Với ý nghĩa như trên, luận văn có những đóng góp mới gồm: - Phân tích, làm sáng tỏ các vấn đề lý luận, phân tích sự phát triển các quy định về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản t
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ THỊ THU HƯỜNG
TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC
TIỄN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành : Luậ
Mã s : 60.38.01.04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS CAO THỊ OANH
HÀ NỘI, 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Viện khoa học xã hội, Viện hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1: LÝ LUẬN VỀ TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 7
1.1 Khái niệm, các dấu hiệu pháp lý của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 7 1.2 Lịch sử phát triển, các quy định của luật hình sự của Việt Nam đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 16 1.3 Quy định của pháp luật hình sự một số nước trên thế giới về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và kinh nghiệm rút ra với pháp luật hình sự Việt Nam 26 1.4 Phân biệt tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản với một số tội khác có dấu hiệu liên quan 29
Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN 34
2.1 Các hình thức trách nhiệm hình sự đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo Bộ luật hình sự 1999 34 2.2 Trách nhiệm hình sự đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trong các trường hợp đặc biệt 50
Chương 3: THỰC TIỄN XÉT XỬ TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI VÀ KIẾN NGHỊ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG 53
3.1 Kết quả thực tiễn xét xử tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trên địa bàn thành phố Hà Nội những năm gần đây 53 3.2 Những ưu điểm và hạn chế trong thực tiễn áp dụng đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản những năm gần đây 61 3.3 Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực tiễn đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 65
KẾT LUẬN 78 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
Trang 4DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BLDS: Bộ luật Dân sự
BLHS: Bộ luật Hình sự
BLTTHS: Bộ luật Tố tụng Hình sự CTTP: Cấu thành tội phạm TNHS: Trách nhiệm Hình sự TAND: Tòa án nhân dân
VKSND: Viện kiểm sát nhân dân
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đứng trước công cuộc đổi mới và hội nhập thế giới hiện nay, đất nước ta không ngừng phát triển cả về trí và lực Điều kiện kinh tế, xã hội của con người ngày càng cao, trình độ của người dân cũng ngày một phát triển Bên cạnh những thành tựu trên các lĩnh vực về kinh tế, văn hoá, chính trị, xã hội nước ta đã đạt được, mặt trái của sự phát triển không thể không nói đến tình hình tội phạm ngày càng phức tạp hơn, các loại tội phạm hoạt động ngày càng tinh vi với tính chất và mức độ nguy hiểm ngày càng nghiêm trọng Dưới sự phát triển của nền kinh tế thị trường, đời sống của người dân ngày một nâng cao lại làm các tội phạm xâm phạm sở hữu càng nảy sinh thêm lòng tham, ý muốn chiếm đoạt tài sản có giá trị của người khác để phục vụ cho bản thân Một trong các loại tội xâm phạm sở hữu cần nói đến là tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Bằng các thủ đoạn ngày càng tinh vi và phức tạp, tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có thể gây ra rất nhiều thiệt hại cho người dân, những người vì sự tin tưởng mà trao tài sản cho người phạm tội Cũng chính vì sự tin tưởng này mà nhiều người dân bị hại có thể mất đi những tài sản rất lớn, nhiều khi dẫn tới kiệt quệ về kinh
tế, lâm vào cảnh nợ nần chồng chất Điều này không những xâm phạm quyền sở hữu của người dân mà còn gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của những người bị hại, gây ra tác hại xấu cho cộng đồng, xã hội, làm mất lòng tin của nhân dân
Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản cũng là loại tội phạm có nhiều dấu hiệu liên quan đến các tranh chấp dân sự, do đó, việc phát hiện tội phạm nhiều khi bị bỏ lọt hoặc bị chậm trễ dẫn đến thiệt hại cho người dân chậm được khắc phục, quyền của công dân bị xâm phạm do tội phạm có liên quan đến vấn đề hình sự hoá các quan hệ dân sự, kinh tế Việc tồn tại tình trạng như vậy là do các quy phạm pháp luật điều chỉnh các vấn đề liên quan đến tội phạm này còn chưa thống nhất, các cơ quan áp dụng pháp luật nhiều khi còn lúng túng trong quá trình áp dụng, gây ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả, chất lượng quá trình điều tra, truy tố, xét xử tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Việc nghiên cứu sâu về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định của luật hình sự Việt Nam đặt ra vấn đề cần quan tâm
Nghiên cứu về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trong những năm gần đây thực tiễn cũng đặt ra nhiều vấn đề cần tìm hiểu kỹ càng Đặc biệt, việc nghiên cứu vấn đề tội phạm này trên địa bàn thủ đô Hà Nội- trung tâm văn hoá, chính trị của đất nước lại càng cần thiết hơn, bởi lẽ Hà Nội là một trong những thành phố đi đầu về sự
Trang 7phát triển, đây cũng sẽ là nơi thu hút nhiều tội phạm xâm phạm về sở hữu trong đó có tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Tình hình tội phạm nói chung, tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nói riêng không được quan tâm, làm rõ để kịp thời khắc phục sẽ gây ảnh hưởng tiêu cực đến bộ mặt của thủ đô Tuy nhiên, trong các đề tài nghiên cứu những năm gần đây, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản lại
ít được nghiên cứu đầy đủ và toàn diện Các vấn đề về thực tiễn liên quan đến tội phạm này trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng cũng chưa được đi sâu nghiên cứu, bám sát Thực tiễn đặt ra rằng, vẫn còn nhiều vướng mắc trong vấn đề định tội danh, quyết định hình phạt đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Điều này sẽ gây ảnh hưởng không nhỏ đến công tác đấu tranh phòng ngừa tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nói riêng, các loại tội phạm nói chung
Xuất phát từ tính cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn, nhằm đóng góp và đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt
tài sản, tác giả đã lựa chọn đề tài: "Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo pháp
luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Hà Nội” làm đề tài luận văn thạc sỹ
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Quá trình nghiên cứu đề tài, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là tội phạm có tính tinh vi và phức tạp Tội phạm này đã được đề cập trong một số giáo trình, sách, báo, bài viết gồm có:
- Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, tập II của trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội (2015); Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần các tội
phạm) của Khoa luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội; Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm) của GS TS Võ Khánh Vinh (Chủ
biên), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội (2003); Bình luận khoa học Bộ luật hình sự
(Phần các tội phạm), tập 2- Các tội xâm phạm sở hữu của ThS Đinh Văn Quế, Nxb Tp
Hồ Chí Minh (2002); Bình luận khoa học Bộ luật hình sự 1999 (Phần các tội phạm) của
tập thể tác giả TS Phùng Thế Vắc, TS Trần Văn Luyện, LS ThS Phạm Thanh Bình,
TS Nguyễn Đức Mai, ThS Nguyễn Sỹ Đại, ThS Nguyễn Mai Bộ, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội (2001), Các công trình trong sách, giáo trình nói trên, các tác giả đã đề cập đến nội dung về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Tuy nhiên, các công trình chỉ dừng lại ở những khái niệm, dấu hiệu cơ bản, những bình luận một cách tổng quan làm khuôn mẫu cho các đề tài nghiên cứu mà chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện và có hệ thống về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản dưới góc độ pháp
lý hình sự
Trang 8- Đề tài "Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có đối tượng là tài sản có
đăng ký quyền sở hữu, sử dụng theo luật hình sự Việt Nam"- Luận văn Thạc sỹ năm
2012 của tác giả Hồ Ngọc Hải; Đề tài "Định tội danh đối với tội lạm dụng tín nhiệm
chiếm đoạt tài sản"- nghiên cứu của ThS Võ Văn Tài, Giảng viên khoa Kiểm sát hình
sự; Đề tài “Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo Điều 140 BLHS 1999” của
Nguyễn Thu Vân, Luận văn thạc sỹ Các đề tài nêu trên đã đề cập đến tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản dưới góc độ luật hình sự và tội phạm học Tuy nhiên, các đề tài nghiên cứu đều chỉ nghiên cứu một phần hoặc một góc độ liên quan đến tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản mà chưa nghiên cứu một cách toàn diện về tội phạm này Hơn nữa, các đề tài cũng chưa nghiên cứu sâu về thực tiễn đối với tội phạm trên địa bàn thành phố Hà Nội- là một điểm nóng về tội phạm nói chung, tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nói riêng
- Bài viết "Tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” – Một số vướng mắc
trong thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện" của ThS Trần Duy Bình, Toà án nhân dân tỉnh
An Giang cũng đã đề cập đến tội phạm này dưới góc độ luật hình sự Nhưng bài viết chỉ đưa ra những vấn đề vướng mắc trong thực tiễn và một số kiến nghị hoàn thiện mà chưa
đi vào phân tích chuyên sâu các vấn đề về tội phạm, các dấu hiệu hay trách nhiệm hình
sự của tội phạm
Từ những công trình, bài viết, tài liệu được trình bày ở trên, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trên cơ sở thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội còn là vấn đề bỏ ngỏ Đến
thời điểm này, đề tài "Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo pháp luật hình sự
Việt Nam từ thực tiễn thành phố Hà Nội” là đề tài có tính mới
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 M c đíc nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là trên cơ sở lý luận và thực tiễn xét xử tại TAND hai cấp trên địa bàn thành phố Hà Nội của tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận chuyên sâu đối với quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội phạm Qua bài viết, hình thành các vấn đề về thực tiễn xét
xử trong các vụ án về tội phạm này làm cơ sở cho việc nhận thức và áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự về xử lý tội phạm Từ các cơ sở phân tích đó, luận văn kiến nghị những giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng những quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Trang 93.2 Nhiệm v nghiên cứu
Từ mục đích nghiên cứu được đặt ra ở trên, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn bao gồm:
Thứ nhất, nghiên cứu, đưa ra khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản; làm rõ lịch sử hình thành và phát triển các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Thứ hai, làm rõ các hình thức trách nhiệm hình sự đối với tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản; so sánh tội phạm với một số tội phạm khác gần gũi
