1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quản lý nhà nước về hộ tịch từ thực tiễn tỉnh Hải Dương

79 252 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 762,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, trong bối cảnh đất nước bước sang giai đoạn phát triển mới, tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế diễn ra ngày càng sâu rộng, việc dịch chuyển dân cư tron

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐOÀN THỊ THU THỦY

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HỘ TỊCH TỪ

THỰC TIỄN TỈNH HẢI DƯƠNG

Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính

Mã số : 60.38.01.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS Nguyễn Minh Đoan

Hà Nội, 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan những nội dung nghiên cứu trình bày trong luận văn

thạc sĩ chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính với đề tài “Quản lý nhà nước về hộ tịch từ thực tiễn tỉnh Hải Dương” là công trình nghiên cứu của

cá nhân tôi, không sao chép của bất cứ ai Nếu có sự thiếu trung thực, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm trước Hội đồng chấm luận văn và Ban Giám đốc Học viện Khoa học xã hội

Tác giả

Đoàn Thị Thu Thủy

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HỘ TỊCH……….………… 7

1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của quản lý nhà nước về hộ tịch 7

1.2 Nội dung, hình thức và phương pháp quản lý nhà nước về hộ tịch 17

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về hộ tịch 24

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HỘ TỊCH Ở TỈNH HẢI DƯƠNG 30

2.1 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước về hộ tịch ở tỉnh Hải Dương 30

2.2 Thực tiễn quản lý nhà nước về hộ tịch tại tỉnh Hải Dương 32

Chương 3 QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HỘ TỊCH TỪ THỰC TIỄN TỈNH HẢI DƯƠNG 52

3.1 Quan điểm bảo đảm quản lý nhà nước về hộ tịch 52

3.2 Giải pháp bảo đảm quản lý nhà nước về hộ tịch 54

KẾT LUẬN 69

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 71

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đăng ký và quản lý hộ tịch là hoạt động có ý nghĩa rất quan trọng đối với người dân và Nhà nước Thông qua việc đăng ký, quản lý hộ tịch, tạo cơ sở pháp lý

để Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền con người, quyền, nghĩa vụ công dân Đồng thời, góp phần vào các biện pháp quản lý dân cư một cách khoa học, phục vụ cho việc xây dựng, hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng của đất nước Với phạm vi và đối tượng quản lý vô cùng rộng lớn, tác động đến mọi tầng lớp dân cư, việc thiết lập hệ thống quản lý dân cư, quản lý hộ tịch luôn là mối quan tâm của mọi quốc gia

Ở Việt Nam, hệ thống quản lý hộ tịch đến nay đã trải qua nhiều mô hình quản lý khác nhau, được điều chỉnh bởi các chế độ quản lý khác nhau trong thời kỳ phong kiến, thực dân, thời kỳ chế độ Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam,… Trải qua các giai đoạn phát triển khác nhau của đất nước, từ mô hình quản lý tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường, mô hình hệ thống cơ quan quản lý hộ tịch cũng trải qua những biến đổi căn bản nhưng tựu chung cho thấy, công tác hộ tịch đóng vai trò quan trọng và luôn được duy trì trong bất cứ hoàn cảnh nào

Trong thời gian qua, công tác đăng ký và quản lý hộ tịch ở nước ta đã có những bước phát triển ổn định, đạt được những kết quả quan trọng Công tác xây dựng thể chế được tăng cường; việc phổ biến, giáo dục pháp luật về hộ tịch ngày càng được coi trọng Hệ thống cơ quan quản lý, đăng ký hộ tịch được củng cố; đội ngũ công chức làm công tác hộ tịch được tăng cường, kiện toàn Trình tự, thủ tục đăng ký hộ tịch cũng từng bước được đơn giản hóa, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân Dữ liệu hộ tịch được lưu trữ và sử dụng lâu dài, khẳng định vai trò trong quản lý nhà nước và bảo đảm quyền nhân thân của cá nhân Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong đăng ký và quản lý hộ tịch đạt được những thành tựu bước đầu Công tác đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài đã có những chuyển biến tích

Trang 5

cực, cơ bản đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước cũng như đăng ký các việc phát sinh giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài

Tuy nhiên, trong bối cảnh đất nước bước sang giai đoạn phát triển mới, tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế diễn ra ngày càng sâu rộng, việc dịch chuyển dân cư trong nước và quốc tế ngày càng gia tăng, quyền con người, quyền công dân đòi hỏi được ghi nhận và bảo đảm thực hiện ở mức cao hơn thì công tác đăng ký và quản lý hộ tịch đã bộc lộ nhiều hạn chế như: Thủ tục quản

lý hộ tịch chưa khoa học, chưa phù hợp thực tế, trình độ, năng lực của đội ngũ công chức làm công tác quản lý hộ tịch; việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật về hộ tịch chưa được quan tâm đúng mức… Những hạn chế này đã làm giảm đi hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về hộ tịch Thực trạng này do nhiều nguyên nhân, trong đó có những nguyên nhân xuất phát từ chính các quy định của pháp luật về đăng ký, quản

lý hộ tịch

Chính vì vậy, nhằm tạo cơ sở pháp lý lâu dài, ổn định và thống nhất cho công tác đăng ký và quản lý hộ tịch, khắc phục nguyên nhân gây ra những bất cập, hạn chế, nhất là trong bối cảnh triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013 với nhiều quy định mới đề cao quyền con người, quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân, đồng thời tạo sự chuyển biến mạnh mẽ công tác này theo hướng từng bước chuyên nghiệp, phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước trong thời kỳ mới Ngày 20/11/2014, tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật Hộ tịch đánh dấu việc lần đầu tiên có văn bản ở tầm Luật quy định riêng về lĩnh vực đăng ký và quản lý hộ tịch sau hơn 60 năm thực hiện bằng các văn bản dưới Luật do Chính phủ ban hành

Trong những năm qua, tỉnh Hải Dương đã có nhiều cố gắng, nỗ lực trong quản lý nhà nước về hộ tịch Với sự quan tâm, chỉ đạo của các cấp uỷ, chính quyền, công tác đăng ký và quản lý về hộ tịch trên địa bàn tỉnh Hải Dương đã từng bước được thực hiện nghiêm túc đầy đủ, chính xác và đã gặt hái được những thành tích nhất định Tuy nhiên, thực trạng quản lý hộ tịch trên địa bàn tỉnh Hải Dương cho thấy vẫn còn nhiều vấn đề đặt ra cần được tiếp tục hoàn thiện, nâng cao hiệu quả

Trang 6

Từ những nội dung trình bày nêu trên, học viên chọn đề tài “Quản lý nhà

nước về hộ tịch từ thực tiễn tỉnh Hải Dương” làm luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ Luật

Với mong muốn qua nghiên cứu thực tiễn quản lý nhà nước về hộ tịch tại tỉnh Hải Dương, luận văn sẽ rút ra những kết luận, kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện hơn nữa công tác quản lý nhà nước về hộ tịch ở nước ta

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Đã có nhiều công trình nghiên cứu, các luận án, luận văn, bài báo tạp chí đề cập đến vấn đề hộ tịch và các chính sách thực hiện pháp luật về hộ tịch trong thời gian qua Có thể nêu một số công trình:

- Bộ Tư pháp (2006), “Hướng dẫn nghiệp vụ đăng ký và quản lý hộ tịch”,

Nxb Tư pháp, Hà Nội;

- Bộ Tư pháp (2006), “Quy định mới về đăng ký và quản lý hộ tịch”, Nxb

Chính trị quốc gia;

- Bộ Tư pháp (2007), “Nghiệp vụ đăng ký hộ tịch”, Nxb Tư pháp, Hà Nội;

- Bộ Tư pháp (2010), “Tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ Tư pháp xã, phường,

thị trấn”, Nxb Tư pháp;

- Viện nghiên cứu khoa học và pháp lý - Bộ Tư pháp (1995), “Chuyên đề

thông tin khoa học pháp lý về hộ tịch”;

- Viện nghiên cứu khoa học và pháp lý - Bộ Tư pháp (2000), “Bảo vệ quyền

trẻ em trong pháp luật về quốc tịch và đăng ký hộ tịch ở Việt Nam”, Nxb Chính trị

quốc gia, Hà Nội;

- Đề tài nghiên cứu cấp cơ sở (2010), “Nâng cao chất lượng, hiệu quả công

tác đăng ký và quản lý hộ tịch ở tỉnh Hòa Bình – Thực trạng và giải pháp” của Sở

Tư pháp tỉnh Hòa Bình, tác giả Trần Việt Hưng chủ nhiệm đề tài, Viện Khoa học Pháp lý - Bộ Tư pháp;

- ThS Phạm Trọng Cường (2004), “Về quản lý hộ tịch”, Nxb Chính trị

quốc gia, Hà Nội;

- ThS Phạm Trọng Cường (2007), “Từ quản lý đinh đến quản lý hộ tịch”,

Nxb Tư pháp, Hà Nội;

Trang 7

- Phạm Hồng Hoàn (2011), “Quản lý nhà nước về hộ tịch cấp xã, huyện

Đan Phượng, thành phố Hà Nội”, Luận văn thạc sỹ Quản lý Hành chính

công, Học viện hành chính quốc gia Hà Nội;

