Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản cũng là loại tội phạm có nhiều dấu hiệu liên quan đến các tranh chấp dân sự, do đ , việc phát hiện tội phạm nhiều khi bị bỏ lọt hoặc bị chậm tr
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
K
LÊ THỊ THU HƯỜNG
TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Luậ
Mã s : 60.38.01.04
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI – 2017
Trang 2Công trình được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
hồi giờ ngày tháng năm 2017
th t m hi u luận văn tại:
hư viện Học viện Khoa học xã hội
Trang 3
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đứng trước công cuộc đổi mới và hội nhập thế giới, đất nước ta không ngừng phát tri n cả về trí và lực Điều kiện kinh tế, xã hội của con người ngày càng cao, trình độ của người dân cũng ngày một phát tri n Bên cạnh những thành tựu trên các lĩnh vực về kinh tế, văn hoá, chính trị, xã hội nước ta đã đạt được, mặt trái của sự phát tri n không th không nói đến tình hình tội phạm ngày càng phức tạp hơn, các loại tội phạm hoạt động ngày càng tinh vi với tính chất và mức độ nguy hi m ngày càng nghiêm trọng Dưới sự phát tri n của nền kinh tế thị trường, đời sống của người dân ngày một nâng cao lại làm các tội phạm xâm phạm sở hữu càng nảy sinh thêm lòng tham, ý muốn chiếm đoạt tài sản có giá trị của người khác đ phục vụ cho bản thân Một trong các loại tội xâm phạm sở hữu cần nói đến là tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Bằng các thủ đoạn ngày càng tinh vi và phức tạp, tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có th gây ra rất nhiều thiệt hại cho người dân, những người vì sự tin tưởng mà trao tài sản cho người phạm tội ũng chính vì sự tin tưởng này mà nhiều người dân bị hại có th mất đi những tài sản rất lớn, nhiều khi dẫn tới kiệt quệ
về kinh tế, lâm vào cảnh nợ nần chồng chất Điều này không những xâm phạm quyền sở hữu của người dân mà còn gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của những người bị hại, gây ra tác hại xấu cho cộng đồng, xã hội, làm mất lòng tin của nhân dân
Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản cũng là loại tội phạm có nhiều dấu hiệu liên quan đến các tranh chấp dân sự, do đ , việc phát hiện tội phạm nhiều khi bị
bỏ lọt hoặc bị chậm trễ dẫn đến thiệt hại cho người dân chậm được khắc phục, quyền của công dân bị xâm phạm do tội phạm có liên quan đến vấn đề hình sự hoá các quan hệ dân sự, kinh tế Việc tồn tại tình trạng như vậy là do các quy phạm pháp luật điều chỉnh các vấn đề liên quan đến tội phạm này còn chưa thống nhất, các cơ quan áp dụng pháp luật nhiều khi còn lúng túng trong quá trình áp dụng, gây ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả, chất lượng quá trình điều tra, truy tố, xét xử tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Việc nghiên cứu sâu về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định của luật hình sự Việt Nam đặt ra vấn đề cần quan tâm
Nghiên cứu về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trong những năm gần đây thực tiễn cũng đặt ra nhiều vấn đề cần tìm hi u kỹ càng Đặc biệt, việc nghiên cứu vấn đề tội phạm này trên địa bàn thủ đô Hà Nội- trung tâm văn hoá, chính trị của đất nước lại càng cần thiết hơn, bởi lẽ Hà Nội là một trong những thành phố đi đầu về sự phát tri n, đây cũng sẽ là nơi thu hút nhiều tội phạm xâm phạm về sở hữu trong đ có tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Tình hình tội phạm nói chung, tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nói riêng không được quan tâm, làm rõ đ kịp thời khắc phục sẽ gây ảnh hưởng tiêu cực đến bộ mặt của thủ đô Tuy nhiên, trong các đề tài nghiên cứu những năm gần đây, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản lại ít được nghiên cứu đầy đủ và toàn diện Các vấn đề về thực
Trang 4tiễn liên quan đến tội phạm này trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng cũng chưa được đi sâu nghiên cứu, bám sát Thực tiễn đặt ra rằng, vẫn còn nhiều vướng mắc trong vấn đề định tội danh, quyết định hình phạt đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Điều này sẽ gây ảnh hưởng không nhỏ đến công tác đấu tranh phòng ngừa tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nói riêng, các loại tội phạm nói chung
