3 Luật học số 3/2006; Nguyễn Thị Kim Phụng, “Nội luật hoá CEDAW về bảo hiểm xã hội đối với lao động nữ khi dự thảo Luật bảo hiểm xã hội”, Tạp chí Luật học số 3/2006; Đặng Thị Thơm, “Chế
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGÔ PHƯƠNG ANH
CHẾ ĐỘ THAI SẢN THEO PHÁP LUẬT
LAO ĐỘNG VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số : 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS TRẦN THỊ THÚY LÂM
HÀ NỘI – 2017
Trang 2LỜI CÁM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi chân thành gửi lời cám ơn đến:
Thầy/Cô Việt Hàn Lâm Khoa Học Xã Hội Việt Nam – Học Viện Khoa Học Xã hội đã giảng dạy và truyền đạt cho tôi những kiến thức làm nền tảng cho
việc thực hiện luận văn chuyên ngành luật kinh doanh này
Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS TRẦN THỊ THÚY LÂM
đã tận tình hướng dẫn, góp ý từ khâu chọn đề tài, viết đề cương sơ bộ, đến đề cương chi tiết và hoàn chỉnh luận văn giúp tôi có thể hoàn thành luận văn tốt nghiệp một cách tốt nhất
Xin chân thành cảm ơn
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẾ ĐỘ THAI SẢN 6
1.1 Khái niệm và vai trò, ý nghĩa của chế độ thai sản 6
1.2 Nguyên tắc cơ bản của chế độ bảo hiểm thai sản 10
1.3 Chế độ thai sản theo quy định của tổ chức lao động quốc tế và một số quốc gia trên thế giới 14
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ CHẾ ĐỘ THAI SẢN 22
2.1 Đối tượng và điều kiện hưởng chế độ thai sản 22
2.4 Thủ tục hưởng chế độ BHXH thai sản 40
CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN THỰC HIỆN CHẾ ĐỘ THAI SẢN VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHĂM NÂNG CAO HIỆU QUẢ THI HÀNH CHẾ ĐỘ THAI SẢN 49
3.1 Thực tiễn thực hiện CĐTS 49
KẾT LUẬN 66
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 68
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
5 Bộ lao động Thương binh Xã hội BLĐTBXH
Trang 51
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ nữ tham gia lực lượng lao động cao nhất trên thế giới (khoảng 48,6%) Tất cả các lĩnh vực từ đời sống, kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, nghệ thuật… đều có sự tham gia của lực lượng lao động nữ, với tỷ trọng chiếm khá lớn trong lực lượng lao động như thế việc họ đóng góp tham gia vào quá trình sản xuất, tạo ra các sản phẩm về vật chất, tinh thần phục vụ cho lợi ích của xã hội, thì ngược lại những quyền lợi của học phải được hưởng phải xứng đáng theo đúng quy định của pháp luật hiện hành
Hiện nay trong các doanh nghiệp ở Việt Nam, tầm quan trọng của các lao động nữ là rất lớn, nhất là trong những ngành đòi hỏi sự khéo léo và linh hoạt trong lao động Nhóm các ngành nghề như may mặc, giày da hay lắp ráp linh kiện điện tử thì gần như toàn bộ các lao động là nữ
Ngoài đóng góp lớn vào cho xã hội, người phụ nữ với thiên chức làm
vợ, làm mẹ cũng đồng thời phải gánh vác phần lớn công việc gia đình Chính bởi lý do đó, các chính sách bảo đảm ưu tiên lao động nữ, trong đó quan trọng nhất là quyền lợi BHXH, đặc biệt là chế độ trợ cấp thai sản cho phụ nữ khi có thai, sinh con và nuôi con luôn được chú trọng khi xây dựng hệ thống pháp luật ASXH tại Việt Nam
Chế độ trợ cấp thai sản là một trong những nội dung quan trọng hàng đầu trong Công ước số 102 của ILO về quy phạm tối thiểu về an toàn xã hội năm 1952 khẳng định lao động nữ được quyền hưởng trợ cấp thai sản và chăm sóc trong giai đoạn trước khi sinh, trong khi sinh và sau khi sinh
Ở Việt Nam, việc trợ cấp cho lao động nữ khi sinh cũng được ghi nhận trong Hiến pháp 1980 và 1992, theo đó: “Lao động nữ có quyền hưởng chế độ
Trang 62
thai sản” Thêm vào đó, các quy định về BHXH cũng được ra đời ngay sau khi nước ta giành độc lập hướng tới đối tượng là NLĐ, người tạo ra của cải vật chất cho xã hội với mục đích giúp họ vượt qua khó khăn, rủi ro phát sinh trong cuộc sống, trong quá trình lao động CĐTS không chỉ là chính sách nhằm đảm bảo thu nhập cho NLĐ, đặc biệt ở đây là lao động nữ khi họ mang thai, sinh đẻ, nuôi con mà còn mang ý nghĩa xã hội, nó còn mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc, có một vị trí quan trọng đối với lao động nữ khi họ mang thai, sinh đẻ, nuôi con hay nhận nuôi con nuôi…
Trong những năm gần đây rất nhiều cải cách CĐTS đã được bổ sung tăng cường nhằm mục tiêu bảo vệ quyền lợi và sức khỏe cho lao động nữ Tuy nhiên, với sự phát triển và tiến bộ không ngừng của xã hội, CĐTS theo quy định của pháp luật hiện hành vẫn còn tồn tại một số bất cập nhất định
Trước đây, đã từng có một số đề tài nghiên cứu về CĐTS nhưng lại được lồng ghép cùng với các chế độ BHXH khác như chế độ bảo hiểm ốm đau, tai nạn… mà thiếu đi một nghiên cứu hoàn chỉnh về CĐTS Chính vì thế,
tác giả chọn đề tài “Chế độ thai sản theo pháp luật lao động Việt Nam hiện nay” làm đề tài nghiên cứu Trong phạm vi của một luận văn, hy vọng rằng
nghiên cứu của tác giá sẽ góp phần nào vào việc hoàn thiện chính sách, CĐTS nhằm đáp ứng nhu cầu cũng như bảo vệ quyền lợi của lao động nữ
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong quá trình nghiên cứu tác giả có tham khảo các tạp chí khoa học pháp lý: Nhà nước pháp luật, thông tin khoa học pháp lý, tạp chí Bảo hiểm xã hội, tạp chí Nghiên cứu lập pháp, các công trình nghiên cứu khoa học của người đi trước thông qua mạng, báo chí … … Như Lê Thị Quế (chủ biên),
“Thực trạng và giải pháp hoàn thiện chính sách, chế độ thai sản ở Việt Nam”, Chuyên đề nghiên cứu khoa học, 2003; Đỗ Thị Dung, “Chế độ bảo hiểm thai sản và hướng hoàn thiện nhằm đảm bảo quyền lợi của lao động nữ”, Tạp chí
Trang 73
Luật học số 3/2006; Nguyễn Thị Kim Phụng, “Nội luật hoá CEDAW về bảo hiểm xã hội đối với lao động nữ khi dự thảo Luật bảo hiểm xã hội”, Tạp chí Luật học số 3/2006; Đặng Thị Thơm, “Chế độ bảo hiểm thai sản ở Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ luật học, 2007; Nguyễn Thị Thanh Uyên, “Thực trạng triển khai chế độ trợ cấp thai sản trong bảo hiểm xã hội ở Việt Nam hiện nay”,
Đề án thực tập, 2006; Nguyễn Thị Huyền, “Bảo hiểm thai sản đối với lao động nữ và thực tế áp dụng tại Đại học Nguyễn Tất Thành”, Khoá luận tốt nghiệp, 2014; Lục Việt Dũng, “Chế độ bảo hiểm thai sản: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện”, Khoá luận tốt nghiệp 2012; Phạm Thị Quỳnh, “Chế độ bảo hiểm thai sản”, Khoá luận tốt nghiệp 2010.…
Tuy nhiên, các công trình của các tác giả mới chỉ đưa ra một số vấn đề chung về CĐTS hoặc được nghiên cứu vào thời điểm trước khi có các quy định mới về CĐTS theo Luật BHXH 2014 Do đó, hiện nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu toàn diện về CĐTS theo pháp luật hiện hành
Thấy được vai trò của CĐTS, cũng như tính cấp thiết của vấn đề, đề tài
“Chế độ thai sản theo pháp luật lao động Việt Nam hiện nay” đưa ra một
phương hướng nghiên cứu chuyên sâu và toàn diện về các của pháp luật hiện hành về CĐTS Qua việc nghiên cứu này, đề tài đưa ra một số kiến nghị nhằm triển khai việc thực hiện chế độ hiểm thai sản theo quy định của pháp luật
Việt Nam
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài: “Chế độ thai sản theo pháp luật lao động Việt Nam hiện nay” có mục đích và nhiệm vụ như sau:
Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận chung về CĐTS Tìm hiểu,
phân tích những quy định trong pháp luật hiện hành về CĐTS hiện nay;
Nghiên cứu thực trạng áp dụng pháp luật về CĐTS hiện nay
Trang 84
Nhận xét, đánh giá và đưa ra một số giải pháp để hoàn thiện việc
áp dụng các quy định về CĐTS hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các nhóm quan hệ hình thành trong lĩnh vực thai sản Đối tượng của CĐTS có tính chất đặc thù chủ yếu là lao động nữ trong độ tuổi sinh đẻ khi khám thai, bị sẩy thai, nạo, hút thai hoặc thai chết lưu, sinh con, nuôi con nuôi sơ sinh hoặc thực hiện các biện pháp tránh thai Thông qua việc bù đắp một phần chi phí tăng lên trong quá trình thai nghén, sinh con, nuôi con nuôi sơ sinh, thực hiện các biện pháp tránh thai, CĐTS nhằm mục đích giúp cân bằng về thu nhập, góp phần tạo sự bình ổn về mặt vật chất, bảo vệ sức khoẻ cho lao động nữ nói riêng, NLĐ nói chung