Thứ ba, phân tích, làm rõ về thực tiễn xét xử tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trên địa bàn thành phố Hà Nội; tìm ra những khó khăn, vướng mắc trong quá trình giải quyết vụ án, áp dụng pháp luật Từ đó, kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng những quy định của pháp luật hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đ i ượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và các bản án về tội phạm này
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định của luật hình sự Việt Nam trên cơ sở số liệu thực tiễn xét xử tại TAND hai cấp địa bàn thành phố Hà Nội dưới góc độ pháp lý hình sự trong thời gian 05 năm
từ năm 2012 đến năm 2016 Góc độ nghiên cứu tập trung chủ yếu vào các số liệu xét xử thực tiễn tại TAND hai cấp thành phố Hà Nội trong phạm vi 05 năm qua 100 bản án về tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của TAND hai cấp thành phố Hà Nội
Đến thời điểm nghiên cứu đề tài, Bộ luật hình sự 2015 đang được sửa đổi, hoàn thiện, chưa có hiệu lực Các quy định hiện hành về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được tiến hành theo Bộ luật hình sự 1999
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 P ươ pháp luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận từ phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử theo quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh Ngoài ra, tác giả còn dựa trên các quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước về các lĩnh vực trong đó có đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nói riêng
Trang 105.2 P ươ pháp nghiên cứu
Qu tr nh nghie n cứu đề t i, tác giả sử dụng c c phu o ng ph p nghie n cứu của khoa học luạ t h nh sự nhu : pha n tích, tổng hợp, thống ke ; phu o ng ph p
so s nh, đối chiếu; pha n tích quy phạm ph p luạ t, khảo s t thực tiễn; điều tra n điển h nh để pha n tích v luạ n chứng c c vấn đề khoa học cần nghie n cứu
Ngo i ra, trong qu tr nh thực hi n đề t i, t c giả đã tiếp thu có chọn lọc kết quả của c c co ng tr nh nghie n cứu đã co ng ố, c c đ nh gi , tổng kết của c c co quan chuye n mo n v c c chuye n gia về những vấn đề có lie n quan đến c c vấn
đề nghie n cứu trong luạ n va n
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu toàn diện, có hệ thống về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Ý nghĩa của luận văn có thể kể đến:
Về mặt lý luận, kết quả nghie n cứu của luạ n va n góp phần ho n thi n l luạ n về tọ i phạm nói chung, tọ i lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trong khoa học luạ t h nh sự Vi t Nam nói rie ng Luận văn có ý nghĩa cung cấp thêm cơ sở lý luận, làm phong phú thêm về mặt tài liệu nghiên cứu khoa học để tham khảo cho những bài viết, công trình, bài giảng có liên quan
Về mặt thực tiễn, luạ n va n có nghĩa đưa ra một số đề uất, kiến nghị, cung cấp những luạ n cứ khoa học phục vụ cho co ng t c lạ p ph p v hoạt đọ ng thực tiễn p dụng Bọ luạ t h nh sự Vi t Nam lie n quan đến tọ i lạm dụng tín nhi m chiếm đoạt t i sản, qua đó góp phần na ng cao hi u quả co ng t c đấu tranh ph ng ngừa tọ i n y trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng, ở nước ta nói chung hi n nay
v sắp tới
Với ý nghĩa như trên, luận văn có những đóng góp mới gồm:
- Phân tích, làm sáng tỏ các vấn đề lý luận, phân tích sự phát triển các quy định
về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trong lịch sử lập pháp Việt Nam, so sánh, đối chiếu các quy định của Bộ luật hình sự 1999 và Bộ luật hình sự 2015 và so sánh các quy định của tội phạm này với một số nước trên thế giới
- Phân tích, đ nh giá những quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành
về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, các hình thức trách nhiệm hình sự, so sánh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản với một số tội phạm gần gũi
- Phân tích thực tiễn xét xử tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trên địa bàn thành phố Hà Nội, nêu được những hạn chế, khó khăn trong thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội phạm Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu
Trang 11quả áp dụng những quy định của pháp luật hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng cũng như cả nước nói chung
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được kết cấu gồm 3 chương, cụ thể:
Chương 1 Lý luận về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định của luật hình sự Việt Nam
Chương 2 Quy định của pháp luật hiện hành về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Chương 3 Thực tiễn xét xử tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trên địa bàn thành phố Hà Nội và kiến nghị nâng cao hiệu quả áp dụng
Trang 12Chương 1
LÝ LUẬN VỀ TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1 Khái niệm, các dấu hiệu pháp lý của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
1.1.1 Khái niệm tội lạm d ng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Pháp luật hình sự nước ta ghi nhận và ảo vệ quan hệ sở hữu là một trong những quan hệ quan trọng liên quan trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân, tổ chức
và của Nhà nước Nền kinh tế thị trường đang iến các quan hệ kinh tế ngày càng có giá trị, các giao dịch dân sự cũng ngày càng gia tăng và phát triển theo nhiều chiều hướng Chính các giao dịch về dân sự, kinh tế, xã hội này lại có quan hệ trực tiếp đến các tài sản thuộc sở hữu của công dân, tổ chức hay của nhà nước XHCN Ranh giới phân định giữa giao dịch dân sự và một hành vi ị coi là tội phạm xâm phạm đến quan hệ sở hữu của công dân qua các giao dịch là vấn đề cần được làm rõ Điều này sẽ giúp tránh tình trạng “h nh sự hóa” các quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại hoặc “dân sự hóa” các hành vi ị coi là tội phạm xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Liên quan đến các giao dịch dân sự và hành vi phạm tội trong hình sự chính là quy định về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, làm rõ khái niệm tội phạm ước đầu sẽ giúp hiểu rõ hơn về tội phạm
Theo Từ điển Luật học, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là “hành vi lạm
dụng việc được giao tài sản trên cơ sở hợp đồng để chiếm đoạt toàn bộ hay một phần tài sản đó” [44, tr.454]
Khoản 1 Điều 140 BLHS 1999 quy định về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản:
“1 Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm: a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó; b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản”
Trang 13Như vậy, có thể hiểu hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản bao gồm hành vi vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác ằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc ỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đã sử dụng tài sản đó vào mục đích ất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản Tội phạm này cần được xác định với hai đặc điểm chính:
Thứ nhất, người phạm tội thông qua một giao dịch hợp pháp, ngay thẳng, như vay, mượn, thuê tài sản hoặc các hình thức giao dịch bằng hợp đồng khác nhận được tài sản từ chủ sở hữu hoặc người quản lý, sử dụng tài sản hợp pháp
Thứ hai, sau khi nhận được tài sản qua các giao dịch nêu trên, người phạm tội mới nảy sinh ý thức phạm tội, thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản bằng cách dùng thủ đoạn gian dối hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện trả, có khả năng trả nhưng cố tình không trả để chiếm đoạt tài sản đó; hoặc tuy không có ý thức chiếm đoạt nhưng đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại cho chủ sở hữu
Khái niệm tài sản được Từ điển Luật học định nghĩa là: các vật có giá trị bằng tiền và là đối tượng của quyền tài sản và các lợi ích vật chất khác Tài sản bao gồm: vật
có thực, vật đang tồn tại và sẽ có như hoa, lợi, lợi tức, vật sẽ được chế tạo theo mẫu đã được thoả thuận giữa các bên, tiền và các giấy tờ trị giá được bằng tiền và quyền tài sản [44, tr.685]
Điều 163 Bộ luật Dân sự 2005 quy định: "Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có
giá và các quyền tài sản"
Đối với vật l đối tượng của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt t i sản phải l vật có thực, vật đang tồn tại, có gi trị v nằm trong sự chiếm hữu của con người Tuy nhiên, những vật l t i sản m Nh Nước cấm tư nhân mua n, trao đổi như thuốc phiện, ngoại tệ, rừng cây, hầm mỏ, vũ khí, thuốc nổ, chầt phóng ạ, chất ch y, chất nổ…sẽ không phải l đối tượng của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt t i sản Những vật l t i sản không c n gi trị kinh tế như thuốc đã ị tiêu hủy, h ng hóa không c n gi trị sử dụng cũng không phải l đối tượng t c động của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt t i sản [37] Do có những đặc điểm, tính chất quan trọng nhất định nên những t i sản đó đã trở th nh đối tượng của một số tội phạm riêng
Tiền thường l đối tượng trực tiếp của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt t i sản Giấy tờ có gi cũng l một trong c c loại t i sản thuộc đối tượng chiếm đoạt của tội phạm n y Với loại t i sản n y cần lưu ởi nó tồn tại dưới nhiều hình thức kh c nhau Giấy tờ có gi được chia l m hai loại gồm: Giấy tờ có gi ghi danh v Giấy tờ có
Trang 14giá vô danh Nếu những giấy tờ có gi trị m thông qua đó không trực tiếp lấy được t i sản m chỉ l những phương tiện hực hiện h nh vi chiếm đoạt t i sản hoặc c c giấy tờ chỉ dùng v o việc phân phối th mặc dù có h nh vi chiếm đoạt th cũng không phải l đối tượng t c động của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt t i sản
"Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ" (Điều 181 BLDS) Quyền tài sản là loại tài sản
quyền gắn liền với chủ sở hữu, do đó, khi chủ tài sản bằng giao dịch dân sự chuyển giao quyền tài sản, sau đó, người phạm tội lợi dụng dùng thủ đoạn gian dối cũng có thể thực hiện hành vi phạm tội Vì vậy, quyền tài sản cũng là đối tượng của tội phạm này
Từ các khái niệm chung, quy định về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được ghi nhận trong BLHS 1999, tác giả xin đưa ra khái niệm về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản như sau:
Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là hành vi nguy hiểm cho xã hội của người phạm tội lợi dụng lòng tin của người khác, sử dụng hành vi vay, mượn, thuê tài sản hoặc nhận tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng trở lên bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn với mục đích chiếm đoạt tài sản hoặc sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản, do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý, trái pháp luật hình sự, xâm phạm quyền sở hữu được pháp luật hình sự bảo vệ
1.1.2 Các dấu hiệu pháp lý của tội lạm d ng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Căn cứ quy định cụ thể về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, những yếu
tố đặc trưng của cấu thành tội phạm (CTTP) tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được thể hiện như sau:
1.1.2.1 Khách thể của tội phạm
Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại bằng cách gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội
đó [39, tr 86]
Hiến pháp nước Cộng hoà XHCN Việt Nam 2013- đạo luật cơ bản của nước ta ghi
nhận và bảo hộ quyền sở hữu của công dân: "1 Mọi người có quyền sở hữu về thu nhập
hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sản xuất, phần vốn góp trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác 2 Quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa kế được pháp luật bảo hộ"
Khách thể chung là "tổng hợp các quan hệ xã hội được các quy phạm pháp luật
Trang 15Hình sự bảo vệ tránh khỏi sự xâm hại có tính chất tội phạm nhưng bị tội phạm xâm hại đến và gây nên (hoặc đe doạ gây nên) thiệt hại đáng kể nhất định" [3, tr 351] Khách thể
chung của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là quan hệ sở hữu, trật tự pháp luật
xã hội chủ nghĩa Xác định khách thể chung của tội phạm sẽ đưa ra cơ sở pháp lý chung khẳng định hành vi nguy hiểm cho xã hội của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
là hành vi phạm tội bị pháp luật hình sự cấm
Khách thể trực tiếp là "một quan hệ xã hội cụ thể được một quy phạm pháp luật
hình sự cụ thể bảo vệ tránh khỏi sự xâm hại của một tội phạm nhất định nhưng bị tội phạm xâm hại đến và gây nên (hoặc đe doạ gây nên) thiệt hại đáng kể nhất định" [3,
tr.351] Khách thể trực tiếp của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là quan hệ sở hữu tài sản Đây là quan hệ được pháp luật Việt Nam ghi nhận và bảo hộ, BLHS cụ thể hóa các quy định của pháp luật, coi quan hệ sở hữu tài sản là một trong các khách thể quan trọng cần bảo vệ và bảo đảm
Đối tượng tác động của tội phạm là một bộ phận của khách thể tội phạm bị người thực hiện hành vi phạm tội tác động đến gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại cho những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ [39, tr.94] Đối tượng tác động của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là tài sản của công dân, tổ chức, nhà nước Khi nghiên cứu đối tượng tác động của tội phạm này cần lưu tâm đến các loại tài sản cụ thể gồm những loại tài sản nào như đã phân tích ở phần khái niệm trên
Các tài sản bị chiếm đoạt là đối tượng tác động của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được các nhà làm luật quy định về yếu tố định lượng tài sản Theo
đó, tài sản bị chiếm đoạt phải có giá trị từ bốn triệu đồng trở lên, cụ thể: Khoản 1: từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết
án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm; Khoản 2: từ trên năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng Khoản 3: từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng Khoản 4: từ năm trăm triệu đồng trở lên (BLHS 2015 chưa
có hiệu lực trong thời điểm hiện tại, tuy nhiên, về tài sản, giá trị tài sản có bị truy cứu TNHS có những nét mới khi xác định tài sản có giá trị dưới bốn triệu đồng nhưng tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại hoặc tài sản có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại cũng được xác định là đối tượng tác động của tội phạm) Nhà làm luật đưa yếu tố định lượng tài sản là một căn cứ để xác định có cấu thành tội phạm hay không góp phần hạn chế các quy định tùy nghi của pháp luật, tránh xét xử oan sai hoặc bỏ lọt tội phạm giúp xác định rõ ranh giới giữa vi phạm hành chính
Trang 16và tội phạm
1.1.2.2 Chủ thể của tội phạm
Luật hình sự Việt Nam coi chủ thể của tội phạm là người có năng lực trách nhiệm
hình sự, đạt một độ tuổi nhất định và đã thực hiện hành vi phạm tội [39, tr.122]
Điều 140 BLHS về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản gồm 04 khung hình phạt sau: đến ba năm tù (khoản 1), đến bảy năm tù (khoản 2), đến mười lăm năm
tù (khoản 3), đến hai mươi năm tù hoặc tù chung thân (khoản 4) Căn cứ quy định tại Khoản 3 Điều 8 BLHS 1999 sửa đổi 2009, quy định về tuổi chịu TNHS tại Điều 12, chủ thể của tội phạm này có thể là bất kỳ ai có đủ điều kiện chủ thể tội phạm Cần lưu ý với các trường hợp người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ có thể bị truy cứu TNHS khi thực hiện hành vi thuộc một trong các tình tiết định khung tại Khoản 3 và Khoản 4 Điều 140 BLHS là trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý Người từ đủ 16 tuổi trở lên có thể bị truy cứu TNHS về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định của các khung từ Khoản 1 đến Khoản 4 Điều 140 BLHS 1999
1.1.2.3 Mặt khách quan của tội phạm
Theo khoa học luật hình sự, mặt khách quan của tội phạm là tổng hợp những biểu hiện của tội phạm ra bên ngoài thế giới khách quan Mặt khách quan của tội phạm bao gồm các dấu hiệu có ý nghĩa pháp lý là: hành vi nguy hiểm cho xã hội; hậu quả nguy hiểm cho xã hội; mối quan hệ nhân quả giữa hành vi phạm tội và hậu quả phạm tội; các dấu hiệu không bắt buộc (thủ đoạn, phương tiện, thời gian, địa điểm, hoàn cảnh phạm tội) [3, tr.365-366]
Hành vi khách quan là cầu nối giữa khách thể và chủ thể tội phạm, không có chủ thể của tội phạm khi không có hành vi khách quan của tội phạm [39, tr 101] Đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, hành vi khách quan của tội phạm được thể
hiện là hành vi chiếm đoạt toàn bộ hay một phần tài sản được giao trên cơ sở: “Vay,
mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng” Hành vi khách quan của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài
sản mang ba đặc điểm cơ bản của hành vi khách quan là: hành vi gây thiệt hại về vật chất cho chủ sở hữu; nguy hiểm cho xã hội; và hành vi đã được tính toán cân nhắc là hoạt động có ý thức và ý chí của chủ thể, được thực hiện dưới hình thức hành động phạm tội đã vi phạm quy định tại Điều 140 BLHS 1999
Hành vi chiếm đoạt của tội phạm này là những hành vi không thực hiện đúng nghĩa vụ cam kết, đó là: không trả lại tài sản bằng thủ đoạn gian dối; hoặc bằng thủ đoạn bỏ trốn; hoặc do không có khả năng trả lại tài sản vì đã sử dụng tài sản vào mục
Trang 17đích bất hợp pháp Đối tượng của hành vi chiếm đoạt của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là những tài sản đã được giao ngay thẳng cho người phạm tội trên cơ sở hợp đồng [40, tr.42] Căn cứ pháp lý của việc nhận tài sản một cách ngay thẳng là hợp đồng dân sự, kinh tế được các bên chủ thể tự nguyện xác lập như: hợp đồng vay, mượn, thuê tài sản, hoặc các hình thức hợp đồng khác theo quy định của BLDS
Hành vi khách quan của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản để hình thành tội phạm bao gồm một chuỗi các hành vi Sau khi nhận được tài sản một cách hợp pháp, người phạm tội mới tiếp tục có hành vi chiếm đoạt tài sản được giao Đây là hành vi mang tính quan trọng nhất dẫn đến cấu thành tội phạm Không có hành vi chiếm đoạt này thì không có tội phạm xảy ra Hành vi chiếm đoạt tài sản trong tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được biểu hiện qua các thủ đoạn như: gian dối, bỏ trốn, hoặc
sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản cho chủ sở hữu
Hành vi chiếm đoạt tài sản bằng các hình thức đã được phân tích ở trên là hành
vi khách quan của tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản chỉ khi hành vi đó là trái pháp luật, hay nói cách khác, chỉ hành vi được quy định trong BLHS mới có thể là tội phạm Điều này cũng có nghĩa là cấm áp dụng nguyên tắc tương tự Do đó, tội phạm phải thực hiện với đủ dấu hiệu của hành vi khách quan nêu trên, thỏa mãn cấu thành tội phạm được quy định tại Điều 140 BLHS mới phát sinh TNHS
Cần lưu ý, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 140 BLHS 1999 sửa đổi 2009 có quy định về các thủ đoạn người phạm tội thực hiện để hình thành hành vi chiếm đoạt tài sản:
Thủ đoạn đầu tiên là thủ đoạn gian dối, đây là thủ đoạn thường được được sử dụng và thường gặp trong thực tế Người phạm tội sau khi có được tài sản hợp pháp sẽ giả như bị mất, hoặc đ nh tráo tài sản, rút bớt tài sản khiến sản phẩm được làm ra không có đầy đủ đặc tính về số lượng, chất lượng như yêu cầu của hợp đồng, xoá dấu tích việc nợ, huỷ bỏ các tài liệu chứng cứ chứng minh nghĩa vụ thanh toán như giấy vay
nợ, các cam kết Phần lớn trong các trường hợp người phạm tội dùng thủ đoạn gian dối
để che giấu hành vi chiếm đoạt Ví dụ: Do tạo lập được quan hệ mua bán hàng hóa thân thiết với bà Y, trong quá trình mua hàng, bà Y đã để T tự ghi vào sổ số lượng các mặt hàng T mua Lợi dụng sự sơ hở trong quản lý kinh tế của bà Y cũng như lòng tin của bà
Y cho T tự ghi chép các mặt hàng, số lượng hàng mua bán nên T đã sửa chữa số liệu ghi chép trong sổ T đã sử dụng thủ đoạn gian dối trên 64 lần, chiếm đoạt tài sản có tổng giá trị 149.977.000 đồng của bà Y Mặc dù từng lần chiếm đoạt đều có giá trị dưới
Trang 184.000.000 đồng nhưng T đã liên tục thực hiện hành vi chiếm đoạt với tổng giá trị là 149.977.000 đồng TAND huyện P, thành phố HN đã xét xử T về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo Điểm d Khoản 2 Điều 140 BLHS tại Bản án số 10/2016/HSST ngày 15/3/2016 [52]
Thủ đoạn thứ hai là thủ đoạn bỏ trốn, người phạm tội sau khi nhận được tài sản của từ chủ sở hữu, để thực hiện hành vi chiếm đoạt đã bỏ trốn nhằm cố tình không thanh toán, không trả lại tài sản cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp Khi đ nh giá hành vi bỏ trốn của người phạm tội phải xem xét một cách khách quan, toàn diện, nếu người phạm tội bỏ trốn hoặc lánh mặt chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản vì nguyên nhân khác thì không coi là bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản Khi người phạm tội sử dụng thủ đoạn bỏ trốn để thực hiện hành vi khách quan chiếm đoạt tài sản, điều này cho thấy rõ tính có lỗi và tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, gây khó khăn cho công tác điều tra, truy tố, xử lý tội phạm Ví dụ: Bùi Việt H đã lợi dụng sự tín nhiệm của Công ty cổ phần vận tải và thương mại Âu Lạc giao xe ô tô cho H bằng hợp đồng đặt cọc Sau đó, H đã không kinh doanh dịch vụ taxi theo thỏa thuận đã ký kết mà chiếm đoạt bằng hình thức mang đi cầm đồ rồi bỏ trốn khỏi địa phương Giá trị tài sản
mà H chiếm đoạt là 230.000.000 đồng Hành vi của H đã bị truy tố và xét xử với tội danh lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo Khoản 3 Điều 140 BLHS tại Bản án
số 135/2016/HSST ngày 31/5/2016 của TAND quận N, thành phố HN [52]
Thủ đoạn thứ ba là người phạm tội sau khi có được tài sản đã sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến việc không trả lại tài sản được Việc sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp là những trường hợp dùng tài sản vào việc thực hiện tội phạm,
vi phạm pháp luật có tính chất hình sự có ý nghĩa là dấu hiệu cấu thành tội phạm như: dùng tài sản, mượn vay để đ nh số đề, đ nh bạc, buôn lậu, buôn ma tuý, mua bán, trao đổi hàng hóa bất hợp ph p,…dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp tài sản đó Cần phân biệt thủ đoạn này với trường hợp sử dụng tài sản không đúng mục đích đã thoả thuận khi giao kết hợp đồng để xem xét,