Xuất phát từ tính cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn, nhằm đ ng góp và đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng đối với tội lạm dụng tín nhiệm
chiếm đoạt tài sản, tác giả đã lựa chọn đề tài: "Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài
sản theo luật hình sự Việt Nam" (Trên cơ sở thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội)
làm đề tài luận văn thạc sỹ
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Quá trình nghiên cứu đề tài, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là tội phạm có tính tinh vi và phức tạp Tội phạm này đã được đề cập trong một số giáo trình, sách, báo, bài viết gồm có:
- Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, tập II của trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội (2015); Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần các
tội phạm) của Khoa luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội; Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm) của GS TS Võ Khánh Vinh
(Chủ biên), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội (2003); Bình luận khoa học Bộ luật hình
sự (Phần các tội phạm), tập 2- Các tội xâm phạm sở hữu của ThS Đinh Văn Quế,
Nxb Tp Hồ Chí Minh (2002); Bình luận khoa học Bộ luật hình sự 1999 (Phần các
tội phạm) của tập th tác giả TS Phùng Thế Vắc, TS Trần Văn Luyện, LS ThS
Phạm Thanh Bình, TS Nguyễn Đức Mai, ThS Nguyễn Sỹ Đại, ThS Nguyễn Mai
Bộ, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội (2001), Các công trình trong sách, giáo trình nói trên, các tác giả đã đề cập đến nội dung về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Tuy nhiên, các công trình chỉ dừng lại ở những khái niệm, dấu hiệu cơ bản, những bình luận một cách tổng quan làm khuôn mẫu cho các đề tài nghiên cứu mà chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện và có hệ thống về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản dưới góc độ pháp lý hình sự
- Đề tài "Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có đối tượng là tài sản có
đăng ký quyền sở hữu, sử dụng theo luật hình sự Việt Nam"- Luận văn Thạc sỹ năm
2012 của tác giả Hồ Ngọc Hải; Đề tài "Định tội danh đối với tội lạm dụng tín nhiệm
chiếm đoạt tài sản"- nghiên cứu của ThS Võ Văn Tài, Giảng viên khoa Ki m sát
hình sự; Đề tài “Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo Điều 140 BLHS
1999” của Nguyễn Thu Vân, Luận văn thạc sỹ Các đề tài nêu trên đã đề cập đến tội
lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản dưới góc độ luật hình sự và tội phạm học Tuy nhiên, các đề tài nghiên cứu đều chỉ nghiên cứu một phần hoặc một góc độ liên quan đến tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản mà chưa nghiên cứu một cách toàn diện về tội phạm này Hơn nữa, các đề tài cũng chưa nghiên cứu sâu về thực tiễn đối với tội phạm trên địa bàn thành phố Hà Nội- là một đi m nóng về tội phạm nói chung, tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nói riêng
Trang 5- Bài viết "Tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” – Một số vướng mắc
trong thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện" của ThS Trần Duy Bình, Toà án nhân dân
tỉnh An Giang cũng đã đề cập đến tội phạm này dưới góc độ luật hình sự Nhưng bài viết chỉ đưa ra những vấn đề vướng mắc trong thực tiễn và một số kiến nghị hoàn thiện mà chưa đi vào phân tích chuyên sâu các vấn đề về tội phạm, các dấu hiệu hay trách nhiệm hình sự của tội phạm
Từ những công trình, bài viết, tài liệu được trình bày ở trên, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trên cơ sở thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội còn là vấn đề
bỏ ngỏ Đến thời đi m này, đề tài "Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo luật
hình sự Việt Nam" (Trên cơ sở thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội) là đề tài có tính
