Thu thập thông tin về rủi ro tín dụng trong Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Vietcombank.Chương I : Cơ sở lý luận của đề tài1.1 Khái niệm, đặc điểm của tín dụng1.1.1 Khái niệmTín dụng là giao dịch về tài sản (tiền hoặ hàng hóa) giữa bên cho vay là ngân hàng và các định chế tài chính khác với bên đi vay là cá nhân, doanh nghiệp... Trong đó quyền cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện cả vốn gốc lẫn lãi cho bên vay khi đến hạn thanh toán.1.1.2 Đặc điểmNhững hình thức trong quan hệ tín dụng ngân hàng bao gồm cho vay và cho thuê. Tài sản giao dịch trong cho vay là bằng tiền và tài sản trong cho thuê là bất động sản và động sản. Trong quan hệ tín dụng ngân hàng, tiền vay được cấp trên cơ sở cam kết hoàn trả vô điều kiện.Lòng tin: quan hệ tín dụng được hình thành trên cơ sở niềm tin rằng người đi vay sẽ hoàn trả đúng hạn.Về mặt pháp lý, những văn bản xác định quan hệ tín dụng như hợp đồng tín dụng, khế ước,... đó là những văn bản pháp lý nhằm ràng buộc những trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi của hai bên cho vay và đi vay.Tính hoàn trả: người đi vay thông thường phải thanh toán phần lãi ngoài vốn gốc, vì vậy người đi vay phải thanh toán nhiều hơn so với lúc đầu vay.Tính thời hạn: là khoảng thời gian mà người đi vay phải hoàn trả đúng hạn.1.2 Vai trò của tín dụng trong hoạt động kinh doanh của NHTM+ Tín dụng ngân hàng góp phần đảm bảo cho hoạt động của các doanh nghiệp được liên tục.Trên thực tế không một doanh nghiệp nào có thể đảm bảo đủ 100% vốn cho nhu cầu sản xuất kinh doanh. Vốn tín dụng của ngân hàng đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm máy móc thiết bị cải tiến phương thức kinh doanh. Từ đó góp phần thúc đẩy tạo điều kiện cho quá trình phát triển sản xuất kinh doanh đựơc liên tục.+ Tín dụng ngân hàng góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp. Khi sử dụng vốn tín dụng ngân hàng các doanh nghiệp phải tôn trọng hợp đồng tín dụng phải đảm bảo hoàn trả cả gốc lẫn lãi đúng hạn và phải tôn trọng các điều khoản của hợp đồng cho dù doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả hay không. Do đó đòi hỏi các doanh nghiệp muốn có vốn tín dụng của ngân hàng phải có phương án sản xuất khả thi. + Tín dụng ngân hàng góp phần hình thành cơ cấu vốn tối ưu cho doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường hiếm doanh nghiệp nào dùng vốn tự có để sản xuất kinh doanh. Nguồn vốn vay chính là công cụ đòn bẩy để doanh nghiệp tối ưu hoá hiệu quả sử dụng vốn. + Tín dụng ngân hàng góp phần tập trung vốn sản xuất, nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp.Cạnh tranh là một quy luật tất yếu của nền kinh tế thị trường, muốn tồn tại và đứng vững thì đòi hỏi các doanh nghiệp phải chiến thắng trong cạnh tranh.1.3 Khái quát rủi ro tín dụng trong NHTM1.3.1 Khái niệm, biểu hiện của rủi ro tín dụng trong NHTM1.3.1.1 Khái niệmRủi ro tín dụng là những sự cố liên quan đến huy động vốn và cho vay, gây tổn thất về vốn, tài sản và uy tín của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường.1.3.1.2 Các hình thức biểu hiện của rủi ro tín dụng Nợ có vấn đềNợ có vấn đề là những khoản vay, trong đó thoả thuận hoàn trả của khách hàng có khả năng bị đổ vỡ, dù hiện tại những khoản vay đó chưa đến kỳ hạn trả nợ gốc và lãi.Nợ quá hạnNợ quá hạn là một khoản tín dụng được cấp ra nhưng không thể thu hồi được đúng hạn, do những nguyên nhân khác nhau gây ra. Nợ quá hạn sẽ làm tăng lên các khoản chi phí cho việc đi đòi nợ, làm tăng chi phí cho hoạt động kinh doanh nên có ảnh hưởng xấu tới hoạt động kinh doanh của Ngân hàng. Nợ khó đòiNợ khó đòi là nợ quá hạn không được thanh toán, mặc dù Ngân hàng đã gia hạn nợ. Chính vì vậy có thể nói đây là chỉ tiêu rõ ràng nhất để phản ánh mức độ tổn thất trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng. Hầu hết là các Ngân hàng thuơng mại đều thực hiện việc lập quỹ dự phòng rủi ro bằng 100% số nợ khó đòi.Lãi treoLãi treo là số tiền lãi mà khách hàng không trả được cho Ngân hàng khi đến kỳ hạn thanh toán. Và đây cũng là một dấu hiệu quan trọng để có thể nhận biết rủi ro tín dụng. 1.3.2 Nguyên nhân1. Nguyên nhân thuộc về ngân hàng: Thứ nhất: Sự yếu kém của đội ngũ cán bộ. Sự yếu kém ở đây bao gồm cả về năng lực và phẩm chất đạo đức. Nếu một cán bộ tín dụng non kém về trình độ, thiếu kiến thức, thiếu kinh nghiệm thì sẽ không có khả năng thẩm định và xử lý thông tin, đánh giá khách hàng thiếu chính xác, mức vay,lãi suất vay và kỳ hạn không phù hợp; dẫn đến chất lượng tín dụng thấp, rủi ro cao. Hơn nữa, cán bộ tín dụng mà phẩm chất đạo đức kém, không có tinh thần trách nhiệm, dễ bị cám dỗ thì sẽ gây thiệt hại rất lớn cho ngân hàng bằng cách cho vay chỉ dựa trên mối quan hệ với khách hàng, dựa trên lợi ích cá nhân mà bỏ qua những điều kiện và thủ tục cần thiết. Thứ hai: Sự giám sát của các cấp quản lý trong ngân hàng là thiếu sát sao. Cán bộ tín dụng