- Lê Thị Minh Hiếu (2013), “Thực hiện pháp luật về hộ tịch trên địa

bàn tỉnh Thái Nguyên hiện nay”, Luận văn thạc sỹ Luật học, Đại học Luật Hà

Nội, Hà Nội;

- Bùi Thị Tư (2014), “Quản lý hộ tịch - Qua thực tiễn ở Hải Phòng”,

Luận văn Thạc sỹ Luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội;

- Trương Thị Vân Anh (2015), “Quản lý nhà nước về hộ tịch ở cấp xã, thực

tiễn ở huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội”, Luận văn thạc sỹ Luật học, Khoa Luật -

Đại học Quốc gia Hà Nội;

- Nguyễn Thị Hạnh (2016), “Pháp luật quản lý về hộ tịch - Từ thực tiễn

quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội”, Luận văn thạc sỹ Luật Hiến pháp và Hành

chính, Học viện hành chính quốc gia Hà Nội;

- Cục lãnh sự Bộ Ngoại giao (2012), “Kinh nghiệm thực tiễn và một số kiến

nghị về công tác đăng ký, quản lý hộ tịch tại các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Bộ Tư pháp, Số 9;

- Lương Thị Lanh (2013), “Đánh giá thực trạng pháp luật về hộ tịch và giải

pháp hoàn thiện”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, (số chuyên đề pháp luật về hộ

tịch);

- Nam Minh (2013), “Tiếp tục phân cấp thẩm quyền, cải cách phương thức

quản lý và đăng ký hộ tịch”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, (số chuyên đề pháp luật

về hộ tịch);

- TS Trần Thất (2013), “Mối quan hệ giữa pháp luật về quản lý hộ tịch với

pháp luật về quản lý dân cư”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, (Số chuyên đề Pháp

luật về hộ tịch);

- Đinh Ngọc Giang (2015), “Quản lý nhà nước về hộ tịch ở nước ta

hiện nay”, Tạp chí Quản lý nhà nước, (số 228);

Trang 8

Các công trình khoa học nói trên đã đề cập từng khía cạnh của quản lý về hộ tịch Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu trực tiếp

về quản lý hộ tịch từ thực tiễn tỉnh Hải Dương Những tài liệu trên là những gợi ý quý báu có giá trị tham khảo, kế thừa giúp tác giả tiến hành nghiên cứu trực tiếp hoạt động quản lý nhà nước về hộ tịch trên địa bàn tỉnh Hải Dương

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Trên cơ sở nhận thức lý luận về quản lý nhà nước về hộ tịch và đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước về hộ tịch trên địa bàn tỉnh Hải Dương, luận văn đưa ra những giải pháp thiết thực, có căn cứ khoa học và thực tiễn nhằm hoàn thiện pháp luật về quản lý nhà nước về hộ tịch hiện hành

Để đạt được mục đích nghiên cứu, đề tài cần thực hiện những nhiệm vụ cụ thể sau:

+ Làm rõ cơ sở lý luận về quản lý nhà nước về hộ tịch, quản lý hộ tịch

+ Đánh giá thực trạng để làm rõ những ưu điểm và hạn chế; nguyên nhân của những ưu điểm, hạn chế của hoạt động quản lý nhà nước về hộ tịch trên địa bàn tỉnh Hải Dương

+ Đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về hộ tịch trên địa bàn tỉnh Hải Dương nói riêng và cả nước nói chung

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Luận văn xác định đối tượng, phạm vi nghiên cứu như sau:

+ Luận văn nghiên cứu lý luận và các quy định của pháp luật trong hoạt động quản lý nhà nước ở Việt Nam về hộ tịch

+ Việc áp dụng các quy định của pháp luật về hộ tịch và thực tiễn hoạt động quản lý nhà nước về hộ tịch tại địa bàn tỉnh Hải Dương từ năm 2011 đến nay

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận của việc nghiên cứu đề tài là những luận điểm trong học thuyết Mác-Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về quản lý hành chính nhà nước; các quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về quản lý hộ tịch

Trang 9

Đồng thời tác giả có tham khảo và kế thừa có chọn lọc một số công trình nghiên cứu của các nhà khoa học

Các phương pháp được tác giả sử dụng trong luận văn gồm: phương pháp phân tích, tổng hợp, diễn dịch, quy nạp, phương pháp lịch sử, phương pháp hệ thống, so sánh, thống kê…

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Về mặt lý luận, luận văn hệ thống hóa cơ sở lý luận về hộ tịch Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước từ đó chỉ ra được hạn chế, nguyên nhân Đề xuất hệ thống giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý của nhà nước về hộ tịch trên địa bàn tỉnh Hải Dương

Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu luận văn có thể làm tài liệu tham khảo trong các cơ sở đào tạo, cho những người làm công tác nghiên cứu về hộ tịch hoặc

áp dụng trong thực tiễn

7 Cơ cấu của luận văn

Luận văn gồm 3 chương:

Chương 1 Những vấn đề lý luận của quản lý nhà nước về hộ tịch

Chương 2 Thực trạng quản lý nhà nước về hộ tịch ở tỉnh Hải Dương

Chương 3 Quan điểm, giải pháp bảo đảm quản lý nhà nước về hộ tịch từ thực tiễn tỉnh Hải Dương

Trang 10

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

VỀ HỘ TỊCH

1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của quản lý nhà nước về hộ tịch

1.1.1 Khái niệm hộ tịch, đăng ký hộ tịch và quản lý nhà nước về hộ tịch

- Hộ tịch

“Hộ tịch” là một từ ngoại lai được du nhập vào ngôn ngữ tiếng Việt nhưng rất khó xác định được thời điểm xuất hiện Khảo cứu qua các bộ sử liệu như “Đại Việt sử ký toàn thư”, “Lịch triều hiến chương loại chí”, “Việt sử thông giám cương mục”… có thể thấy thuật ngữ “hộ tịch” đã xuất hiện từ rất sớm, bên cạnh nó còn các từ cổ có liên quan và cùng nằm trong phạm trù quản lý dân cư như “trướng tịch”, “hộ khẩu”, “sổ dân bạ”, “tiểu điển”, “phụ tịch”, “chính hộ”, “khách hộ”… Tuy nhiên, theo “Đại Nam Quốc âm tự vị”, cuốn từ điển của tác giả Huỳnh Tịnh

Paulus Của được biên soạn từ năm 1895 với phương pháp “tham dụng chữ Nho và

lấy 24 chữ cái phương Tây làm chữ bộ” thì trong bộ chữ “hộ”chưa có từ “hộ

tịch”[15, tr.425]

Xét về khía cạnh ngôn ngữ học, “hộ tịch” là một từ ghép gốc Hán chính phụ, được ghép bởi hai thành tố có nghĩa độc lập, trong đó “tịch” là thành tố chính Xét

về mặt từ loại thì đây là một danh từ thuộc nhóm danh từ chỉ khái niệm trừu tượng [13, tr.211] Nếu tìm hiểu riêng từng thành tố thì có thể thấy, các từ điển tiếng Việt hiện nay khá thống nhất trong cách hiểu từng từ đơn này Theo đó, từ “hộ” - khi sử dụng là danh từ có nhiều nghĩa khác nhau, nhưng trong đó có một nghĩa trực tiếp là

“dân cư” hoặc “nhà ở”, hiểu rộng ra là “đơn vị để quản lý dân số, gồm những người cùng ăn ở với nhau” Với từ “tịch”, có nghĩa là “sổ sách” hoặc là “sổ sách đăng ký quan hệ lệ thuộc” Tuy nhiên, việc tổ hợp hai thành tố này thành danh từ “hộ tịch” lại là một trường hợp rất đặc biệt về mặt ngôn ngữ, và được sử dụng với thuộc tính kết hợp hạn chế (hạn chế về việc sử dụng và khả năng tổ hợp của từ ngữ) [67, tr.9]

Trang 11

Chính vì vậy, qua khảo cứu các từ điển tiếng Việt thì thấy có nhiều cách giải nghĩa

Bên cạnh những cách giải nghĩa của các từ điển Hán - Việt nói trên, một số

từ điển lại giải nghĩa từ “hộ tịch” ở những khía cạnh khác hẳn Ví dụ như: “Hộ

tịch: Sổ của cơ quan dân chính đăng ký cư dân trong địa phương mình theo từng hộ” [67, tr.442] “Hộ tịch: Các sự kiện trong đời sống của một người thuộc sự quản

lý của pháp luật” [70, tr.835] “Hộ tịch: Quyền cư trú, được chính quyền công nhận của một người tại nơi mình ở thường xuyên, của những người thường trú thuộc cùng một hộ, do chính quyền cấp cho từng hộ để xuất trình khi cần” [25, tr.385] Như vậy,

có thể thấy, nghĩa của từ “hộ tịch”, xét về khía cạnh ngôn ngữ học còn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau, thậm chí có cuốn từ điển còn thể hiện sự nhầm lẫn cơ bản giữa hai khái niệm “hộ tịch” và “hộ khẩu” Điều này phản ánh một thực tế là sự nhầm lẫn giữa hai khái niệm này trong nhận thức xã hội còn khá phổ biến