3.2 Nhiệm v nghiên cứu
Từ mục đích nghiên cứu được đặt ra ở trên, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn bao gồm:
Thứ nhất, nghiên cứu, đưa ra khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản; làm rõ lịch sử hình thành và phát tri n các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Thứ hai, làm rõ các hình thức trách nhiệm hình sự đối với tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản; so sánh tội phạm với một số tội phạm khác gần gũi
Thứ ba, phân tích, làm rõ về thực tiễn xét xử tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trên địa bàn thành phố Hà Nội; tìm ra những khó khăn, vướng mắc trong quá trình giải quyết vụ án, áp dụng pháp luật Từ đ , kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng những quy định của pháp luật hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đ i ượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và các bản án về tội phạm này
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định của luật hình sự Việt Nam trên cơ sở số liệu thực tiễn xét xử tại TAND hai cấp địa bàn thành phố Hà Nội dưới góc độ pháp lý hình sự trong thời
Trang 6gian 05 năm từ năm 2012 đến năm 2016 Góc độ nghiên cứu tập trung chủ yếu vào các số liệu xét xử thực tiễn tại TAND hai cấp thành phố Hà Nội trong phạm vi 05 năm qua 100 bản án về tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của TAND hai cấp thành phố Hà Nội
Đến thời đi m nghiên cứu đề tài, Bộ luật hình sự 2015 đang được sửa đổi, hoàn thiện, chưa có hiệu lực Các quy định hiện hành về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được tiến hành theo Bộ luật hình sự 1999
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 P ươ pháp luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận từ phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử theo quan đi m của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh Ngoài ra, tác giả còn dựa trên các quan đi m, chính sách của Đảng và Nhà nước về các lĩnh vực trong đ có đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nói riêng
5.2 P ươ pháp nghiên cứu
u tr nh nghie n cứu đề t i, tác giả sử dụng c c phu o ng ph p nghie n cứu của khoa học luạ t h nh sự nhu : pha n tích, tổng hợp, thống ke ; phu o ng ph p so s nh, đối chiếu; pha n tích quy phạm ph p luạ t, khảo s t thực tiễn; điều tra n đi n h nh đ pha n tích v luạ n chứng c c vấn đề khoa học cần nghie n cứu
Ngo i ra, trong qu tr nh thực hi n đề t i, t c giả đã tiếp thu c chọn lọc kết quả của c c co ng tr nh nghie n cứu đã co ng bố, c c đ nh gi , tổng kết của c c
co quan chuye n mo n v c c chuye n gia về những vấn đề c lie n quan đến
c c vấn đề nghie n cứu trong luạ n va n
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu toàn diện, có hệ thống về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Ý nghĩa của luận văn có th k đến:
Về mặt lý luận, kết quả nghie n cứu của luạ n va n g p phần ho n thi n
l luạ n về tọ i phạm n i chung, tọ i lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trong khoa học luạ t h nh sự Vi t Nam n i rie ng Luận văn có ý nghĩa cung cấp thêm
cơ sở lý luận, làm phong phú thêm về mặt tài liệu nghiên cứu khoa học đ tham khảo cho những bài viết, công trình, bài giảng có liên quan
Về mặt thực tiễn, luạ n va n c nghĩa đưa ra một số đề xuất, kiến nghị, cung cấp những luạ n cứ khoa học phục vụ cho co ng t c lạ p ph p v hoạt
đọ ng thực tiễn p dụng Bọ luạ t h nh sự Vi t Nam lie n quan đến tọ i lạm dụng tín nhi m chiếm đoạt t i sản, qua đ g p phần na ng cao hi u quả co ng
t c đấu tranh ph ng ngừa tọ i n y trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng, ở nước
ta nói chung hi n nay v sắp tới
Với ý nghĩa như trên, luận văn có những đ ng góp mới gồm:
- Phân tích, làm sáng tỏ các vấn đề lý luận, phân tích sự phát tri n các quy định về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trong lịch sử lập pháp Việt Nam,
so sánh, đối chiếu các quy định của Bộ luật hình sự 1999 và Bộ luật hình sự 2015 và
so sánh các quy định của tội phạm này với một số nước trên thế giới