cần có sự phê duyệt của lãnh đạo trước khi giải ngân. Vậy nên nếu cấp trên không có sự kiểm tra, đánh giá xem quyết định của cán bộ đã thực sự chính xác chưa thì nguy cơ rủi ro tín dụng sẽ là rất cao. Thứ ba: Ngân hàng chưa đa dạng hoá các danh mục đầu tư. Một công cụ luôn được nhắc đến trong quản trị tín dụng ở tất cả các ngân hàng trên thế giới là quản trị danh mục đầu tư. Thứ tư: Định giá khoản vay không theo mức độ rủi ro của khách hàng. Khách hàng được đánh giá có mức độ rủi ro càng cao, phần bù rủi ro càng lớn. 2. Nguyên nhân thuộc về người vay:Đây là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến rủi ro tín dụng, có thể chia nhóm này thành hai loại chính:Thứ nhất: Do khách hàng kinh doanh thua lỗ nên mất khả năng trả nợ. Trường hợp này rất phổ biến do khách hàng có trình độ yếu kém trong dự đoán các vấn đề kinh tế, yếu kém trong năng lực quản lý, sử dụng vốn sai môc đích, sản phẩm chất lượng thấp không bán được… Hơn nữa có rất nhiều người vay sẵn sàng lao vào những cơ hội kinh doanh mạo hiểm với kỳ vọng thu được lợi nhuận cao, mà không tính toán kỹ hoặc không có khả năng tính toán những bất trắc có thể xảy ra nên khả năng xảy ra tổn thất với ngân hàng là rất lớn.Thứ hai: Do khách hàng cố tình chiếm dụng vốn của ngân hàng. Để đạt được môc đích thu được lợi nhuận, nhiều khách hàng sẵn sàng tìm mọi thủ đoạn để ứng phó với ngân hàng như mua chuộc hoặc cung cấp các báo cáo tài chính sai lệch. Trong trường hợp này, nếu không phát hiện ra, ngân hàng sẽ đánh giá sai về khả năng tài chính của khách và cho vay vốn với khối lượng và thời hạn không hợp lý, dẫn đến rủi ro tiềm ẩn là rất cao. 1.3.3 Đo lường rủi ro tín dụngCác chỉ tiêu chính phản ánh rủi ro tín dụng(1) NQH và tỷ lệ NQHTổng dư nợ(2) Nợ khó đòi và tỷ lệ nợ khó đòiTổng dư nợ NQH là khoản nợ mà khách hàng không trả được khi đã đến hạn thỏa thuận trên hợp đồng. Nợ khó đòi là khoản nợ quá hạn đã quá một kì gia hạn nợ. NQH Tổng dư nợ Tỷ trọng NQH = ( Tổng giá trị NQH Tổng dư nợ) x 100 Chỉ tiêu này phản ánh 100 đồng vốn cho vay của ngân hàng thì có bao nhiêu đồng chưa thu được. Tỷ lệ này càng nhỏ càng tốtNợ khó đòi Tổng dư nợ Tỷ trọng nợ khó đòi = (Tổng giá trị nợ khó đòi Tổng dư nợ) x 100Tỷ lệ này phản ánh tổn thất trong hoạt động tín dụng của ngân hàngNợ khó đòi NQH Tỷ trọng = ( Nợ khó đòi NQH ) x 100Tỷ lệ này phản ánh hiệu quả công tác xử lí rủi ro tín dụng của ngân hàng, cho biết bao nhiêu NQH không xử lí được.1.3.4 Phòng ngừa rủi ro tín dụng Nâng cao chất lượng công tác thẩm định và phân tích tín dụng+ Rà soát, chỉnh sửa và hoàn thiện các quy trình nội bộ, ứng dụng thông tin phù hợp với các thông tin của pháp luật có liên quan.+ Thu thập thông tin về các khách hàng cần kịp thời và chính xácSử dụng các bảo đảm tín dụngNH cần quan tâm tới khâu định giá tài sản một cách chuẩn xác và đảm bảo đầy đủ tính pháp lý của những tài sản này.Với tài sản thế chấp, NH cũng cần kiểm tra xem việc sử dụng tài sản có hợp lý, đúng như cam kết hay không.Với các đảm bảo bằng bảo lãnh, những nội dung giám sát người bảo lãnh cũng giống như đối với khách hàng đi vay ( tuy nhiên phần lớn là giám sát gián tiếp thông qua thông tin thu thập được ).Chú trọng công tác thu thập thông tin tín dụng+ Thực hiện việc quản lý dữ liệu tập trung, đảm bảo có sẵn thông tin cho các nhà quản trị khi đưa ra quyết định cho vay.+ Triển khai việc xếp hạng tín dụng đối với khách hàng vay, nâng cấp đảm bảo chính xác và kịp thời hệ thống thông tin báo cáo và quản trị rủi ro.+ Tăng cường việc sử dụng các thông tin liên bộ, liên ngành góp phần hỗ trợ trong việc đưa ra các quyết định tín dụng một cách chính xác.Tuân thủ nghiêm ngặt quy trình tín dụngQuy trình tín dụng là quá trình cấp tín dụng của ngân hàng bao gồm nhiều giai đoạn và có quan hệ chặt chẽ với nhau: mang tính chất liên hoàn, theo một trật tự nhất định, kết quả của giai đoạn trước là cơ sở thực hiện giai đoạn tiếp theo và tác động đến chất lượng của giai đoạn sau; trong mỗi giai đoạn lại bao gồm nhiều công việc được thực hiện theo hệ
Trang 1Đề tài: Thu thập thông tin về rủi ro tín dụng trong NHTM CP Ngoại thương
1.1.2 Đặc điểm
Những hình thức trong quan hệ tín dụng ngân hàng bao gồm cho vay và cho thuê Tài sảngiao dịch trong cho vay là bằng tiền và tài sản trong cho thuê là bất động sản và động sản.Trong quan hệ tín dụng ngân hàng, tiền vay được cấp trên cơ sở cam kết hoàn trả vô điều kiện
Lòng tin: quan hệ tín dụng được hình thành trên cơ sở niềm tin rằng người đi vay sẽ hoàntrả đúng hạn
Về mặt pháp lý, những văn bản xác định quan hệ tín dụng như hợp đồng tín dụng, khế ước, đó là những văn bản pháp lý nhằm ràng buộc những trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi của hai bên cho vay và đi vay
Tính hoàn trả: người đi vay thông thường phải thanh toán phần lãi ngoài vốn gốc, vì vậy người đi vay phải thanh toán nhiều hơn so với lúc đầu vay
Tính thời hạn: là khoảng thời gian mà người đi vay phải hoàn trả đúng hạn