Về khía cạnh pháp lý, bản thân khái niệm “hộ tịch” hoàn toàn không dễ định nghĩa Trong khoa học pháp lý một số nước trên thế giới, có thể nhận thấy khái niệm về hộ tịch đã được đề cập, cụ thể như trong tiếng Anh, thuật ngữ “Civil registration” được hiểu là việc đăng ký đúng thời hạn các sự kiện sinh, tử, kết hôn với chính quyền trong thời hạn quy định Hiện nay, trong Bộ luật Dân sự của Cộng hòa Pháp không đưa ra khái niệm riêng về hộ tịch mà chỉ đưa ra khái niệm “Chứng thư hộ tịch”, nhưng trong tiếng Pháp thì từ “registre d etat civil” cũng được hiểu là việc đăng ký dân sự của cá nhân Như vậy, cả hai khái niệm nêu trên đều có thể hiểu nghĩa đó là việc “đăng ký tình trạng dân sự của cá nhân”

Trang 12

Hiện nay, theo các tài liệu và được Liên hiệp quốc công nhận, chính thức sử

dụng thường xuyên thì khái niệm “Civil registration” có nghĩa là: “Đăng ký hộ tịch

là việc ghi nhớ liên tục đặc điểm về sự tồn tại và tình trạng dân sự của mỗi cá nhân liên quan đến dân số được quy định bởi sắc lệnh, luật hoặc điều lệ phù hợp với yêu cầu của pháp luật mỗi quốc gia”

Ở Việt Nam, thuật ngữ “hộ tịch” lần đầu tiên được định nghĩa trong các giáo trình giảng dạy của Trường Đại học Sài Gòn - khoa Luật dưới chế độ Việt Nam

Cộng hòa, trong đó nổi bật lên một số quan điểm như: “Hộ tịch - còn gọi là nhân thế

bộ - là cách sinh hợp pháp của một công dân trong gia đình và trong xã hội Hộ tịch căn cứ vào ba hiện tượng quan trọng nhất của con người: sinh, giá thú và tử” [59,

tr.7] “Hộ tịch là sổ biên chép các việc liên hệ đến các người trong nhà Hộ tịch gồm

ba sổ để ghi chép các sự khai giá thú, khai sinh và khai tử” [49, tr.111] Tác giả Trần

Thúc Linh, tác giả cuốn “Danh từ pháp luật lược giải” - vốn được đánh giá là một trong những từ điển chuyên ngành pháp lý đầu tiên - không đưa ra định nghĩa về khái

niệm “hộ tịch” mà chỉ định nghĩa khái niệm “chứng thư hộ tịch”: “Chứng thư hộ tịch

là những giấy tờ công chứng dùng để chứng minh một cách chính xác thân trạng người ta như ngày tháng sanh, tử, giá thú, họ tên, con trai con gái, con chính thức hay con tư sanh, tư cách vợ chồng… tóm lại tình trạng xã hội của con người từ lúc sinh ra đến khi chết Các sổ sách hộ tịch ghi lại mọi việc sanh, tử, giá thú và các việc thay đổi về thân trạng người ta nhìn nhận con ngoại hôn, chính thức hóa con tư sinh, khước từ phụ hệ, ly thân…” [45, tr.42]

Khái niệm “hộ tịch” cũng là một trường hợp đặc biệt trong hệ thống pháp lý tiếng Việt Bản thân khái niệm này hoàn toàn không dễ dàng định nghĩa một cách minh bạch, điều đó cũng có nghĩa là việc sử dụng nó không thuận tiện theo nguyên tắc sử dụng ngôn ngữ khi xây dựng văn bản quy phạm pháp luật Tuy nhiên, do khái niệm này, trải qua một quá trình lịch sử đã dần trở thành ngôn ngữ phổ thông

ăn sâu trong nhận thức của người dân nên giải pháp đi tìm khái niệm Việt hóa thay thế không được lựa chọn mà thay vào đó các nhà làm luật đã dung hòa bằng cách

sử dụng khái niệm này với tư cách là một thuật ngữ chuyên môn và định nghĩa

Trang 13

trong văn bản Theo đó, khoản 1 Điều 2 và Khoản 1 Điều 3 Luật Hộ tịch năm 2014

đưa ra định nghĩa: Hộ tịch là những sự kiện xác định tình trạng nhân thân của cá

nhân từ khi sinh ra đến khi chết bao gồm: khai sinh; kết hôn; giám hộ; nhận cha,

mẹ, con; thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, bổ sung thông tin hộ tịch

và khai tử Trong đó khai sinh, kết hôn, khai tử là ba sự kiện hộ tịch cơ bản phổ biến mà bất cứ cá nhân nào cũng phải được đăng ký

Mỗi cách giải thích đứng từ góc nhìn khác nhau, thể hiện sự vận động nhận thức về khái niệm ở các thời kỳ khác nhau, nhưng điểm chung là đều liên quan đến

sự ghi nhận cái thuộc về nhân thân con người; là những sự kiện sinh, tử, kết hôn, giám hộ, nhận cha mẹ con, thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc… xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết đi

- Đăng ký hộ tịch

Việc đăng ký hộ tịch (tức là đăng ký cá nhân), được hiểu là một hành vi đăng

ký của cá nhân đối với Nhà nước nhằm bảo đảm các quyền dân sự của cá nhân Theo quan niệm truyền thống, đăng ký hộ tịch là việc ghi chép vào sổ các sự kiện về việc hộ tịch của các hộ nhằm quản lý việc biến động của các sự kiện đó Việc đăng ký hộ tịch phải thể hiện trên giấy tờ Giấy tờ hộ tịch do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho cá nhân theo quy định là căn cứ pháp lý để xác nhận các sự kiện hộ tịch của cá nhân đó và mỗi sự kiện hộ tịch đều được cơ quan đăng ký hộ tịch ghi nhận bằng giấy tờ hộ tịch

Theo đó, đăng ký hộ tịch là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận hoặc ghi vào Sổ hộ tịch các sự kiện hộ tịch của cá nhân, tạo cơ sở pháp lý để Nhà nước bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, thực hiện quản lý về dân cư

Nội dung đăng ký hộ tịch thường gồm các việc sau:

- Xác nhận và ghi vào Sổ hộ tịch các sự kiện hộ tịch: khai sinh; kết hôn; khai tử;giám hộ; nhận cha, mẹ, con; thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, bổ sung hộ tịch

- Ghi vào Sổ hộ tịch việc thay đổi hộ tịch của cá nhân theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bao gồm: thay đổi quốc tịch; xác định

Trang 14

cha, mẹ, con; xác định lại giới tính; nuôi con nuôi, chấm dứt việc nuôi con nuôi; ly hôn, hủy việc kết hôn trái pháp luật; công nhận việc kết hôn; công nhận giám hộ; tuyên bố hoặc huỷ tuyên một người mất tích, đã chết; bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự

- Ghi vào Sổ hộ tịch các việc hộ tịch của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài bao gồm: khai sinh; kết hôn, ly hôn, hủy việc kết hôn, giám hộ, nhận cha, mẹ, con; xác định cha, mẹ, con; nuôi con nuôi, thay đổi hộ tịch; khai tử

- Khái niệm quản lý nhà nước về hộ tịch

Dưới góc độ khoa học, khái niệm về “quản lý” có nhiều cách tiếp cận khác nhau Với ý nghĩa thông thường, phổ biến thì quản lý có thể hiểu là hoạt động tác động một cách có tổ chức và định hướng của chủ thể quản lý tới những đối tượng quản lý để điều chỉnh chúng vận động và phát triển theo những mục tiêu nhất định

đã đề ra Quản lý là hoạt động mang tính đặc thù của con người, là sự tác động có mục đích của các chủ thể quản lý đối với các đối tượng quản lý Quản lý xuất hiện

ở bất kỳ nơi nào, lúc nào nếu ở nơi đó có hoạt động chung của con người

Khi Nhà nước xuất hiện thì phần lớn các công việc của xã hội do nhà nước quản lý Theo nghĩa rộng, khái niệm quản lý nhà nước là hoạt động tổ chức, điều hành của cả bộ máy nhà nước, nghĩa là bao hàm cả sự tác động, tổ chức của quyền lực nhà nước trên các phương diện lập pháp, hành pháp và tư pháp Theo cách hiểu

này, quản lý nhà nước được đặt trong cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý,

nhân dân lao động làm chủ” Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước chủ yếu là quá

trình tổ chức, điều hành của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người theo pháp luật nhằm đạt được những mục tiêu, yêu cầu nhiệm vụ quản lý nhà nước Đồng thời, các cơ quan nhà nước nói chung còn thực hiện các hoạt động có tính chất chấp hành, điều hành, tính chất hành chính nhà nước nhằm xây dựng tổ chức bộ máy và củng cố chế độ công tác nội bộ của mình

Trang 15

Quản lý hộ tịch là một trong những hoạt động của quản lý nhà nước Quản lý nhà nước về hộ tịch là hoạt động quản lý và đăng ký hộ tịch của nhà nước gắn với các sự kiện: sinh, tử, kết hôn, nuôi con nuôi, giám hộ, nhận cha, mẹ, con, thay đổi, cải chính, bổ sung hộ tịch Thông qua việc đăng ký hộ tịch, nhà nước nắm được tình hình biến động dân cư, giúp nhà nước có cơ sở để hoạch định các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng cũng như hoạch định các chính sách về dân số - kế hoạch hóa gia đình