đ nh giá đó là tội phạm hay là tranh chấp dân sự, tránh việc hình sự hóa các quan hệ dân sự và ngược lại Ví dụ: Ngày 24/11/2015, do có quan hệ quen biết với chị H nên Nguyễn Mạnh Đ đã mượn của chị H 01 máy tính xách tay Lenovo trị giá 10.000.000đ Chị H tin tưởng đã cho Đ mượn Do cần tiền nên ngày 25/11/2015, Đ mang máy tính trên cầm cố cho anh T với giá 4.000.000đ Ngày 23/12/2015, Đ lại tiếp tục mượn của chị H 01 xe máy Honda Vision trị giá 17.000.000đ Đến ngày 15/01/2015, do cần tiền nên Đạt đã bán chui (bất hợp pháp) xe máy trên cho anh D với giá 18.000.000đ Hành
Trang 19vi của Đ đã chiếm đoạt tài sản của chị H với giá trị tài sản là 21.000.000đ bằng thủ đoạn
sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp, cụ thể trường hợp này là để có tiền tiêu sài
cá nhân nên đã đem cầm cố, bán trái phép máy tính và xe máy của chị H Hành vi của Đ
đã cấu thành tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 140 BLHS Hành vi của Đ đã bị TAND quận N, thành phố HN xét xử theo bản án số 126/2016/HSST ngày 25/5/2016 [52]
Hậu quả của tội lạm dụng tín nhiện chiếm đoạt tài sản:
Hậu quả nguy hiểm cho xã hội của tội phạm là thiệt hại do hành vi phạm tội gây
ra cho các quan hệ xã hội là khách thể được bảo vệ bởi luật hình sự [39, tr.110] Về nguyên tắc, chỉ những hậu quả mang tính xác định được mới được quy định trong cấu thành tội phạm Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là tội phạm có cấu thành vật chất Hậu quả là dấu hiệu được ghi nhận trong cấu thành tội phạm tại Điều 140 BLHS
1999 Hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội là cơ sở để đ nh giá tính nguy hiểm cho xã hội về mặt chính trị- xã hội Tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản gây ra những hậu quả xấu đối với quan hệ sở hữu được pháp luật bảo vệ Nhà làm luật quy định yếu tố định lượng về tài sản chiếm đoạt trong chính cấu thành tội phạm
Hậu quả của hành vi phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là việc chiếm đoạt được tài sản của chủ sở hữu đã giao cho mình có giá trị từ bốn triệu đồng trở lên hoặc giá trị tài sản dưới bốn triệu đồng nhưng gây ra hậu quả nghiêm trọng hoặc
đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt (như hành vi lừa đảo, trộm cắp, cướp, cướp giật, v.v hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt (trộm cắp, cưỡng đoạt tài sản, v.v ) chưa được xoá án tích mà còn vi phạm thì mới cấu thành tội này
Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả của tội phạm được biểu hiện ở việc hậu quả của tội phạm là do hành vi chiếm đoạt gây ra Hành vi chiếm đoạt xảy ra trước hậu quả về mặt thời gian và hậu quả là kết quả trực tiếp của hành vi chiếm đoạt Điều 140 BLHS 1999 đã đưa vấn đề định lượng để xác định thời điểm hoàn thành của tội phạm khi người phạm tội thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản nhưng số lượng tài sản bị chiếm đoạt phải thỏa mãn về mặt định lượng tài sản đã nêu trong luật hoặc các trường hợp khác được pháp luật hình sự ghi nhận mới đủ yếu tố cấu thành tội phạm
Các yếu tố về địa điểm, thời gian, v.v không phải là dấu hiệu bắt buộc trong mặt khách quan của cấu thành tội phạm này
1.1.2.4 Mặt chủ quan của tội phạm
Mặt chủ quan của tội phạm là mặt bên trong của tội phạm bao gồm: lỗi, động cơ, mục đích [39, tr.134] Trong mọi cấu thành tội phạm, dấu hiệu lỗi luôn được phản ánh
Trang 20thể hiện mặt chủ quan của tội phạm; dấu hiệu động cơ, mục đích phạm tội tuỳ từng cấu thành tội phạm cụ thể được thể hiện với ý nghĩa pháp lý hình sự nhất định
"Lỗi là thái độ tâm lý của con người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra được biểu hiện dưới hình thức cố ý hoặc
vô ý" [39, tr.136] Đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, hình thức lỗi
thuộc mặt chủ quan của người phạm tội là lỗi cố ý và cụ thể hơn nữa là lỗi cố ý trực tiếp
“Lỗi cố ý trực tiếp là lỗi của người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó
và mong muốn hậu quả xảy ra” (Điều 9 BLHS 1999) Ở tội phạm này, người phạm tội
nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của mình là hành vi nguy hiểm cho xã hội, thấy được hậu quả của hành vi mình thực hiện xâm phạm đến quan hệ sở hữu được pháp luật hình sự bảo vệ Trong ý thức chủ quan của người phạm tội, họ mong muốn hậu quả xảy
ra nhằm mục đích chiếm đoạt được tài sản của người khác Khi xác định lỗi đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản cần lưu ý: ban đầu, khi giao kết hợp đồng hợp pháp và nhận được tài sản, người phạm tội vẫn có ý chí, ý định thực hiện hợp đồng đó Chỉ đến giai đoạn sau khi đã giao kết hợp đồng và nhận được tài sản đó, người phạm tội mới nảy sinh ý định phạm tội và thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản bằng các thủ đoạn
đã được cấu thành tội phạm ghi nhận Do đó, dấu hiệu lỗi của tội phạm này được xem xét tại thời điểm thực hiện hành vi chiếm đoạt chứ không phải tại thời điểm nhận tài sản Vấn đề cần lưu ý thứ hai là: Thời điểm nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản là căn cứ rất quan trọng để phân biệt tội lạm dụng chiếm đoạt tài sản với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản người phạm tội có ý thức chiếm đoạt từ trước khi có tài sản trong tay nên người phạm tội đã bằng thủ đoạn gian dối tạo ra các thông tin sai sự thật làm người bị hại lầm tưởng là thật và đã giao hoặc nhận nhầm tài sản cho người phạm tội, từ đó thực hiện hành vi chiếm đoạt Như vậy cả hai tội phạm đều có hình thức lỗi cố ý trực tiếp nhưng thời điểm xuất hiện lỗi của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản muộn hơn tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Động cơ phạm tội được hiểu là động lực bên trong thúc đẩy quyết tâm người phạm tội thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm [3, tr.381] Động
cơ phạm tội đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản không phải là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm Tuy nhiên, khi phân tích các dấu hiệu của tội phạm này có thể thấy động cơ phạm tội xuất phát từ việc tư lợi, vụ lợi, do ham muốn những lợi ích nhất định Việc xác định động cơ phạm tội có ý nghĩa trong việc đ nh giá mức
độ, tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi nhằm phân hoá TNHS được rõ hơn
Trang 21Mục đích phạm tội là kết quả mà người phạm tội mong muốn đạt được trong tương lai bằng việc thực hiện hành vi phạm tội [3, tr.382] Mục đích của tội phạm hình thành trong ý chí chủ quan của người phạm tội trước khi bắt đầu thực hiện tội phạm Mục đích phạm tội khác với hậu quả của tội phạm Hậu quả của tội phạm nằm trong mặt khách quan của tội phạm có liên hệ với mục đích của tội phạm trong một thể thống nhất giữa mặt khách quan và mặt chủ quan của tội phạm [39, tr.154] Đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, mục đích của chủ thể phạm tội là mong muốn có được những tài sản bằng các thủ đoạn do lợi dụng lòng tin của chủ sở hữu Do đó, dù người phạm tội biết rõ hành vi của mình gây ảnh hưởng xấu cho xã hội, xâm phạm đến quan hệ sở hữu được pháp luật bảo vệ nhưng vì mục đích vụ lợi của bản thân, chủ thể vẫn cố ý thực hiện tội phạm Mục đích của tội phạm không phải dấu hiệu bắt buộc được quy định trong cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản vì bản thân hành vi chiếm đoạt tài sản nằm trong mặt khách quan của tội phạm đã bao hàm mục đích của tội phạm nhưng nó cũng có ý nghĩa trong việc xem xét vấn đề TNHS, đảm bảo việc cá thể hoá và phân hoá TNHS một cách chính xác
Trong cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, mặt chủ quan của tội phạm thể hiện rõ nhất ở quy định về lỗi cố ý trực tiếp được thể hiện trong cấu thành tội phạm Các dấu hiệu về động cơ, mục đích phạm tội không phải dấu hiệu bắt buộc của tội phạm Tuy nhiên, tất cả các dấu hiệu vẫn có mối liên hệ, tương tác lẫn nhau phản ảnh tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm Nghiên cứu các dấu hiệu này giúp cho việc xác định tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được chính xác hơn, tránh việc quy tội khách quan đối với tội phạm và đảm bảo tính phân hoá TNHS được
Trang 221.2.1 Tội lạm d ng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định của pháp luật hình
s Việt Nam giai đoạn từ 1945 đến rước khi Bộ luật hình s 1985 có hiệu l c
Trong giai đoạn Cách mạng tháng Tám mới thành công, chính quyền non trẻ của nước ta đang phải đối mặt với nhiều thách thức để gây dựng và củng cố một nhà nước
vững mạnh, Hiến pháp 1946 ghi nhận “quyền tư hữu tài sản của công dân Việt Nam
được bảo đảm” (Điều thứ 12) Nhà nước ban hành nhiều văn bản pháp luật bảo vệ
quyền sở hữu Nổi bật trong giai đoạn này là hai Sắc lệnh: Sắc lệnh số 26/SL ngày 25/02/1945 trừng trị các tội phá hủy công sản; Sắc lệnh số 27/SL ngày 28/02/1946 trừng trị tội tham ô, tội tống tiền, tội bắt cóc, ám sát, tội đ nh bạc,…; Sắc lệnh số 233/SL ngày 17/11/1946 trừng trị các tội phù lạm, biển thủ công quỹ;… Đây là những văn bản đầu tiên đặt nền móng cho việc hoàn thiện chính sách pháp luật về các tội xâm phạm sở hữu Trong các văn bản pháp luật lúc này lại chưa có quy định cụ thể ghi nhận về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Tội phạm này chủ yếu được xét xử theo nguyên tắc của án
lệ, được quy định với tên gọi “Bội tín” theo Thông tư số 442/TTg ngày 19/01/1955 của
Thủ tướng chính phủ về việc trừng trị một số tội phạm: “2 Lừa gạt, bội tín: phạt tù từ ba
tháng đến năm năm” Đây chính là quy định sơ khai nhất về tội lạm dụng tín nhiệm
chiếm đoạt tài sản Vấn đề trách nhiệm của tội lừa gạt và bội tín được quy định tại thời kỳ này được xác định là như nhau
Giai đoạn 1970, sau những khó khăn, thách thức ban đầu đất nước ngày một phát triển Nhằm tăng cường pháp chế XHCN, nhà nước ban hành Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản XHCN và Pháp lệnh số 150/PL trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân ngày 21/10/1970 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Hai pháp lệnh là sự tiếp nối, hoàn thiện các quy định của pháp luật về hình sự nhằm bảo vệ quyền sở hữu Tại đây, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản lần đầu tiên được ghi nhận thành một tội phạm độc lập với các dấu hiệu pháp lý đặc trưng, các khung hình phạt cụ thể
Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa ghi nhận tội lạm dụng
tín nhiệm chiếm đoạt tài sản tại Điều 11 như sau:“1 Kẻ nào nhận tài sản xã hội chủ nghĩa
để giữ, vận chuyển, gia công, sửa chữa hoặc để làm một việc gì khác mà lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt, bớt xén hoặc đánh tráo tài sản đó thì bị phạt tù từ 6 tháng đến 5 năm 2 Phạm tội trong những trường hợp sau đây: a) Tái phạm nguy hiểm; b) Có tổ chức; c) Có móc ngoặc; d) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm; đ) Chiếm đoạt tài sản với số lượng lớn hoặc tài sản có giá trị đặc biệt; e) Dùng tài sản chiếm đoạt vào việc kinh doanh, bóc lột, đầu cơ, đút lót hoặc vào những việc phạm tội khác; Thì bị phạt tù
từ 3 năm đến 12 năm 3 Phạm tội trong trường hợp số tài sản bị xâm phạm rất lớn
Trang 23hoặc có nhiều tình tiết nghiêm trọng, hoặc gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm”
Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân tại Điều 11 quy