1.2 Vai trò của tín dụng trong hoạt động kinh doanh của NHTM
+ Tín dụng ngân hàng góp phần đảm bảo cho hoạt động của các doanh nghiệp được liên tục
Trang 2Trên thực tế không một doanh nghiệp nào có thể đảm bảo đủ 100% vốn cho nhu cầu sản xuất kinh doanh Vốn tín dụng của ngân hàng đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đầu
tư xây dựng cơ bản, mua sắm máy móc thiết bị cải tiến phương thức kinh doanh Từ đó góp phần thúc đẩy tạo điều kiện cho quá trình phát triển sản xuất kinh doanh đựơc liên tục
+ Tín dụng ngân hàng góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
Khi sử dụng vốn tín dụng ngân hàng các doanh nghiệp phải tôn trọng hợp đồng tín dụng phải đảm bảo hoàn trả cả gốc lẫn lãi đúng hạn và phải tôn trọng các điều khoản của hợp đồng cho dù doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả hay không Do đó đòi hỏi các doanh nghiệp muốn có vốn tín dụng của ngân hàng phải có phương án sản xuất khả thi
+ Tín dụng ngân hàng góp phần hình thành cơ cấu vốn tối ưu cho doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường hiếm doanh nghiệp nào dùng vốn tự có để sản xuất kinh doanh Nguồn vốn vay chính là công cụ đòn bẩy để doanh nghiệp tối ưu hoá hiệu quả sử dụng vốn
+ Tín dụng ngân hàng góp phần tập trung vốn sản xuất, nâng cao khả năng cạnh tranh củacác doanh nghiệp
Cạnh tranh là một quy luật tất yếu của nền kinh tế thị trường, muốn tồn tại và đứng vững thì đòi hỏi các doanh nghiệp phải chiến thắng trong cạnh tranh
1.3 Khái quát rủi ro tín dụng trong NHTM
1.3.1 Khái niệm, biểu hiện của rủi ro tín dụng trong NHTM
Trang 3Nợ quá hạn là một khoản tín dụng được cấp ra nhưng không thể thu hồi được đúng hạn,
do những nguyên nhân khác nhau gây ra Nợ quá hạn sẽ làm tăng lên các khoản chi phí cho việc đi đòi nợ, làm tăng chi phí cho hoạt động kinh doanh nên có ảnh hưởng xấu tới hoạt động kinh doanh của Ngân hàng
- Nợ khó đòi
Nợ khó đòi là nợ quá hạn không được thanh toán, mặc dù Ngân hàng đã gia hạn nợ Chính vì vậy có thể nói đây là chỉ tiêu rõ ràng nhất để phản ánh mức độ tổn thất trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng Hầu hết là các Ngân hàng thuơng mại đều thực hiện việc lập quỹ dự phòng rủi ro bằng 100% số nợ khó đòi
- Lãi treo
Lãi treo là số tiền lãi mà khách hàng không trả được cho Ngân hàng khi đến kỳ hạn thanhtoán Và đây cũng là một dấu hiệu quan trọng để có thể nhận biết rủi ro tín dụng
1.3.2 Nguyên nhân
1 Nguyên nhân thuộc về ngân hàng:
- Thứ nhất: Sự yếu kém của đội ngũ cán bộ Sự yếu kém ở đây bao gồm cả về nănglực và phẩm chất đạo đức Nếu một cán bộ tín dụng non kém về trình độ, thiếu kiến thức, thiếu kinh nghiệm thì sẽ không có khả năng thẩm định và xử lý thông tin, đánh giá khách hàng thiếu chính xác, mức vay,lãi suất vay và kỳ hạn không phù hợp; dẫn đến chất lượng tín dụng thấp, rủi ro cao Hơn nữa, cán bộ tín dụng mà phẩm chất đạo đức kém, không có tinh thần trách nhiệm, dễ bị cám dỗ thì sẽ gây thiệt hại rất lớn cho ngân hàng bằng cách cho vay chỉ dựa trên mối quan hệ với khách hàng, dựa trên lợi ích cá nhân mà bỏ qua những điều kiện và thủ tục cần thiết
- Thứ hai: Sự giám sát của các cấp quản lý trong ngân hàng là thiếu sát sao Cán bộ tín dụng cần có sự phê duyệt của lãnh đạo trước khi giải ngân Vậy nên nếu cấp trên không có sự kiểm tra, đánh giá xem quyết định của cán bộ đã thực sự chính xác chưa thì nguy cơ rủi ro tín dụng sẽ là rất cao
- Thứ ba: Ngân hàng chưa đa dạng hoá các danh mục đầu tư Một công cụ luôn được nhắc đến trong quản trị tín dụng ở tất cả các ngân hàng trên thế giới là quản trị danh mục đầu tư
- Thứ tư: Định giá khoản vay không theo mức độ rủi ro của khách hàng Khách hàng được đánh giá có mức độ rủi ro càng cao, phần bù rủi ro càng lớn
Trang 42 Nguyên nhân thuộc về người vay:
Đây là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến rủi ro tín dụng, có thể chia nhóm này thành hai loại chính:
Thứ nhất: Do khách hàng kinh doanh thua lỗ nên mất khả năng trả nợ Trường hợp này rất phổ biến do khách hàng có trình độ yếu kém trong dự đoán các vấn đề kinh tế, yếu kém trong năng lực quản lý, sử dụng vốn sai môc đích, sản phẩm chất lượng thấp không bán được… Hơn nữa có rất nhiều người vay sẵn sàng lao vào những cơ hội kinh doanh mạo hiểm với kỳ vọng thu được lợi nhuận cao, mà không tính toán kỹ hoặc không có khảnăng tính toán những bất trắc có thể xảy ra nên khả năng xảy ra tổn thất với ngân hàng là rất lớn
Thứ hai: Do khách hàng cố tình chiếm dụng vốn của ngân hàng Để đạt được môc đích thu được lợi nhuận, nhiều khách hàng sẵn sàng tìm mọi thủ đoạn để ứng phó với ngân hàng như mua chuộc hoặc cung cấp các báo cáo tài chính sai lệch Trong trường hợp này, nếu không phát hiện ra, ngân hàng sẽ đánh giá sai về khả năng tài chính của khách và chovay vốn với khối lượng và thời hạn không hợp lý, dẫn đến rủi ro tiềm ẩn là rất cao 1.3.3 Đo lường rủi ro tín dụng