Chế độ thai sản là một chế độ gồm nhiều chế độ khác nhau được thực hiện từ nhiều chủ thể như cơ quan BHXH, người sử dụng lao động Tuy nhiên trong luận văn này, tác giả chủ yếu chỉ nghiên cứu chế độ thai sản trong luật BHXH hay nói cách khác là nghiên cứu chế độ thai sản với tư cách là một chế độ BHXH bắt buộc ở các nội dung như đối tượng và điều kiện hưởng, chế độ hưởng, thủ tục hưởng BHXH thai sản…theo pháp luật lao động Việt Nam Bên cạnh đó luận văn cũng nghiên cứu một số quy định của ILO và pháp luật của một số nước ở những góc độ nhất định Các nội dung khác như xử lý vi phạm, giải quyết tranh chấp về chế độ thai sản… không thuộc phạm vi nghiên cứu của luận văn
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cùng chủ trương đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước làm kim chỉ nam cho quá trình nghiên cứu, tác giả đã lao động và xây dựng luận văn một cách nghiêm túc
Trang 95
Để làm sáng tỏ nội dung đề tài nghiên cứu, trong luận văn này tác giả
đã sử dụng các phương pháp khoa học cụ thể như phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp tiếp cận thực tế,
phương pháp thu thập thông tin và phương pháp logic
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa lý luận: Đề tài phân tích những quy định về CĐTS theo pháp luật lao động và BHXH hiện hành, trên cơ sở đó đưa ra một số kiến nghị nhằm triển khai việc thực hiện CĐTS
Ý nghĩa thực tiễn:
- Đối với bản thân tác giả của luận văn: học viên có cơ hội tìm hiểu sâu vào CĐTS, qua đó nâng cao khả năng nghiên cứu khoa học của bản thân và tăng cường hiểu biết thực tế
- Luận văn cũng có thể được sử dụng như một tài liệu tham khảo trong công tác giảng dạy và nghiên cứu pháp luật, cũng như cho bất kỳ ai có quan tâm đến pháp luật BHXH nói chung, pháp luật
về CĐTS nói riêng
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu Luận văn gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về chế độ thai sản
Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về chế độ thai sản Chương 3: Thực tiễn thực hiện Chế độ thai sản và một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thi hành Chế độ thai sản
Trang 106
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẾ ĐỘ THAI SẢN
1.1 Khái niệm và vai trò, ý nghĩa của chế độ thai sản
1.1.1 Khái niệm chế độ thai sản
BHXH có nguồn gốc từ rất xa xưa trong lịch sử văn minh nhân loại và cũng không có câu trả lời chính xác về thời điểm ra đời của BHXH Trong xã hội công xã nguyên thủy, do chưa có tư hữu về tư liệu sản xuất, mọi người cùng nhau hái lượm, săn bắt và sản phẩm được phân chia bình quân nên khó khăn của mỗi cá nhân được hỗ trợ bởi tất cả mọi người Qua giai đoạn chế độ phong kiến, ý niệm về BHXH dần hình thành một cách rõ nét hơn đối với những chính sách hỗ trợ người dân khi xảy ra thiên tai, lũ lụt Từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVII, một số nghiệp đoàn thợ thủ công ra đời, để bảo vệ nhau trong hoạt động nghề nghiệp họ đã thành lập lên các loại quỹ tương trợ như ở Anh, năm 1473 đã thành lập hội “Bằng hữu” để giúp các hội viên khi bị ốm đau, tai nạn
Tuy nhiên, ý tưởng về BHXH chỉ thực sự hình thành và phát triển rõ nét khi xảy ra cuộc cách mạng công nghiệp tại Châu Âu Từ khi kinh tế hàng hóa phát triển, việc thuê mướn nhân công ngày càng trở nên phổ biến Ban đầu giới chủ chỉ cam kết trả công lao động Dần dần, NLĐ muốn NSDLĐ phải cam kết trả thêm những khoản thu nhập cho NLĐ để họ trang trải những nhu cầu thiết yếu khi ốm đau, tai nạn, thai sản hay tuổi già… Vấn đề mâu thuẫn lợi ích giữa hai bên dẫn tới việc nhà nước phải can thiệp điều chỉnh
BHXH chính thức xuất hiện tại Châu Âu từ đầu thế kỉ XIX khi nền công nghiệp và kinh tế hàng hóa đã phát triển mạnh mẽ Bộ luật đầu tiên đề cập tới chế độ bảo hiểm ra đời ở Anh năm 1819 là Luật nhà máy Tới năm
1838, chế độ bảo hiểm tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp được ra đời tại
Trang 117
nước Phổ Tới năm 1883, nước Phổ dưới thời Thủ tướng Bismark đã ban hành Đạo luật BHXH, đây là văn bản về BHXH đầu tiên trên thế giới Theo đạo luật này, hệ thống BHXH ra đời với sự tham gia bắt buộc của cả người làm công ăn lương và cả giới chủ Nhà nước giữ vai trò quản lý, định hướng hoạt động của BHXH Sau đó nhiều nước Châu Âu cũng cho ra đời các Đạo luật của mình như Bỉ (1905), Ý, Áo, Pháp, Đến đầu thế kỷ XX, BHXH đã
mở rộng ra nhiều nước trên Thế giới, đặc biệt là các nước Mỹ La Tinh, Hoa
Kỳ, Canađa và một số nước khác
Sau chiến tranh thế giới thứ II, tổ chức liên hợp quốc được thành lập Ngày 10/12/1949, Liên Hợp Quốc thông qua bản tuyên ngôn nhân quyền mà trong đó đã khẳng định mọi thành viên trong xã hội đều có quyền hưởng ASXH Không lâu sau đó, đến ngày 25/6/1952 tổ chức lao động quốc tế (ILO) thuộc liên hợp quốc lần đầu tiên thông qua công ước 102 về ASXH Đây là mốc son nổi bật đánh dấu sự phát triển của BHXH thế giới Trong thời kỳ này BHXH đã được lan rộng ra nhiều nước ở Châu Âu,châu Á như Việt Nam,Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Philippin… hiên nay có trên 180 nước có luật riêng về BHXH
Có thể nói, rất nhiều quan điểm khác nhau được đưa ra về khái niệm BHXH song có một điểm thống nhất chung giữa các khái niệm đó là đều khẳng định vai trò của BHXH nhằm hỗ trợ người tham gia bảo hiểu lúc khó khăn hiểm nghèo, ốm đau, tai nạn, thai sản … Trên cơ sở đóng góp của người tham gia bảo hiểm có sự hỗ trợ của Nhà nước trước khi có biến cố xảy
ra và khi NLĐ gặp phải thì quỹ BHXH sẽ giúp họ cân bằng phần thu nhập bị giảm sút hay bị mất, giúp họ trang trải phần chi tiêu bị tăng cao khi gặp các rủi ro khó khăn
Trên cơ sở này, Tổ chức lao động quốc tế (ILO) xác định BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập từ nghề nghiệp do bị mất
Trang 128
hoặc giảm khả năng lao động hoặc bị mất việc làm do những rủi ro xã hội thông qua việc hình thành, sử dụng một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, nhằm đóng góp phần đảm bảo an toàn đời sống của NLĐ và gia đình họ, đồng thời góp phần đảm bảo an toàn xã hội
Ở Việt Nam, từ rất lâu đã xuất hiện các quỹ tương thân, tương ái, gắn liền với cộng đồng làng xã, nhằm cưu mang, giúp đỡ những người gặp phải rủi ro, bất hạnh trong cuộc sống Hình thức hoạt động chủ yếu là lập các quỹ quản phụ điền, quỹ cô nhi điền… để giúp bà góa, con côi Một số địa phương lập ra quỹ nghĩa điền, quỹ nghĩa thương… do những người hảo tâm đóng góp
để dùng vào việc trợ giúp người khó khăn Luật BHXH năm 2014 ra đời (có hiệu lực ngày 01/01/2016) đã sửa đổi, bổ sung một số quy định của luật BHXH năm 2006 quy định chế độ, chính sách BHXH; quyền và trách nhiệm của NLĐ, NSDLĐ; cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến BHXH, tổ chức đại diện tập thể lao động, tổ chức đại diện NSDLĐ; cơ quan BHXH; Quỹ BHXH; thủ tục thực hiện BHXH và quản lý nhà nước về BHXH
Theo đó, Luật BHXH năm 2014 định nghĩa: “BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của NLĐ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH” Chính sách BHXH ngày càng được mở rộng và nâng cao việc bảo đảm vật chất, chăm sóc sức khỏe, phục hồi sức khỏe, góp phần ổn định đời sống cho NLĐ và gia đình trong các trường hợp NLĐ ốm đau, thai sản, hết tuổi lao động, chết, bị tai nạn lao động, …
Là một trong những chế độ đặc thù của bảo hiểm xã hội, chế độ bảo hiểm thai sản cũng như các chính sách xã hội đối với lao động nữ với mục đích ban đầu nhằm tạo điều kiện để lao động nữ thực hiện tốt chức năng làm
mẹ, vừa tạo điều kiện để lao động nữ thực hiện tốt công tác xã hội Cùng với
Trang 139
sự vận động và phát triển của xã hội, chế độ thai sản ngày càng được mở rộng phạm vi đối với cả lao động nam, trường hợp người lao động mang thai hộ hay nhận nuôi con nuôi
Trên cơ sở các quan điểm, định nghĩa về BHXH như trên, có thể hiểu,
có thể hiểu: “CĐTS là một trong các chế độ BHXH bắt buộc, bao gồm các
quy định của Nhà nước nhằm đảm bảo thu nhập và đảm bảo sức khoẻ cho lao động nữ khi mang thai, sinh con hoặc có các sự kiện thai sản khác như mang thai hộ, nuôi con nuôi, lao động nam nghỉ khi vợ sinh con trên cơ sở sự đóng góp vào quỹ tài chính chung của người lao động, người sử dụng lao động và
sự hỗ trợ của Nhà nước.”