Trang 7- Phân tích, đ nh giá những quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, các hình thức trách nhiệm hình
sự, so sánh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản với một số tội phạm gần gũi
- Phân tích thực tiễn xét xử tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trên địa bàn thành phố Hà Nội, nêu được những hạn chế, khó khăn trong thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội phạm Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng những quy định của pháp luật hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng cũng như cả nước nói chung
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được kết cấu gồm 3 chương, cụ th :
Chương 1 Lý luận về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định của luật hình sự Việt Nam
Chương 2 Quy định của pháp luật hiện hành về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Chương 3 Thực tiễn xét xử tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trên địa bàn thành phố Hà Nội và kiến nghị nâng cao hiệu quả áp dụng
Chương 1
LÝ LUẬN VỀ TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1 Khái niệm, các dấu hiệu pháp lý của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
1.1.1 Khái niệm tội lạm d ng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Từ các khái niệm chung, quy định về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được ghi nhận trong BLHS 1999, tác giả xin đưa ra khái niệm về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản như sau:
Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là hành vi nguy hiểm cho xã hội của người phạm tội lợi dụng lòng tin của người khác, sử dụng hành vi vay, mượn, thuê tài sản hoặc nhận tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng trở lên bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn với mục đích chiếm đoạt tài sản hoặc sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không
có khả năng trả lại tài sản, do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý, trái pháp luật hình sự, xâm phạm quyền sở hữu được pháp luật hình sự bảo vệ
1.1.2 Các dấu hiệu pháp lý của tội lạm d ng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
1.1.2.1 Khách thể của tội phạm
Khách th chung của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là quan hệ sở hữu, trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa Khách th trực tiếp của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là quan hệ sở hữu tài sản
Trang 8Đối tượng tác động của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là tài sản của công dân, tổ chức, nhà nước Các tài sản bị chiếm đoạt là đối tượng tác động của tội lạm dung tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được các nhà làm luật quy định về yếu tố định lượng tài sản
1.1.2.2 Chủ thể của tội phạm
Chủ th của tội phạm này có th là bất kỳ ai có đủ điều kiện chủ th tội phạm Cần lưu ý với các trường hợp người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ có th bị truy cứu TNHS khi thực hiện hành vi thuộc một trong các tình tiết định khung tại Khoản
3 và Khoản 4 Điều 140 BLHS là trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý Người từ đủ 16 tuổi trở lên có th bị truy cứu TNHS về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định của các khung từ Khoản 1 đến Khoản 4 Điều 140 BLHS 1999
1.1.2.3 Mặt khách quan của tội phạm
Đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, hành vi khách quan của tội phạm được th hiện là hành vi chiếm đoạt toàn bộ hay một phần tài sản đã được giao
trên cơ sở: “Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của
người khác bằng các hình thức hợp đồng” Hành vi khách quan của tội lạm dụng tín
nhiệm chiếm đoạt tài sản mang ba đặc đi m cơ bản của hành vi khách quan là: hành
vi gây thiệt hại về vật chất cho chủ sở hữu; nguy hi m cho xã hội; và hành vi đã được tính toán cân nhắc là hoạt động có ý thức và ý chí của chủ th , được thực hiện dưới hình thức hành động phạm tội đã vi phạm quy định tại Điều 140 BLHS 1999
