Tuần 1. Tổng quan văn học Việt Nam tài liệu, giáo án, bài giảng , luận văn, luận án, đồ án, bài tập lớn về tất cả các lĩ...
Trang 1QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN PHÁT TRIỂN CỦA VĂN HỌC VIỆT NAM
Trang 2TIÊU CHÍ VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VĂN HỌC
HIỆN ĐẠI
1) Quá trình hình thành, phát triển Từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX Từ đầu thế kỉ XX đến nay
Trang 3TIÊU CHÍ VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VĂN HỌC
HIỆN ĐẠI
2) Ảnh hưởng Phương Đông (Trung Quốc) Phương Tây
( Pháp )
Trang 4TIÊU CHÍ VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VĂN HỌC
HIỆN ĐẠI
Trang 5TIÊU CHÍ VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VĂN HỌC
Trang 6Một số tác phẩm văn học trung đại Việt Nam: Đại Việt Sử ký Toàn thư,Quốc
âm Thi tập, Hồng Đức Bản đồ (từ trái sang phải):
Trang 7Truyện Kiều - Tác phẩm truyện thơ kinh điển trong Nền Văn học Việt Nam, được viết bởi đại thi hào nguyễn du
Trang 8Bạch Đằng giang phú của Trương Hán Siêu được viết bằng chữ Hán
Trang 9Đại Việt sử ký toàn thư viết bằng chữ Hán và chữ Nôm
Trang 10TIÊU CHÍ VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VĂN HỌC
HIỆN ĐẠI
5) Thể loại Truyền kì, kí sự, tiểu thuyết
chương hồi, chiếu, biểu, hịch, cáo, phú, thơ cổ phong, thơ Đường luật, văn tế, ngâm khúc, truyện
thơ, hát nói,
Thơ mới, tiểu thuyết, kịch nói,
Trang 11TIÊU CHÍ VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VĂN HỌC
HIỆN ĐẠI
6) Thi pháp Biền ngẫu, điển tích, ước lệ Miêu tả chân thật đi sâu vào nội
tâm con người
Trang 12TIÊU CHÍ VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VĂN HỌC
HIỆN ĐẠI
7) Tác giả, tác phẩm tiêu biểu Nguyễn Trãi (Bình Ngô Đại
Cáo), Nguyễn Du(Truyện Kiều), Trần Quốc Tuấn ( Hịch tướng sĩ ), Hồ Xuân Hương (Bánh trôi nước),
Xuân Diệu( Vội vàng, Đây mùa thu tới, ), Huy Cận( Đoàn thuyền đánh cá), Tế Hanh(Quê hương)
Trang 13TIÊU CHÍ VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VĂN HỌC
HIỆN ĐẠI
8) Giai đoạn - 4 giai đoạn :
+ Từ thế kỉ X - XIV + Từ thế kỉ XV - XII + Từ thế kỉ X III- nửa đầu thế kỉ XIX + Nửa sau thế kỉ XIX
- 3 giai đoạn : + Từ thế kỉ XX - tháng 8 năm 1945 + Từ năm 1945 - 1975
+ Từ năm 1975 - nay
Trang 16Thân em vừa trắng lại vừa tròn,
Bảy nổi ba chìm với nước non.
Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn
Mà em vẫn giữ tấm lòng son Bài thơ Bánh trôi nước
của Hồ Xuân Hương
Trang 18Hỡi ơi !
Súng giặc đất rền,
Lòng dân trời tỏ.
Mười năm công vỡ ruộng, xưa ắt còn danh nổi như phao,
Một trận nghĩa đánh Tây, thân tuy mất tếng vang như mõ.
Nhớ linh xưa
Côi cút làm ăn,
Riêng lo nghèo khổ,
Chưa quen cung ngựa đưa tới trường nhung
Chỉ biết ruộng trâu ở theo làng hộ;
Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn làm quen;
Tập khiên, tập mác, tập giáo, tập cờ, mắt chưa từng ngó.
Tiếng phong hạc phập phồng hơn mười tháng, trông tn quan như nắng hạn trông mưa. Mùi tnh chiên vấy vá đã ba năm, ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ.
Đêm thấy bòng bong che trắng lớp, những muốn ăn gan;
Ngày xem ống khói chạy đen xì, toan ra cắn cổ.
Trang 21Mặt trời xuống biển như hòn lửa Sóng đã cài then, đêm sập cửa. Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi, Câu hát căng buồm cùng gió khơi.
Hát rằng: cá bạc biển Đông lặng,
Cá thu biển Đông như đoàn thoi Đêm ngày dệt biển muôn luồng sáng. Đến dệt lưới ta, đoàn cá ơi!
Thuyền ta lái gió với buồm trăng Lướt giữa mây cao với biển bằng,
Trang 22Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác
Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam
Bão táp mưa sa, đứng thẳng hàng.
Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng
Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ
Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân.
Bác nằm trong giấc ngủ bình yên
Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền
Vẫn biết trời xanh là mãi mãi
Mà sao nghe nhói ở trong tm.
Mai về miền Nam thương trào nước mắt Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác Muốn làm đoá hoa toả hương đâu đây Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này
Trang 23BÀI HỌC KẾT THÚC
XIN CHÂN THÀNH CẢM ƠN !
CÔ VÀ CÁC BẠN ĐÃ LĂNG NGHE