Về cơ bản, chế độ bảo hiểm thai sản được cấu thành bởi các nội dung: đối tượng và điều kiện hưởng CĐTS, thời gian nghỉ hưởng CĐTS, mức trợ cấp của CĐTS
1.1.2 Vai trò, ý nghĩa của chế độ thai sản
Thứ nhất, đối với NLĐ, chế độ bảo hiểm thai sản có vai trò bù đắp
một phần thiếu hụt về thu nhập của NLĐ Đó là quá trong quá trình thai sản NLĐ phải nghỉ việc, không có lương, vì thế thu nhập sẽ bị giảm Chế độ bảo hiểm thai sản trợ cấp cho NLĐ một mặt đã bù đắp được thu nhập bị giảm, mặt khác hỗ trợ các khoản chi phí tăng thêm như: mua sắm dụng cụ tã lót, sữa… Đồng thời góp phần thực hiện tốt chức năng và bảo vệ quyền làm mẹ, làm vợ của người phụ nữ Quy định trong chế độ bảo hiểm thai sản đã góp phần ổn định tâm lý cho NLĐ, đặc biệt là lao động nữ khi họ có nhu cầu có con, xin con nuôi, giúp họ có thời gian chăm sóc con cái bảo vệ sức khỏe của cả mẹ và con, không lo lắng về chi phí sinh con khi không tham gia lao động CĐTS đờng thời thể hiện sự quan tâm của Nhà nước, NSDLĐ và cả những NLĐ với nhau, đặc biệt là lao động nam đối với lao động nữ vì thường chế độ này chỉ thể hiện đối với lao động nữ
Trang 1410
Thứ hai, đối với NSDLĐ, thực hiện chính sách thai sản tốt góp phần
thu hút lao động nữ vào các doanh nghiệp, mà hiện nay lực lượng nữ tham gia lao động ngày càng lớn, có tay nghề và trình độ ngày càng cao trong các lĩnh vực hoạt động sản xuất hàng hóa và dịch vụ
Thông qua chính sách này NSDLĐ thể hiện trách nhiệm và nghĩa vụ của mình đối với NLĐ và đối với toàn xã hội, nếu thực hiện tốt chính sách này sẽ thu hút được một lực lượng lớn lao động
Thứ ba, đối với Nhà nước và - xã hội, CĐBHTS là sự chia sẻ của
những người tham gia bảo hiểm đối với NLĐ khi thực hiện thiên chức, sự chia sẻ này được thực hiện thông qua quá trình tổ chức và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung hình thành do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH Tính xã hội được thể hiện là do có sự chia sẻ rủi ro của bảo hiểm thai sản, NLĐ không phải đóng phí, phí đóng cho NLĐ hưởng được tính từ lợi nhuận sau thuế của NSDLĐ Khoản tiền này, giúp đảm bảo cuộc sống đối với NLĐ khi thai sản, trên cơ sở nguyên tắc “lấy của số đông, bù cho số ít” Vì thế chế độ bảo hiểm thai sản thể hiện trách nhiệm đặc biệt của NSDLĐ đối với NLĐ, tạo công bằng xã hội, tâm lý yên tâm cho NLĐ, góp phần dung hòa mối quan hệ NSDLĐ và NLĐ giúp cho việc sản xuất diễn ra liên tục giúp phát triển kinh tế gia đình và nền kinh tế chung của đất nước
Việc thực hiện tốt CĐTS sẽ góp phần tái tạo lực lượng lao động lớn cho nền kinh tế trong tương lai
1.2 Nguyên tắc cơ bản của chế độ bảo hiểm thai sản
Các nguyên tắc cơ bản của BHXH là những tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt và chi phối toàn bộ hệ thống các quy phạm pháp luật BHXH BHXH luôn chứa đựng và đan xen hai yếu tố kinh tế và xã hội Là một trong những chế độ BHXH, CĐTS mang bản chất chung của BHXH đồng thời cũng có những nguyên tắc đặc trưng riêng khác biệt với những chế độ BHXH khác
Trang 15(a) Có đóng BHXH thì được hưởng CĐTS;
(b) Mức đóng góp cao thì mức trợ cấp thai sản được hưởng với mức
cao và ngược lại
Tuy nhiên, về nguyên tắc, mức trợ cấp CĐTS phải không được cao hơn tiền lương nhưng vẫn phải đảm bảo mức sống tối thiểu Về bản chất, trợ cấp thai sản là loại trợ cấp thay thế tiền lương được chi trả cho NLĐ khi NLĐ có sức khỏe bình thường lao động bình thường Nếu cố tìm cách trợ cấp bằng hoặc cao hơn tiền lương thì không một NLĐ nào phải cố gắng có việc làm và tích cực làm việc Do đó, mức trợ cấp CĐTS phải không được cao hơn mức tiền lương lúc đang đi làm Tuy nhiên, do mục đích, bản chất và của BHXH thì mức trợ cấp thấp nhất cũng không thể thấp hơn mức sống tối thiểu hằng ngày Chỉ khi đó trợ cấp mới có ý nghĩa an sinh
Ngoài ra, với đặc tính của bảo hiểm thì chia sẻ giữa những người tham gia là không thể thiếu Nguyên tắc “lấy số đông bù số ít” thể hiện tính nhân đạo xã hội Tinh thần cơ bản của nguyên tắc “lấy số đông bù số ít” là ở chỗ, bằng sự đóng góp, trợ giúp của nhiều người sẽ hạn chế, giảm thiểu khó khăn, bất hạnh cho một thiểu số người Đồng thời, mức trợ cấp, bù đắp và phương thức trợ cấp, bù đắp cho người lao động có sự kiện thai sản cũng được quy định trên cơ sở các xem xét các yếu tố chính trị, kinh tế, xã hội,…
Trang 1612
1.2.2 Nguyên tắc 2: Mức đóng bảo hiểm thai sản được tính trên cơ sở tiền lương tháng của người lao động Thu nhập được BHXH thực tế là phần thu nhập của NLĐ tham gia bảo hiểm mà nếu nó biến động giảm hoặc mất
do bị giảm hoặc mất khả năng lao động thì tổ chức BHX phải chi trả trợ cấp để thay thế hoặc bù đắp
Theo đó, tại nước ta, mức đóng BHXH được tính trên cơ sở tiền công, tiền lương của người lao động và mức đóng BHXH tự nguyện dựa trên cơ sở mức thu nhập của họ nhưng không thấp hơn mức tối thiểu chung
Như vậy, mới có thể đảm bảo NLĐ khi xảy ra sự kiện thai sản, được cung cấp một nguồn tài chính ổn định, bằng với mức sống tối thiểu
1.2.3 Nguyên tắc 3: Nhà nước thống nhất quản lý chính sách và quỹ BHXH nói chung và bảo hiểm CĐTS nói riêng theo nguyên tắc dân chủ, công khai, minh bạch
Hệ thống BHXH của một nước thường gồm nhiều bộ phận cấu thành Trong đó, bộ phận lớn nhất do Nhà nước tổ chức và bảo hộ bao trùm toàn bộ những người hưởng lương từ ngân sách Nhà nước và NLĐ thuộc khu vực kinh tế quan trọng của đất nước Ở nước ta do những điều kiện kinh tế- xã hội chưa cho phép các tổ chức và cá nhân thực hiện BHXH mà chỉ có BHXH của NHà nước Để BHXH hoạt động có hiệu quả, nhất thiết phải đảm bảo tính thống nhất trên những vấn đề lớn hoặc cơ bản nhất để tránh sự tuỳ tiện, tính cục bộ, cát cứ, hoặc những mâu thuẫn nảy sinh Đồng thời cũng phải có cơ chế để bộ phận cấu thành có thể năng động trong hoạt động để chúng có thể
bù đắp, bổ sung những ưu điểm cho nhau
Bên cạnh đó, quỹ BHXH là hạt nhân của chính sách BHXH nói chung
và CĐTS nói riêng, vừa mang tính kinh tế, vừa mang tính xã hội rất cao và là điều kiện hay cơ sở vật chất quan trọng nhất đảm bảo cho toàn bộ hệ thống BHXH tồn tại và phát triển