Quản lý nhà nước về hộ tịch là một nội dung trong quản lý nhà nước về hành chính - tư pháp, tập trung chủ yếu vào các hoạt động: Ban hành hoặc trình cơ quan

có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về hộ tịch; Xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách, kế hoạch, định hướng về hoạt động hộ tịch; Phổ biến, giáo dục pháp luật về hộ tịch; Thực hiện đăng ký hộ tịch; Quản lý hệ thống tổ chức

và hoạt động của các cơ quan, tổ chức trong hoạt động hộ tịch; Đào tạo, bồi dưỡng, hướng dẫn nghiệp vụ về hộ tịch; Kiểm tra, thanh tra, khen thưởng, xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động hộ tịch; Bảo đảm kinh phí, cơ sở vật chất, phương tiện cho một số hoạt động hộ tịch; Hợp tác quốc tế về hộ tịch; Thống

kê nhà nước về hộ tịch; Tổng kết hoạt động hộ tịch; báo cáo cơ quan nhà nước cấp trên về hoạt động hộ tịch

1.1.2 Đặc điểm của quản lý nhà nước về hộ tịch

Quản lý nhà nước về hộ tịch là một hình thức hoạt động của nhà nước, do các chủ thể có thẩm quyền thực hiện trên cơ sở pháp luật và để thi hành pháp luật trong lĩnh vực hộ tịch, góp phần bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, phục cho công cuộc phát triển kinh tế - xã hội Nhìn tổng quát, quản lý nhà nước về hộ tịch có những đặc điểm chính sau đây:

Thứ nhất, hoạt động quản lý nhà nước về hộ tịch là hoạt động mang tính

quyền lực Quyền lực trong quản lý nhà nước đối với hộ tịch thể hiện ở việc các chủ thể có thẩm quyền thể hiện ý chí nhà nước thông qua phương tiện nhất định, trong đó

có phương tiện cơ bản và quan trọng nhất được sử dụng đó là hệ thống các văn bản quản lý về hộ tịch Bằng việc ban hành các văn bản, chủ thể quản lý hộ tịch thể hiện

Trang 16

ý chí của mình dưới dạng các hoạt động áp dụng pháp luật nhằm đưa các quy định về

hộ tịch được áp dụng vào thực tiễn thông qua hệ thống của bộ máy quản lý hộ tịch của Nhà nước Bên cạnh đó, chủ thể quản lý hộ tịch có thẩm quyền chịu trách nhiệm bảo đảm cho hoạt động quản lý nhà nước về hộ tịch được thực hiện một cách triệt để, chính xác nhằm bảo đảm thực hiện ý chí, quyền lực của Nhà nước thông qua các biện pháp như: các biện pháp về tổ chức, giáo dục, thuyết phục, hòa giải… Chính những biện pháp này là sự thể hiện tập trung và rõ nét nhất của sức mạnh nhà nước, nhờ đó ý chí của chủ thể quản lý hộ tịch được bảo đảm thực hiện

Thứ hai, hoạt động quản lý nhà nước về hộ tịch có tính chấp hành và điều

hành Tính chấp hành và điều hành của hoạt động quản lý nhà nước về hộ tịch luôn đan xen, song song tồn tại, được thể hiện trong việc những hoạt động này được tiến hành trên cơ sở pháp luật và nhằm mục đích thực hiện pháp luật, cho dù đó là hoạt động chủ động, sáng tạo của chủ thể quản lý thì cũng không được vượt quá khuôn khổ pháp luật, điều hành cấp dưới, trực tiếp áp dụng pháp luật hoặc tổ chức những hoạt động thực tiễn trên cơ sở các quy định pháp luật nhằm hiện thực hóa pháp luật Tính điều hành của hoạt động quản lý hộ tịch thể hiện trong việc chủ thể có thẩm quyền tổ chức thực hiện pháp luật về hộ tịch trong đời sống xã hội Trong quá trình

đó, các chủ thể này, không chỉ tự mình thực hiện pháp luật về hộ tịch mà còn đảm nhận chức năng chỉ đạo nhằm vận hành hoạt động của các cơ quan đơn vị trực thuộc theo một quy trình thống nhất; tổ chức để mọi đối tượng có liên quan thực hiện pháp luật về hộ tịch nhằm thực hiện hóa các quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ quản lý hộ tịch

Thứ ba, quản lý nhà nước hộ tịch là hoạt động được tiến hành bởi những chủ

thể có quyền năng hành pháp là các cán bộ, công chức làm công tác hộ tịch trong

bộ máy nhà nước Chủ thể chủ yếu thực hiện quản lý nhà nước về hộ tịch là các cơ quan quản lý hành chính nhà nước với sự phân cấp từ Trung ương đến cơ sở, cấp dưới phục tùng cấp trên, thực hiện mệnh lệnh và chịu sự kiểm tra thường xuyên của cấp trên

Trang 17

Thứ tư, quản lý nhà nước về hộ tịch là hoạt động có tính thống nhất, được tổ

chức chặt chẽ và mang tính liên tục Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về hộ tịch được tổ chức một cách thông suốt từ Trung ương đến cơ sở, thể hiện tính thứ bậc chặt chẽ trong tổ chức và hoạt động của nội bộ cơ quan và cũng như trong toàn bộ

hệ thống Các cơ quan quản lý hoạt động và thực hiện các nhiệm vụ trong phạm vi, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình theo quy định của pháp luật và đảm bảo thực hiện đúng mối quan hệ trên - dưới; ngang - dọc theo quy định của pháp luật, nhờ đó các hoạt động của bộ máy được chỉ đạo, điều hành thống nhất, bảo đảm lợi ích chung của cả nước, bảo đảm sự liên kết, phối hợp nhịp nhàng giữa các địa phương, tạo ra sức mạnh tổng hợp của cả nước, tránh được sự cục bộ phân hóa giữa các địa phương, vùng miền Mỗi địa phương đều có những nét đặc thù riêng

về vị trí địa lý, các điều kiện về kinh tế - văn hóa - xã hội, do vậy, để phát huy tối

đa tiềm năng của từng địa phương, tạo sự năng động, sáng tạo trong quản lý điều hành, bộ máy quản lý nhà nước về hộ tịch còn được tổ chức theo hướng phân cấp, trao quyền tự quyết cho từng địa phương

Thứ năm, quản lý nhà nước về hộ tịch là hoạt động mang tính liên tục Tính

liên tục trong quản lý nhà nước về hộ tịch xuất phát từ sự vận động không ngừng của đời sống xã hội; các sự kiện hộ tịch như sinh, tử, kết hôn diễn ra thường xuyên, hàng ngày Vì vậy, hoạt động quản lý nhà nước về hộ tịch luôn cần có tính kịp thời, linh hoạt; đảm bảo các hoạt động không bị gián đoạn trong bất kỳ tình huống nào Chính đặc điểm này được coi là cơ sở quan trọng trong việc xác lập quy định về tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về hộ tịch gọn nhẹ, có sự linh hoạt trong tổ chức, có đội ngũ cán bộ, công chức năng động, sáng tạo và chịu trách nhiệm đối với hoạt động của mình

1.1.3 Vai trò của quản lý nhà nước về hộ tịch

Hộ tịch là những sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người

từ khi sinh ra đến khi chết Do vậy, đăng ký và quản lý hộ tịch là một vấn đề quan trọng đối với mỗi cá nhân trong xã hội Quản lý nhà nước về hộ tịch là nhiệm vụ thường xuyên của chính quyền các cấp nhằm theo dõi thực trạng và sự biến động

Trang 18

về hộ tịch Mọi sự kiện hộ tịch đều được đăng ký kịp thời, chính xác, đúng quy định Trên cơ sở đó, bảo hộ các quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân và gia đình khi tham gia vào các quan hệ xã hội như quyền được khai sinh, quyền được kết hôn, quyền được giám hộ, quyền được thừa kế… Đồng thời, góp phần xây dựng chính sách về kinh tế, xã hội, an ninh và quốc phòng, dân số và kế hoạch hóa gia đình

Quản lý nhà nước về hộ tịch thể hiện chức năng xã hội của nhà nước; là hoạt động gắn bó mật thiết đến quyền và nghĩa vụ cơ bản của mỗi công dân, được Đảng

và Nhà nước đặc biệt chú trọng, là lĩnh vực có mối liên hệ mật thiết với hiệu quả của việc quản lý dân cư nói chung Do vậy, vai trò của quản lý nhà nước về hộ tịch được thể hiện trên các mặt cơ bản sau:

Thứ nhất, quản lý nhà nước về hộ tịch có vai trò quan trọng trong việc ghi

nhận và bảo đảm việc thực hiện một số quyền nhân thân cơ bản của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013 và Bộ luật dân sự năm 2015 như: quyền có họ tên; quyền được thay đổi họ tên; quyền xác định lại dân tộc; quyền được khai sinh, khai tử, kết hôn; quyền đối với quốc tịch; quyền xác định lại giới tính… Các dữ liệu về tình trạng thân nhân của mỗi cá nhân thể hiện trên các giấy tờ hộ tịch là sự khẳng định địa vị pháp lý của mỗi cá nhân, qua đó, các cơ quan, tổ chức và cá nhân khác có thể đánh giá, xem xét người đó có khả năng, điều kiện tham gia vào các

quan hệ pháp luật nhất định hay không Ví dụ: Một đứa trẻ khi sinh ra, được cơ

quan có thẩm quyền đăng ký khai sinh, thể hiện bằng Giấy khai sinh Kể từ thời điểm đó, đứa trẻ chính thức trở thành một chủ thể pháp luật độc lập, được pháp luật bảo vệ bởi các yếu tố nhân thân riêng biệt, được xác định trên Giấy khai sinh

