1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SKKN Một số biện pháp luyện từ và câu lớp 4

18 234 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 221 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SKKN Một số biện pháp luyện từ và câu lớp 4SKKN Một số biện pháp luyện từ và câu lớp 4SKKN Một số biện pháp luyện từ và câu lớp 4SKKN Một số biện pháp luyện từ và câu lớp 4SKKN Một số biện pháp luyện từ và câu lớp 4SKKN Một số biện pháp luyện từ và câu lớp 4SKKN Một số biện pháp luyện từ và câu lớp 4SKKN Một số biện pháp luyện từ và câu lớp 4SKKN Một số biện pháp luyện từ và câu lớp 4SKKN Một số biện pháp luyện từ và câu lớp 4SKKN Một số biện pháp luyện từ và câu lớp 4SKKN Một số biện pháp luyện từ và câu lớp 4SKKN Một số biện pháp luyện từ và câu lớp 4SKKN Một số biện pháp luyện từ và câu lớp 4

Trang 1

I TÊN ĐỀ TÀI

Một số biện pháp giúp học sinh củng cố ngữ pháp môn Luyện từ và câu lớp 4

II PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Cơ sở lí luận:

Nhận thức được tầm quan trọng của Tiếng Việt trong sự nghiệp giáo dục con người Từ xa xưa ông cha ta đã sử dụng nó một cách tự giác nhằm để giáo dục trẻ nhỏ

Khi chưa có nhà trường, trẻ được giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội Từ thuở nằm nôi, các em được bao bọc trong tiếng hát ru của mẹ, của bà, lớn lên chút nữa những câu chuyện kể có tác dụng to lớn, là dòng sữa ngọt ngào nuôi dưỡng tâm hồn trẻ, rèn luyện các em thành con người có nhân cách, có bản sắc dân tộc góp phần hình thành con người mới, đáp ứng yêu cầu của xã hội đối với những thành viên của mình

Cùng với sự phát triển của xã hội, giáo dục nhà trường xuất hiện như một điều tất yếu, đón bước thiếu nhi cắp sách tới trường Cả thế giới đang mở trước mắt các em Kho tàng văn minh nhân loại được chuyển giao từ những điều sơ đẳng nhất Quá trình giáo dục được thực hiện ở mọi lúc, mọi nơi, tất cả các môn học

Những điều sơ đẳng nhất đã góp phần rất quan trọng trong việc sử dụng ngôn ngữ vào hoạt động giao tiếp của học sinh Ngôn ngữ là thứ công cụ có tác dụng vô cùng to lớn Nó có thể diễn tả tất cả những gì con người nghĩ ra, nhìn thấy biết được những giá trị trừu tượng mà các giác quan không thể vươn tới được Các môn học ở Tiểu học có tác dụng hỗ trợ cho nhau nhằm giáo dục toàn diện học sinh phải kể đến Luyện từ và câu, một phân môn chiếm thời lượng khá lớn trong môn Tiếng Việt ở Tiểu học Nó tách thành một phân môn độc lập, có vị trí ngang bằng với phân môn Tập đọc, Tập làm văn song song tồn tại với các môn học khác Điều đó thể hiện việc cung cấp vốn từ cho học sinh là rất cần thiết và nó có thể mang tính chất cấp bách nhằm “đầu tư” cho học sinh có cơ sở hình thành ngôn ngữ cho hoạt động giao tiếp cũng như chiếm lĩnh nguồn tri thức mới trong các môn học khác Tầm quan trọng đó đã được rèn giũa luyện tập nhuần nhuyễn trong quá trình giải quyết các dạng bài tập trong môn Luyện từ và câu lớp 4

1.2 Cơ sở thực tiễn.

Việc giải quyết các dạng bài tập Luyện từ và câu lớp 4 có hiệu quả đặt ra cho các Giáo viên Tiểu học là một vấn đề không phải đơn giản Qua thực tế dạy tôi đã gặp phải không ít những khó khăn Bởi đây là chương trình thay sách lớp