định:“1 Kẻ nào nhận tài sản riêng của công dân để giữ, vận chuyển, gia công, sửa
chữa hoặc để làm một việc gì khác mà lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt, bớt xén hoặc đánh tráo tài sản đó thì bị phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm 2 Phạm tội trong những trường hợp sau đây: a) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, xí nghiệp Nhà nước, đơn vị bộ đội, đoàn thể nhân dân, hợp tác xã hoặc dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm khác; b) Gây hậu quả nghiêm trọng đến đời sống của người bị thiệt hại hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác; Thì bị phạt tù từ 1 năm đến 7 năm”
Trong cả hai Pháp lệnh, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản đã được các nhà làm luật quy định rõ tại điều luật cụ thể Hành vi khách quan của tội phạm tuy được quy định tại hai điều luật ở hai Pháp lệnh nhưng có chung mặt khách quan của tội
phạm Hành vi khách quan của tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt là hành vi “lạm
dụng tín nhiệm chiếm đoạt”, “bớt xén” hoặc “đánh tráo” chiếm đoạt một phần hoặc
toàn bộ tài sản được giao ngay thẳng trên cơ sở hợp đồng gửi giữ, gia công, vận chuyển…, đối tượng của hành vi chiếm đoạt là tài sản XHCN hoặc tài sản công dân Khung hình phạt đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có sự khác nhau căn
cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội đối với từng loại tài sản bị chiếm đoạt Phạm tội đối với tài sản XHCN được nhà làm luật quy định chính sách xử lý tội phạm nghiêm khắc hơn so với chiếm đoạt tài sản của công dân
Hai Pháp lệnh ra đời năm 1970 tuy vẫn còn nhiều nét trình bày, kết cấu đơn giản nhưng ước đầu đã thể hiện trình độ lập pháp tiến bộ của các nhà lập pháp nước ta giai đoạn này Tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản đã được quy định với điều luật cụ thể, tạo cơ sở pháp lý cho việc áp dụng và xử lý tội phạm được công khai, minh bạch, bảo vệ tài sản XHCN, tài sản của công dân
Giai đoạn 1975, miền Nam nước ta được giải phóng, đất nước hoàn toàn thống nhất, chính phủ lâm thời miền Nam Việt Nam mới thành lập cũng đã ban hành các văn bản pháp luật để bảo vệ các quyền cơ bản của công dân, của nhà nước Sắc luật số 03/SL-1976 ngày 15/03/1976 Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam quy định các tội phạm và hình phạt được áp dụng ở miền Nam Việt Nam, tại đây,
tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được ghi nhận với tên gọi “Bội tín”: “…b
Phạm các tội khác như: trộm cắp, tham ô, lừa đảo, bội tín, cướp giật, cưỡng đoạt, chiếm giữ trái phép thì bị phạt tù từ sáu tháng đến bẩy năm…” (Điểm b Điều 4) Sắc
Trang 24luật ước đầu xác định về tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nhưng chưa đưa ra dấu hiệu pháp lý cụ thể mà gộp chung với một số tội xâm phạm sở hữu khác Tháng 04/1976 Bộ tư pháp đã ra Thông tư số 03/BTP/TT hướng dẫn thi hành Sắc luật trên Sắc luật chỉ quy định áp dụng tại miền Nam Việt Nam khi chính phủ lâm thời mới thành lập giai đoạn đất nước hoàn toàn thống nhất So với Hai Pháp lệnh năm 1970 ban hành trước đó, Sắc luật mang tính đơn giản hơn, tuy nhiên, về nội dung có phần cơ bản
là thống nhất với hai Pháp lệnh năm 1970 được ban hành
1.2.2 Tội lạm d ng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định của pháp luật hình
s Việt Nam giai đoạn từ 1985 đến rước khi Bộ luật hình s 1999 có hiệu l c
Khi nhà nước XHCN dần đi vào ổn định, trước tình trạng các văn bản quy phạm pháp luật hình sự đơn hành dẫn đến tồn tại nhiều hạn chế, thiếu tính đồng bộ Nhằm hướng đến việc thể hiện một cách toàn diện, trên cơ sở pháp điển hóa các văn bản pháp luật hình sự được ban hành từ những năm đầu của chính quyền cách mạng đến giữa những năm 80 của thế kỷ XX, cũng như thể chế hóa chính sách hình sự của nhà nước trong thời kỳ cả nước thống nhất đi lên CNXH BLHS của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam đã được Quốc hội thông qua ngày 27/6/1985, có hiệu lực từ ngày 01/01/1986
Tại đây, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được ghi nhận và quy định thành tội danh riêng tại hai điều: Điều 135 (tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản XHCN), Điều 158 (tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của công dân) Cụ thể:
“Điều 135 Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa:1-
Người nào lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm 2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm: a) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm; b) Chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn; c) Tái phạm nguy hiểm 3- Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm”
“Điều 158 Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của công dân: 1- Người
nào lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của người khác thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm 2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ hai năm đến mười hai năm: a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn; b) Tái phạm nguy hiểm”
Như vậy, BLHS 1985 đã giành hai chương quy định với các tội xâm phạm sở hữu gồm Chương IV về Các tội xâm phạm sở hữu XHCN và Chương VI về Các tội xâm phạm sở hữu của công dân Về cơ bản, so với hai Pháp lệnh ban hành năm 1970,
Trang 25tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản cũng được ghi nhận tại hai Điều luật cụ thể, độc lập quy định rõ về đối tượng tài sản là tài sản XHCN và tài sản của công dân BLHS 1985 cũng ghi nhận tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản XHCN cao hơn so với chiếm đoạt tài sản của công dân Điều này được cụ thể tại quy định của các khung hình phạt ở mỗi điều luật, Điều 135 với ba khung hình phạt gồm một khung cơ bản và hai khung tăng nặng; Điều 158 có hai khung hình phạt gồm một khung cơ bản và một khung tăng nặng; phân loại tội phạm tại điều luật về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản XHCN cụ thể hơn, cao hơn so với chiếm đoạt tài sản của công dân BLHS 1985 đã pháp điển hóa quy định tại hai Pháp lệnh thành một BLHS thống nhất, có giá trị pháp lý trên cả nước Điều này giúp hoạt động áp dụng pháp luật được thực hiện một cách hữu hiệu
Tuy nhiên, hai điều luật về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản tại BLHS
1985 lại không mô tả rõ dấu hiệu về hành vi phạm tội Điều này đ i hỏi khi áp dụng pháp luật để xử lý tội phạm cần có thêm các văn bản hướng dẫn cụ thể Nó dẫn đến việc phải xây dựng thêm một loạt văn ăn hướng dẫn cồng kềnh, có thể dẫn đến sự thiếu động bộ khi áp dụng
Trong tiến trình hoàn thiện hệ thống luật pháp, BLHS 1985 đã được sửa đổi, bổ sung bốn lần vào các năm 1989; 1991; 1992; 1997 Trong đó, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản XHCN (Điều 135) được sửa đổi, bổ sung hai lần vào các năm 1991
và 1992; tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của công dân được sửa đổi, bổ sung một lần vào năm 1991 Các lần sửa đổi, bổ sung đối với tội phạm này chỉ sửa đổi, bổ sung khung tăng nặng của tội phạm vẫn chưa sửa đổi, bổ sung cấu thành cơ bản để làm
rõ dấu hiệu về hành vi khách quan của tội phạm
Đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản XHCN (Điều 135), lần sửa đổi, bổ sung thứ nhất theo luật số 55-LCT/HĐNN8 sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS 1985, được Quốc Hội thông qua ngày 12/08/1991, hình phạt tại Khoản 3 đã điều
chỉnh theo hướng tăng hình phạt tù “từ mười năm đến hai mươi năm” lên “từ mười
năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân”, tính chất của tội phạm đã được xác định
mang tính nguy hiểm hơn, phân loại tội phạm ở mức cao hơn Đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của công dân (Điều 158) lần sửa đổi này đã thêm một khung
hình phạt là khoản 3- “Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù
từ mười năm đến hai mươi năm” Tính phân loại tội phạm trong điều luật này tại lần
sửa đổi, bổ sung đã thể hiện cao hơn, tăng mức truy cứu TNHS đối với tội phạm từ hai khung hình phạt so với trước đây đã thành ba khung hình phạt
Trang 26Lần sửa đổi theo luật số 4-L/CTN sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS 1985 được Quốc Hội thông qua ngày 22/12/1992 đã bổ sung thêm tình tiết tăng nặng định
khung ở khoản 2 Điều 135-Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản XHCN là: “d-Lợi
dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội”
Theo đó, BLHS 1985 sửa đổi, bổ sung 1992 có quy định áp dụng hình phạt bổ sung cấm đảm nhiệm chức vụ quản lý tài sản XHCN từ hai năm đến năm năm trong trường hợp được quy định trên tại Khoản 1 Điều 142
So với quy định trước, luật sửa đổi, bổ sung đã có những quy định mới thay đổi
về mức hình phạt, tăng thêm về khung hình phạt thể hiện tính phân hoá trách nhiệm hình sự cao hơn Ngoài ra, cùng với việc sửa đổi, bổ sung hình phạt chính, hình phạt bổ sung là cấm đảm nhiệm chức vụ quản lý tài sản XHCN được quy định tại Điều 142 cũng được bổ sung thêm nhằm phù hợp với quy định mới của luật, tăng hiệu quả áp dụng cho BLHS 1985
Từ sự kế thừa, đúc rút kinh nghiệm lập pháp qua các văn bản quy phạm pháp luật hình sự, BLHS 1985 với các lần sửa đổi đã dần có sự hoàn thiện, quy định về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được ghi nhận tại hai điều luật 135 và 158 có sự tiến bộ trong kĩ thuật lập pháp Các quy định đối với tội phạm này tuy vẫn chưa khắc phục được nhược điểm về dấu hiệu pháp lý của hành vi phạm tội nhưng đã thể hiện sự phân hóa tội phạm cao hơn, các tình tiết định khung được quy định cụ thể hơn Điều này góp phần không nhỏ cho quá trình vận dụng và áp dụng pháp luật, tạo điều kiện cá thể hoá trách nhiệm hình sự được rõ ràng hơn Hình phạt bổ sung cũng được các nhà làm luật kịp thời bổ sung, quy định rõ ràng, tạo cơ sở pháp lý khi áp dụng pháp luật
1.2.3 Tội lạm d ng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định của pháp luật hình
s Việt Nam giai đoạn từ 1999 đến nay
Sau hơn mười năm thi hành và qua bốn lần sửa đổi, BLHS 1985 với những đóng góp không thể phủ nhận đã giúp cải thiện chính sách pháp luật hình sự của nước ta một cách đ ng kể Tuy nhiên, trước sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế thị trường, các quan hệ xã hội ngày càng phát triển Để phù hợp với sự phát triển của xã hội, việc kiện toàn hệ thống pháp luật trong đó có BLHS là đ i hỏi khách quan của hoạt động lập pháp Kế thừa và phát huy những quan điểm lập pháp hình sự, ngày 22/11/1999 Quốc Hội khóa X đã thông qua BLHS năm 1999 và Nghị quyết số 32/1999/QH-10 về việc thi hành BLHS đ p ứng đòi hỏi theo yêu cầu của xã hội với những điểm mới đ ng ghi nhận Trong đó, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 140 BLHS 1999, thuộc chương XIV Các tội xâm phạm sở hữu:
Trang 27“Điều 140 Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