Các chỉ tiêu chính phản ánh rủi ro tín dụng
(1) NQH và tỷ lệ NQH/Tổng dư nợ
(2) Nợ khó đòi và tỷ lệ nợ khó đòi/Tổng dư nợ
- NQH là khoản nợ mà khách hàng không trả được khi đã đến hạn thỏa thuận trên hợp đồng
- Nợ khó đòi là khoản nợ quá hạn đã quá một kì gia hạn nợ
Tỷ trọng nợ khó đòi = (Tổng giá trị nợ khó đòi / Tổng dư nợ) x 100
Tỷ lệ này phản ánh tổn thất trong hoạt động tín dụng của ngân hàng
Trang 5- Nâng cao chất lượng công tác thẩm định và phân tích tín dụng
+ Rà soát, chỉnh sửa và hoàn thiện các quy trình nội bộ, ứng dụng thông tin phù hợp với các thông tin của pháp luật có liên quan
+ Thu thập thông tin về các khách hàng cần kịp thời và chính xác
- Chú trọng công tác thu thập thông tin tín dụng
+ Thực hiện việc quản lý dữ liệu tập trung, đảm bảo có sẵn thông tin cho các nhà quản trị khi đưa ra quyết định cho vay
+ Triển khai việc xếp hạng tín dụng đối với khách hàng vay, nâng cấp đảm bảo chính xác
và kịp thời hệ thống thông tin báo cáo và quản trị rủi ro
+ Tăng cường việc sử dụng các thông tin liên bộ, liên ngành góp phần hỗ trợ trong việc đưa ra các quyết định tín dụng một cách chính xác
- Tuân thủ nghiêm ngặt quy trình tín dụng
Quy trình tín dụng là quá trình cấp tín dụng của ngân hàng bao gồm nhiều giai đoạn và cóquan hệ chặt chẽ với nhau: mang tính chất liên hoàn, theo một trật tự nhất định, kết quả của giai đoạn trước là cơ sở thực hiện giai đoạn tiếp theo và tác động đến chất lượng của
Trang 6giai đoạn sau; trong mỗi giai đoạn lại bao gồm nhiều công việc được thực hiện theo hệ thống những nguyên tắc và những quy định.
- Sử dụng các nghiệp vụ phái sinh tín dụng để phòng ngừa rủi ro
Phái sinh tín dụng là một nghiệp vụ cho phép các NH và các tổ chức tín dụng chuyển rủi
ro tín dụng sang những tổ chức sẵn sang chấp nhận rủi ro khác
Các công cụ phái sinh tín dụng bao gồm:
i) Hoán đổi tổng thu nhập
ii) Hoán đổi tín dụng
iii) Hợp đồng quyền chọn tín dụng
iv) Hợp đồng trao đổi các khoản tín dụng rủi ro
Chương II: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng trong NHTMCP
Ngoại thương Vietcombank2.1 Giới thiệu về NHTM CP Ngoại thương Vietcombank
2.1.1 Tổng quan về NHTM CP Ngoại thương Vietcombank
Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam trước đây, nay là Ngân hàng TMCP Ngoại thươngViệt Nam (Vietcombank) được thành lập và chính thức đi vào hoạt động ngày 01/4/1963với tổ chức tiền thân là Cục Ngoại hối (trực thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam)
Là ngân hàng thương mại nhà nước đầu tiên được Chính phủ lựa chọn thực hiện thíđiểm cổ phần hoá, Vietcombank chính thức hoạt động với tư cách là một ngân hàngthương mại cổ phần vào ngày 02/6/2008 sau khi thực hiện thành công kế hoạch cổ phầnhóa thông qua việc phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng Ngày 30/6/2009, cổ phiếuVietcombank (mã chứng khoán VCB) chính thức được niêm yết tại Sở Giao dịch Chứngkhoán TPHCM
Trải qua hơn 50 năm xây dựng và trưởng thành, Vietcombank đã có những đóng gópquan trọng cho sự ổn định và phát triển của kinh tế đất nước, phát huy tốt vai trò của mộtngân hàng đối ngoại chủ lực, phục vụ hiệu quả cho phát triển kinh tế trong nước, đồngthời tạo những ảnh hưởng quan trọng đối với cộng đồng tài chính khu vực và toàn cầu
Trang 7Từ một ngân hàng chuyên doanh phục vụ kinh tế đối ngoại, Vietcombank ngày nay đãtrở thành một ngân hàng đa năng, hoạt động đa lĩnh vực, cung cấp cho khách hàng đầy đủcác dịch vụ tài chính hàng đầu trong lĩnh vực thương mại quốc tế; trong các hoạt độngtruyền thống như kinh doanh vốn, huy động vốn, tín dụng, tài trợ dự án…cũng như mảngdịch vụ ngân hàng hiện đại: kinh doanh ngoại tệ và các công vụ phái sinh, dịch vụ thẻ,ngân hàng điện tử…
Sở hữu hạ tầng kỹ thuật ngân hàng hiện đại, Vietcombank có nhiều lợi thế trong việcứng dụng công nghệ tiên tiến vào xử lý tự động các dịch vụ ngân hàng, phát triển các sảnphẩm, dịch vụ ngân hàng điện tử dựa trên nền tảng công nghệ cao Không gian giao dịchcông nghệ số (Digital lab) cùng các dịch vụ: VCB Internet Banking, VCB Money, SMSBanking, Phone Banking,…đã, đang và sẽ tiếp tục thu hút đông đảo khách hàng bằng sựtiện lợi, nhanh chóng, an toàn, hiệu quả, tạo thói quen thanh toán không dùng tiềnmặt cho đông đảo khách hàng
Sau hơn nửa thế kỷ hoạt động trên thị trường, Vietcombank hiện là một trong nhữngngân hàng thương mại lớn nhất Việt Nam với trên 15.000 cán bộ nhân viên, hơn 500 Chinhánh/Phòng Giao dịch/Văn phòng đại diện/Đơn vị thành viên trong và ngoài nước, gồmTrụ sở chính tại Hà Nội, 101 chi nhánh và 395 phòng giao dịch trên toàn quốc, 03 công tycon tại Việt Nam, 01 văn phòng đại diện tại Singapore, 01 Văn phòng đại diện tại Tp HồChí Minh, 02 công ty con tại nước ngoài và 04 công ty liên doanh, liên kết Bên cạnh đó,Vietcombank còn phát triển một hệ thống Autobank với hơn 2.407 máy ATM và trên 43.000 đơn vị chấp nhận Thẻ trên toàn quốc Hoạt động ngân hàng còn được hỗ trợ bởimạng lưới hơn 1.726 ngân hàng đại lý tại 158 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới Với bề dày hoạt động và đội ngũ cán bộ có năng lực, nhạy bén với môi trường kinhdoanh hiện đại, mang tính hội nhập cao…Vietcombank luôn là sự lựa chọn hàng đầu củacác tập đoàn, các doanh nghiệp lớn và của đông đảo khách hàng cá nhân