Trang 1713
Do đó, quỹ BHXH được quản lý thống nhất và hạch toán theo các quỹ thành phần trên cơ sở công khai, minh bạch, sử dụng đúng mục đích nhằm đảm bảo cho việc quản lý, đầu tư quỹ có hiệu quả và phục vụ cho công tác hạch toán, đánh giá tình hình cân đối quỹ để có điều chỉnh về chính sách cho phù hợp, đảm bảo cân đối thu – chi, điều chỉnh kịp thời khi các quỹ thành phần tạm thời bị mất cân đối, không ảnh hưởng đến quyền lợi của người tham gia BHXH Có như vậy thì mới đảm bảo được mục đích ổn định cuộc sống cho NLĐ và gia đình họ khi gặp các biến cố, rủi ro hoặc sự kiện thai sản làm giảm hoặc mất thu nhập từ lao động
1.2.4 Nguyên tắc 4: Việc thực hiện chế độ bảo hiểm thai sản phải đơn giản,
dễ dàng, thuận tiện, bảo đảm kịp thời và đầy đủ quyền lợi của người tham gia BHXH
Với nguyên tắc này, việc thực hiện CĐTS đối với người lao động phải được nghiên cứu để quy định cụ thể về hồ sơ, quy trình, thời hạn giải quyết sao cho phù hợp, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người lao động, người sử dụng lao động khi tham gia BHXH và khi giải quyết hưởng các chế độ BHXH
1.2.5 Nguyên tắc 5: Các quy định về chế độ thai sản phải đảm bảo quyền lợi về vật chất và tinh thần của cả NLĐ và trẻ sơ sinh
Đặc điểm của thai sản là một chu kỳ kéo dài và liên tục từ lúc mang thai, quá trình nghỉ sinh con, chăm sóc trẻ sơ dinh đến khi ổn định lại sức khoẻ trở lại lao động bình thường, nên việc khám thai đều đặn để phát hiện sớm các sự cố, quá trình nghỉ sinh con, nuôi con nuôi sơ sinh… phải có chính sách cụ thể và nhất quán nhằm đảm bảo người phụ nữ phải được chăm sóc chu đáo, liên tục Các chính sách chế định bảo hiểm thai sản cũng phải bảo đảm đủ thời gian để người mẹ ổn định và phục hồi sức khoẻ sau khi sinh con
Trang 181.3.1 BHXH thai sản theo quy định của tổ chức lao động quốc tế ILO
Tổ chức lao động quốc tế (ILO) được ra đời vào năm 1919, sau các cuộc đàm phán của Hiệp định Versailles và là thành viên của Hội Quốc Liên Sau khi Chiến tranh thế giới lần thứ 2 kết thúc và Hội Quốc liên giải tán, ILO trở thành thành viên của Liên Hiệp quốc ILO được thành lập với nhiệm vụ tăng cường các cơ hội cho lao động nữ và lao động nam để có được những công việc tốt trong môi trường tự do, công bằng, an toàn và nhân phẩm Mục đích chính của tổ chức là thúc đẩy quyền lợi trong lao động, khuyến khích các
cơ hội việc làm, thúc đẩy sự bảo vệ của xã hội và tăng cường các cuộc đối thoại nhằm giải quyết các vấn đề lao động Do đó, ngay sau khi thành lập, ILO đã cho ra đời rất nhiều công ước về đảm bảo quyền lợi cho NLĐ nữ đặc biệt liên quan đến các CĐTS như:
Công ước số 3 thông qua ngày 29/10/1919 là công ước quốc tế đầu tiên
quy định trợ cấp thai sản với các quyền lợi cho lao động nữ được hưởng khi sinh con và mang thai trong các ngành thuộc lĩnh vực công nghiệp Theo đó, ngoài khoản trợ cấp đủ để nuôi sống bản thân và đứa con với những điều kiện
vệ sinh tốt do quỹ công cộng hoặc do hệ thống bảo hiểm chi trả thì người phụ
nữ còn được nhận sự chăm sóc miễn phí của thầy thuốc hoặc nữ hộ sinh
Công ước số 102 năm 1952 quy định những tiêu chuẩn tối thiểu về Bảo
đảm xã hội với 9 chế độ chính: trợ cấp ốm đau, trợ cấp thai sản Trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp tuổi già, trợ cấp tàn tật, trợ cấp tử tuất,chăm sóc y tế,trợ cấp gia đình mà trong đó có chế
độ về trợ cấp thai sản khi người phụ nữ mang thai và sinh đẻ là một trong
Trang 1915
những nội dung quan trọng nhất Trong Công ước 102 mỗi chế độ BHXH đều được cụ thể hoá bằng những điều những mục vừa cụ thể vừa mang tính định hướng để các nước vận dụng Nếu nhìn một cách tổng quát, mỗi chế độ đều được kết cấu bởi các nội dung sau: (i) Mục đích thực hiện chế độ; (ii) Đối tượng đuợc bảo hiểm; (iii) Điều kiện được trợ cấp; và (iv) Mức trợ cấp và thời gian trợ cấp BHXH Về CĐTS, Công ước số 102 nói về mục đích của chế độ này là “nhằm bảo toàn, phục hồi hoặc cải thiện sức khỏe của phụ nữ được bảo
vệ, và khả năng làm việc, khả năng ứng phó với nhu cầu cá nhân của họ” Đối tượng được hưởng trợ cấp thai sản bao gồm mọi phụ nữ là người lao động làm công ăn lương với số lượng tham gia tối thiểu là 50% hoặc toàn bộ phụ
nữ hoạt động kinh tế thường trú trong nước với số lượng tham gia tối thiểu là 20%; hoặc toàn bộ phụ nữ hoạt động kinh tế thường trú trong nước với số lượng tham gia tối thiểu là 50% Đối với các quốc gia có nền kinh tế và phương diện y tế chưa phát triển đủ mức và có bản tuyên bố được phê chuẩn việc thực hiện chưa đầy đủ các khuyến cáo theo công ước 102 thì đối tượng được hưởng trợ cấp bảo hiểm thai sản là những người lao động làm công ăn lương nhưng tối thiểu là 50% số người làm việc trong các cơ sở công nghiệp
sử dụng ít nhất 20 lao động Theo quy định tại Công ước 102, về điều kiện nhận trợ cấp thai sản, tất cả những người phụ nữ khi mang thai, sinh đẻ đều được quyền hưởng trợ cấp thai sản Tuy nhiên, quy định này chỉ dừng lại ở mức khuyến nghị và các quốc gia có quyền quy định siết chặt hơn về điều kiện hưởng trợ cấp thai sản tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội, trình độ phát triển của mỗi quốc gia Tỷ lệ trợ cấp thai sản tối thiểu theo Công ước 102 là 45% thu nhập trước đó của người lao động nữ và thời gian trợ cấp là toàn bộ thời gian được bảo vệ và không được ít hơn 12 tuần
Công ước số 103 và Công ước 103 (sửa đổi) thông qua năm 1952,
được coi là Công ước tiêu biểu nhất về vấn đề bảo vệ phụ nữ trong thời kỳ
Trang 2016
thai sản Đối tượng được hưởng trợ cấp thai sản được quy định là “những phụ