1 Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ một triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới một triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm: a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó; b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản 2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm: a) Có tổ chức; b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức; c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt; d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ trên năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng; đ) Tái phạm nguy hiểm; e) Gây hậu quả nghiêm trọng 3 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm: a) Chiếm đoạt tài sản
có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng; b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng 4 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân: a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên; b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng 5 Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này”
BLHS 1999 đã có những điểm mới đ ng kể, đưa ra các quy định nhằm phù hợp với bối cảnh kinh tế thị trường ngày một phát triển nhằm xác định tội phạm chính xác, khách quan, không bỏ lọt tội phạm So với BLHS 1985, quy định về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được sửa đổi, bổ sung những điểm sau:
Thứ nhất, các tội trong chương tội xâm phạm sở hữu XHCN và chương xâm
phạm sở hữu của công dân được nhập lại thành một chương “C c tội xâm phạm sở hữu” Theo đó, tội lạm dụng nhiệm chiếm đoạt tài sản XHCN và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản công dân được ghi nhận tại Điều 140 BLHS 1999 Sự thay đổi này
đã tạo nên một mặt bằng pháp lý bình đẳng giữa các thành phần kinh tế khác nhau, đ p ứng yêu cầu phát triển chung của nền kinh tế XHCN Điều này cho thấy cái nhìn khách quan của nhà làm luật ứng dụng trong thời kỳ mới, tạo cơ sở pháp lý thống nhất cho
Trang 28việc áp dụng pháp luật, nâng cao tính phòng ngừa, giáo dục tội phạm
Thứ hai, về cấu thành cơ bản tại Điều 140, so với BLHS 1985, tội lạm dụng tín
nhiệm chiếm đoạt tài sản ghi nhận các dấu hiệu pháp lý về tội phạm đầy đủ hơn Cụ thể, dấu hiệu về hành vi phạm tội ghi nhận là: Người phạm tội vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác ằng các hình thức hợp đồng rồi: dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản; ỏ trốn để chiếm đoạt tài sản; đã sử dụng tài sản đó vào mục đích ất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản
Cấu thành cơ bản Điều 140 cũng quy định thêm về hậu quả của tội phạm qua
định lượng giá trị tài sản bị chiếm đoạt “từ một triệu đồng đến dưới năm mươi triệu
đồng hoặc dưới một triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm” Có thể thấy, ngay từ cấu thành cơ bản, BLHS 1999
đã có những tiến bộ đ ng kể, khắc phục nhiều hạn chế của BLHS 1985 trước đây, đưa
ra một cấu thành với đầy đủ dấu hiệu pháp lý được khoa học luật hình sự ghi nhận
Thứ ba, về cơ cấu điều luật tại Điều 140, ngoài hình phạt bổ sung được quy định
tách riêng tại Khoản 5, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được cấu tạo với bốn khoản tương ứng với bốn khung hình phạt thể hiện rõ ràng tính phân hoá trách nhiệm hình sự Các tình tiết định khung hình phạt cũng được các nhà làm luật quy định cụ thể,
Nhà làm luật thay đổi về dấu hiệu hậu quả của tội phạm, tăng giá trị tiền từ “một triệu
đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới một triệu đồng nhưng ” lên thành
“bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng ”
Đến giai đoạn hiện nay, sau mười sáu năm áp dụng BLHS 1999, đứng trước thực tiễn xã hội có nhiều biến chuyển, tình hình kinh tế, bối cảnh hội nhập thay đổi không ngừng đặt ra đ i hỏi cần tiếp tục kiện toàn, đổi mới để pháp luật phù hợp và điều chỉnh được hết các quan hệ xã hội mới phát sinh Điều này dẫn đến yêu cầu việc ban hành BLHS phù hợp với tình hình mới là vấn đề tất yếu Do đó, BLHS 2015 đã ra đời Tại đây, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 175 với những sửa đổi nhằm thể hiện rõ tính răn đe, giáo dục đối với tội phạm trong thực tiễn:
Trang 29“Điều 175 Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
1 Người nào thực hiện một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án
về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173,
174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại hoặc tài sản có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt
tù từ 06 tháng đến 03 năm: a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng
cố tình không trả; b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản 2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm: a) Có tổ chức; b) Có tính chất chuyên nghiệp; c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng; d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan,
tổ chức; đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt; e) Tái phạm nguy hiểm 3 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm: a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng; b) Gây ảnh hưởng xấu đến
an ninh, trật tự, an toàn xã hội 4 Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm 5 Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền
từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn
bộ tài sản”
Điều 175 BLHS 2015 vẫn duy trì 5 khoản đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản với một khung cơ bản, một khung hình phạt bổ sung và ba khung tăng nặng trách nhiệm hình sự Tuy nhiên, đối với mỗi khoản, BLHS 2015 đã có sự thay đổi để tăng tính răn đe, giáo dục, phòng ngừa tội phạm, thể hiện sự phân hoá trách nhiệm hình
sự cao hơn BLHS 2015 sửa đổi 2017 quy định về tội phạm hầu như được giữ nguyên
Cụ thể:
Thứ nhất, tại cấu thành cơ bản, nhà làm luật khi mô tả hành vi phạm tội đã quy
định thêm 01 loại hành vi là hành vi khách quan của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài
sản là hành vi “đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình
Trang 30không trả”, BLHS 2015 bỏ hành vi “bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản” ra khỏi cấu thành tội
lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nhưng khi sửa đổi năm 2017 đã lại tiếp tục đưa vào CTTP Quy định này đã làm rõ hơn về việc xác định ranh giới giữa tội phạm và tranh chấp dân sự đối với các giao dịch được xác lập, tăng tính bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân đối với quyền sở hữu tài sản Ngoài ra, cấu thành cơ bản cũng xác định với hành vi phạm tội gây hậu quả có giá trị dưới bốn triệu nhưng thuộc những trường hợp quy định cụ
thể như thế nào thì bị truy cứu TNHS “đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi
chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều
168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại hoặc tài sản
có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại” Như vậy, tình tiết đã bị kết án
mở rộng thêm đối với các tội xâm phạm sở hữu khác, tội phạm mới về công nghệ để chiếm đoạt tài sản tại Điều 290 chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; đưa thêm dấu hiệu về tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại hoặc tài sản có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại Quy định mới không những cụ thể hóa quy định về dấu hiệu tội phạm mà còn tăng tính nhân văn, bảo vệ quyền con người với việc ghi nhận tài sản thiệt hại có giá trị cũng như ý nghĩa với người bị hại Về mức hình phạt, nhằm tăng tính phòng ngừa, giáo dục tội phạm, cấu thành cơ bản tại Khoản 1 Điều 175 BLHS 2015 nâng mức phạt tù thấp nhất lên 06 tháng thay vì 03 tháng như BLHS năm 1999
Thứ hai, với các khung tăng nặng, BLHS 2015 bỏ tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng”; “gây hậu quả rất nghiêm trọng”;“gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” thay bằng
tình tiết “có tính chất chuyên nghiệp” (Điểm b Khoản 2 Điều 175); “Gây ảnh hưởng xấu
đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội” (Điểm b Khoản 3 Điều 175) Điều này thể hiện tính
đồng bộ các quy định của pháp, trình độ lập pháp tiến bộ hơn của các nhà làm luật bởi lẽ trước đây, các tình tiết được bỏ đi kể trên có thể được xác định qua hậu quả là giá trị tài sản
bị tội phạm chiếm đoạt, các văn bản hướng dẫn cũng có những hướng dẫn tương tự vấn đề này Nếu vẫn để các tình tiết đó sẽ dẫn đến việc khó xác định tình tiết tăng nặng định khung trong một số trường hợp, gây khó khăn cho việc áp dụng pháp luật Đối với mức hình phạt, việc phân loại tội phạm ở mỗi khung hình phạt vẫn được xác định như quy định của BLHS
1999 nhưng mức hình phạt đã được hạ xuống thấp hơn, cụ thể: Khoản 3 quy định “thì bị
phạt tù từ 05 năm đến 12 năm” (BLHS 1999 quy định mức phạt tù từ 07 năm đến 15 năm);
Khoản 4 quy định “thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm” (Bỏ mức phạt tù chung thân tại
BLHS 1999) Với tinh thần tăng cường bảo vệ quyền con người, quy định mức hình phạt tại BLHS 2015 sửa đổi 2017 đã có những thay đổi đ p ứng đ i hỏi của xã hội mới nâng cao
Trang 31quyền con người, quyền công dân, tiến tới hội nhập thế giới
Có thể nói, quá trình ra đời và hoàn thiện các quy định về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản đúc kết nhiều tinh hoa từ lịch sử lập pháp Quy định đối với tội phạm này có sự thay đổi theo từng giai đoạn để phù hợp với bối cảnh lịch sử, kinh tế, xã hội
1.3 Quy định của pháp luật hình sự một số nước trên thế giới về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và kinh nghiệm rút ra với pháp luật hình sự Việt Nam
Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được luật hình sự một số quốc gia trên thế giới ghi nhận Tham khảo quy định của BLHS một số nước trên thế giới cho thấy quy định tội phạm này có những nét khác biệt đ ng kể so với BLHS Việt Nam Mặc dù vậy, bảo vệ quyền sở hữu bao giờ cũng được các nhà làm luật xác lập, ghi nhận, tôn trọng và bảo vệ bằng hiến pháp và pháp luật, trong đó có pháp luật hình sự vì quyền sở hữu là một trong những quyền cơ bản của công dân, có bảo vệ được quan hệ
xã hội này thì việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân mới được bảo đảm
Trong phạm vi luận văn này, tác giả nghiên cứu BLHS của ba nước là: Liên bang Nga, Trung Quốc và Thuỵ Điển để so sánh, đ nh giá các quy định liên quan đến tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản bởi pháp luật hình sự những nước nêu trên có một số điểm tương đồng với pháp luật hình sự Việt Nam liên quan đến tội phạm này
BLHS liên bang Nga được thông qua ngày 24/5/1996 và tổng thống Liên bang Nga ký luật số 64 ngày 13/6/1996 “về việc thi hành bộ luật hình sự của Liên bang Nga”
có hiệu lực từ ngày 01/01/1997 Các tội xâm phạm sở hữu được BLHS của nước này quy định cụ thể tại chương 21, trong đó, Điều 159 quy định tội Lừa đảo như sau:
“Lừa đảo là chiếm đoạt tài sản hoặc quyền đối với tài sản của người khác bằng thủ đoạn gian dối hay lạm dụng tín nhiệm, thì bị phạt tiền từ 200 lần đến 700 lần mức lương tối thiểu hoặc mức lương hoặc thu nhập khác của người phạm tội trong thời gian
từ 02 tháng đến 07 tháng hoặc bị phạt lao động bắt buộc từ 180 đến 240 giờ hoặc bị phạt giam từ 04 tháng đến 06 tháng hoặc bị phạt tù đến 03 năm…” [15]