4 Cùng tồn tại với nó là từ ngữ và ngữ pháp của chương trình cải cách đều đảm nhiệm cung cấp vốn từ cho học sinh, việc hướng dẫn làm các bài tập Luyện từ

và câu mang tính chất máy móc, không mở rộng cho học sinh nắm sâu kiến thức

Trang 2

của bài Về phía học sinh, làm các bài tập chỉ biết làm mà không hiểu tại sao làm như vậy, học sinh không có hứng thú trong việc giải quyết kiến thức Do vậy việc tổ chức cho học sinh trong các giờ giải quyết các bài tập Luyện từ và câu là vấn đề trăn trở cho các giáo viên và ngay bản thân tôi

Trong quá trình dạy học cũng như việc phát hiện học sinh năng khiếu, tôi cũng như một số giáo viên khác khi dạy đến tiết Luyện từ và câu, đặc biệt các khái niệm về từ đơn, từ ghép, các kiểu từ ghép bộc lộ không ít hạn chế Về nội dung chương trình dạy phần đó trong sách giáo khoa rất ít Chính vì vậy học sinh rất khó xác định, dẫn đến tiết học trở nên nhàm chán không thu hút học sinh vào hoạt động này Để tháo gỡ khó khăn đó rất cần có một phương pháp tổ chức tốt nhất, có hiệu quả nhất cho tiết dạy các dạng bài tập Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4

Từ những lý do khách quan và chủ quan đã nêu trên, thông qua việc học tập, giảng dạy trong những năm qua, tôi đã chọn đề tài này để nghiên cứu sâu hơn về phương pháp tổ chức dạy các dạng bài tập Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4, nhằm tìm ra được phương pháp, hình thức tổ chức thích hợp nhất, vận dụng tốt nhất trong quá trình giảng dạy của mình Vì điều kiện, khả năng nghiên cứu có hạn tôi xin mạnh dạn trình bày kết quả nghiên cứu của mình thông qua đề tài

“Một số biện pháp giúp học sinh củng cố ngữ pháp môn Luyện từ và câu lớp 4”.

2 Mục đích nghiên cứu

Với đề tài này mục đích nghiên cứu chính là tìm phương pháp tổ chức thích hợp nhất trong quá trình dạy các dạng bài tập Luyện từ và câu Từ đó vận dụng linh hoạt vào hướng dẫn rèn kỹ năng làm các dạng bài tập Luyện từ và câu cho học sinh một cách hiệu quả nhất

3 Đối tượng nghiên cứu

Hoạt động dạy - học phân môn Luyện từ và câu, cụ thể việc rèn kỹ năng

mở rộng vốn từ cho học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp 4 nói riêng

4 Đối tượng khảo sát thực nghiệm

Học sinh khối 4 Trường tiểu học Hướng Phùng

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện được mục đích của đề tài đặt ra, tôi mạnh dạn nghiên cứu, học hỏi tìm tòi, áp dụng những phương pháp sau:

1 Phương pháp nghiên cứu lý luận (đọc tài liệu)

2 Phương pháp phân tích tổng hợp

3 Phương pháp điều tra

4 Phương pháp thực nghiệm

5 Phương pháp đàm thoại

6 Phương pháp tổng kết, rút kinh nghiệm

6 Phạm vi nghiên cứu và kế hoạch nghiên cứu

Trang 3

Tìm hiểu tình hình học tiếng việt phân môn Luyện từ và câu thực hành xác định phương pháp tổ chức dạy các dạng bài tập luyện từ và câu Đề xuất một số biện pháp thực hiện trong khi dạy học sinh dạng bài này Đối tượng nghiên cứu: Học sinh lớp 4

1 Dự giờ thăm lớp, tiếp xúc gần gũi với học sinh và hiểu tình trạng giải quyết làm các bài tập Luyện từ và câu của giáo viên và học sinh lớp 4