nữ làm việc trong các cơ sở công nghiệp và trong các công việc phi công nghiệp và nông nghiệp, kể cả những phụ nữ làm công ăn lương, làm việc tại nhà” Quy định này thể hiện tính chất bao quát của chế độ bảo hiểm thai sản, mọi người lao động nữ đang tham gia quan hệ lao động không phân biệt ngành nghề đều là đối tượng được hưởng trợ cấp chế độ thai sản khi họ mang thai, sinh con, nuôi con nuôi sơ sinh Công ước 103 quy định thời gian nghỉ thai sản là 12 tuần trong đó có trong đó một phần thời gian bắt buộc phải nghỉ sau khi sinh đẻ nhưng bất kỳ trường hợp nào cũng không được dưới 6 tuần Trong thời gian nghỉ sinh, phụ nữ được quyền hưởng mọi quyền lợi về tài chính và trợ cấp y tế Mức trợ cấp bằng tiền được quy định cụ thể theo luật pháp, quy định của từng quốc gia nhưng nó phải đảm bảo duy trì sức khoẻ cho người mẹ và đứa trẻ theo tiêu chuẩn mức sống tối thiểu Đối với những nước thực hiện trợ cấp thai sản theo hệ thống bảo hiểm xã hội bắt buộc thì mức trợ cấp được tính trên cơ sở mức thu nhập trước đó Mức trợ cấp không được thấp hơn 2/3 mức thu nhập trước đó của người lao động nữ Chăm sóc y
tế bao gồm: chăm sóc trước sinh, trong khi sinh và sau khi sinh bởi một bác sĩ
đủ năng lực và trong một bệnh viện tuỳ theo sự lựa chọn của người mẹ
Cũng theo Công ước 103, việc NSDLĐ cho NLĐ nữ thôi việc trong thời gian nghỉ thai sản là bất hợp pháp
Công ước số 183 thông qua ngày 15/06/2000, đây là công ước có nội
dung quy định cụ thể nhất về các chế độ trợ cấp thai sản cho NLĐ bao gồm chế độ chi trả bằng tiền, chế độ y tế, chế độ trợ cấp khác Thời gian nghỉ việc nhận trợ cấp thai sản của lao động nữ tuỳ thuộc vào luật pháp và quy định của từng quốc gia nhưng không dưới 14 tuần trong đó thời gian nghỉ tối thiểu sau khi sinh là 6 tuần. Nếu lao động nữ bị đau ốm trong quá trình mang thai hoặc nảy sinh những vấn đề phức tạp ngoài việc mang thai hoặc sinh nở thì thời gian nghỉ sẽ
Trang 2117
được kéo dài Tuy nhiên, thời gian nghỉ ốm tối đa sẽ được giới hạn và quy định theo điều kiện cụ thể của mỗi nước Lao động nữ nghỉ sinh con được nhận trợ cấp cả bằng tiền và chăm sóc y tế Mức trợ cấp tuỳ thuộc vào quy định của từng quốc gia, nhưng phải đảm bảo duy trì được sức khoẻ của người mẹ và đứa trẻ theo mức sống tối thiểu nhằm tạo điều kiện cho người lao động nữ có thể nhanh chóng tái hoà nhập với đời sống xã hội Đối với những nước thực hiện trợ cấp trên cơ sở mức thu nhập trước đó thì mức trợ cấp không được thấp hơn 2/3 mức thu nhập trước khi nghỉ sinh con
Có thể thấy hiện nay luật pháp quốc tế đã xây dựng bộ khung pháp lý tương đối hoàn thiện để bảo đảm quyền và lợi ích của phụ nữ trong thời kỳ thai sản CĐTS theo quy định tại các Công ước, khuyến nghị của ILO có hai mảng nội dung chính là: (1) Chăm sóc y tế cho bà mẹ và trẻ sơ sinh trước, trong và sau khi sinh; (2) Nghỉ làm và hưởng trợ cấp
Bên cạnh đó, hệ thống pháp luật của các quốc gia trên thế giới bổ sung các quy định về cách thức tổ chức thực hiện, quy trình, thủ tục hưởng bảo hiểm thai sản
Mặc dù tính đến nay Việt Nam mới chỉ gia nhập khoảng 21 trên gần
200 Công ước của ILO và chưa bao gồm những công ước nêu ở trên, tuy nhiên việc xây dựng các chế định về CĐTS tại Việt Nam cũng đã tiếp cận và phát huy tinh thần của các công ước này nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của NLĐ
1.3.2 Chế độ bảo hiểm thai sản theo quy định của một số quốc gia trên thế giới
Pháp luật Đức:
Người Đức cho rằng, 3 năm đầu của trẻ rất cần có cha mẹ bầu bạn nên các bậc phụ huynh cần dành nhiều thời gian để ở bên cạnh trẻ Vì thế, trước khi trẻ 3 tuổi, cha mẹ đều có thể nghỉ thai sản Nghỉ thai sản của nước Đức được chia thành nghỉ sinh con của người mẹ và nghỉ nuôi con của cả cha lẫn
Trang 22Điều kiện để về thời gian đóng góp tối thiểu trước khi sinh là có 12 tuần tham gia bảo hiểm hoặc có thời gian làm việc liên tục từ 4 đến 10 tháng trước khi sinh
Năm 2014, Chính phủ Đức đã thanh toán 53,7 tỉ Euro trợ cấp nuôi con, chiếm 73% tổng ngân sách dành cho gia đình
Pháp luật Nga:
Theo pháp luật hiện hành của Nga, sản phụ có thể hưởng 3 hình thức nghỉ thai sản đó là 100% lương, 50% lương và không lương Trong đó, 140 ngày hưởng 100% lương bao gồm 70 ngày trước sinh và 70 ngày sau sinh Thời gian này, công ty phải trả đầy đủ lương cho sản phụ Trường hợp song (đa) thai hoặc biến chứng khi sinh thì thời gian nghỉ thai sản sẽ gia tăng tương ứng Sau khi nghỉ hết phép được trả 100% lương, sản phụ có thể tiếp tục nghỉ phép 50% lương, cho đến khi đứa trẻ được 1,5 tuổi Trong thời gian này, sản phụ có thể lĩnh khoản trợ cấp tương ứng với 40% lương ban đầu, khoản trợ cấp này do quỹ Bảo hiểm Xã hội của quốc gia chi trả Sau khi trẻ được 1,5 tuổi, nếu vẫn muốn nghỉ ở nhà chăm sóc con, người mẹ có thể tiếp tục nghỉ không lương cho đến khi trẻ 3 tuổi, nhà tuyển dụng vẫn phải bảo lưu chức vị của người mẹ
Trang 23Chế độ bảo hiểm thai sản của Singapore được thiết kế trong tương quan chung với các quy định về chăm sóc y tế vốn được coi là rất quan trọng ở quốc gia này Trong đó, BHXH đối với lao động nữ gồm hai chế độ:
trợ cấp thay lương trong thời gian nghỉ thai sản (trách nhiệm đóng góp thuộc về NSDLĐ); và
các chi phí y tế trong quá trình mang thai, sinh con (do NLĐ và người sử dụng cùng đóng góp)
CĐTS theo pháp luật Singapore quy định: người vợ được nghỉ thai sản
16 tuần tháng, người chồng có thể nghỉ một tuần có lương để giúp đỡ người
vợ mới sinh Sản phụ sinh 2 con đầu có thể hưởng 8 tuần trợ cấp thai sản của NSDLĐ và 8 tuần trợ cấp của Chính phủ, sinh con thứ 3 hoặc nhiều hơn có
thể hưởng 16 tuần trợ cấp thai sản từ Chính phủ.[30]
Trường hợp người vợ sẵn sàng chia sẻ một tuần trong 4 tháng nghỉ thai sản của mình cho chồng thì người chồng có thể hưởng thêm một tuần nghỉ nữa Lương trong 2 tuần nghỉ phép này của người chồng sẽ do Chính phủ chi trả Số tiền cao nhất là mỗi tuần 2.500 đô la Singapore
Trang 2420
Bảng 1.1: Thời gian đóng góp tối thiểu trước khi sinh và thời gian trợ cấp và mức trợ
cấp của một số quốc gia khác trên thế giới:
STT Tên nước Thời gian yêu cầu Mức trợ cấp
1 Trung Quốc Không có quy định thời gian
tối thiểu
Thời gian trợ cấp là 90 ngày cho một lần sinh và 42 ngày đối với nạo thai, phá thai Hai trường hợp trên đểu hưởng 100% thu nhập( chi phí này do chủ sử dụng lao động tự chịu trách nhiệm.)