Hoạt động đăng ký khai sinh của cơ quan có thẩm quyền đánh dấu điểm khởi đầu của hoạt động quản lý nhà nước đối với từng người dân, đồng thời cũng là điểm khởi đầu cho mọi mối quan hệ giữa công dân với nhà nước Với ý nghĩa quan trọng như vậy, quản lý nhà nước về hộ tịch chính là sự bảo hộ việc thực hiện các quyền con người Đặc biệt, trong xã hội ngày nay, khi mà nền dân chủ được mở rộng và phát huy, các giá trị quyền con người luôn được nhà nước đề cao, có trách nhiệm bảo hộ và tôn trọng

Trang 19

Thứ hai, quản lý nhà nước về hộ tịch là cơ sở để nhà nước hoạch định các

chính sách phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh và quốc phòng… và tổ chức thực hiện có hiệu quả các chính sách đó Hệ thống dữ liệu đầy đủ, chính xác và được cập nhật kịp thời, thường xuyên sẽ là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, hỗ trợ đắc lực cho việc hoạch định các chính sách phát triển kinh tế - xã hội phù hợp

với từng địa phương, từng giai đoạn phát triển, góp phần tiết kiệm chi phí xã hội Ví

dụ: Khi triển khai các chính sách liên quan đến dân cư như: chăm sóc y tế, phổ cập

giáo dục, hôn nhân và gia đình… các cơ quan, tổ chức thường căn cứ vào số liệu thống kê về đăng ký khai sinh, kết hôn để xác định đối tượng và triển khai các biện pháp phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương đó

Tuy nhiên, việc hoạch định các chính sách, đề ra biện pháp có sự khác biệt giữa các vùng miền Tại các địa phương miền núi, vùng sâu, vùng xa, hoạt động quản lý nhà nước về hộ tịch bị buông lỏng, hệ thống sổ hộ tịch được lưu trữ không phản ánh chính xác tình hình dân cư Do đó, việc thực hiện các chính sách của Đảng và Nhà nước gặp nhiều khó khăn, đạt kết quả thấp Đối với quốc gia có kết cấu dân cư đa dạng về thành phần dân tộc như Việt Nam, việc quản lý hộ tịch còn góp phần quan trọng vào việc thực hiện, triển khai các chính sách dân tộc, chính sách phát triển kinh tế - xã hội tại các địa phương miền núi, vùng sâu, vùng xa

Thứ ba, quản lý nhà nước về hộ tịch còn có vai trò to lớn trong việc bảo đảm

trật tự an toàn xã hội Hệ thống sổ sách hộ tịch có thể giúp các cơ quan, tổ chức trong việc truy nguyên nguồn gốc của cá nhân một cách dễ dàng Các giấy tờ hộ tịch được cơ quan có thẩm quyền xác lập và cấp theo trình tự, thủ tục chặt chẽ Đây

là cơ sở khẳng định về giá trị pháp lý để mỗi cá nhân tham gia vào các quan hệ trong gia đình và xã hội

Trong hoạt động tư pháp, khi cần đánh giá năng lực chủ thể của một cá nhân, các cơ quan tố tụng luôn cần đến các thông tin về ngày, tháng, năm sinh, nơi sinh, dân tộc, quốc tịch, quê quán, họ tên cha mẹ… Do đó, các thông tin trên Giấy khai sinh là cơ sở để giúp các cơ quan tố tụng đánh giá nhiều vấn đề trong các vụ án

hình sự, dân sự, hành chính… Ví dụ: Một cá nhân tham gia giao thông, có vi phạm

Trang 20

hành chính trong lĩnh vực này, cơ quan Công an cần nắm được các thông tin cá nhân của người vi phạm như họ và tên người vi phạm, ngày, tháng, năm sinh, quê quán,…để làm dữ liệu tiến hành xử phạt

Chính vì ý nghĩa quan trọng như vậy, nên trong sự phát triển của mỗi quốc gia, vấn đề xây dựng và khai thác có hiệu quả hệ thống quản lý hộ tịch luôn được các quốc gia quan tâm, chú trọng

1.2 Nội dung, hình thức và phương pháp quản lý nhà nước về hộ tịch

1.2.1 Nội dung quản lý nhà nước về hộ tịch

Quản lý nhà nước về hộ tịch là một trong những hoạt động của quản lý Nhà nước, thông qua việc quản lý về hộ tịch Nhà nước nắm được tình hình biến động dân cư và sự biến động của xã hội, giúp Nhà nước có cơ sở khoa học để xây dựng

kế hoạch phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng và trật tự an toàn xã hội

Là một hoạt động quản lý con người, hoạt động quản lý nhà nước về hộ tịch hướng đến đối tượng quản lý là các đặc điểm nhân thân của mỗi cá nhân Mỗi cá nhân được hình thành từ rất nhiều đặc điểm nhân thân gắn liền với cá nhân đó như: họ tên, ngày tháng năm sinh, nơi cư trú, nơi sinh, các mối quan hệ gia đình…Tất cả những dấu hiệu đặc trưng đó bảo đảm cho việc phân biệt chính xác một cá nhân này với một cá nhân khác

Dưới góc độ quản lý thì phạm vi quản lý hộ tịch không chỉ giới hạn trong đối tượng công dân Việt Nam mà còn bao gồm cả người nước ngoài, người không quốc tịch Nội dung quản lý nhà nước về hộ tịch bao gồm các quy định về đăng ký hộ tịch; cơ sở dữ liệu hộ tịch và trách nhiệm quản lý nhà nước về hộ tịch

Trang 21

+ Xác nhận vào Sổ hộ tịch các sự kiện hộ tịch, bao gồm: khai sinh; kết hôn; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, bổ sung thông tin hộ tịch; khai tử

Khai sinh: Đăng ký khai sinh được xem là thủ tục cần thiết của mỗi cá nhân

ngay từ khi sinh ra, là biện pháp đầu tiên của quản lý hành chính nhà nước trong lĩnh vực đăng ký hộ tịch Thông qua hoạt động quản lý trong lĩnh vực này đã giúp cho Nhà nước theo dõi được sự biến động tự nhiên của dân số, từ đó đề ra các chính sách phát triển kinh tế - xã hội trên phạm vi cả nước cũng như trong từng địa phương Mặt khác, việc đăng ký khai sinh một cách đầy đủ, chính xác là bảo vệ quyền của trẻ em được đăng ký khai sinh ngay từ khi sinh ra theo quy định của pháp luật và phù hợp với thông lệ quốc tế

Kết hôn: Quyền kết hôn là một trong những quyền đầu tiên trong lĩnh vực

hôn nhân và gia đình của mỗi con người Đăng ký kết hôn là thủ tục pháp lý, là cơ

sở để luật pháp bảo vệ quyền lợi và sự ràng buộc về nghĩa vụ của mỗi người Từ

đó, sẽ phát sinh những quan hệ pháp lý giữa vợ, chồng, cha, mẹ, con, giữa ông bà nội, ngoại và cháu

Giám hộ: Là việc cá nhân, tổ chức được pháp luật quy định hoặc được cử để

thực hiện việc chăm sóc và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự Một người có thể giám hộ cho nhiều người, nhưng một người chỉ có thể được một người giám hộ

Nhận cha, mẹ, con: Việc nhận cha, mẹ, con được thực hiện, nếu bên nhận,

bên được nhận là cha, mẹ, con còn sống vào thời điểm đăng ký nhận cha, mẹ, con

và việc nhận cha, mẹ, con là tự nguyện và không có tranh chấp

Thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, bổ sung thông tin hộ tịch:

đây là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký thay đổi; cập nhật thông tin hay sửa đổi những thông tin hộ tịch của cá nhân khi có lý do chính đáng theo quy định của pháp luật dân sự hoặc những thay đổi thông tin về cha, mẹ trong nội dung khai sinh đã đăng ký đúng trong Sổ đăng ký khai sinh và bản chính Giấy khai sinh

Trang 22

Khai tử: Đăng ký khai tử là việc khai báo cho người mới chết; là một trong

những lĩnh vực quản lý của nhà nước nhằm theo dõi sự biến động tự nhiên dân số Đây là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận sự kiện chết của một người

và ghi vào Sổ đăng ký khai tử Trên cơ sở đó, chấm dứt quan hệ của người đó đối với gia đình, xã hội đồng thời phát sinh quyền và nghĩa vụ của thân nhân người chết

+ Ghi vào Sổ hộ tịch việc thay đổi hộ tịch theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền: Thay đổi quốc tịch; xác định cha, mẹ, con; xác định lại giới tính; nuôi con nuôi, chấm dứt việc nuôi con nuôi; Ly hôn, hủy việc kết hôn trái pháp luật, công nhận việc kết hôn; công nhận giám hộ; tuyên bố hoặc hủy tuyên

bố một người mất tích, đã chết, bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự

+ Ghi vào Sổ hộ tịch sự kiện khai sinh, kết hôn; ly hôn; hủy việc kết hôn; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; xác định cha, mẹ, con; nuôi con nuôi; thay đổi hộ tịch; khai tử của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài

- Cơ sở dữ liệu hộ tịch

Cơ sở dữ liệu hộ tịch là tài sản quốc gia, lưu giữ toàn bộ thông tin hộ tịch của mọi cá nhân, làm cơ sở để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, phục vụ yêu cầu tra cứu thông tin, quản lý, hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Cơ sở dữ liệu hộ tịch bao gồm Sổ hộ tịch và Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử Đây là căn cứ để cấp bản sao trích lục hộ tịch cho công dân