2 Đề ra phương hướng để nâng cao chất lượng làm các bài tập có hiệu quả hơn

3 Dạy thực nghiệm, áp dụng trên lớp đối chứng, phân tích các kết quả bằng số liệu thống kê

II PHẦN NỘI DUNG

1 Cơ sở lí luận

Tiếng Việt rất phong phú và đa dạng Chính vì thế để hiểu và sử dụng được nó quả là vấn đề khômg đơn giản Đặc biệt đối tượng là học sinh tiểu học, các em bắt đầu làm quen với với cách hiểu nghĩa của từ mà vốn từ về sự hiểu biết về xã hội bên ngoài còn rất ít, nên mục tiêu của việc dạy mở rộng vốn từ là giúp học sinh hiểu được nghĩa của từ để lĩnh hội hệ thống tri thức bài học, làm phong phú vốn từ cho học sinh, không chỉ về số lượng mà còn cả về chất lượng, giúp các em tích lũy dần kho từ vựng của mình

Dạy mở rộng vốn từ cho học sinh còn giúp cho học sinh hiểu được nghĩa của từ, từ đó có thể hiểu được bài và nắm nội dung của bài chắc hơn, bên cạnh

đó giúp học sinh dùng từ một cách chính xác hơn Chính vì vậy mà chúng ta không chỉ cung cấp cho học sinh một hệ thống từ mới mà còn giúp học sinh hiểu được cả ý nghĩa của các từ mới.Từ chỗ hiểu được nghĩa của từ mà học sinh sẽ biết cách sử dụng từ ngữ một cách chính xác, linh hoạt, có thể trau dồi và phát triển ngôn ngữ, sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ trong giao tiếp hàng ngày, rèn luyện kỹ năng nghe, nói, đọc, viết, tăng khả năng tư duy và diễn đạt, từ đó góp phần nâng cao khả năng tư duy cho học sinh, giúp các em bày tỏ được những tư tưởng, tình cảm của bản thân một cách dễ dàng

Chương trình Tiểu học mới xác định mục tiêu của môn Tiếng Việt nói chung và của phân môn Luyện từ và câu lớp 4 nói riêng là:

Phải hình thành và phát triển ở học sinh các kỹ năng sử dụng tiếng Việt (nghe, nói, đọc và viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi

Thông qua việc dạy và học tiếng Việt, góp phần rèn luyện các thao tác của

tư duy

Bên cạnh đó cần cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về tiếng Việt và những hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, về văn hóa, văn học của Việt Nam và nước ngoài,

Chúng ta cũng không quên việc bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt, góp phần hình

Trang 4

thành nhân cách con người Việt Nam XHCN: Có tri thức, thấm nhuần truyền thống tốt đẹp của dân tộc, ưa chuộng lối sống lành mạnh, ham thích làm việc

Chính vì những mục tiêu nêu trên nên nhiệm vụ chủ yếu của dạy và học phân môn Luyện từ và câu ở lớp 4 hiện nay, nhiệm vụ chủ yếu là giúp học sinh làm giàu vốn từ, cụ thể: giúp học sinh phát triển mở rộng vốn từ, hiểu nghĩa của

từ và luyện tập sử dụng từ ngữ theo các chủ điểm học tập, gần gũi với đời sống, sinh hoạt của các em Các nhiệm vụ trên được thực hiện thông qua hệ thống bài tập tương ứng mà học sinh được thực hành, luyện tập dưới sự hướng dẫn của giáo viên Cho nên có thể nói chương trình phân môn Luyện từ và câu cũng như các phân môn khác, thuộc môn Tiếng Việt là một chương trình thực hành Ý thức làm giàu vốn từ cho bản thân, ý thức tìm hiểu nghĩa từ ngữ của học sinh, kỹ năng nắm nghĩa từ, kỹ năng của học sinh tất cả đều chỉ được thực hành, phát triển qua việc thực hành luyện tập của học sinh Vì vậy việc dạy học luyện từ và câu ở tiểu học nói chung và lớp 4 nói riêng phải được tổ chức theo tinh thần thực hành, mang tính thực hành Có như vậy việc dạy - học rèn luyện kỹ năng mở rộng vốn từ mới đạt được các mục tiêu đề ra và đạt được hiệu quả mong muốn