Luôn hướng đến các chuẩn mực quốc tế trong hoạt động, Vietcombank liên tục được các
tổ chức uy tín trên thế giới bình chọn là “Ngân hàng tốt nhất Việt Nam” Vietcombankcũng là ngân hàng đầu tiên và duy nhất của Việt Nam có mặt trong Top 500 Ngân hànghàng đầu Thế giới theo kết quả bình chọn do Tạp chí The Banker công bố
Bằng trí tuệ và tâm huyết, các thế hệ cán bộ nhân viên Vietcombank đã, đang và sẽ luôn
nỗ lực để xây dựng Vietcombank phát triển ngày một bền vững, với mục tiêu đến năm
Trang 82020 đưa Vietcombank trở thành Ngân hàng số 1 tại Việt Nam, 1 trong 300 tập đoàn ngânhàng tài chính lớn nhất thế giới và được quản trị theo các thông lệ quốc tế tốt nhất.
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của NHTM CP Ngoại thương Vietcombank
Vietcombank hiện có gần 14.000 cán bộ nhân viên, với hơn 400 Chi nhánh/Phòng Giao dịch/Văn phòng đại diện/Đơn vị thành viên trong và ngoài nước, gồm 1 Hội sở chính tại
Hà Nội, 1 Chi nhánh Sở Giao Dịch, 1 Trung tâm Đào tạo, 89 chi nhánh và hơn 350 phònggiao dịch trên toàn quốc, 2 công ty con tại Việt Nam, 2 công ty con và 1 văn phòng đại diện tại nước ngoài, 6 công ty liên doanh, liên kết Bên cạnh đó, Vietcombank còn phát triển một hệ thống Autobank với hơn 2.100 máy ATM và trên 49.500 điểm chấp nhận thanh toán thẻ (POS) trên toàn quốc Hoạt động ngân hàng còn được hỗ trợ bởi mạng lướihơn 1.800 ngân hàng đại lý tại trên 155 quốc gia và vùng lãnh thổ.[2]
Công ty con:
Công ty Chứng khoán Vietcombank
Công ty Cho thuê tài chính Vietcombank
Công ty Quản lý nợ và Khai thác tài sản Vietcombank
Công ty Tài chính Việt Nam (Vinafico) tại Hồng Kông
Công ty liên doanh TNHH Cao Ốc VCB 198
Công ty Quản lý Quỹ đầu tư Chứng khoán Vietcombank[3]
Ngoài ra còn có các công ty góp vốn:
Góp vốn đầu tư dài hạn vào 15 đối tác (Ngân hàng và công ty)
Góp vốn liên kết với 5 đối tác (Ngân hàng và công ty)
Ngân hàng còn là thành viên của:
Hiệp hội ngân hàng Việt Nam
Hiệp hội ngân hàng châu Á
Tổ chức thanh toán toàn cầu Swift
Tổ chức thẻ quốc tế Visa
Tổ chức thẻ quốc tế Master Card
Trang 92.2 Tình hình hoạt động tại NHTM CP Ngoại thương Vietcombank
2.2.1 Tình hình tài chính, tình hình kinh doanh NHTM CP Ngoại thương
Vietcombank
a, tình hình tài chính của NHTM CP Ngoại thương Viétcombank
Bảng 1.Tình hình Tài sàn- Nguồn vốn( Nợ phải trả) tại ngân hàng:
Đvị: Tỷ đồng
(Nguồn: Bảng cân đối kế toán hợp nhất- Ngân hàng TMCP Ngoại thương)
Từ bảng số liệu ta thấy tổng tài sản và nợ phải trả tăng qua các năm Nợ phải trả tăng nhanh từ năm 2014 đến 2015 là 17,94% Đến năm 2016 nợ phải trả tăng 0,19% Như vậy,năm 2015 nợ phải trả tăng nhanh so với năm 2014 nhưng đến năm 2016 nợ phải trả đã tăng chậm lại không có sự thay đổi nhiều Nguyên nhân là năm 2015 có sự tăng mạnh về tiền gửi và vay của các tổ chức tín dụng khác:
Bảng 2 Tiền gửi và vay các tổ chức tín dụng khác:
Đvị: Triệu đồngTiền gửi và vay các
tổ chức tín dụng
khác
Tiền gửi của các tổ
Trang 10(Nguồn: Bảng cân đối kế toán hợp nhất- Ngân hàng TMCP Ngoại thương)
Như bảng trên ta thấy năm 2015 tiền gửi của các tổ chức tín dụng khác tăng 18.046 tỷ đồng tương ứng với tốc độ tăng 53,55% và vay các tổ chức tín dụng khác tăng 10.852tỷ đồng tương ứng với tốc độ tăng 113,75% so với năm 2014, điều này làm cho nợ phải trả của năm 2015 tăng mạnh so với năm 2014 Vay các tổ chức tín dụng khác tăng 113,75% chứng tỏ ngân hàng đang đi huy động vốn bằng cách vay vốn chiếm tỉ trọng lớn tỉ lệ rủi
ro cao hơn
b, Tình hình kinh doanh của NHTM CP Vietcombank
Bảng 3 Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh tóm tắt:
- Tổng thu nhập tăng qua các năm: năm 2015 tăng 29,30% so với năm 2014, năm
2016 tăng 15,62% so với năm 2015 Tổng thu nhập tăng mạnh như vậy có thể thấynguồn thu nhập của ngân hàng tăng cao vào hoạt động kinh doanh có hiệu quả
- Tổng chi phí cũng tăng : năm 2015 tăng 21,26% so với năm 2014, năm 2016 tăng 19,05% so với năm 2016
- Lợi nhuận thuần qua các năm tăng : năm 2015 tăng 16,83% so với năm 2014, năm
2016 tăng 13,41% so với năm 2015
- LNST tăng đều qua các năm
Như vậy, ngân hàng đang áp dụng các chính sách tín dụng có hiệu quả làm tăng lợi nhuận Ngân hàng đã đầu tư vào cơ sở vật chất, hoạt động xây dựng cơ bản, mua sắm TSCĐ…, nhưng lợi nhuận vẵn tăng cao chứng tó ngân hàng đang đầu tư 1 cách có hiệu quả phù hợp với sự phát triển của ngân hàng Vietcombank
2.2.2 Các hoạt động chủ yếu trong NHTM CP Ngoại thương Vietcombank
Trang 11Lĩnh vực kinh doanh Hiện nay, NHNT hoạt động kinh doanh trên các lĩnh vực chủ yếu sau: Huy động vốn, hoạt động tín dụng, dịch vụ thanh toán quốc tế và một số lĩnh vực kinh doanh khác.
