn đề con người cá nhân vẫn chưa được
hệ thống chú trọng nhiều Điều này cho thấy giáo dục vẫn còn đóng khuôn, và chútrọng quá nhiều vào hình thức
1.3 Tầm quan trọng của việc hình thành và phát triển con người công dân mangđậm cá tính
Sự hình thành và phát triển con người là một quá trình lâu dài và phức tạp.Trong quá trình đó, giữa các yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài, giữa cái sinhhọc và cái xã hội thường xuyên tác động lẫn nhau và vai trò của mỗi yếu tố đó thayđổi trong từng giai đoạn phát triển của mỗi người Trong quá trình sống, con người
có được những kinh nghiệm sống, niềm tin, thói quen… và ngược lại, khi tiếp nhậnbất cứ việc gì, nhân cách cũng dựa trên chuẩn mực xã hội để điều chỉnh hành vicủa mình cho phù hợp Không chỉ thế, mỗi cá nhân còn phải dựa vào những cáibên trong, những kinh nghiệm của mình để đánh giá, tiếp nhận hay gạt bỏ cái bênngoài Vì vậy, những yếu tố bên ngoài là khách quan, con người không thể/dễ dàngcải tạo được, nhưng con người có thể xây dựng, tích lũy cho mình những nội dung,kinh nghiệm, kiến thức ở bên trong Giáo dục có vai trò quan trọng trong việc hìnhthành những chuẩn mực đúng sai để con người có thể dựa vào đó mà thay đổi cánhân
1.3.1 Tầm quan trọng giáo dục trong việc hình thành và phát triển con ngườicông dân mang đậm cá tính
Cuốn Tâm lý học đại cương đã chỉ ra năm vai trò cơ bản của giáo dục: Giáodục vạch phương hướng cho sự hình thành và phát triển nhân cách; đem lại chocon người những cái mà yếu tố bẩm sinh – di truyền hay môi trường tự nhiên
Trang 7không thể đem lại được; phát huy tối đa các mặt mạnh của các yếu tố khác chi phối
sự hình thành nhân cách (yếu tố sinh thể, hoàn cảnh sống…); giáo dục còn có thể
bù đắp những thiếu hụt, hạn chế do các yếu tố bẩm sinh – di truyền không bìnhthường, hoàn cảnh bị tai nạn hay chiến tranh gây nên; cuối cùng là giáo dục có thểđón trước sự phát triển, “hoạch định nhân cách tương lai” để tác động hình thành
và phát triển phự hợp với sự phát triển của xã hội Tất cả các vai trò của giáo dục đều trực tiếp hoặc gián tiếp thúc đẩy tích lực lên sự hình thành và phát triển nhân cách, chính những điều này cũng sẽ giúp hình thành nên những công dân có ích cho xã hội, đất nước.
Thời đại mới với nhiều những cơ hội và nhiều những khó khăn thách thức, giáodục nhân cách còn phải chú trọng phát huy, bảo vệ các cá tính bẩm sinh Sản phẩmcủa giáo dục chính là tương lai của đất nước, sự giáo dục tôn trọng tính đọc lập, tự
do của mỗi cá nhân ở Phương Tây cũng chính là một trong những nguyên nhânđưa các nước này phát triển nhanh và ổn định Ngoài những phẩm chất tốt cần phải
có, chú trọng phát triển các bản sắc cá nhân là hết sức quan trọng Phẩm chất đạođức chỉ có một thang điểm chung để đánh giá, nhưng bản sắc cá nhân thì không
Có những cá nhân có ưu điểm ở lĩnh vực này, lại có những cá nhân sẽ có những ưuđiểm vượt trội ở những lĩnh vực khác Sự chuyên môn hóa các ngành nghề trong
xã hội ngày càng ở mức độ cao, và chính những yếu tố cá nhân này mới là bướcđệm thần kì giúp xã hội ngày càng văn minh, tiên tiến Ngoài ra, tận dụng và pháthuy các yếu tố của từng cá nhân sẽ khiến những cá nhân thêm ý thức về vai trò củamình đối với xã hội, càng ngày càng cố gắng phát huy thêm mạnh mẽ bản thânmình
1.3.2 Tầm quan trọng giáo dục Ngữ Văn trong việc hình thành và phát triển conngười công dân mang đậm cá tính
Ngữ Văn là một bộ môn của nghệ thuật, mà nghệ thuật thì hết sức coi trọng tinhthần tự do của mỗi cá nhân, giúp con người ý thức mãnh liệt về làm đẹp bản thân