2 Pháp Có 200 giờ làm việc trong 3
tháng cuối cùng trước khi sinh
Thời gian trợ cấp thai sản là 6 tuần trước khi sinh và 8 tuần sau khi sinh đối với sinh con lần 1, lần
2 8 tuần trước khi sinh và 18 tuần sau khi sinh đối với con thứ 3 Song thai là 12 và 22 tuần trước
và sau khi sinh, mang thai ba 24 tuần trước và 22 tuần sau khi sinh Mức trợ cấp là 100% thu nhập ròng
4 Thái Lan Có 7 tháng đóng góp trong 15
tháng cuối cùng trước khi hưởng trợ cấp và chỉ giới hạn trong 2 lần sinh
Mức trợ cấp bằng 50% mức lương được trả trong thời gian 90 ngày cho mỗi lần sinh, ngoài ra NLĐ còn được hưởng khoản trợ cấp một lần bằng 4000 bath khi sinh
trợ chăm sóc sức khoẻ cho bà mẹ
và em bé
5 Philippin Đối tượng hưởng là những
NLĐ phải đang làm việc, tối thiểu phải có 3 tháng đóng góp trong vòng 12 tháng cuối cùng trước khi sinh con hoặc sảy thai
Mức hưởng được tính bằng 100% lương ngày bình quân của 6 tháng cao nhất trong 12 tháng trước khi nghỉ Mức trợ cấp này được thanh toán trong thời gian 60 ngày đối với những trường hợp sinh thường và 78 ngày đối với những trường hợp sinh phải mổ
Trang 2521
Kết luận chương 1
CĐTS thuộc hệ thống các chế độ BHXH và là một trong những chế độ được hình thành và phát triển sớm nhất ở nước ta cũng như các nước khác trên thế giới Ngoài ý nghĩa đảm bảo thu nhập cho NLĐ khi sinh đẻ, chế độ này còn có ý nghĩa xã hội và nhân văn rất lớn, góp phần tái sản xuất dân số Nhìn nhận được tầm quan trọng của chế độ bảo hiểm thai sản, Đảng và Nhà nước đã và đang dành nhiều sự quan tâm đến công tác xây dựng và hoàn thiện
hệ thống pháp luật điều chỉnh về bảo hiểm thai sản
Sự ra đời của Luật BHXH năm 2014 đã đánh dấu bước phát triển theo hướng hoàn thiện hơn về chính sách, chế độ BHXH ở Việt Nam Những ưu điểm nổi bật có thể nhận thấy là việc mở rộng phạm vi đối tượng áp dụng nhằm bao quát toàn bộ lực lượng lao động xã hội, nâng cao quyền lợi cho người thụ hưởng trong mối tương quan công bằng, hoàn thiện về quản lí và tổ chức BHXH theo hướng hiện đại
Nội dung chi tiết về các chính sách pháp luật của Việt Nam đối với CĐTS sẽ được trình bày chi tiết tại Chương 2 dưới đây
Trang 2622
Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ
CHẾ ĐỘ THAI SẢN
2.1 Đối tượng và điều kiện hưởng chế độ thai sản
2.1.1 Đối tượng áp dụng chế độ thai sản
Đối tượng áp dụng chế độ thai sản được quy định tại các điểm a, b, c, d, đ và
h khoản 1 Điều 2 Luật BHXH 2014, theo đó bao gồm:
Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp
đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng, kể cả hợp đồng lao động được ký kết giữa NSDLĐ với người đại diện theo pháp luật của người dưới 15 tuổi theo quy định của pháp luật về lao động;
Người làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng đến
dưới 03 tháng;[12]
Cán bộ, công chức, viên chức;
Công nhân quốc phòng, công nhân công an, người làm công tác khác
trong tổ chức cơ yếu;
Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ
quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân; người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân; và
Người quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều hành hợp tác xã có
hưởng tiền lương
Có thể thấy, đối tượng hưởng CĐTS theo quy định hiện hành bao gồm những người hưởng lương từ ngân sách nhà nước như cán bộ, công nhân viên chức nhà nước,… và những người hưởng lương theo hợp đồng lao động So
Trang 2723
sánh với Luật BHXH 2006, đối tượng được hưởng CĐTS đã được mở rộng hơn, bao gồm cả người làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 03 tháng và người quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều hành hợp tác xã có hưởng tiền lương Quy định mở rộng này rõ ràng đã tạo điều kiện tốt hơn trong việc bảo vệ quyền lợi của bà mẹ và trẻ em
2.1.2 Điều kiện hưởng chế độ thai sản:
Thứ nhất, theo Khoản 1 Điều 31 Luật BHXH năm 2014 để được hưởng chế
độ bảo hiểm thai sản thì NLĐ phải thuộc một trong các trường hợp sau:
Lao động nữ mang thai;
Lao động nữ sinh con;
Lao động nữ mang thai hộ và người mẹ nhờ mang thai hộ;
NLĐ nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi;
Lao động nữ đặt vòng tránh thai, NLĐ thực hiện biện pháp triệt sản;
Lao động nam đang đóng BHXH có vợ sinh con
Đặt trong tương quan so sánh với quy định của pháp luật bảo hiểm xã hội cũ thì Luật BHXH năm 2014 lần này đã bổ sung thêm các trường hợp hưởng chế độ thai sản như: Lao động nữ mang thai hộ và người mẹ nhờ mang thai hộ; Lao động nam đang đóng BHXH có vợ sinh con Có thể nói, Luật BHXH 2014 đã mở rộng điều kiện để lao động nữ được hưởng chế độ bảo hiểm thai sản, không chỉ bó hẹp trong các trường hợp thai nghén, sinh và nuôi con thông thường mà còn có người lao động nữ mang thai hộ, nhờ mang thai
hộ hoặc nhận nuôi con nuôi sơ sinh dưới sáu tháng tuổi
Việc tạo điều kiện cho người lao động nữ mang thai hộ hoặc nhờ mang thai hộ hoặc người mẹ nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổiđược hưởng chế
độ bảo hiểm thai sản là một quy định đáp ứng yêu cầu thực tiễn đời sống xã hội, góp phần đảm bảo chăm sóc toàn diện hơn người lao động nữ và trẻ em
Trang 2824
Thứ hai, Luật BHXH 2014 quy định điều kiện để lao động nữ sinh con,
mang thai hộ, nhận mang thai hộ hoặc nuôi con nuôi sơ sinh dưới 06 tháng hưởng chế độ bảo hiểm thai sản bao gồm phải đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 6 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi Số lần sinh con được hưởng trợ cấp thai sản không giới hạn
Thời gian 12 tháng trước khi sinh con, nuôi con nuôi được xác định như sau:[24]
Trường hợp sinh con hoặc nuôi con nuôi trước ngày 15 của tháng thì
tháng sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi không được tính vào 12 tháng trước khi sinh con hoặc nuôi con nuôi
Trường hợp sinh con hoặc nuôi con nuôi từ ngày 15 trở đi của tháng và
tháng đó có đóng bảo hiểm xã hội thì tháng sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi được tính vào 12 tháng trước khi sinh con hoặc nuôi con nuôi Trường hợp tháng đó không đóng bảo hiểm xã hội thì tháng sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi không được tính vào 12 tháng trước khi sinh con hoặc nuôi con nuôi
Luật BHXH năm 2006 quy định điều kiện hưởng chế độ thai sản khi
sinh con là “NLĐ phải đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 6 tháng trở lên trong thời
gian 12 tháng trước khi sinh con”.[11] Quy định cũ theo luật BHXH khắc
phục được sự lạm dụng CĐTS này song lại không hợp lý với các trường hợp NLĐ đã có quá trình đóng BHXH dài, song vì lý do khó mang thai, thai bệnh
lý, thai không bình thường nên phải nghỉ việc ngay khi mang thai do vậy không đủ điều kiện đóng BHXH đủ 6 tháng trong thời gian 12 tháng trước khi sinh để được hưởng CĐTS Trong trường hợp này là không công bằng và không đảm bảo quyền lợi của NLĐ vì họ đã có quá trình đóng BHXH dài nhưng lại không được hưởng CĐTS Chính vì vậy, để khắc phục được hạn chế này, Luật BHXH năm 2014 quy định đối với NLĐ đã đóng BHXH từ đủ