2 Cơ sở thực tiễn

Chương trình Tiếng Việt nói chung, phân môn Luyện từ và câu lớp 4 nói riêng, là môn học của tiếng mẹ đẻ, một môn học quan trọng chiếm một vị trí chủ yếu trong chương trình tiểu học ở nước ta Hiện nay dạy Tiếng Việt ở trường tiểu học, theo hai loại yêu cầu: lý thuyết và thực hành

Lý thuyết ngôn ngữ là những tri thức về đặc điểm, quy luật của các hiện tượng ngôn ngữ

Thực hành ngôn ngữ là hoạt động thực tiễn Trong hoạt động này học sinh sử dụng ngôn ngữ để đạt được mục đích cụ thể Thực hành ngôn ngữ dưới dạng tự nhiên chính là sự giao tiếp ngôn từ đọc, nghe hay nói, viết đều làm việc với ngôn bản, văn bản vì như thế mà thực hành ngôn ngữ trong học về tiếng mẹ

đẻ có thể và cần tách thành những hoạt động thực hành bộ phận như thực hành

về câu, thực hành về từ ngữ thì phải có vốn từ phong phú, mà vốn từ là khối từ ngữ cụ thể, hoàn chỉnh mà mỗi học sinh phải tích lũy được trong kí ức của mình Vốn từ của mỗi học sinh không phải em nào cũng giống em nào Có những học sinh giỏi thì vốn từ phong phú hơn, ngược lại những học sinh yếu thì vốn từ hạn chế hơn

Từ những mục tiêu nói trên và căn cứ vào nhiệm vụ của việc dạy và rèn luyện kỹ năng mở rộng vốn từ cho học sinh lớp 4, đặc biệt là căn cứ vào nội dung chương trình sách giáo khoa mới, có thể nhận thấy những yêu cầu cơ bản

về kỹ năng mở rộng vốn từ là:

Từ ngữ được mở rộng và hệ thống hóa trong phân môn Luyện từ và câu

ở lớp 4 bao gồm các từ thuần Việt, Hán Việt, thành ngữ và tục ngữ phù hợp với chủ điểm học tập của từng đơn vị học

Mở rộng, hệ thống hóa vốn từ và trang bị cho học sinh một số hiểu biết

sơ giản về Từ và Câu

Trang 5

Cấu tạo tiếng: Ngoài những vốn từ mà các em đã tích lũy được từ lớp 1,2,3 thì giáo viên cần phải giúp học sinh thêm khoảng trên bảy trăm từ mới Nắm được nghĩa của một số yếu tố Hán Việt, một số thành ngữ, tục ngữ thông dụng Nắm được nghĩa bóng của một số từ trong tác phẩm văn học, nắm được

cấu tạo tếng (âm đầu, vần, thanh) Ví dụ: Như tiếng Nhiễu âm đầu là: Nh; Vần:

iêu; thanh: ngã.

Cấu tạo từ đơn và từ phức; Từ ghép và từ láy

Từ loại dạy học về danh từ, động từ, tính từ

Rèn luyện cho học sinh các kỹ năng dùng từ đặt câu và sử dụng các dấu câu

Các kiểu câu được giảng dạy ở lớp 4: Câu hỏi, câu kể, câu khiến, câu cảm

Các dấu câu: dấu chấm hỏi, dấu chấm than, dấu hai chấm, dấu ngoặc kép, dấu ngoặc đơn

Bồi dưỡng cho học sinh ý thức và thói quen sử dụng tiếng Việt văn hóa trong giao tiếp Thông qua nội dung dạy học và cách tổ chức hoạt động trên lớp, phân môn Luyện từ và câu góp phần bồi dưỡng cho học sinh thói quen dùng từ đúng trong nói, viết thành câu và ý thức sử dụng Tiếng Việt trong giao tiếp phù hợp với các chuẩn mực văn hóa