7
Trang 8mình và xã hội Nhà bác học nổi tiếng S Đacuyn đã nói lên vai trò của nghệ thuậttrong phát triển nhân cách con người như sau: “Nếu tôi phải trải qua lần thứ haicuộc sống của mình, thi tôi sẽ tự đặt cho mình quy tắc là đọc các tác phẩm thi ca vànghe âm nhạc, dù cho chỉ là một lần trong tuần lễ Mất mát những thị hiếu đó là sựmất mát một phần hạnh phúc của đời người và có thể là ảnh hưởng tai hại khôngchỉ đến những năng lực trí tuệ và mà còn có thể đến tính cách đạo đức nữa, vì rằng
sự mất mát đó đã làm yếu đi mặt xúc cảm của bản chất người trong chúng ta” Giáo dục nghệ thuật trong nhà trường là một quá trình hoạt động chung của nhàgiáo dục và người được giáo dục nhằm giúp người được giáo dục có rung cảmtrước cái đẹp trong nghệ thuật, có kiến thức, quan điểm nhìn nhận cái đẹp trongnghệ thuật, biết lựa chọn và chiêm ngưỡng nghệ thuật, có khả năng đồng sáng tạo
và sáng tạo nghệ thuật
Học Văn không phải để trở thành nhà văn, nhà biên kịch, làm báo… mà trướchết nó giúp con người cảm nhận cái Đẹp và hiểu về bản thân mình Các tác phẩmvăn chương không có vai trò giáo dục, nhưng bằng cách riêng của nó, văn chươngchạm sâu vào tâm hồn của người đọc Lúc này, môi trường giáo dục trở thành làmôi trường của cảm xúc, và cảm xúc chính là thứ định hướng tốt nhất và hiệu quảnhất tại con người Đó là sự hướng về và trân trọng các giá trị: Chân, Thiện, Mỹ.Tính sáng tạo của các bộ môn nghệ thuật trong đó có Văn học giúp cá nhânđược là chính mình Những nguyên tắc khuôn khổ chỉ có thế quy định ở bên ngoài,nhưng những tình cảm, nhận định của mỗi cá nhân thì lúc nào cũng luôn chân thật
và những cái khuôn không thể nào có thể chạm được đến Mặc dù vậy, nhưng giáodục Ngữ Văn hiện nay còn gặp nhiều những tiêu cực đáng buồn và chương trìnhdạy học còn chưa thực sự tôn trọng tinh thần cá nhân Chúng ta cần phải làm tốthơn nữa để xây dựng một chương trình hướng đến mỗi cá nhân và tôn trọng cá tínhcủa cá người học và người dạy Chỉ điều này mới giúp cho xã hội bên cạnh trở nêntốt đẹp còn là xã hội văn minh, với những gam màu phong phú, rực rỡ
Trang 10CHƯƠNG 2: GIÁO DỤC NGỮ VĂN ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CON
NGƯỜI CÔNG DÂN MANG ĐẬM CÁ TÍNH
2.1 Những khía cạnh của con người công dân mang đậm cá tính
2.1.1 Con người công dân mang đậm cái tôi cá nhân
Quá trình giáo dục rất đề cao đến việc dạy dỗ và rèn luyện cho người học những
kĩ năng về giao tiếp, trong đó chú trọng đến việc thể hiện cái tôi cá nhân trong đờisống xã hội, đối với bộ môn Ngữ văn thì nhiệm vụ này càng được quan tâm Giaotiếp gắn với cái tôi, mà cái tôi là sự thể hiện của một nền văn hóa Nếu như văn hóaphương Tây đề cao giá trị cá nhân thì văn hóa phương Đông lại chú trọng đến giátrị cộng đồng Có thể hiểu về cái tôi cái như sau, cái tôi hay còn gọi là bản ngãchính là cái làm nên tính cách riêng biệt của mỗi người Trong Triết học, cái tôiđược hiểu như là cái tôi ý thức hay đơn giản là tôi, bao hàm trong đó những đặctính để phân biệt tôi với những cá nhân khác Trong phân tâm học, cái tôi (ego) làphần cốt lõi của tính cách liên quan đến thực tại và chịu ảnh hưởng của tác động xãhội Trong triết lí Phật giáo, cái tôi hay thường gọi là ngã, là cái tôi được thiênthuyết như là một thể tính trường tồn, không bị ảnh hưởng bới tụ tán, sinh tử