Trang 2925
12 tháng trở lên mà khi mang thai cơ sở y tế yêu cầu phải nghỉ việc thì điều kiện hưởng CĐTS chỉ cần đóng BHXH từ đủ 3 tháng trở lên trong thời gian
12 tháng trước khi sinh con.[12]
Bên cạnh đó, tồn tại một số ý kiến rằng việc giới hạn mức thời gian đóng bảo hiểm xã hội tối thiểu để được hưởng trợ cấp thai sản như pháp luật Việt Nam sẽ ảnh hưởng bất lợi quyền lợi của người lao động nữ, đặc biệt là với những trường hợp người lao động nữ làm các công việc thời vụ, tính chất tạm thời và người sử dụng lao động trốn tránh nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động Tuy nhiên, khi so sánh với quy định pháp luật của các quốc gia khác trên thế giới như trình bày tại Bảng 1.1, thời gian tham gia bảo hiểm tối thiểu để đủ điều kiện hưởng CĐTS của pháp luật Việt Nam là khá hợp lý, phù hợp với điều kiện kiện phát triển kinh tế - xã hội của nước ta cũng như các thông lệ quốc tế
Về bản chất, quỹ BHXH được hình thành trên cơ sở đóng góp của NLĐ Do đó, chỉ khi thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đóng góp, NLĐ mới có quyền lợi nhận trợ cấp Quy định về thời gian tối thiểu để hưởng trợ cấp thai sản cũng góp phần duy trì tài chính của quỹ BHXH, đảm bảo nguyên tắc bảo hiểm trên cơ sở đóng góp của chính người lao động Mặt khác, việc đóng góp bảo hiểm của NLĐ cũng được ghi nhận cộng dồn quá trình đóng trong một khoảng thời gian xác định mà không bắt buộc phải đóng liên tục, do đó, quy định về mức thời gian đóng bảo hiểm tối thiểu như hiện nay sẽ không làm ảnh hưởng đến quyền lợi của nhóm đối tượng không có khả năng đóng bảo hiểm liên tục
Có thể nói, quy định về điều kiện hưởng chế độ bảo hiểm thai sản như pháp luật hiện hành hoàn toàn phù hợp với các quy định của ILO và pháp luật của hầu hết các nước trên thế giới, thể hiện sự tiến bộ cũng như quan tâm của nhà nước, chính phủ đối với lực lượng lao động nữ
Trang 3026
2.2 Thời gian hưởng BHXH thai sản
2.2.1 Thời gian nghỉ khám thai:
Nhằm đảm bảo cho tình trạng sức khỏe của thai phụ, WHO khuyến cáo người mẹ nên đi khám thai ít nhất 05 lần trong thai kỳ để theo dõi quá trình phát triển của thai nhi Khuyến cáo này dựa trên những nghiên cứu khoa học
về cơ sở đặc điểm thời gian mang thai cũng như giai đoạn phát triển của thai nhi nhằm đảm bảo sức khỏe của mẹ và bé được chăm sóc đẩy đủ kịp thời
Theo Luật BHXH 2014, trong thời gian mang thai, lao động nữ được nghỉ việc để đi khám thai năm lần, mỗi lần một ngày Riêng những trường hợp ở xa
cơ sở y tế hoặc người mang thai có bệnh lý hoặc thai không bình thường thì được nghỉ hai ngày cho mỗi lần khám thai Thời gian nghỉ khám thai tính theo ngày làm việc không kể ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần
Với những quy định như trên, Luật BHXH 2014 đã thể hiện tinh thần quan tâm đến sức khoẻ của lao động nữ và thai nhi trong suốt thai kỳ, đảm bảo các quyền lợi về bảo hiểm thai sản của lao động nữ một cách tốt nhất
2.2.2 Thời gian nghỉ khi bị sẩy thai, nạo, hút thai hoặc thai chết lưu:
Sảy thai, nạo, hút hoặc thai chết lưu gây ảnh hưởng rất lớn đến thể chất cũng như tinh thần của người phụ nữ Do đó, pháp luật hiện hành quy định thời gian nghỉ phụ thuộc vào tuổi thai, thai nhi càng lớn thì việc ảnh hưởng đến người mẹ càng nhiều và vì thế thời gian phục hồi sức khỏe lâu hơn
Thời gian hưởng chế độ bảo hiểm thai sản được quy định dựa vào chỉ định của cơ sở khám, chữa bệnh có thẩm quyền, tuy nhiên không được quá thời gian tối đa được quy định căn cứ vào tuần tuổi thai nhi.[12] Thời gian nghỉ việc tối đa được quy định cụ thể như sau:
10 ngày nếu thai dưới 05 tuần tuổi;
20 ngày nếu thai từ 05 tuần tuổi đến dưới 13 tuần tuổi;
40 ngày nếu thai từ 13 tuần tuổi đến dưới 25 tuần tuổi;
Trang 3127
50 ngày nếu thai từ 25 tuần tuổi trở lên
Tuy nhiên, không giống như trường hợp NLĐ nữ đi khám thai, thời gian nghỉ việc hưởng CĐTS cho các trường hợp nêu trên tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần.[12]
Trường hợp thai chết lưu trong thời gian NLĐ nữ nghỉ việc hưởng CĐTS trước sinh thì NLĐ nữ vẫn được nghỉ việc hưởng CĐTS tính từ thời điểm thai chết lưu.[24]
Có thể thấy, so với Luật BHXH năm 2006 về chế độ này thì Luật BHXH năm 2014 đã nâng mức tuổi thai và quy định theo tuần tuổi chứ không quy định theo tháng như trước kia Quy định này đảm bảo sự chăm sóc trong điều kiện tốt nhất cho NLĐ nữ trong các trường hợp nêu trên
2.2.3 Thời gian nghỉ sinh con:
Sinh con là một sự kiện thai sản mang tính chất đặc biệt quan trọng đối với NLĐ nữ cũng như gia đình họ Xác định định thời gian hưởng CĐTS khi NLĐ nữ sinh con ảnh hưởng nhất định đến tính chất của quan hệ lao động giữa NSDLĐ và lao động nữ cùng với các yếu tố xã hội khác như an ninh việc làm, bình ổn thị trường lao động,…ở một quốc gia
Nhằm đảm bảo sức khỏe cho người mẹ và trẻ sơ sinh, Tổ chức Y tế thế giới và các Công ước của ILO cũng như pháp luật của nước ta đã quy định thời gian nghỉ sinh con bao gồm thời gian nghỉ trước và sau khi sinh Thời gian nghỉ trước và sau khi sinh con dựa trên cơ sở tính toán một cách khoa học lượng thời gian cần và đủ để một người phụ nữ ổn định sức khỏe, đồng thời đủ để đứa trẻ tách được mẹ
Cụ thể hơn, Công ước 103 yêu cầu độ dài thời gian nghỉ thai sản ít nhất
là 12 tuần, trong đó một phần thời gian bắt buộc phải nghỉ sau khi sinh đẻ Độ dài thời gian bắt buộc phải nghỉ sau sinh đẻ sẽ do pháp luật hoặc pháp quy quốc gia quy định, nhưng bất kỳ trường hợp nào cũng không được dưới 6
Trang 3228
tuần; phần còn lại, tùy theo pháp luật hoặc pháp quy quốc gia quy định, nhưng có thể nghỉ vào trước thời điểm dự tính sinh đẻ, hoặc sau thời điểm đã hết thời gian nghỉ bắt buộc, hoặc là chia ra một phần nghỉ trước thời điểm thứ nhất và một phần nghỉ sau thời điểm thứ hai
Đánh giá về vấn đề thời gian nghỉ hưởng chế độ bảo hiểm thai sản khi
sinh con, trong báo cáo “Maternity and paternity at work, Law and practice
across the world”, ILO đã so sánh pháp luật của 185 quốc gia và vùng lãnh
thổ với những tiêu chuẩn mới nhất của ILO Tùy tình hình điều kiện kinh tế-
xã hội, mỗi quốc gia lại có quy định về thời gian nghỉ hưởng CĐTS khi sinh con khác nhau
Bảng 2.1 Thời gian nghỉ hưởng CĐTS khi sinh con ở một số quốc gia
trên thế giới [2]
STT Thời gian nghỉ thai sản
Đối với Bố Quốc gia
Đối với Mẹ Nguồn
Wikipedia
1 Phillipine 60 ngày (nếu sinh thường)
2 Italia 5 tháng (gồm 2 tháng trước
và 3 tháng sau ngày dự sinh)
13 tuần
3 Đức 14 tuần (6 tuần trước và 8
tuần sau ngày dự sinh)
5 Đan Mạch
52 tuần nghỉ tối đa, gồm 18 tuần bắt buộc nghỉ (4 tuần trước và
14 tuần sau ngày dự sinh)
Từ tuần thứ 14 sau ngày sinh, 32 tuần còn lại tùy
bố và mẹ có thể chia sẻ cho nhau
Trang 3329
6 Tây Ban
Nha
16 tuần (nếu sinh 1 con)