Kỹ năng tích cực hóa vốn từ có nghĩa là chuyển vốn từ tiêu cực của học sinh thành vốn từ tích cực( vốn từ tiêu cực của một cá nhân có thể hiểu gồm những từ người đó hiểu nhưng không hoặc ít sử dụng trong thực tiễn nói năng Còn vốn từ tích cực gồm những từ thường xuyên được dùng trong nói năng, trong quá trình giao tiếp ngôn từ) Thực tế cho thấy những từ học sinh hiểu được nhưng chúng không đi vào vốn từ tích cực, không đi vào hoạt động giao tiếp của học sinh Vì vậy, việc rèn kỹ năng mở rộng vốn từ trong nhà trường có nhiệm vụ quan trọng, là giúp học sinh chuyển hóa vốn từ tiêu cực thành vốn từ tích cực Nói cách khác, hướng dẫn học sinh tập tích cực hóa vốn từ chính là hướng dẫn học sinh luyện tập sử dụng từ, hình thành và phát triển kỹ năng mở rộng vốn từ cho học sinh

Sử dụng từ chính là lựa chọn từ ngữ trong vốn từ của mình rồi kết hợp các từ ngữ với nhau để tạo thành câu, thành lời theo những nguyên tắc nhất định Như vậy ở đây chủ thể nói năng tiến hành hai thao tác hết sức cơ bản là:

Thao tác lựa chọn, thay thế và thao tác kết hợp, ghép nối Cụ thể để dùng

từ đúng và đạt hiệu quả giao tiếp cao chủ thể nói năng cần tiến hành cho lựa từ

và thay thế từ khi chưa phù hợp, thích hợp Việc lựa chọn, thay thế ở đay không phải là việc làm tùy tiện, dễ dãi mà phải dựa trên những nguyên tắc nhất định

Ví dụ: Từ dùng phải đúng về âm thanh, về nghĩa, đúng với các từ khác trong câu, phù hợp với phong cách ngôn ngữ của văn bản có giá trị biểu hiện, biểu cảm cao phù hợp với các nhân tố của hoạt động giao tiếp

Hoạt động mở rộng vốn từ được thực hiện một cách thường xuyên trong

Trang 6

phân môn Luyện từ và câu Nó mang tính cơ sở, tạo tiền đề cho quá trình vận hành ngôn ngữ của học sinh Qua mở rộng vốn từ, học sinh sẽ làm giàu kho từ vựng của bản thân, đồng thời biết sử dụng từ phù hợp ngữ cảnh để đạt hiệu quả trong giao tiếp

Để rèn luyện cho học sinh các kỹ năng mở rộng vố từ, chương trình Luyện từ và câu đã xây dựng các hệ thống bài tập để học sinh luyện tập Vì vậy

tổ chức thực hành cũng chính là tổ chức cho học sinh thực hiện các bài tập về từ

và câu

Do chương trình Tiếng Việt ở tiểu học nói chung và phân môn Luyện từ và câu lớp 4 nói riêng được xây dựng trên định hướng giao tiếp và tích hợp nên việcchia theo các nội dung kỹ năng để thực hành luyện tập chỉ có tính chất tương đối Trong thực tế ít có những bài tập thuần túy về từ hay câu Có những bài tập vừa nhằm mục đích luyện từ vừa tạo câu, bài tập vừa mở rộng vốn từ, giải nghĩa từ vừa hệ thống hóa vốn từ

3 Thực trạng

3.1 Thuận lợi

Số tiết Luyện từ và câu của chính sách giáo khoa lớp 4 gồm 2 tiết/tuần Sau mỗi tiết hình thành kiến thức là một loạt các bài tập củng cố bài Mà việc xác định phương pháp tổ chức cho một tiết dạy như vậy là hết sức cần thiết

Phân môn “Luyện từ và câu” tạo cho học sinh môi trường giao tiếp để

học sinh mở rộng vốn từ có định hướng, trang bị cho học sinh các kiến thức cơ bản về Tiếng Việt gắn với các tình huống giao tiếp thường gặp Từ đó nâng cao các kỹ năng sử dụng Tiếng Việt của học sinh Giáo viên là một trong 3 nhân tố

cần được xem xét của quá trình dạy học “Luyện từ và câu”, là nhân tố quyết

định sự thành công của quá trình dạy học này Khi nghiên cứu quá trình dạy

hướng dẫn học sinh làm các dạng bài tập “Luyện từ và câu” cho học sinh lớp

4A, tôi thấy thực trạng của giáo viên như sau:

- Phân môn “Luyện từ và câu” là phần kiến thức khó trong khi hướng dẫn học

sinh nắm được yêu cầu và vận dụng vào việc làm các bài tập nên dẫn đến tâm lý giáo viên ngại bởi việc vận dụng của giáo viên còn lúng túng gặp khó khăn

- Giáo viên một số ít không chịu đầu tư thời gian cho việc nghiên cứu để khai thác kiến thức và tìm ra phương pháp phù hợp với học sinh, lệ thuộc vào đáp án, gợi ý dẫn đến học sinh ngại học phân môn này

- Cách dạy của một số giáo viên còn đơn điệu, lệ thuộc máy móc vào sách giáo khoa, hầu như ít sáng tạo, chưa thu hút lôi cuốn học sinh

- Nhiều giáo viên chưa quan tâm đến việc mở rộng vốn từ, phát triển vốn

từ cho học sinh, giúp học sinh làm giàu vốn hiểu biết phong phú về Tiếng Việt

- Thực tế trong trường tôi công tác, chúng tôi thường rất tích cực đổi mới phương pháp dạy sao cho có hiệu quả nhất ở môn học này Đồng thời là tiền đề trong việc phát triển bồi dưỡng những em có năng khiếu Nhưng kết quả giảng dạy và hiệu quả còn bộc lộ không ít những hạn chế

Trang 7

3.2 Khó khăn

Hầu hết học sinh chưa hiểu hết vị trí, tầm quan trọng, tác dụng của phân

môn “Luyện từ và câu” nên chưa dành thời gian thích đáng để học môn này.

Học sinh không có hứng thú học phân môn này Các em đều cho đây là

phân môn vừa “khô” vừa “khó”.

Nhiều học sinh chưa nắm rõ khái niệm của từ, câu Từ đó dẫn đến việc nhận diện phân loại, xác định hướng làm bài lệch lạc Việc xác định còn nhầm lẫn nhiều

Học sinh chưa có thói quen phân tích dữ kiện của đầu bài, thường hay bỏ sót, làm sai hoặc không làm hết yêu cầu của đề bài

Thực tế cho thấy nhiều học sinh khi hỏi đến lý thuyết thì trả lời rất trôi chảy, chính xác, nhưng khi làm bài tập thực hành thì lúng túng và làm bài không đạt yêu cầu Điều đó thể hiện học sinh nắm kiến thức một cách máy móc, thụ động và tỏ ra yếu kém thiếu chắc chắn

4 Các biện pháp thực hiện

Với đặc trưng của môn “Luyện từ và câu” cùng các mâu thuẫn giữa yêu cầu

của xã hội, nhu cầu hiểu biết của học sinh với thực trạng giảng dạy của giáo viên, việc học của học sinh trường tôi, đồng thời để củng cố nâng cao kiến thức,

kỹ năng làm các bài tập “Luyện từ và câu” cho học sinh lớp 4 Tôi đã nghiên

cứu và rút ra được nhiều kinh nghiệm thông qua các bài học trên lớp, trước hết tôi yêu cầu học sinh thực hiện theo các bước sau

1 Đọc thật kỹ đề bài.

2 Nắm chắc yêu cầu của đề bài Phân tích mối quan hệ giữa yếu tố đã cho và yếu tố phải tìm.

3 Vận dụng kiến thức đã học để thực hiện lần lượt từng yêu cầu của đề bài.

4 Kiểm tra đánh giá.

Đặc biệt tôi cũng mạnh dạn đưa ra từng bước hướng dẫn các phương pháp

rèn luyện kỹ năng làm các dạng bài tập “Luyện từ và câu” Muốn học sinh làm

bài một cách có hiệu quả, trước hết các em phải nắm chắc kiến thức, vì đó là bước quan trọng cho cả giáo viên và học sinh

Mỗi một dạng bài tập cụ thể, bài tập riêng đều có một hình thức tổ chức riêng Có thể theo nhóm, làm việc cả lớp hoặc làm việc cá nhân Song song với các hình thức đó là phương pháp hình thành giải quyết vấn đề cho học sinh

Muốn làm được việc đó trước tiên học sinh phải hiểu rõ đặc điểm của nội

dung các chủ điểm mà phân môn “ Luyện từ và câu” cần cung cấp.