Như vậy, về cơ bản, BLHS Liên bang Nga cũng có quy định về hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt của công dân Tuy nhiên, so với BLHS Việt Nam có một số khác biệt:
Thứ nhất, hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản công dân được nhà làm luật quy định trong Điều 159 BLHS Liên bang Nga về tội Lừa đảo chứ không tách riêng là một tội phạm độc lập như trong BLHS Việt Nam Việc quy định như vậy cho thấy nhà làm luật nước này đ nh giá hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là một bộ phận cấu thành của tội lừa đảo
Trang 32Thứ hai, trong cấu thành tội phạm được BLHS Liên bang Nga quy định về tội Lừa đảo không chỉ ra cụ thể các hành vi khách quan của tội phạm mà chỉ có quy định
mang tính chất chung là “bằng thủ đoạn gian dối hay lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt
tài sản hoặc quyền tài sản” [15] BLHS Việt Nam trong cấu thành tội phạm tội lạm
dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản quy định rất rõ các dấu hiệu pháp lý cụ thể của tội phạm để xác định, truy cứu TNHS đối với tội phạm này
Thứ ba, chế tài áp dụng đối với tội phạm có liên quan đến hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trong BLHS Liên bang Nga là bị phạt tiền tính trên mức thu nhập tối thiểu hay mức lương hay thu nhập khác của người bị kết án trong thời gian, hoặc bị lao động bắt buộc hay phạt tù ở mức trung bình (cao nhất là đến 10 năm tù) BLHS Việt Nam hiện hành quy định hình thức chế tài có phần nghiêm khắc hơn, hình phạt thấp nhất là cải tạo không giam giữ đến 03 năm và hình phạt cao nhất là phạt tù đến hai mươi năm hoặc tù chung thân Nhưng nhìn chung, cả hai BLHS vẫn đều thể hiện rõ tinh thần, mục đích của BLHS là mang tính phòng ngừa, giáo dục tội phạm là chủ yếu
BLHS nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ II, ngày 01/7/1979, có hiệu lực từ ngày 01/01/1980 Trong quá trình thi hành, BLHS Trung Quốc đã trải qua năm lần sửa đổi, bổ sung vào các năm 1997, 1999, 2001,
2002 và lần sửa đổi, bổ sung gần đây nhất là năm 2005 tại Hội nghị lần thứ 14 của Uỷ ban thường vụ đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc khoá X
Các tội xâm phạm về sở hữu được nhà làm luật Trung Quốc quy định tại Chương V BLHS với tên gọi là “Tội xâm phạm tài sản”, liên quan đến tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản tại Điều 266 có quy định:
“Người nào phạm tội lừa đảo, lạm dụng lòng tin chiếm đoạt tài sản của công dân với số lượng tương đối lớn thì bị phạt tù từ 03 năm trở xuống, cải tạo lao động, hoặc quản chế và bị phạt tiền; nếu với số lượng lớn hoặc có tình tiết nghiêm trọng khác thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm và bị phạt tiền; nếu với số lượng quá lớn hoặc có tình tiết đặc biệt nghiêm trọng khác thì bị phạt tù từ 10 năm trở lên hoặc tù chung thân,
và bị phạt tiền hoặc bị tịch thu tài sản” [15]
Như vậy, BLHS Trung Quốc cũng quy định các hành vi xâm phạm tới quyền sở hữu Tuy nhiên, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản lại cũng không được quy định cụ thể trong một điều luật mà cùng chung với tội lừa đảo, hành vi phạm tội lạm dụng trong bộ luật không được các nhà làm luật mô tả chi tiết như BLHS Việt Nam
Trang 33Hơn nữa, BLHS Trung Quốc xác định mức độ nguy hiểm cho xã hội bằng “số lượng” tài sản bị chiếm đoạt, nhưng lại chỉ đưa ra quy định chung mà không xác định
số lượng cụ thể trong quy định Có thể thấy, khi áp dụng BLHS Trung Quốc, người áp dụng phải vận dụng, nghiên cứu tất cả các văn bản hướng dẫn để đưa ra được yếu tố truy cứu TNHS một cách chính xác, khách quan
BLHS Thuỵ Điển thông qua năm 1962, có hiệu lực từ ngày 01/01/1965 Quá trình thi hành, BLHS Thụy Điển đã được sửa đổi, bổ sung nhiều lần các năm 1967,
1970, 1974, 1986, 1988, 1994,… và lần sửa đổi gần đây nhất là năm 1999
Liên quan đến tội xâm phạm quyền sở hữu của công dân BLHS Thuỵ Điển quy định trong Chương IX “Tội lừa đảo và các tội gian dối kh c” Tại Điều 1 có quy định:
“ Người nào đưa ra thông tin sai sự thật hoặc không đầy đủ, thay đổi nội dung của chương trình hoặc bản ghi hoặc bằng các thủ đoạn khác tác động một cách bất hợp pháp đến kết quả xử lí dữ liệu tự động hoặc bất kì quy trình tự động nào khác nhằm mang lại lợi ích cho người phạm tội và gây thiệt hại cho người khác thì cũng bị kết án
về tội lừa đảo [38, Điều 1];
Nếu xét mức độ thiệt hại và các tình tiết khác mà tội phạm quy định tại Điều 1 được coi là ít nghiêm trọng thì người phạm tội sẽ bị phạt tiền hoặc phạt tù đến 06 tháng
về tội có hành vi gian dối
Người nào sử dụng nhà trọ, phương tiện giao thông, thức ăn, xem các cuộc trình diễn hoặc bất cứ dịch vụ nào tương tự được cung cấp trên cơ sở thanh toán bằng tiền mặt mà không chịu trả tiền, bất kể là có lừa gạt được người nào hay không thì cũng bị kết án về tội có hành vi gian dối Tuy nhiên, quy định này không áp dụng với hành vi có liên quan đến số lượng tiền không lớn và đã được quy định tại Điều 1 [38, Điều 2];
Phạm tội quy định tại Điều 1 trong trường hợp nghiêm trọng thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 06 năm về tội lừa đảo trong trường hợp nghiêm trọng Để xác định tính chất nghiêm trọng của tội phạm phải đặc biệt cân nhắc xem người phạm tội có lạm dụng chức vụ, quyền hạn, sử dụng giấy tờ giả mạo hoặc sổ sách kế toán gian lận hoặc vì lí do khác mà tội phạm được coi là có tính chất đặc biệt nguy hiểm, trục lợi với giá trị lớn hoặc gây thiệt hại lớn hay không” [38, Điều 3];
Như vậy, BLHS Thuỵ Điển cũng chỉ ghi nhận về các hành vi liên quan đến lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thông qua quy định của BLHS về tội lừa đảo mà không có quy định cụ thể như BLHS Việt Nam
Trang 34Tất cả những hành vi phạm tội liên quan đến lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản không được các nhà làm luật đặt tên tội danh mà chỉ mô tả các hành vi phạm tội được quy định trong tội lừa đảo
Qua tìm hiểu, nghiên cứu về các quy định có liên quan đến tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của các quốc gia như Nga, Trung Quốc, Thuỵ Điển và tội lạm dụng chiếm đoạt tài sản tại Điều 140 BLHS Việt Nam, tác giả có thể khái quát một số vấn đề như sau:
Một là, các dấu hiệu có liên quan đến hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài
sản được pháp luật các quốc gia trên quy định nằm trong các dấu hiệu của tội lừa đảo Cũng chính vì vậy, không có sự phân biệt giữa tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong các dấu hiệu pháp lý hình sự như ở pháp luật hình
sự Việt Nam Với quy định như trên trong pháp luật hình sự, các nước này sẽ có nội hàm rộng hơn trong việc xác định tội phạm, tội phạm lừa đảo có những hành vi trong đó có hành vi về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nên khi truy cứu TNHS, họ sẽ không bị ràng buộc, giới hạn bởi một vài hành vi cụ thể nào Tuy nhiên, cách quy định các dấu hiệu được điều luật ghi nhận mang tính chất chung nhất nên nội dung của quy phạm rất rộng, đ i hỏi phải có trình độ pháp lý nhất định thì mới có thể hiểu được, nắm được các quy định với rất nhiều văn bản hướng dẫn thi hành dẫn đến một hệ thống các văn bản cồng kềnh Điều này gây khó khăn cho người dân nắm bắt, tìm hiểu pháp luật; việc giải thích, tuyên truyền pháp luật đ i hỏi cần có trình độ hiểu biết sâu về pháp luật
Hai là, hình phạt áp dụng đối với người phạm tội có liên quan đến hành vi lạm
dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trong pháp luật hình sự các nước tuy có nhiều hình thức khác nhau nhưng đều không phân biệt hình phạt chính và hình phạt phụ khi áp dụng Nhà làm luật chỉ quy định loại hình phạt cụ thể cho tội phạm nhưng không xác định khung hình phạt tương ứng với mức độ phạm tội Như vậy, việc quy định hình phạt chưa mang tính phân hóa rõ TNHS, chưa thể phòng hết các trường hợp xảy ra trong việc xác định hậu quả và đưa ra chế tài phù hợp với hậu quả do tội phạm gây ra
1.4 Phân biệt tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản với một số tội khác có dấu hiệu liên quan
Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có dấu hiệu gần gũi với một số tội như lừa đảo chiếm đoạt tài sản; tham ô tài sản; lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản Việc phân biệt các tội phạm này sẽ giúp ta có những căn cứ để xác định dấu hiệu, xác định về tội phạm được chính xác, khoa học hơn
Trang 351.4.1 Phân biệt tội lạm d ng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Gi nhau iữa hai ội:
Thứ nhất, về khách thể, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản đều xâm phạm đến khách thể là quyền sở hữu tài sản được pháp luật hình sự ảo vệ Hai tội này đều được các nhà làm luật ếp vào Chương XIV: Các tội xâm phạm sở hữu tại Điều 139; 140 BLHS
Thứ hai, về mặt chủ quan, cả hai tội phạm đều được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp Cấu thành tội phạm cả hai tội phạm đều thể hiện người có hành vi người phạm tội nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của mình là hành vi nguy hiểm cho xã hội, thấy được hậu quả của hành vi mình thực hiện xâm phạm đến quan hệ sở hữu được pháp luật hình sự bảo vệ Trong ý thức chủ quan của người phạm tội, họ mong muốn hậu quả xảy
ra nhằm mục đích chiếm đoạt được tài sản của người khác
Thứ ba, về chủ thể của tội phạm, cả hai tội phạm này đều có thể do bất kỳ chủ thể nào có năng lực TNHS, đủ tuổi chịu TNHS thực hiện
Thứ tư, về mặt khách quan của tội phạm, cả hai tội phạm đều được đ nh giá có mức độ nguy hiểm cho xã hội ngang nhau Điều này thể hiện ở việc quy định loại hình phạt và mức hình phạt tại các khung hình phạt của hai điều luật gần như được quy định như nhau
Khác nhau giữa hai tội:
Thứ nhất, về mặt khách quan của tội phạm: Ở tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, người phạm tội sau khii nhận được tài sản một cách ngay thẳng hợp pháp thông qua hợp đồng dân sự hoặc hợp đồng kinh tế, quá trình thực hiện hợp đồng khi đến thời hạn nhất định hoặc thời hạn phải trả lại tài sản, người phạm tội mới nảy sinh ý định không trả lại tài sản với ý thức chiếm đoạt Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, hành vi gian dối có thể ảy ra nhưng chỉ nhằm để che giấu hành vi chiếm đoạt chứ không phải là phương thúc để chiếm đoạt Ở tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, mặt khách quan của tội phạm lại được xác định gồm hai hành vi: hành vi gian dối và hành vi chiếm đoạt Để chiếm đoạt được tài sản từ chủ sở hữu, người phạm tội dùng thủ đoạn gian dối với mục đích chiếm đoạt Hành vi gian dối là tiền đề cho việc chiếm đoạt, hành
vi chiếm đoạt là kết quả trực tiếp từ gian dối thành công Như vậy hành vi gian dối diễn
ra trước hành vi chiếm đoạt về mặt thời gian Ngược lại, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, hành vi gian dối diễn ra sau khi có hành vi chiếm đoạt về mặt thời gian Thực tiễn áp dụng pháp luật, việc xác định thời điểm giữa ý thức chiếm đoạt có trước
Trang 36hay có sau khi có được tài sản trong tay là một việc rất khó khăn và không phải lúc nào cũng chứng minh được do điều này lại nằm trong ý thức chủ quan của mỗi tội phạm