Thêm 2 tuần cho thêm mỗi con (trường hợp sinh đôi trở lên)
13 ngày Thêm 2 ngày cho thêm mỗi con (trường hợp sinh đôi trở lên)
7 Anh 39 tuần 1 hoặc 2 tuần (tùy người
bố chọn)
8 Andorra
16 tuần (nếu sinh 1 con)
Thêm 2 tuần nghỉ cho thêm mỗi con (trường hợp sinh đôi trở lên)
14 ngày (sau ngày con sinh hoặc sau ngày mẹ đi làm lại)
9 Bỉ 15 tuần (nếu sinh 1 con)
19 tuần (nếu sinh đôi trở lên)
10 ngày (3 ngày bắt buộc)
10 Bulgaria 410 ngày (thời gian nghỉ tối
đa)
Mẹ có thể chia
sẻ thời gian nghỉ của mẹ cho bố
mẹ chia sẻ)
Ở nước ta, độ dài thời gian nghỉ thai sản cũng luôn có sự thay đổi ở mỗi thời kỳ, nhìn chung là phù hợp với thông lệ quốc tế đồng thời đạt được mục đích bảo vệ sức khỏe cho bà mẹ và trẻ sơ sinh Có thể thấy rõ Việt Nam là một trong những quốc gia có thời gian nghỉ thai sản của lao động nữ dài nhất trên thế giới và cũng hơn hẳn các quốc gia trong khu vực
Mặc dù quy định thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản khi lao động nữ sinh con là 06 tháng nhưng pháp luật bảo hiểm xã hội hiện hành cũng
có quy định lao động nữ có thể đi làm trước khi hết thời hạn nghỉ sinh Theo
đó, quy định mới về đi làm trước hạn theo Luật BHXH năm 2014 tại Điều 40
Trang 34Bên cạnh thời gian nghỉ khi sinh con, Luật BHXH 2014 cũng quy định trường hợp sau khi sinh con, nếu con dưới 02 tháng tuổi bị chết thì mẹ được nghỉ việc 04 tháng tính từ ngày sinh con; nếu con từ 02 tháng tuổi trở lên bị chết thì mẹ được nghỉ việc 02 tháng tính từ ngày con chết, nhưng thời gian nghỉ việc hưởng CĐTS không vượt quá thời gian quy định trên; thời gian này không tính vào thời gian nghỉ việc riêng theo quy định pháp luật về lao động Như vậy, Luật mới đã kéo dài thời gian nghỉ việc cho lao động nữ trong trường hợp này so với quy định trước đây
Trường hợp rủi ro khi mẹ chết sau khi sinh con thì cha hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng được nghỉ việc hưởng CĐTS đối với thời gian còn lại của người mẹ theo quy định trên, lao động nam đang đóng BHXH khi vợ sinh con được nghỉ việc hưởng CĐTS.[12]
Thời gian hưởng CĐTS quy định trong thời gian nghỉ sinh con nêu trên tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần
Một trong những nội dung mới vô cùng quan trọng nữa mà Luật BHXH
2014 đưa vào là quy định nghỉ việc hưởng CĐTS đối với lao động nam Theo
đó, lao động nam đang đóng BHXH khi vợ sinh con được nghỉ việc hưởng CĐTS tính trong khoảng thời gian 30 ngày đầu kể từ ngày vợ sinh con, cụ thể lao động nam được nghỉ 05 ngày làm việc hoặc 07 ngày làm nệu vợ sinh con phải phẫu thuật hay sinh con dưới 32 tuần tuổi Trường hợp vợ sinh đôi thì lao động nam được nghỉ 10 ngày làm việc, từ sinh ba trở lên thì cứ thêm mỗi con
Trang 35mà của cả lao động nam có nguyện vọng được chia sẻ trách nhiệm được có thời gian nghỉ việc chăm sóc con, đảm bảo tốt hơn sức khỏe của người mẹ và trẻ sơ sinh trong điều kiện quỹ còn có thể cân đối Kinh nghiệm thực hiện của một số nước trên thế giới cho thấy, nhiều nước triển khai hiện CĐTS quy định người chồng được nghỉ việc để chăm sóc vợ, con như: Thụy Điển, Phillipine, Tây Ban Nha, Anh, Ý,…
Đây là lần đầu tiên Luật BHXH nước ta có quy định cho phép lao động nam nghỉ hưởng CĐTS So với những nước phát triển, quy định cho nam giới được nghỉ thai sản ở nước ta được thực hiện chậm hơn bởi từ xưa, quan niệm của người Việt là việc sinh con gắn liền với trách nhiệm, bổn phận của người phụ nữ Người đàn ông giữ vai trò, nhiệm vụ chăm lo đời sống vật chất của gia đình, kiếm tiền là chính Xuất phát từ quan niệm đó mà vai trò của nam giới liên quan đến CĐTS vẫn chưa từng được đề cập trong các văn bản luật trước đây
Có thể nói đây là một quy định có tính nhân văn, các Tổ chức Lao động quốc tế cũng đánh giá rất cao những quy định về CĐTS cho nam giới Theo
đó, quy định lao động nam được nghỉ thai sản sẽ giúp những người chồng có thêm thời gian ở bên cạnh chăm sóc vợ trong thời gian vượt cạn Qua đó, tình cảm gia đình sẽ được gắn kết, người chồng sẽ hiểu thêm những vất vả, đau
Trang 3632
đớn mà người vợ phải chịu khi sinh con Từ đó, có thể họ sẽ dành sự quan tâm cho vợ con của mình nhiều hơn
2.2.4 Thời gian nghỉ khi nhận con nuôi
Theo pháp luật của Việt Nam hiện nay thì: Nuôi con nuôi được coi là việc xác lập quan hệ cha mẹ và con giữa người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi, bảo đảm cho người được nhận làm con nuôi được trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục phù hợp với đạo đức xã hội Giữa người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con theo quy định của pháp luật
Ở nước ta, trong hoàn cảnh đất nước còn phải chịu những di chứng nặng nề của chiến tranh, điều kiện kinh tế - xã hội có nhiều khó khăn, mức thu nhập của nhân dân còn thấp, nhiều trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt cần có mái ấm gia đình, thì vấn đề nuôi con nuôi càng trở nên cấp thiết trong đời sống xã hội Bên cạnh ý nghĩa tạo mái ấm gia đình cho trẻ em, việc nuôi con nuôi còn góp phần đáp ứng nhu cầu chính đáng của vợ chồng nhận con nuôi, nhất là những cặp vợ chồng vô sinh, hiếm con; phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn, sống đơn thân
Xuất phát từ nhu cầu của xã hội, pháp luật Việt Nam cho phép việc nhận con nuôi cũng như quy định về thời gian nghỉ đối với lao động nữ khi nhận nuôi con nuôi Cụ thể, theo quy định tại Điều 36 Luật BHXH 2014, NLĐ nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi thì được nghỉ việc hưởng CĐTS cho đến khi con đủ 06 tháng tuổi Trường hợp NLĐ nữ nhận nuôi con nuôi mà không nghỉ việc hưởng CĐTS thì chỉ được hưởng trợ cấp một lần theo quy định của Luật BHXH 2014
Trang 37Quy định này được cụ thể tại Điều 35 Luật BHXH năm 2014: “Lao động nữ mang thai hộ được hưởng chế độ khi khám thai, sẩy thai, nạo, hút thai, thai chết lưu hoặc phá thai bệnh lý và chế độ khi sinh con cho đến thời điểm giao đứa trẻ cho người mẹ nhờ mang thai hộ nhưng không vượt quá thời gian quy định tại khoản 1 Điều 34 của Luật này Trong trường hợp kể từ ngày sinh đến thời điểm giao đứa trẻ mà thời gian hưởng CĐTS chưa đủ 60 ngày thì người mang thai hộ vẫn được hưởng CĐTS cho đến khi đủ 60 ngày tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần.Người mẹ nhờ mang thai hộ được hưởng CĐTS từ thời điểm nhận con cho đến khi con đủ 06 tháng tuổi”
Như vậy, kể cả trường hợp lao động nữ là người mang thai hộ hay là người mẹ nhờ mang thai hộ, thì vẫn có đầy đủ quyền được hưởng bảo hiểm thai sản như những trường hợp mang thai và sinh con thông thường khác
Tuy nhiên, do có sự chuyển giao việc nuôi dưỡng con sơ sinh được sinh
ra nên thời gian hưởng chế độ bảo hiểm thai sản của lao động nữ mang thai hộ
sẽ được tính đến thời điểm giao đứa trẻ cho người nhờ mang thai hộ Khi đó, sức khỏe của cả lao động nữ mang thai hộ cũng như đứa trẻ được đảm bảo một cách tốt nhất, tuy nhiên không vượt quá mức quy định là 06 tháng