2.2.2.1 Huy động vốn:
Bao gồm nhận tiền gửi, phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu, kỳ phiếu và các giấy tờ
có giá khác để huy động vốn; vay vốn của các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước, vay vốn của NHNN và các hình thức huy động vốn khác theo quy định của NHNN Trong lĩnh vực huy động vốn, NHNT luôn được coi là ngân hàng có tỉ lệ huy động vốn ngoại tệ cao nhất trong các ngân hàng thương mại Việt Nam Tuy nhiên, những biến động của thị trường tài chính tiền tệ do cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ đã ảnh hưởng và tác động đến hoạt động của ngân hàng Lạm phát tăng cao, các doanh nghiệp hoạt động cầm chừnghoặc thua lỗ, thị trường vàng, ngoại tệ, bất động sản thiếu ổn định, tình hình lãi suất, thanh khoản biến động bất thường, thị trường chứng khoán mất điểm tới 70%-80% Đứng trước các biến động về giá huy động vốn trên thị trường năm 2008, đặc biệt đối vớiUSD, Ngân hàng Ngoại thương đã chủ động áp dụng chính sách lãi suất linh hoạt trên cơ
sở cung, cầu vốn trên thị trường, đồng thời sử dụng nhiều công cụ huy động vốn mới Nhờ đó giảm thiểu được các tác động của thị trường lên nguồn vốn của Ngân hàng Côngtác quản lý lãi suất được chỉ đạo một cách thống nhất và thực hiện trên toàn hệ thống vì vậy làm giảm sự chênh lệch đáng kể về lãi suất giữa các chi nhánh, tiến đến mức lãi suất thống nhất
2.2.2.2 Hoạt động tín dụng:
Bao gồm cấp tín dụng dưới hình thức cho vay, chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá khác, bảo lãnh ngân hàng, cho thuê tài chính, và các hình thức khác theo quy định củaNHNN Trong các hoạt động cấp tín dụng, cho vay là hoạt động quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn nhất
- Cho vay: NHTM được cho các tổ chức, cá nhân vay vốn dưới các hình thức sau:
+ Cho vay ngắn hận nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và đời sống
+ Cho vay trung hạn và dài hạn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và đời sống
- Bảo lãnh: NHTM được bảo lãnh vay, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh đấu thầu và các hình thức bảo lãnh ngân hàng khác bằng uy tín và bằng khả năng tài chính của mình đối với người bảo lãnh Mức bảo lãnh đối với một khách hàng và
Trang 12tổng mức bảo lãnh của một NHTM không được vượt quá tỷ lệ so với vốn tự có của NHTM.
- Chiết khấu: NHTM được chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác đối với tổ chức, cá nhân và có thể tái chiết khấu các thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác đối vwois các tổ chức tắn dụng khác
- Cho thuê tài chắnh: NHTM được hoạt động cho thuê tài chắnh nhưng phải thành lập công ty cho thuê tài chắnh riêng Việc thành lập, tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chắnh thực hiện theo Nghị định của Chắnh phủ về tổ chức và hoạt động của công
ty cho thuê tài chắnh
Tăng trưởng tắn dụng trong các năm qua có các đặc điểm như sau: - Với chắnh sách tập trung cho các khu vực phát triển năng động về kinh tế, tại các khu vực thành phố Hồ Chắ Minh, Hà Nội và miền đông Nam Bộ có tốc độ tăng trưởng cao hơn - Tỷ trọng dư nợ tắn dụng đối với nhóm khách hàng DNNN trong tổng dư nợ có xu hướng giảm dần, tỷ trọng của nhóm khách hàng doanh nghiệp ngoài quốc doanh và cá thể có xu hướng tăng dần - Tăng trưởng tắn dụng với tốc độ đồng đều đối với VND và ngoại tệ - Tăng trưởng đồng đều đối với tắn dụng ngắn hạn và tắn dụng trung dài hạn
2.2.2.3 Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ:
Để thực hiện được các dịch vụ thanh toán giữa các doanh nghiệp thông qua ngân hàng, NHTM được mở tài khoản cho khách hàng trong và ngoài nước Để thực hiện thanh toán giữa các ngân hàng với nhau thông qua Ngân hàng Nhà nước nơi ngân hàng thương mại đặt trụ sở chắnh và duy trì tại đó số dư tiền gửi dự trữ bắt buộc theo quy định Ngoài ra, chi nhánh của NHTM được ở tài khoản tiền gửi tại chi nhánh ngân hàng nhà nước tỉnh, thành phố nơi đặt trụ sở của chi nhánh Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ của ngân hàng thương mại bao gồm các hoạt động sau:
- Cung cấp các phương tiện thanh toán
- Thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nước cho khách hàng
- Thực hiện dịch vụ thu hộ vs chi hộ
- Thực hiện các dịch vụ thanh toán khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước
- Thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế khi được Ngân hàng Nhà nước cho phép
- Thực hiện dịch vụ thu và phát tiền mặt cho khách hàng
Trang 13- Tổ chức hệ thống thanh toán nội bộ và tham gia hệ thống thanh toán liên ngân hàng trong nước.