Hành vi khách quan của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản đ hình thành tội phạm bao gồm một chuỗi các hành vi Sau khi nhận được tài sản một cách hợp pháp, người phạm tội mới tiếp tục có hành vi chiếm đoạt tài sản được giao Đây
là hành vi mang tính quan trọng nhất dẫn đến cấu thành tội phạm Không có hành vi chiếm đoạt này thì không có tội phạm xảy ra
Hành vi chiếm đoạt tài sản trong tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được bi u hiện qua các thủ đoạn như: gian dối, bỏ trốn, hoặc sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản cho chủ sở hữu
Cần lưu ý, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều
140 BLHS 1999 sửa đổi 2009 có quy định về các thủ đoạn người phạm tội thực hiện
đ hình thành hành vi chiếm đoạt tài sản: Thủ đoạn đầu tiên là thủ đoạn gian dối; Thủ đoạn thứ hai là thủ đoạn bỏ trốn; Thủ đoạn thứ ba là người phạm tội sau khi có được tài sản đã sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến việc không trả lại tài sản được
Hậu quả của tội lạm dụng tín nhiện chiếm đoạt tài sản:
Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là tội phạm có cấu thành vật chất Hậu quả là dấu hiệu được ghi nhận trong cấu thành tội phạm tại Điều 140 BLHS
1999 Nhà làm luật quy định yếu tố định lượng về tài sản chiếm đoạt trong chính cấu thành tội phạm Hành vi chiếm đoạt xảy ra trước hậu quả về mặt thời gian và hậu quả là kết quả trực tiếp của hành vi chiếm đoạt
Các yếu tố về địa đi m, thời gian, v.v không phải là dấu hiệu bắt buộc trong mặt khách quan của cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Trang 91.1.2.4 Mặt chủ quan của tội phạm
Đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, hình thức lỗi thuộc mặt chủ quan của người phạm tội là lỗi cố ý và cụ th hơn nữa là lỗi cố ý trực tiếp Ở tội phạm này, người phạm tội nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của mình là hành
vi nguy hi m cho xã hội, thấy được hậu quả của hành vi mình thực hiện xâm phạm đến quan hệ sở hữu được pháp luật hình sự bảo vệ
Khi xác định lỗi đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản cần lưu ý: ban đầu, khi giao kết hợp đồng hợp pháp và nhận được tài sản, người phạm tội vẫn
có ý chí, ý định thực hiện hợp đồng đ Chỉ đến giai đoạn sau khi đã giao kết hợp đồng và nhận được tài sản đ , người phạm tội mới nảy sinh ý định phạm tội và thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản bằng các thủ đoạn đã được cấu thành tội phạm ghi nhận Vấn đề cần lưu ý thứ hai là: Thời đi m nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản là căn cứ rất quan trọng đ phân biệt tội lạm dụng chiếm đoạt tài sản với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Động cơ phạm tội đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản không phải là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm Tuy nhiên, khi phân tích các dấu hiệu của tội phạm này có th thấy động cơ phạm tội xuất phát từ việc tư lợi, vụ lợi,
do ham muốn những lợi ích nhất định
Đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, mục đích của chủ th phạm tội là mong muốn có được những tài sản bằng các thủ đoạn do lợi dụng lòng tin của chủ sở hữu Do đ , dù người phạm tội biết rõ hành vi của mình gây ảnh hưởng xấu cho xã hội, xâm phạm đến quan hệ sở hữu được pháp luật bảo vệ nhưng vì mục đích
vụ lợi của bản thân, chủ th vẫn cố ý thực hiện tội phạm
1.2 Lịch sử phát triển, các quy định của luật hình sự của Việt Nam đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Chính sách hình sự nói chung của pháp luật hình sự Việt Nam từ các thời kỳ trước đã có những quy định ban đầu về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Một cách chung nhất, pháp luật hình sự Việt Nam coi hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, xâm phạm đến quyền sở hữu được pháp luật bảo vệ là hành vi nguy hi m cho xã hội từ rất sớm
1.2.1 Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định của pháp luật hình
sự Việt Nam giai đoạn từ 1945 đến trước khi Bộ luật hình sự 1985 có hiệu lực