Cái tôi vừa mang giá trị cá nhân vừa mang giá trị cộng đồng Giá trị cá nhânchú trọng tới giá trị của bản thân, là tinh thần tự chịu trách nhiệm với cuộc đờimình Tính cá nhân (Individualism) ở đây không phải là tính vị kỉ hay ích kỉ mà là
sự tự nhận thức được giá trị của bản thân, đề cao tính độc lập, tự do lựa chọn,quyết định và tôn trọng sự riêng tư cá nhân Còn giá trị cộng đồng (community) lạichú trọng đến hài hòa nhóm và dư luận xã hội, hành vi của các cá nhân trong cộngđồng được điều chỉnh thông qua dư luận xã hội Từ giá trị cá nhân và giá trị cộngđồng đã định hình tính cách, quan điểm, lòng tin, quy tắc giao tiếp
Với ảnh hưởng của các cuộc vận động xã hội của cách mạng, “cái tôi” ở ngườiViệt Nam hiện nay đã có những biến đổi sâu sắc, được biểu hiện khá rõ rệt và rất
Trang 11đa dạng Quá trình xã hội hoá cá nhân ngày càng nhanh, quá trình dân chủ hoá xãhội càng sâu sắc thì “cái tôi” ngày càng vững vàng và tự khẳng định mạnh mẽ.Văn học Việt Nam từ thập kỷ đầu của thế kỷ XX đã bắt đầu đề cao cá nhân và
đề cao sự giải phóng con người Ngôn ngữ văn học, bên cạnh những đại từ nhânxưng ở ngôi thứ ba như “chàng”, “nàng”, “anh”, “em”, “ta”, “mình”… đã bắt đầuxuất hiện bóng dáng của “cái tôi” Qua câu thơ: “Nhà nàng ở cạnh nhà tôi / Cáchnhau cái dậu mùng tơi xanh rờn”, có thể thấy một sự quá độ từ cộng đồng sang cánhân, từ chỗ chưa xác định đến chỗ xác định Với nhiều tiểu thuyết và thi ca khác,
“cái tôi” xuất hiện nhiều hơn và rõ hơn Cho đến câu thơ của Chế Lan Viên:
“Đường về thu trước xa xa lắm / Mà kẻ đi về chỉ một tôi” thì “cái tôi” ở đây mớiđược biểu hiện ra một bản chất đích thực của nó: tự ý thức, tự chủ, tự thân, tựkhẳng định, độc lập, khác với người xung quanh, với đồng loại, đứng đối diện vớimọi người, chứ không phải nép vào bên cạnh, đứng đằng sau người khác như trướcđây Từ chỗ chỉ dám dùng những từ “mình”, “ta”, “ai” không tách bạch, không xácđịnh giữa chủ thể và khách thể đến chỗ “mà kẻ đi về chỉ một tôi” là một bướcngoặt lớn, một bước tiến trên con đường tự khẳng định, tự xác định, tự chủ của
“cái tôi” Như vậy, tự khẳng định, tự xác định, tự chủ, tự thân, tự ý thức về chínhmình, về cá tính của mình đã có những biểu hiện rõ ràng hơn trong sự tiến hoá từ
cá thể đến con người, đến cá nhân, đến cá tính và nhân cách
2.1.2 Con người công dân có thế giới quan cá nhân và lí tưởng cách mạngHành trang cuộc sống của mỗi người luôn luôn cần tới những tri thức, trí tuệsâu sắc Thế giới quan là thứ không thể thiếu được trong hành trang trí tuệ ấy củamỗi người Nó là cái cần phải được từng người tự học hỏi, chăm lo, đổi mới để cóthể nhìn, hiểu và làm theo những luận điểm tổng quát góp phần như một chiếc labàn định hướng cuộc sống, làm cho cuộc sống thêm hiệu quả, hạnh phúc và thànhđạt Quan trọng nhất là nó có mối quan hệ mật thiết trong quá trình phát triển, hìnhthành và thể hiện cá tính của mỗi người
11
Trang 12Thế giới quan cá nhân có thể hiểu là các quan điểm về tự nhiên, xã hội, bảnthân được hình thành ở mỗi cá nhân Nó quy định xu hướng chính trị, đạo đức vàcác phẩm chất tư tưởng khác, nó chi phối cách nhìn, thái độ và hành động của mỗi
cá nhân Thế giới quan đóng vai trò nhân tố sống động của ý thức cá nhân, giữ vaitrò chỉ dẫn cách thức tư duy và hành động của cá nhân Nó đồng thời cũng thể hiện
lý luận và khái quát hóa các quan điểm và hoạt động của nhóm xã hội Mỗi cá nhâncũng luôn mong muốn tiếp nhận những thế giới quan khác nhau từ đó làm phongphú thế giới quan cho mình, góp phần định hướng cuộc sống