- Tham gia hệ thống thanh toán quốc tế khi được Ngân hàng Nhà nước cho phép
2.2.2.4 Các hoạt động khác:
Bên cạnh các hoạt động chủ yếu trên, một số các hoạt động khác của NHNT cũng rất phát triển và mang lại lợi nhuận cao cho Ngân hàng, đó là các hoạt động kinh doanh thẻ, kinh doanh ngoại tệ, dịch vụ ngân hàng bán lẻ, hoạt động góp vốn, mua cổ phần, tham giathị trường tiền tệ, thực hiện các nghiệp vụ mua bán giấy tờ có giá bằng ngoại tệ và VND, kinh doanh ngoại hối và vàng, nghiệp vụ ủy thác và nhận ủy thác, cung ứng dịch vụ bảo hiểm, kinh doanh các nghiệp vụ chứng khoán thông qua công ty trực thuộc, cung ứng dịch vụ tư vấn tài chính, tiền tệ, cung ứng dịch vụ bảo quản hiện vật quí, giấy tờ có giá, cho thuê tủ két, cầm đồ Chính sự phát triển đa dạng về mạng lưới và dịch vụ cung ứng sản phẩm của Vietcombank đã tạo cho ngân hàng một vị thế lớn mạnh và uy tín trong hệ thống các Ngân hàng
2.2.3 Những thuận lợi và khó khăn trong kinh doanh tại NHTM CP Ngoại thương Vietcombank
2.3.3.1 Những thuận lợi
- Kể từ ngày ngân hàng ngoại thương Việt Nam chính thức trở thành ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam ( 02/06/2008), nền tảng cơ chế quản trị và điều hành ngân hàng đã có sự thay đổi: Một số chủ trương, biện pháp tổ chức, chỉ đạo trong kinh doanh từ Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã có những sự chuyển biến Thương hiệu và vị thế của Vietcombank tiếp tục phát huy tác dụng Các chính sách điều hành kinh
tế vĩ mô của chính phủ và ngân hàng nhà nước nhạy bén hơn, tác động mạnh đến thị trường và hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại Các doanh nghiệp, khách hàng của Vietcombank có cơ sở kinh doanh vững chắc cũng chịu sự tác động của khủng hoảng, có suy giảm nhưng chưa bị rủi ro lớn hoặc đổ vỡ Công nghệ của
Vietcombank tiếp tục được phát huy trên nền tảng đã được xây dựng từ trước, một số dịch vụ mới được đưa ra có tác dụng
- Tiếp tục phát huy các thế mạnh về công nghệ và uy tín của ngân hàng ngoại thương trênđịa bàn, Vietcombank cũng có sự thay đổi về quản lí, điều hành kinh doanh và việc áp dụng số biện pháp điều hành kinh doanh, đa dạng hóa các hình thức, các công cụ huy động vốn từ ngân hàng ngoại thương Việt Nam như: tiết kiệm lĩnh lãi định kì, công cụ tỷ giá, phát triển các sản phẩm ngân hàng hiện đại, tích hợp nhiều tiện ích, mở rộng mạng
Trang 14lưới giao dịch, áp dụng chính sách lãi suất, linh hoạt, hấp dẫn, kết hợp các nghiệp vụ phátsinh để cung cấp các sản phẩm huy động vốn ngày càng đa dạng và hiên đại hơn đến khách hàng
- Ngân hàng luôn có mặt bằng lãi suất cho vay thấp Hoạt động giải ngân vốn ODA các ngân hàng được chỉ định phục vụ thu được một số lợi ích trong kinh doanh ngoại tệ, hoạt động tín dụng và thanh toán, đặc biệt là trong huy động vốn vì thông qua việc rút vốn ODA ngân hàng phục vụ đã thu hút được lượng tiền ngoại tệ (vốn ODA) và nội tệ (các nhà thầu) khá lớn duy trì trên các tài khoản mở tại ngân hàng phục vụ với chi phí rất thấp
- Bên cạnh đó, các ngân hàng thương mại nhà nước luôn nhận được sự hộ trợ từ ngân hàng nhà nước Gần đây, ngân hàng nhà nước tuyên bố sẽ đáp ứng nhu cầu vay vốn thiếu hụt thanh khoản tạm thời của ngân hàng thương mại nhà nước với lãi suất thích hợp và thời gian phù hợp (chắc chắn lãi suất thấp hơn khá nhiều so với mặt bằng lãi suất huy động thị trường và thời gian dài hơn cho vay tái cấp vốn và chiết khấu với các ngân hàng thương mại cổ phần) Các ngân hàng thương mại cũng chú định hướng khai thác tối đa kênh hỗ trợ ngân hàng nhà nước
- Một trong những thành công lớn nhất là hoạt động của hệ thống các tổ chức tín dụng Việt Nam đã đảm bảo an toàn, ổn định và có bước tăng trưởng khá, năng lực tài chính và quy mô hoạt động tăng lên Tính thanh khoản của hệ thống được đảm bảo, đáp ứng đủ nhu cầu thanh toán của nền kinh tế
- Trong các thời điểm khác nhau, ngân hàng nhà nước cũng linh hoạt điều chỉnh giảm và tăng các mức lãi suất chủ đạo, lãi suất tái cấp vốn và lãi suất tái chiết khấu, tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng giảm và tăng lãi suất huy động, cho vay phù hợp mục tiêu điều tiết lượng huy động vốn và cho vay tín dụng nới lỏng một cách thận trọng
2.3.3.2 Những khó khăn
- Khó khăn lớn nhất năm nay đó là vốn, kênh dẫn vốn mà các ngân hàng đều trông chờ hiện nay vẫn nằm ở nguồn tiền gửi của dân cư và tổ chức
- Do tác động của các giải pháp kích thích kinh tế, nhu cầu vay vốn của các doanh
nghiệp, hộ sản xuất tăng cao, kéo theo tăng trưởng tín dụng của hệ thống ngân hàng ở mức cao, trong khi huy động vốn gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng đến khả năng cân đối vốn của các tổ chức tín dụng Lãi suất hay động tăng cao trong khi trần lãi suất cho vay bịkhống chế bởi lãi suất cơ bản làm chênh lệch giữa lãi suất huy động và cho vay bị thu hẹp, gây khó khăn cho việc trích lập dự phòng rủi ro và ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của các tổ chức tín dụng Trong khi thị trường ngoại hối, thị trường vàng và cán
Trang 15cân thanh toán quốc tế còn nhiều diễn biến không thuận lợi, nhất là vấn đề cân đối cung cầu ngoại tệ.