Trong giai đoạn Cách mạng tháng Tám mới thành công, nổi bật trong giai đoạn này là hai Sắc lệnh: Sắc lệnh số 26/SL ngày 25/02/1945 trừng trị các tội phá hủy công sản;Sắc lệnh số 27/SL ngày 28/02/1946 trừng trị tội tham ô, tội tống tiền, tội bắt cóc, ám sát, tội đ nh bạc,…; Sắc lệnh số 233/SL ngày 17/11/1946 trừng trị các tội phù lạm, bi n thủ công quỹ;… Trong các văn bản pháp luật lúc này lại chưa có quy định
cụ th ghi nhận về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Tội phạm này chủ yếu được xét xử theo nguyên tắc của án lệ, được quy định với tên gọi “Bội tín” theo Thông tư số 442/TTg ngày 19/01/1955 của Thủ tướng chính phủ về việc trừng trị một
số tội phạm: “2 Lừa gạt, bội tín: phạt tù từ ba tháng đến năm năm”
Đến giai đoạn 1970, nhà nước ban hành Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa và Pháp lệnh số 150/PL trừng trị các tội xâm phạm tài sản
Trang 10riêng của công dân ngày 21/10/1970 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Tại đây, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản lần đầu tiên được ghi nhận thành một tội phạm độc lập với các dấu hiệu pháp lý đặc trưng, các khung hình phạt cụ th Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa ghi nhận tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản tại Điều 11 Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân tại Điều 11
Giai đoạn 1975, chính phủ lâm thời miền Nam Việt Nam mới thành lập cũng
đã ban hành các văn bản pháp luật đ bảo vệ các quyền cơ bản của công dân, của nhà nước Sắc luật số 03/SL-1976 ngày 15/03/1976 Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam quy định các tội phạm và hình phạt được áp dụng ở miền Nam Việt Nam, tại đây, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được ghi
nhận với tên gọi “Bội tín”: “…b Phạm các tội khác như: trộm cắp, tham ô, lừa đảo,
bội tín, cướp giật, cưỡng đoạt, chiếm giữ trái phép thì bị phạt tù từ sáu tháng đến bẩy năm…” (Đi m b Điều 4)
1.2.2 Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định của pháp luật hình
sự Việt Nam giai đoạn từ 1985 đến trước khi Bộ luật hình sự 1999 có hiệu lực
Bộ luật Hình sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được Quốc hội thông qua ngày 27/6/1985, có hiệu lực từ ngày 01/01/1986
Tại đây, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được ghi nhận và quy định thành tội danh riêng tại hai điều luật Điều 135 (tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản XHCN), Điều 158 (tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của công dân)
Trong tiến trình hoàn thiện hệ thống luật pháp, BLHS 1985 đã được sửa đổi,
bổ sung bốn lần vào các năm 1989; 1991; 1992; 1997 Trong đ , tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản XHCN (Điều 135) được sửa đổi, bổ sung hai lần vào các năm 1991 và 1992; tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của công dân được sửa đổi, bổ sung một lần vào năm 1991 Các lần sửa đổi, bổ sung đối với tội phạm này chỉ sửa đổi, bổ sung khung tăng nặng của tội phạm vẫn chưa sửa đổi, bổ sung cấu thành cơ bản đ làm rõ dấu hiệu về hành vi khách quan của tội phạm
1.2.3 Tội lạm d ng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định của pháp luật hình s Việt Nam giai đoạn từ 1999 đến nay
Ngày 22/11/1999 Quốc Hội khóa X đã thông qua BLHS năm 1999 và Nghị quyết số 32/1999/QH-10 về việc thi hành BLHS đ p ứng đ i hỏi theo yêu cầu của
xã hội với những đi m mới đ ng ghi nhận Trong đ , tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 140 BLHS 1999, thuộc chương XIV Các tội xâm phạm sở hữu
So với BLHS 1985, quy định về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được sửa đổi, bổ sung những đi m sau:
Thứ nhất, các tội trong chương tội xâm phạm sở hữu XHCN và chương xâm
phạm sở hữu của công dân được nhập lại thành một chương “ c tội xâm phạm sở hữu”
Thứ hai, về cấu thành cơ bản tại Điều 140, so với BLHS 1985, cấu thành cơ
bản tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản tại Điều 140 BLHS 1999 đã ghi nhận các dấu hiệu pháp lý về tội phạm đầy đủ hơn
Trang 11Thứ ba, về cơ cấu điều luật tại Điều 140, ngoài hình phạt bổ sung được quy