Thứ hai, về thời điểm hoàn thành tội phạm: Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, tội phạm hoàn thành khi người phạm tội đã có hành vi chiếm đoạt tức là đã có
sự chiếm đoạt Điều này có thể hiểu là người phạm tội đã có hành vi cố ý dịch chuyển một cách trái phép tài sản thuộc sở hữu của người khác thành sở hữu của mình và có đầy đủ điều kiện khách quan để có thể định đoạt sản theo ý thức chủ quan của mình Với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì thời điểm hoàn thành tội phạm sớm hơn, tức là ngay sau khi người phạm tội nhận được tài sản trái phép hoặc khi giữ tài sản trái phép
Điều này có thể được iểu hiện qua sơ đồ minh hoạ sau:
Thứ ba, về hình thức chuyển giao tài sản, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản không nhất thiết phải thông qua hình thức hợp đồng, các hợp đồng ở tội phạm này chỉ là một dạng của hành vi lừa đảo và ở dạng này thì hành vi phạm tội sẽ gây ra hậu quả nhanh hơn so với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
1.4.2 Phân biệt tội lạm d ng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản với tội tham ô tài sản
Gi ng nhau giữa hai tội:
Thứ nhất, về mặt khách quan của tội phạm, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 140 BLHS 1999 và tội tham ô tài sản được quy định tại Điều 278 BLHS 1999 đều có hành vi khách quan là chiếm đoạt tài sản đang nằm trong
sự quản lý của người phạm tội
Thứ hai, về mặt chủ quan của tội phạm, đối với cả hai tội phạm này, dấu hiệu lỗi thuộc mặt chủ quan của tội phạm đều là lỗi cố ý trực tiếp
Khác nhau giữa hai tội:
Thứ nhất, về chủ thể của tội phạm, tội tham ô tài sản có chủ thể là những người
có chức vụ, quyền hạn trong việc quản lý tài sản, là chủ thể đặc biệt; Đối với tội lạm
Chiếm đoạt Giai đoạn thực
hiện nghĩa vụ
Giai đoạn chuyển giao tài sản
Tài sản do
người khác
quản lý
Tội lạm dụng tín nhiệm… hoàn thành Tội lừa đảo…
hoàn thành
Trang 37dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản chỉ cần là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ đến tuổi nhất định theo quy định của pháp luật
Thứ hai, về đối tượng tác động của tội phạm, tài sản là đối tượng của tội tham ô phải là tài sản thuộc sở hữu Nhà nước, tài sản của doanh nghiệp trong đó nguồn vốn của Nhà nước chiếm từ 51% trở lên hoặc có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước và tài sản đó đang do người phạm tội trực tiếp quản lý theo quy định của pháp luật Tài sản là đối tượng của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì có thể thuộc bất kỳ hình thức sở hữu nào
1.4.3 Phân biệt tội lạm d ng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản với tội lạm d ng chức v , quyền hạn chiếm đoạt tài sản
Gi nhau iữa hai ội:
Thứ nhất, về mặt khách quan của tội phạm, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
và tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 280 BLHS
1999 đều có hành vi khách quan là chiếm đoạt tài sản Trong đó, đối tượng tài sản ị chiếm đoạt của cả hai tội phạm đều là những tài sản đang thuộc sự quản lý của tội phạm
Thứ hai, về mặt chủ quan của tội phạm, cả hai tội đều được thực hiện với lỗi cố
ý trực tiếp, xâm phạm đến khách thể là quyền sở hữu được pháp luật hình sự ảo vệ
Khách nhau iữa hai ội:
Điểm khác nhau duy nhất giữa hai tội phạm này là về chủ thể của tội phạm Chủ thể của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có thể là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ đến tuổi nhất định theo quy định của pháp luật Còn chủ thể của tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản phải là người có chức vụ, quyền hạn nhất định để từ đó, họ được người khác tin tưởng và giao tài sản cho họ dẫn đến hành vi chiếm đoạt tài sản của tội phạm
Kết luận Chương 1
1 Xây dựng khái niệm về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản giúp ta thấy
cái nhìn khái quát về tội phạm Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là hành vi
nguy hiểm cho xã hội của người phạm tội lợi dụng lòng tin của người khác, sử dụng hành vi vay, mượn, thuê tài sản hoặc nhận tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng trở lên bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn với mục đích chiếm đoạt tài sản hoặc sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không
có khả năng trả lại tài sản, do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý, trái pháp luật hình sự, xâm phạm quyền
sở hữu được pháp luật hình sự bảo vệ Các dấu hiệu pháp lý của tội lạm dụng tín nhiệm
Trang 38chiếm đoạt tài sản cho ta cái nhìn khách quan, toàn diện về tội phạm Hành vi phạm tội của tội phạm được hình thành sau khi người phạm tội có được tài sản một cách hợp pháp từ chủ sở hữu và đã nảy sinh ý định chiếm đoạt với các hành vi, thủ đoạn nhất định được quy định trong BLHS
2 Lịch sử lập pháp hình sự của Việt Nam quy định tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản cho thấy chính sách hình sự của nước ta đã ghi nhận tội phạm từ khá sớm trong tiến trình kiện toàn các quy định của pháp luật Hình sự nước ta Từ thời kỳ tội phạm này mới được công nhận qua các án lệ, nó đã cho thấy tầm quan trọng của việc ghi nhận quy định về tội phạm để bảo vệ các quan hệ sở hữu Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được nhà làm luật kiện toàn, hoàn thiện theo thời gian, cho đến nay các quy định trong điều luật khá rõ ràng, hợp lý, làm cơ sở cho việc xác định tội phạm
và truy cứu TNHS thống nhất, khách quan
3 Tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản cũng được pháp luật các nước trên thế giới ghi nhận với những quy định khác nhau nhưng nhìn chung đều xác định tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội có liên quan với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và được quy định hành vi trong cùng tội phạm này Việc nghiên cứu pháp luật Hình sự của các quốc gia trên thế giới giúp tiếp thu, học hỏi thêm
về kỹ thuật lập pháp của các quốc gia để so sánh, đối chiếu với pháp luật Việt Nam về tội phạm này, nhận ra được một số ưu, khuyết điểm để pháp luật nước ta được ngày càng hoàn thiện và phù hợp với các điều kiện, hoàn cảnh của đất nước
4 Việc nghiên cứu về tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, ta cũng
có thêm cơ sở để phân biệt tội với một số tội phạm như tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tội tham ô tài sản, tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản để hiểu rõ hơn về các điều luật Việc so sánh giữa các điều luật giúp phân biệt được các hành vi phạm tội giữa các điều luật có những điểm tương đồng Ngoài ra, việc so sánh này cũng giúp xác định tính chất của tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Trang 39Chương 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ TỘI LẠM DỤNG
TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
2.1 Các hình thức trách nhiệm hình sự đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo Bộ luật hình sự 1999
Quan điểm về TNHS được khoa học luật hình sự đưa ra nhiều ý kiến, có nhiều định nghĩa Theo một cách chung nhất, có thể hiểu TNHS là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm mà cá nhân người phạm tội phải gánh chịu trước nhà nước được thể hiện bằng bản án hay quyết định có hiệu lực pháp luật của Toà án [3, tr.662] TNHS của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là hậu quả pháp lý của việc thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác bằng các thủ đoạn gian dối, bỏ trốn, sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản qua hợp đồng hợp pháp mà các bên xác lập mà cá nhân người phạm tội phải gánh chịu trước nhà nước được thể hiện bằng bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Toà án
TNHS được thực hiện thông qua hệ thống các biện pháp cưỡng chế của nhà nước quy định trong BLHS áp dụng đối với người phạm tội Những hình thức của trách nhiệm hình sự nói chung và của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nói riêng được thể hiện dưới hai dạng là hình phạt và các biện pháp tư pháp được áp dụng
2.1.1 Hình phạt đ i với tội lạm d ng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Điều 26 BLHS 1999 quy định: "Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm
khắc nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội Hình phạt được quy định trong BLHS và do Toà án quyết định"
Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 140 BLHS
1999 có bốn khung hình phạt chính và một khung hình phạt bổ sung Cụ thể:
• Hình phạt theo Khoản 1 Điều 140 BLHS 1999:
1 Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm: a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó; b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác
Trang 40bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản
Tại điều khoản này, CTTP xây dựng là cấu thành vật chất, yếu tố định lượng giá trị tài sản chiếm đoạt được các nhà làm luật quy định cụ thể, là hậu quả của tội phạm để xác định thời điểm tội phạm hoàn thành
Trong CTTP cũng quy định về trường hợp hậu quả của tội phạm khi chưa đạt
mức định lượng mà Điều 140 BLHS 1999 đặt ra “hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây
hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm”
Tình tiết định tội “Gây hậu quả nghiêm trọng” được Thông tư liên tịch số
02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25/12/2001 của TAND tối cao, VKSND tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XIV “C c tội xâm phạm sở hữu” của BLHS 1999 (Sau đây gọi tắt là thông tư 02/2001) trong đó có tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo Điều 140 BLHS quy định:
“a) Nếu gây hiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản thì thuộc các trường hợp sau đây là gây hậu quả nghiêm trọng: a.1) Làm chết một người; a.2) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của một đến hai người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 61% trở lên; a.3) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của ba đến bốn người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% đến 60%; a.4) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nhiều người với tổng tỷ lệ thương tật từ 61% đến 100%, nếu không thuộc các trường hợp được hướng dẫn tại các điểm a.2 và a.3 trên đây; a.5) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nhiều người với tổng tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ 10 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng; a.6) Hoặc gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ 50 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng”
Với các hướng dẫn tình tiết định tội “Gây hậu quả nghiêm trọng”, thực tế có rất
ít trường hợp phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có tình tiết gây thiệt hại
về tính mạng, sức khỏe mà còn gây thương tích hoặc gây chết người Thực tiễn xét xử đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản hầu như chưa có vụ án nào xảy ra với
tình tiết này Ngoài ra, thông tư 02/2001 hướng dẫn về hậu quả còn có:“hậu quả phi vật
chất (gây ảnh hưởng xấu đến việc thực hiện đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước; gây ảnh hưởng xấu về an ninh, trật tự, an toàn xã hội)”