Sổ hộ tịch là căn cứ pháp lý để lập, cập nhật, điều chỉnh thông tin hộ tịch của

cá nhân trong Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử Mỗi loại việc hộ tịch phải được ghi vào một quyển sổ, các trang được đóng dấu giáp lai và được lưu trữ vĩnh viễn theo quy định của pháp luật

Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử được lập để lưu giữ, cập nhật, quản lý, tra cứu thông tin hộ tịch, phục vụ yêu cầu đăng ký hộ tịch trực tuyến; được kết nối để cung cấp, trao đổi thông tin hộ tịch cơ bản của mỗi cá nhân cho Cơ sở dữ liệu quốc gia

về dân cư

Trang 23

- Trách nhiệm quản lý nhà nước về hộ tịch

Việc quản lý nhà nước về hộ tịch được thực hiện bởi nhiều cơ quan khác nhau trong bộ máy nhà nước, pháp luật về hộ tịch quy định về trách nhiệm của các

cơ quan đó trong việc quản lý nhà nước về hộ tịch gắn với nhiệm vụ, quyền hạn riêng biệt của mỗi cơ quan Cụ thể:

Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về hộ tịch Bộ Tư pháp là cơ quan giúp Chính phủ thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về hộ tịch trong phạm vi cả nước Bộ Ngoại giao phối hợp với Bộ Tư pháp trong phạm vi, chức năng, nhiệm

vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước về hộ tịch đối với công dân Việt Nam ở nước ngoài Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao và các Bộ, ngành có liên quan tham mưu giúp Chính phủ bảo đảm kết nối, an ninh, an toàn thông tin Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư với Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử theo quy định

Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện quản lý nhà nước về hộ tịch tại địa phương mình Sở Tư pháp là cơ quan chuyên môn thuộc

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn trong quản lý nhà nước về hộ tịch theo quy định

Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện quản lý nhà nước về hộ tịch tại địa phương mình Phòng Tư pháp là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện, tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn trong quản lý nhà nước về hộ tịch theo quy định

Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện quản lý nhà nước về hộ tịch tại địa phương mình và thực hiện đăng ký các việc hộ tịch thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp xã theo quy định Công chức Tư pháp - Hộ tịch có trách nhiệm giúp

Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định, trừ trường hợp giải quyết khiếu nại, tố cáo

Cơ quan Ngoại giao, Lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài thực hiện việc quản lý nhà nước về hộ tịch, đăng ký cho công dân Việt Nam cư trú ở nước ngoài theo quy định của pháp luật Viên chức Lãnh sự làm công tác hộ tịch có trách nhiệm giúp Cơ

Trang 24

quan ngoại giao, Lãnh sự Việt Nam thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định, trừ trường hợp giải quyết khiếu nại, tố cáo

So sánh nội dung quản lý nhà nước về hộ tịch của nhà nước ta hiện nay (tính

từ năm 1998 khi Chính phủ ban hành Nghị định số 83/1998/NĐ-CP đến nay) với thời kỳ trước đây (thời kỳ thực hiện Điều lệ hộ tịch năm 1961), có thể thấy nội dung quản lý hộ tịch ngày càng được mở rộng hơn Đây là một bước tiến quan trọng cho thấy hoạt động quản lý hộ tịch ngày càng được quan tâm một cách toàn diện Tuy nhiên, sự mở rộng nội dung quản lý cũng đặt ra nhiều vấn đề phức tạp đòi hỏi hoạt động quản lý nhà nước về hộ tịch phải được nâng lên một trình độ cao hơn, toàn diện hơn

1.2.2 Hình thức quản lý nhà nước về hộ tịch

Hình thức quản lý nhà nước là những hình thức biểu hiện ra bên ngoài của những hoạt động quản lý cùng loại về nội dung, tính chất và phương thức tác động của chủ thể lên khách thể quản lý Hình thức quản lý nhà nước về hộ tịch là một trong các hình thức quản lý nhà nước nói chung Quản lý nhà nước về hộ tịch được thông qua các hình thức sau:

- Hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật về hoạt động đăng ký và quản lý hộ tịch, bao gồm toàn bộ hệ thống quy phạm điều chỉnh các vấn đề về hộ tịch (Luật, pháp lệnh, nghị định, thông tư…);

- Áp dụng pháp luật về hộ tịch trong các trường hợp cụ thể;

- Áp dụng các biện pháp tổ chức trực tiếp như tổ chức việc rà soát, thống kê, yêu cầu các cá nhân, tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về hộ tịch;

- Thực hiện những hoạt động không mang tính pháp lý như tuyên truyền, giáo dục pháp luật về hộ tịch, tổ chức hội thảo, hội nghị về công tác hộ tịch, tập huấn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác hộ tịch, tổ chức kiểm tra việc áp dụng và triển khai các quy định của pháp luật về hộ tịch…;

- Áp dụng pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động đăng ký và quản lý về hộ tịch;

Trang 25

- Thực hiện những tác động về nghiệp vụ - kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng của hoạt động quản lý nhà nước về hộ tịch (lưu trữ sổ sách, số liệu về hộ

tịch, cập nhật đầy đủ vào cơ sở dữ liệu hộ tịch…)

1.2.3 Phương pháp quản lý nhà nước về hộ tịch

Phương pháp quản lý nhà nước là cách thức thực hiện những chức năng, nhiệm vụ của bộ máy hành chính nhà nước, cách thức tác động của chủ thể quản lý hành chính lên các đối tượng quản lý nhằm đạt được những hành vi xử sự cần thiết Các phương pháp quản lý nhà nước về hộ tịch cũng chính là các phương pháp quản

lý hành chính nhà nước nói chung Các phương pháp quản lý cơ bản gồm: phương pháp thuyết phục, phương pháp cưỡng chế, phương pháp hành chính và phương pháp kinh tế

- Phương pháp thuyết phục là phương pháp làm cho công dân, tổ chức thuộc đối tượng quản lý hiểu rõ sự cần thiết và tự giác thực hiện những hành vi nhất định hoặc tránh thực hiện những hành vi nhất định; nhận thức đúng đắn về quy tắc sử xự khi tham gia vào các quan hệ pháp luật hành chính Phương pháp thuyết phục được thể hiện bằng những hoạt động như: giải thích, động viên, hướng dẫn, chứng minh, tuyên truyền làm cho đối tượng hiểu rõ và tự giác chấp hành các yêu cầu của cơ quan quản lý Trong quản lý nhà nước về hộ tịch, phương pháp thuyết phục mang lại hiệu quả cao Thông qua thuyết phục, các cơ quan quản lý giáo dục cho mọi công dân nhận thức đúng đắn về chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về hộ tịch góp phần nâng cao ý thức pháp luật của công dân Việc tự giác chấp hành các quy định của pháp luật của công dân bao giờ cũng tốt hơn sự cưỡng chế, ép buộc phải thực hiện

- Phương pháp cưỡng chế là phương pháp bắt buộc bằng sức mạnh của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với các cá nhân hoặc tổ chức nhất định trong những trường hợp pháp luật quy định nhằm buộc cá nhân hay tổ chức đó phải thực hiện hoặc không thực hiện những hành vi nhất định hoặc phải phục tùng những hạn chế nhất định đối với tài sản của cá nhân hay tổ chức hoặc tự do thân thể Có bốn

Trang 26

loại cưỡng chế nhà nước gồm: cưỡng chế hình sự, cưỡng chế dân sự, cưỡng chế kỷ luật và cưỡng chế hành chính

Theo quy định tại Nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày 24/4/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính

tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã

và Nghị định số 67/2015/NĐ-CP ngày 14/8/2015 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 110/2013/NĐ-CP, các hành vi vi phạm trong hoạt động quản lý hộ tịch như: hành vi vi phạm quy định về đăng ký khai sinh, đăng ký kết hôn và môi giới kết hôn, về đăng ký khai tử; về cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân; thì tùy theo tính chất, mức độ, hình thức lỗi… có thể bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 300.000 đồng đến 20.000.000 đồng, ngoài ra có thể bị tịch thu, thu hồi hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền hủy bỏ các giấy tờ hộ tịch đã cấp nhưng có vi phạm

Có thể nói, cưỡng chế có vai trò rất quan trọng trong việc đảm bảo pháp chế

và kỷ luật nhà nước; đặc biệt, vẫn còn một bộ phận người dân có ý thức chấp hành pháp luật kém, không tự giác chấp hành các quy định của pháp luật Nếu không có cưỡng chế thì kỷ luật nhà nước không được bảo đảm, pháp chế không được tôn trọng tạo điều kiện cho các tệ nạn xã hội phát triển Phương pháp cưỡng chế được

sử dụng trong những trường hợp cần thiết, khi phương pháp thuyết phục không đạt hiệu quả như mong đợi