- Hạ lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu Trong khi bản thân nhiều ngân hàng đang thiếu giấy tờ có giá, tỉ lệ dự trữ bắt buộc là 3% - mức được các tổ chức khuyến nghị là phù hợp Nếu hạ bớt 1%, các ngân hàng có thêm vài trăm tỉ đồng, nhưng đây chỉ là một con số “muối bỏ biển” so với nhu cầu vốn của nền kinh tế Còn nếu, cho phép sử dụng vốn liên ngân hàng (vốn có kì hạn rất ngắn) để các ngân hàng cho vay, trong trường hợp một ngân hàng rủi ro trong thanh toán, trả nợ, sẽ dẫn đến phản ứng dây truyền, đó là một quyết định vô cùng mạo hiểm của ngân hàng nhà nước
- Sự cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại ngày càng gay gắt trước tình hình thanh khoản khó khăn, biến động tỷ giá phức tạp và thị trường chứng khoán sụt giảm, thị
trường bất động sản đóng băng đã làm ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh củacác doanh nghiệp, các ngân hàng nói chung và của Vietcombank nói riêng
- Trước tình hình đó, các cán bộ công nhân viên lại có tâm lí quan ngại trước các chính sach thay đổi, trông chờ vào thu nhập mới, cổ phiếu sụt giảm, sản phẩm dịch vụ đơn điệu càng làm cho hoạt động kinh doanh của các ngân hàng gặp khó khăn
- Khó khăn mang tính chủ quan đó là các sản phẩm của ngân hàng chưa đủ hấp dẫn về
“chất” để thu hút khách hàng nên công tác marketing và khuếch trương dù cố gắng cũng chưa đủ mạnh để thu hút khách hàng và phát huy lợi thế thương hiệu Vietcombank
2.3 Quản trị rủi ro tín dụng trong NHTM CP Ngoại thương Vietcombank
2.3.1 Thực trạng rủi ro tín dụng tại NHTM CP Ngoại thương Vietcombank
Bảng 4 Tình hình cho vay vốn tại Vietcombank:
(Nguồn: Bảng cân đối kế toán hợp nhất- Ngân hàng TMCP Ngoại thương)
Bên cạch việc huy động vốn cần thiết cho hoạt động kinh doanh của mình Vietcombank
đã hết sức quan tâm đến việc giải phóng nguồn vốn để tìm kiếm lợi nhuận Nhưng việc
Trang 16cho vay vốn có sự không ổn định qua các năm Dư nợ tăng trưởng nẳm 2015 đạt 38.939
tỷ đồng giảm 31,91% so với năm 2014, đây là sự giảm mạnh cho thấy sự thiếu hụt nguồn giải ngân vốn nghiêm trọng.Đến năm 2016 dưu nợ tăng trưởng đạt 51.014 tỷ đồng tăng 31,01% so với năm 2015, như vậy ngân hàng đã tìm được nguồn giải ngân giúp tăng lợi nhuận cho năm 2016
Bảng 5 Dư nợ cho vay theo thời gian đáo hạn:
(Nguồn: Bảng cân đối kế toán hợp nhất- Ngân hàng TMCP Ngoại thương)
Tổng dư nợ cho vay theo thời gian đáo hạn tăng đều qua các năm: năm 2015 tăng 19,74%
so với năm 2014, năm 2016 tăng 18,08% so với năm 2015 Cụ thể là nợ ngắn hạn năm
2015 tăng 23.421 tỷ đồng (11,33%) so với năm 2014, năm 2016 tăng 29.095 tỷ đồng (12,64%) đây là khoản cho vay chiếm tỉ trọng cao nhất và là nguồn tăng lợi nhuận lớn cho ngân hàng Nợ trung hạn tăng đều qua các năm Nợ dài hạn cũng tăng mạnh: năm
2015 tăng 30.091 tỷ đồng (36,24%) so với năm 2014, năm 2016 tăng 33.519 tỷ đồng (29,63%) so với năm 2015
Tuy nhiên, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Vietcombank đã nhấn mạnh đến chất lượng tín dụng và tiến độ thu hồi nợ xấu theo kế hoạch trong hội nghị sơ kết hoạt động 6 tháng đầu năm 2015
“Chất lượng tín dụng đã thực sự ở mức đáng lo ngại, nợ xấu và lượng trích lập dự phòng rủi ro lớn nhất từ trước tới nay Kết quả thu hồi nợ xấu, nợ ngoại bảng đạt thấp so với kế hoạch đề ra Rủi ro đạo đức không còn đơn lẻ, cá biệt mà đã được nhận diện ở một số chi nhánh, mà không dừng lại ở cấp cán bộ mà còn lan sang cấp lãnh đạo chi nhánh Kỷ luật
kỷ cương tại một số chi nhánh chưa nghiêm”,
Báo cáo của Vietcombank cho thấy, mặc dù tỷ lệ nợ xấu đã giảm đáng kể so với cuối quý 1/2015 (từ 2,97% xuống 2,43%), nhưng so với cuối năm 2014 là đáng chú ý khi con số tuyệt đối nợ xấu đã tăng thêm 1.006 tỷ đồng
Ngược lại, sau kỷ lục thu hồi nợ xấu 2014, trong nửa đầu năm nay Vietcombank tiếp tục