Xuất phát từ lập trường, biện giải thế giới quan đúng đắn, con người có thể cóđược những cách giải quyết vấn đề đúng đắn do cuộc sống đặt ra Ngược lại, xuấtphát từ lập trường sai lầm, con người khó có thể tránh khỏi hành động sai lầm Vìvậy để trở thành một người công dân mang đậm cá tính thì trong quá trình giáo dụcđòi hỏi người học phải hình thành cho mình một thế giới quan đúng đắn, phù hợpvới nhận thức của bản thân và xã hội Khi đã hình thành cho mình được một thếgiới quan cá nhân đúng đắn thì đó sẽ là động lực, là kim chỉ nam cho việc đưa ranhững ý kiến, quan điểm, bày tỏ thái độ yêu, ghét, khen, chê của cá nhân mình đốivới những sự việc trong quá trình học tập, rèn luyện và trong cuộc sống thườngngày Đặc biệt, một thế giới quan phong phú, độc đáo sẽ giúp cho người học cónhững cái nhìn mới lạ, phát huy được khả năng tư duy, sáng tạo của mình trongmọi vấn đề trong cuộc sống Điều này sẽ góp phần xây dựng, phát triển người họcmang đậm cá tính Để thực hiện được nhiệm vụ đó thì đòi hỏi người học phảikhông ngừng trau dồi, rèn luyện mình và giáo dục cần góp phần to lớn trong việcxây dựng thế giới quan cá nhân cho người học một cách phù hợp
Lí tưởng là biểu tượng của con người về cái mà họ cảm thấy cao đẹp và họmong muốn đạt tới Vì vậy, nó là lẽ sống của con người, có sức lôi cuốn mạnh mẽtoàn bộ cuộc sống của cá nhân vào những hoạt động để vươn tới mục tiêu cao cả
đã định, một mục tiêu cao đẹp, một hình ảnh mẫu mực tương đối hoàn chỉnh mà
Trang 13con người mong muốn vươn tới, nó có tác dụng lôi cuốn toàn bộ hoạt động và cuộcsống của cá nhân Lý tưởng vừa có tính hiện thực, vừa có tính lãng mạn đồng thời
lý tưởng còn mang tính xã hội lịch sử và tính giai cấp Lý tưởng là biểu hiện tậptrung nhất của xu hướng nhân cách, nó có chức năng xác định mục tiêu, chiềuhướng phát triển của cá nhân, là động lực thúc đẩy điều khiển toàn bộ hoạt độngcủa con người, nó trực tiếp chi phối sự hình thành và phát triển nhân cách của cánhân
Đối với người học thì việc giáo dục lí tưởng để xây dựng một con người mang đậm
cá tính là rất quan trọng Khi đã có lí tưởng, có ước mơ thì người học sẽ dễ dàngtrong việc định hướng quá trình học tập và rèn luyện của mình Từ những nền tảng
cơ bản để giáo dục lí tưởng cho người học thì đối với mỗi người học với nhữngquan điểm về thế giới quan, về năng lực, về nhận thức riêng sẽ tự hình thành chomình những lí tưởng riêng, đó là lí tưởng về nghề nghiệp, về đạo đức, về đam mêhay về tất cả những vấn đề trong đời sống Qua những lí tưởng, ước mơ mà ngườihọc đặt ra, chúng ta có thể hiểu được phần nào nét cá tính trong bản thân ngườihọc, qua đó chúng ta có cái nhìn đúng đắng và cụ thể hơn về họ và tạo điều kiệnnhất có thể để họ có thể thực hiện được những mong muốn và ước mơ
2.1.3 Con người công dân có tri thức, kĩ năng
Đối với giáo dục nói chung và giáo dục Ngữ văn nói riêng thì việc cung cấpnhững tri thức và kĩ năng cho người học là nhiệm vụ đã được định hướng từ lâunay Tri thức cần trang bị cho người học trong quá trình giáo dục là tri thức, kỹnăng khoa học và tri thức, kỹ năng đời sống Qua vốn kiến thức này sẽ giúp ngườihọc biết vận dụng để giải quyết những vấn đề trong nghề nghiệp và trong đời sốngthực tế Mỗi người trong quá trình học tập sẽ tiếp cận được vốn tri thức và kỹ năngkhác nhau từ đó họ có những năng lực cá nhân khác nhau Năng lực được hìnhthành bằng chính hoạt động của cá nhân Trong hoạt động mà những thành phầncủa năng lực, các chức năng tâm lý được hình thành và phát triển Năng lực luôn
13