Qua các bài mở rộng vốn từ học sinh được:

Cung cấp thêm các từ ngữ mới theo chủ điểm hoặc nghĩa, các yếu tố hán việt; rèn luyện khả năng huy động vốn từ theo chủ điểm; rèn luyện sử dụng từ,

sử dụng thành ngữ tục ngữ

Trang 8

Thông qua các bài tập cấu tạo của tiếng, cấu tạo của từng học sinh được: Tìm hiểu về cấu tạo của tiếng, nhận diện được hiện tượng bắt đầu từ vấn đề trong thơ, tìm hiểu phương thức tạo từ mới để phục vụ cho nhu cầu giao tiếp Học sinh cần tìm hiểu được:

Có 2 cách để tạo từ phức:

1 Ghép những tiếng có nghĩa lại với nhau là từ ghép

2 Phối hợp những tiếng có âm đầu hay vần (hoặc cả âm đầu và vần) giống nhau đó là từ láy

Thông qua các bài tập về từ loại: Học sinh được cung cấp kiến thức sơ giản về danh từ, động từ, tính từ gắn bó với các tình huống sử dụng

Cần lưu ý:

Tạo ra các từ ghép hoặc từ láy với tính từ đã cho

Thêm vào các từ rất, quá, lắm vào trước hoặc sau tính từ

Tạo ra phép so sánh

Thông qua các bài tập về câu, học sinh được rèn luyện năng lực sử dụng các kiểu câu tuỳ theo nhu cầu, lĩnh vực giao tiếp

Ví dụ: Nhiều khi ta có thể sử dụng câu hỏi để thực hiện:

1 Thái độ khen, chê

2 Sự khẳng định, phủ định

3 Yêu cầu, mong muốn

- Đặc biệt rất chú trọng đến việc dạy học sinh biết giữ phép lịch sự trong giao tiếp Cụ thể: Khi hỏi chuyện người khác cần giữ phép lịch sự

Câu hỏi:

1 Cần thưa gửi, xưng hô cho phù hợp với quan hệ giữa mình với người được

hỏi

2 Cần tránh những câu hỏi làm phiền lòng người khác

Câu khiến:

1 Khi yêu cầu, đề nghị phải giữ phép lịch sự

2 Muốn cho lời yêu cầu, được đề nghị lịch sự, cần có cách xưng hô cho phù hợp và thêm vào trước hoặc sau động từ: Làm ơn, giùm, giúp

3 Có thể dùng câu hỏi, kiểu câu nếu yêu cầu đề nghị

a Đối với các dạng bài tập mở rộng vốn từ.

Ví dụ: Tìm các từ ngữ:

Thể hiện lòng nhân hậu, tình cảm yêu thương đồng loại

Trái nghĩa với nhân hậu hoặc yêu thương

Thể hiện tinh thần đùm bọc, giúp đỡ đồng loại

Trang 9

Trái nghĩa với với đùm bọc hoặc giúp đỡ.

Ngoài việc sử dụng hướng mẫu trong sách giáo khoa Giáo viên yêu cầu

học sinh làm việc theo nhóm (4 nhóm) Mỗi nhóm một yêu cầu, sau khi đại diện

nhóm trả lời cho học sinh làm việc ở lớp

Nhóm 1: Lòng thương người, đùm bọc, giúp đỡ

Nêu ý nghĩa của các từ em tìm được Các nhóm cùng bổ sung, giáo viên chốt lại ý kiến đúng

Liên hệ giữa tình huống học sinh đã làm được trong cuộc sống, quá trình học tập

b Rèn luyện kĩ năng cấu tạo từ – dạng bài tập tìm từ ghép, từ láy.

Ví dụ: Tìm từ láy, từ ghép chứa các tiếng sau đây.