- Phương pháp hành chính là phương pháp tác động dựa vào các mối quan hệ

tổ chức của hệ thống quản lý Phương pháp này có vai trò rất to lớn trong công tác quản lý nhằm xác lập trật tự, kỷ cương trong tổ chức; giải quyết các vấn đề đặt ra trong quản lý một cách nhanh chóng và là khâu kết nối các phương pháp khác thành một hệ thống Bằng phương pháp này, chủ thể quản lý tác động trực tiếp đến các tập thể, cá nhân dưới quyền bằng các quyết định dứt khoát mang tính chất bắt buộc, đòi hỏi cấp dưới phải chấp hành nghiêm chỉnh, nếu vi phạm sẽ bị xử lý kịp thời, thích đáng Các quyết định hành chính được ban hành trên cơ sở chức năng,

nhiệm vụ, quyền hạn của chủ thể quản lý do pháp luật quy định Ví dụ: Chủ tịch Ủy

Trang 27

ban nhân dân các cấp chỉ được kiểm tra hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong khuôn khổ, chức năng, quyền hạn của mình do pháp luật quy định

- Phương pháp kinh tế là phương pháp tác động gián tiếp đến hành vi của các đối tượng quản lý thông qua việc sử dụng các công cụ kinh tế (tiền lương, tiền thưởng, tiền phạt…) tác động đến lợi ích của con người Phương pháp này có vai trò rất quan trọng và giữ vai trò trung tâm trong công tác quản lý vì nó tác động thông

qua các lợi ích kinh tế, tạo ra sự quan tâm vật chất của mỗi người Ví dụ, khi đăng ký

hộ tịch, cá nhân phải nộp lệ phí theo quy định trừ trường hợp được miễn hoặc áp dụng chế độ khen thưởng cho cá nhân, tập thể có nhiều thành tích trong công tác đăng ký, quản lý hộ tịch và ngược lại, nếu cán bộ, công chức gây thiệt hại trong khi thi hành công vụ, cố tình làm sai các quy định về đăng ký hộ tịch làm ảnh hưởng đến lợi ích của người đăng ký thì phải bồi thường thiệt hại và chịu trách nhiệm trước pháp luật

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về hộ tịch

Hoạt động quản lý nhà nước về hộ tịch thời gian qua cho thấy, mặc dù pháp luật đã quy định trách nhiệm của các cơ quan nhà nước và công dân trong việc đăng ký và quản lý hộ tịch, đã có nhiều biện pháp nhằm tăng cường hiệu quả của công tác hộ tịch nhưng trên thực tế hoạt động này còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế

Do vậy, cần phải xác định các yếu tố tác động cơ bản đến hoạt động quản lý nhà nước về hộ tịch để xây dựng những giải pháp hiệu quả cho công tác đăng ký và quản lý hộ tịch trong thời gian tới Các yếu tố đó là:

Trang 28

trong đó có nguyên nhân xuất phát từ ý thức pháp luật của những chủ thể liên quan

do hạn chế về hiểu biết pháp luật

Trong công tác quản lý nhà nước về hộ tịch thì ý thức chấp hành pháp luật

có vai trò quan trọng Mọi sự kiện hộ tịch chỉ có thể được đăng ký đầy đủ, kịp thời

và chính xác khi chính bản thân người đó hoặc những người thân thích tự giác khai báo, tự giác đi đăng ký Đặc biệt, cùng với xu thế toàn cầu hóa, người dân và các cơ quan, tổ chức ngày càng coi trọng hơn những giá trị của giấy tờ hộ tịch và tầm quan trọng của công tác đăng ký và quản lý hộ tịch Do vậy, ý thức thực hiện trách nhiệm đăng ký các sự kiện hộ tịch và giữ gìn giấy tờ hộ tịch được nâng lên rất nhiều Bên cạnh đó, các cơ quan có thẩm quyền đăng ký và quản lý hộ tịch cũng phải phát huy tinh thần trách nhiệm, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân Muốn vậy, phải không ngừng tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành cho đội ngũ cán bộ, công chức và nhân dân trong toàn xã hội

1.3.2 Chất lượng của văn bản pháp luật quản lý về hộ tịch

Trong quá trình quản lý, các cơ quan quản lý nhà nước về hộ tịch thực hiện nhiệm vụ ban hành văn bản để hướng dẫn các hoạt động đăng ký và quản lý hộ tịch Hệ thống văn bản pháp luật quản lý về hộ tịch đã tạo hành lang pháp lý cho công tác quản lý nhà nước về hộ tịch; bảo đảm sự thống nhất trong việc thực hiện các văn bản hộ tịch; tạo điều kiện thuận lợi cho công dân khi có yêu cầu đăng ký hộ tịch Thực tiễn cho thấy, hệ thống các văn bản pháp luật quy định về đăng ký hộ tịch không phải bao giờ cũng bao quát được các vấn đề phát sinh trong thực tế Việc giải quyết các vấn đề, tùy thuộc vào tình huống cụ thể để áp dụng luật và các văn bản có liên quan, tuy nhiên, cũng có những tình huống nằm ngoài phạm vi hoặc chưa được quy định trong các văn bản pháp luật, do đó, cần phải có văn bản hướng dẫn của các cơ quan có thẩm quyền

Vì vậy, để hoạt động quản lý nhà nước về hộ tịch được thực hiện có hiệu quả trong thực tiễn thì hệ thống văn bản quản lý về hộ tịch cần phải nâng cao chất lượng, thể hiện ở tính đồng bộ, thống nhất trong nội dung của các văn bản; không mâu thuẫn, chồng chéo, phù hợp với thực tiễn, có tính khả thi cao đồng thời đáp

Trang 29

ứng được yêu cầu quản lý nhà nước về hộ tịch Thực hiện tốt việc ban hành văn bản

sẽ có tác động tích cực và mang lại hiệu quả cao cho hoạt động quản lý, còn nếu không nó sẽ có tác động ngược lại

1.3.3 Bộ máy quản lý nhà nước về hộ tịch

Bộ máy quản lý là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước về hộ tịch Việc tổ chức tốt một bộ máy triển khai có tính quyết định đến việc thực thi và hoàn thành các nhiệm vụ được giao Bên cạnh đó, hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục, hướng dẫn thực hiện pháp luật về hộ tịch cũng như trách nhiệm tổ chức thực hiện pháp luật về hộ tịch của các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, hệ thống chế tài xử lý nghiêm minh, kịp thời mọi vi phạm pháp luật về hộ tịch cũng là nhân tố ảnh hưởng sâu sắc tới công tác đăng ký và quản lý hộ tịch

Việc tổ chức bộ máy chuyên trách trong công tác quản lý nhà nước về hộ tịch là thực sự cần thiết, đây là cơ quan đảm nhận chức năng nghiên cứu, tham mưu cho Nhà nước các cơ chế, chính sách về hộ tịch như xây dựng văn bản pháp luật về

hộ tịch, đề xuất việc tổ chức bộ máy quản lý hộ tịch tại địa phương, kiến nghị cơ chế phối hợp giữa các cơ quan liên quan và xây dựng quy định về kiểm tra, giám sát, tổ chức hướng dẫn thực hiện công tác đăng ký và quản lý hộ tịch cho các địa phương

1.3.4 Năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ công chức nhà nước làm công tác quản lý nhà nước về hộ tịch

Đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác quản lý nhà nước về hộ tịch là những người trực tiếp tham gia xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật về hộ tịch Năng lực, trình độ của các cán bộ, công chức là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến việc xây dựng các văn bản pháp luật về hộ tịch Do đó, đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác quản lý đòi hỏi phải có tư duy khoa học, khả năng nghiên cứu và am hiểu các văn bản chính sách pháp luật của nhà nước, có kinh nghiệm thực tế Bên cạnh đó, ngoài việc tự nghiên cứu, học tập, bổ sung kiến thức thì trong quá trình công tác, đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước phải thường xuyên được kiểm tra, đánh giá lại năng lực và trình độ chuyên môn Trên cơ sở đó, cơ quan

Trang 30

quản lý cử các cán bộ, công chức tham gia các khóa đào tạo, tập huấn để nâng cao chuyên môn nghiệp vụ và tổ chức các chương trình tọa đàm, trao đổi nhằm chia sẻ kinh nghiệm thực tế Cùng với việc tự nghiên cứu, bổ sung kiến thức thì đội ngũ cán bộ, công chức cũng phải tự rèn luyện, tu dưỡng bản thân, nâng cao bản lĩnh chính trị để không thể hiện ý chí chủ quan, không cửa quyền, tham ô, tham nhũng trong thực hiện nhiệm vụ được giao

Như vậy, năng lực, trình độ của các cán bộ, công chức là yếu tố quan trọng góp phần thành công vào công tác quản lý nhà nước về hộ tịch Do vậy, việc đào tạo con người nói chung hay đội ngũ cán bộ, công chức nói riêng cần được quan tâm, chú trọng

1.3.5 Yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế

Những thành tựu của công cuộc đổi mới đã và đang tạo ra những thế và lực mới cả bên trong lẫn bên ngoài để bước vào một thời kỳ phát triển mới Vị thế Việt Nam trên chính trường quốc tế ngày càng được củng cố, khẳng định và cũng là tiền

đề cần thiết cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Vì vậy, toàn cầu hóa là xu thế phát triển tất yếu của quan hệ quốc tế và của nền kinh tế thế giới Những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, việc thực hiện đường lối đối ngoại với phương châm độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế trên tinh thần chủ động, sẵn sàng hội nhập đã góp phần đưa nước ta thoát khỏi khủng hoảng về kinh tế và sự bao vậy, cấm vận kéo dài nhiều thập kỷ Quá trình hội nhập ngoài việc tăng vị thế Việt Nam trên trường quốc tế, chúng ta cũng đã thu hút được một số lượng đáng kể vốn đầu tư nước ngoài và viện trợ phát triển; tiếp thu những thành tựu mới về khoa học, công nghệ cũng như kinh nghiệm và kỹ năng quản lý Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức và đội ngũ quản lý từng bước thích hợp với điều kiện và môi trường mới tạo tiền đề để tham gia một cách tích cực hơn, chủ động hơn trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