định tách riêng tại Khoản 5, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được cấu tạo với bốn khoản tương ứng với bốn khung hình phạt th hiện rõ ràng tính phân hoá trách nhiệm hình sự
Đến giai đoạn hiện nay, sau mười sáu năm áp dụng BLHS 1999, đứng trước thực tiễn xã hội có nhiều biến chuy n, dẫn đến yêu cầu việc ban hành BLHS phù hợp với tình hình mới là vấn đề tất yếu Do đ , BLHS 2015 đã ra đời Tại đây, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 175 với những sửa đổi nhằm th hiện rõ tính răn đe, giáo dục đối với tội phạm trong thực tiễn BLHS
2015 đã có sự thay đổi đ tăng tính răn đe, giáo dục, phòng ngừa tội phạm, th hiện
sự phân hoá trách nhiệm hình sự cao hơn Cụ th :
Thứ nhất, tại cấu thành cơ bản, nhà làm luật khi mô tả hành vi phạm tội đã quy
định thêm 01 loại hành vi là hành vi khách quan của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt
tài sản là hành vi “đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố
tình không trả”, đồng thời bỏ hành vi “bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản” ra khỏi cấu thành
tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Thứ hai, với các khung tăng nặng, BLHS 2015 bỏ tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng”; “gây hậu quả rất nghiêm trọng”; “gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” thay
bằng tình tiết “có tính chất chuyên nghiệp” (Đi m b Khoản 2 Điều 175); “Gây ảnh
hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội” (Đi m b Khoản 3 Điều 175)
1.3 Quy định của pháp luật hình sự một số nước trên thế giới về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và kinh nghiệm rút ra với pháp luật hình sự Việt Nam
BLHS liên bang Nga được thông qua ngày 24/5/1996 và tổng thống Liên bang Nga ký luật số 64 ngày 13/6/1996 “về việc thi hành bộ luật hình sự của Liên bang Nga” có hiệu lực từ ngày 01/01/1997 Các tội xâm phạm sở hữu được BLHS của nước này quy định cụ th tại chương 21, trong đ , Điều 159 quy định tội Lừa đảo như sau:
“Lừa đảo là chiếm đoạt tài sản hoặc quyền đối với tài sản của người khác bằng thủ đoạn gian dối hay lạm dụng tín nhiệm, thì bị phạt tiền từ 200 lần đến 700 lần mức lương tối thiểu hoặc mức lương hoặc thu nhập khác của người phạm tội trong thời gian từ 02 tháng đến 07 tháng hoặc bị phạt lao động bắt buộc từ 180 đến
240 giờ hoặc bị phạt giam từ 04 tháng đến 06 tháng hoặc bị phạt tù đến 03 năm…”
1999, 2001, 2002 và lần sửa đổi, bổ sung gần đây nhất là năm 2005 tại Hội nghị lần thứ 14 của Uỷ ban thường vụ đại hội đại bi u nhân dân toàn quốc khoá X
Trang 12Các tội xâm phạm sở hữu được nhà làm luật Trung Quốc quy định tại hương
V BLHS với tên gọi là “ ội xâm phạm tài sản”, liên quan đến tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản tại Điều 266 có quy định:
“Người nào phạm tội lừa đảo, lạm dụng lòng tin chiếm đoạt tài sản của công dân với số lượng tương đối lớn thì bị phạt tù từ 03 năm trở xuống, cải tạo lao động, hoặc quản chế và bị phạt tiền; nếu với số lượng lớn hoặc có tình tiết nghiêm trọng khác thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm và bị phạt tiền; nếu với số lượng quá lớn hoặc có tình tiết đặc biệt nghiêm trọng khác thì bị phạt tù từ 10 năm trở lên hoặc tù chung thân, và bị phạt tiền hoặc bị tịch thu tài sản” [15]
Như vậy, BLHS Trung Quốc cũng quy định các hành vi xâm phạm tới quyền
sở hữu Tuy nhiên, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản lại cũng không được quy định cụ th trong một điều luật mà cùng chung với tội lừa đảo, hành vi phạm tội lạm dụng trong bộ luật không được các nhà làm luật mô tả chi tiết như BLHS Việt Nam
BLHS Thuỵ Đi n thông qua năm 1962, có hiệu lực từ ngày 01/01/1965 Quá trình thi hành, BLHS Thụy Đi n đã được sửa đổi, bổ sung nhiều lần các năm 1967,
1970, 1974, 1986, 1988, 1994,… và lần sửa đổi gần đây nhất là năm 1999
Liên quan đến tội xâm phạm quyền sở hữu của công dân BLHS Thuỵ Đi n quy định trong hương IX “ ội lừa đảo và các tội gian dối kh c” Tại Điều 1 có quy định:
“ Người nào đưa ra thông tin sai sự thật hoặc không đầy đủ, thay đổi nội dung của chương trình hoặc bản ghi hoặc bằng các thủ đoạn khác tác động một cách bất hợp pháp đến kết quả xử lí dữ liệu tự động hoặc bất kì quy trình tự động nào khác nhằm mang lại lợi ích cho người phạm tội và gây thiệt hại cho người khác thì cũng bị kết án về tội lừa đảo [38, Điều 1];
Như vậy, BLHS Thuỵ Đi n cũng chỉ ghi nhận về các hành vi liên quan đến lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thông qua quy định của BLHS về tội lừa đảo
mà không có quy định cụ th như BLHS Việt Nam
Qua tìm hi u, nghiên cứu về các quy định có liên quan đến tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của các quốc gia như Nga, Trung Quốc, Thuỵ Đi n và tội lạm dụng chiếm đoạt tài sản tại Điều 140 BLHS Việt Nam, tác giả có th khái quát một số vấn đề như sau:
Một là, các dấu hiệu có liên quan đến hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt
tài sản được pháp luật các quốc gia trên quy định nằm trong các dấu hiệu của tội lừa
đảo
Hai là, hình phạt áp dụng đối với người phạm tội có liên quan đến hành vi lạm
dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trong pháp luật hình sự các nước tuy có nhiều hình thức khác nhau nhưng đều không phân biệt hình phạt chính và hình phạt phụ khi áp dụng
Trang 131.4 Phân biệt tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản với một số tội phạm khác có dấu hiệu gần gũi
1.4.1 Phân biệt tội lạm d ng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Gi nhau iữa hai ội:
hứ nhất, về khách th , tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản đều xâm phạm đến khách th là quyền sở hữu tài sản được pháp luật hình sự bảo vệ
Thứ hai, về mặt chủ quan, cả hai tội phạm đều được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp
Thứ ba, về chủ th của tội phạm, cả hai tội phạm này đều có th do bất kỳ chủ
th nào có năng lực TNHS, đủ tuổi chịu TNHS thực hiện
Thứ tư, về mặt khách quan của tội phạm, cả hai tội phạm đều được đ nh giá
có mức độ nguy hi m cho xã hội ngang nhau
Khác nhau giữa hai tội:
Thứ nhất, về mặt khách quan của tội phạm: tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, người phạm tội sau nhận được tài sản một cách ngay thẳng hợp pháp, quá trình thực hiện hợp đồng khi đến thời hạn nhất định hoặc thời hạn phải trả lại tài sản, người phạm tội mới nảy sinh ý định không trả lại tài sản với ý thức chiếm đoạt Ở tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, mặt khách quan của tội phạm lại được xác định gồm hai hành vi: hành vi gian dối và hành vi chiếm đoạt Đ chiếm đoạt được tài sản từ chủ
sở hữu, người phạm tội dùng thủ đoạn gian dối với mục đích chiếm đoạt Hành vi gian dối là tiền đề cho việc chiếm đoạt, hành vi chiếm đoạt là kết quả trực tiếp từ gian dối thành công
hứ hai, về thời đi m hoàn thành tội phạm: ội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, tội phạm hoàn thành khi người phạm tội đã có hành vi chiếm đoạt Với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì thời đi m hoàn thành tội phạm sớm hơn, tức là ngay sau khi người phạm tội nhận được tài sản trái phép hoặc khi giữ tài sản trái phép
hứ ba, về hình thức chuy n giao tài sản, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản không nhất thiết phải thông qua hình thức hợp đồng, ở dạng này thì hành vi phạm tội sẽ gây
ra hậu quả nhanh hơn so với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
1.4.2 Phân biệt tội lạm d ng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản với tội tham ô tài sản
Gi ng nhau giữa hai tội:
Thứ nhất, về mặt khách quan của tội phạm, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và tội tham ô tài sản đều có hành vi khách quan là chiếm đoạt tài sản đang nằm trong sự quản lý của người phạm tội
Thứ hai, về mặt chủ quan của tội phạm, đối với cả hai tội phạm này, dấu hiệu lỗi thuộc mặt chủ quan của tội phạm đều là lỗi cố ý trực tiếp
Khác nhau giữa hai tội:
Thứ nhất, về chủ th của tội phạm, tội tham ô tài sản có chủ th là những người có chức vụ, quyền hạn trong việc quản lý tài sản, là chủ th đặc biệt; Đối với