- Ngay

- Thẳng

- Thật Đối với các dạng bài tập này tổ chức cho học sinh làm việc theo nhóm trong phiếu Giáo viên có thể sử dụng phương pháp động não thu nạp rất nhiều

từ, từ quá trình học sinh, mỗi nhóm hoạt động một nhiệm vụ với từ (Ngay, thẳng, thật)

Cùng yêu cầu của bài đã cho học sinh chọn từ để đặt câu với từ đó Giáo viên cho học sinh làm việc cá nhân

* Cho học sinh so sánh từ láy, từ ghép:

Giáo viên chốt lại : Từ bao giờ cũng có nghĩa vì nó là đơn vị nhỏ nhất để đặt câu

Từ láy, từ ghép đều là từ có nghĩa Từ láy là phối hợp những tiếng có phụ âm đầu, vần hoặc cả âm đầu và giống nhau gọi là từ láy Từ ghép là ghép những tiếng có nghĩa lại với nhau, đó là từ ghép Dựa vào cấu tạo trên mà học sinh có thể xác định từ ghép và từ láy Giáo viên có thể lấy thêm ví dụ:

Từ ghép: Cơn mưa, nhà cửa, bông hoa

Từ láy: Luộm thuộm, chăm chỉ

c Luyện tập các bài có dạng về tính từ, động từ, danh từ.

Trong đó chương trình sách giáo khoa cũng lựa chọn những tình huống giao tiếp gắn bó với cuộc sống gần gũi của học sinh

Trang 10

Ví dụ1: Viết họ và tên 3 bạn nam, 3 bạn nữ trong lớp em Họ và tên các

bạn ấy là danh từ chung hay danh từ riêng? vì sao?

Với bài này tôi đã gợi ý cho học sinh: Xác định tên của bạn mình, viết, ghi rõ họ, tên Lưu ý đó là danh từ chung hay danh từ riêng

Cho học sinh làm việc cá nhân, nêu miệng Phần học này học sinh thường hay mắc lỗi ở vạch danh từ chung

Tôi yêu cầu các em nêu lại danh từ chung là gì? Dùng phép “suy” để học

sinh áp dụng vào bài của mình

Ví dụ 2: Gạch dưới các động từ trong đoạn văn sau:

Yiết Kiêu đến kinh đô yết kiến vua Trần Nhân Tông

Nhà vua: Trẫm cho nhà ngươi nhận một loại binh khí

Yết Kiêu: Thần chỉ xin một chiếc dùi sắt

Nhà vua: Để làm gì ?

Yết Kiêu: Để dùi những chiếc thuyền của giặc vì thần có thể lặn hàng giờ dưới

nước.

Tôi đã cho học sinh làm việc theo nhóm Học sinh trong nhóm thảo luận nêu trước lớp

Lưu ý có 2 từ “dùi” từ nào là động từ ? Lấy ví dụ trường hợp khác.

Người ta lấy cái đục là cái lỗ để nước đục chảy ra.

Ví dụ 3: Tìm những từ ngữ biểu thị mức độ của đặc điểm, tính chất được

gạch chân trong đoạn văn sau:

Hoa cà phê thơm đậm và ngọt lên mùi hương thường theo gió bay đi rất

xa Nhà thơ Xuân Diệu chỉ có một lần đến đây ngắm nhìn của cà phê đã phải thốt lên

Hoa cà phê thơm lắm em ơi Hoa cùng một điệu với hoa nhài Trong ngà trắng ngọc, xinh và sáng.

Như miệng em cười đâu đây thôi

Đây là bài tập để rèn luyện về tính từ và bài này hơi trừu tượng với học sinh Cho các em phân tích đề bài trước vì yều cầu của bài không quen thuộc với học sinh; các em đã hiểu.Tìm những từ biểu thị mức độ của đặc điểm tính chất của

cá từ gạng chân cụ thể: Hoà cà phê thơm như thế nào? (thơm đậm và ngọt ) nên mùi hương bay đi rất xa Lần lượt học sinh tìm (trả lời cá nhân theo phương pháp động não):

Thơm – lắm Trong – ngà Trắng – ngọc Như vậy các em thấy quen thuộc với cách làm của bài này

Ngày đăng: 12/12/2017, 17:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w