Tuy nhiên, trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế chúng ta còn gặp không

ít khó khăn, thách thức Hệ thống pháp luật còn thiếu và chưa đồng bộ, chưa thống nhất và rõ ràng Bộ máy hành chính còn nhiêu khê, nhũng nhiễu, quan liêu; tệ tham

Trang 31

nhũng có phần tinh vi, phức tạp hơn Do vậy, để khắc phục những khó khăn, thách thức trong quá trình hội nhập quốc tế, việc đổi mới công tác quản lý nhà nước nói chung và quản lý nhà nước về hộ tịch nói riêng là một yêu cầu cấp thiết cần phải thực hiện

1.3.6 Sự phát triển của hệ thống công nghệ - thông tin

Công nghệ thông tin là một trong những động lực quan trọng nhất của sự phát triển, cùng với một số ngành công nghệ cao khác đang làm biến đổi sâu sắc đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của thế giới hiện đại Với sự phát triển của công nghệ thông tin như ngày nay, việc trao đổi thông tin diễn ra một cách nhanh chóng trên phạm vi toàn cầu, con người có nhiều điều kiện tiếp cận với công nghệ tiên tiến hơn Hầu hết các ngành nghề, các lĩnh vực hay hoạt động trong xã hội hiện đại cũng cần tới sự góp mặt của công nghệ thông tin Bởi sự đa dạng ấy, đối tượng phục vụ của công nghệ thông tin ngày càng phong phú Do vậy, ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin là một nhiệm vụ ưu tiên trong chiến lược phát triển kinh

tế - xã hội, là phương tiện chủ lực đi tắt đón đầu, rút ngắn khoảng cách phát triển so với các nước đi trước

Công tác quản lý nhà nước về hộ tịch phải hướng đến yêu cầu của quá trình hội nhập, bắt kịp với công nghệ tiên tiến của thế giới, thay thế phương pháp quản lý

hộ tịch thủ công bằng việc ứng dụng khoa học công nghệ thông tin vào việc tra cứu thông tin, dữ liệu cho đến việc lưu trữ, thống kê các số liệu hộ tịch Cơ sở dữ liệu

hộ tịch điện tử là cơ sở dữ liệu ngành được tạo lập trên cơ sở tin học hóa công tác đăng ký và quản lý hộ tịch Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử là tài sản quốc gia, là cơ

sở để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, góp phần phục vụ yêu cầu tra cứu thông tin, hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Trang 32

Tiểu kết Chương 1

Chương 1 của luận văn đã nghiên cứu những vấn đề mang tính lý luận về hoạt động quản lý nhà nước về hộ tịch trên cơ sở phân tích và làm rõ bản chất, vai trò của hoạt động này Có thể nói, hộ tịch đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống xã hội, liên quan trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, là một giá trị nhân thân gắn chặt với cá nhân mỗi con người Việc quản lý hộ tịch là nhiệm

vụ quan trọng và thường xuyên của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm theo dõi thực trạng và biến động về hộ tịch Trên cơ sở đó, bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của mỗi cá nhân, góp phần hoạch định các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng của đất nước Hoạt động quản lý nhà nước về hộ tịch được thực hiện bởi các chủ thể có quyền năng từ Trung ương đến địa phương với nội dung nhất định và nhiều hình thức, phương pháp quản lý khác nhau

Để tạo cơ sở pháp lý lâu dài, ổn định, thống nhất cho công tác đăng ký, quản

lý hộ tịch, đồng thời tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong công tác này theo hướng từng bước chuyên nghiệp, phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước trong thời

kỳ mới cần phải nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác quản lý nhà nước về hộ tịch, cần xem xét, đánh giá các yếu tố tác động đến hoạt động này như: ý thức pháp luật; chất lượng của các văn bản pháp luật; bộ máy quản lý về hộ tịch; năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ, công chức; yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế và sự phát triển của hệ thống khoa học công nghệ thông tin

Trang 33

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HỘ TỊCH Ở TỈNH HẢI DƯƠNG

2.1 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước về

hộ tịch ở tỉnh Hải Dương

2.1.1 Khái quát chung về tỉnh Hải Dương

Hải Dương nằm ở vị trí trung tâm Đồng bằng sông Hồng, là một trong 7 tỉnh, thành thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, đóng vai trò “cầu nối” giữa thủ

đô Hà Nội với thành phố cảng Hải Phòng và thành phố du lịch Hạ Long Trên địa bàn tỉnh có nhiều tuyến đường giao thông quan trọng của quốc gia, như quốc lộ 5,

10, 18, 37, 38 Hệ thống đường thủy bao gồm hệ thống sông Thái Bình, sông Luộc, các trục sông Bắc Hưng Hải và An Kim Hải

Hải Dương được chia làm hai vùng: vùng đồi núi và vùng đồng bằng với tổng số 265 xã, phường, thị trấn Năm 2016, dân số của Hải Dương là 2.463.890 người với mật độ dân số là 1.488 người/km2 (trong đó dân số nông thôn chiếm 78,1%; dân số thành thị chiếm 21,9%) Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân trong thời kỳ 1997 - 2016 của tỉnh đạt 9,3%/năm, tăng cao hơn bình quân chung của cả nước An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững, không để xảy ra điểm nóng trong dịp lễ tết, lễ hội; cải cách hành chính được các ngành, các cấp tham gia tích cực; triển khai thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội

Hải Dương còn là một trong những cái nôi của nền văn hoá lâu đời của dân tộc Việt Nam Vùng đất này gắn bó với tên tuổi và sự nghiệp của nhiều danh nhân như Trần Nguyên Đán, Nguyễn Trãi, Mạc Đĩnh Chi, Phạm Sư Mạnh, nơi sinh ra và lớn lên của đại danh y Tuệ Tĩnh Hải Dương có 1.098 khu di tích lịch sử, trong đó

có 133 di tích quốc gia và nhiều khu di tích khác đã được xếp hạng đặc biệt quốc gia đó là khu Côn Sơn, Kiếp Bạc…

Trang 34

2.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước về hộ tịch ở tỉnh Hải Dương

Những điều kiện, đặc điểm về tự nhiên, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội nêu trên đã có tác động không nhỏ đến công tác quản lý nhà nước về hộ tịch ở tỉnh Hải Dương, cụ thể như sau:

Thứ nhất, hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy thuận lợi đã

tạo điều kiện thuận lợi cho người dân cũng như cho đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác hộ tịch trong việc đi lại thực hiện các giao dịch Tuy nhiên, ở một số khu vực miền núi, nơi có địa bàn hiểm trở, chia cắt, hệ thống giao thông đi lại hết sức khó khăn, xa trung tâm cũng là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý nhà nước về hộ tịch

Thứ hai, tỷ lệ dân số cao, chủ yếu sinh sống tại đồng bằng với các giao dịch

dân sự diễn ra liên tục, sôi động, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động đăng ký

và quản lý nhà nước về hộ tịch Các sự kiện hộ tịch kịp thời được đăng ký, giảm thiểu tình trạng quá hạn trong công tác đăng ký hộ tịch Mặt khác, hoạt động đăng

ký hộ tịch đều phải thông qua đăng ký từng cá nhân Vì vậy, các hoạt động này phải có thông tin chính xác của từng cá nhân để đảm bảo không nhầm lẫn giữa cá nhân này với cá nhân khác Với tỷ lệ dân số cao, việc quản lý dân cư được thực hiện thông qua quản lý từng cá nhân, gia đình đòi hỏi hoạt động quản lý, đăng ký

hộ tịch của Nhà nước cần củng cố và tăng cường hơn nữa để đảm bảo hiệu lực, hiệu quả của công tác này trong việc bảo đảm các quyền nhân thân của cá nhân

Thứ ba, với vị trí là trung tâm của khu vực đồng bằng sông Hồng, nơi giao

thoa của các nền kinh tế - văn hóa - xã hội nên đời sống vật chất, tinh thần của người dân được quan tâm, phát triển Chính vì thế, trình độ nhận thức, khả năng hiểu biết và ý thức chấp hành pháp luật của người dân về công tác đăng ký hộ tịch được nâng lên rõ rệt do thường xuyên được tiếp cận, học tập với pháp luật Tuy nhiên trình độ dân trí không đồng đều, khu vực đồng bằng có trình độ dân trí cao hơn khu vực miền núi Do đó, công tác đăng ký, quản lý hộ tịch cũng gặp phải những khó khăn, phức tạp nhất định

Trang 35

Thứ tư, chất lượng và hiệu quả công tác quản lý nhà nước về hộ tịch có sự

chênh lệch giữa khu vực đô thị và nông thôn Tại khu vực đô thị, công tác đăng ký, quản lý hộ tịch được thực hiện khá bài bản, theo đúng trình tự, thủ tục pháp luật quy định Nhưng ở một số khu vực nông thôn, việc đăng ký, quản lý hộ tịch còn chưa nhận được sự quan tâm, chú ý của các cấp chính quyền, thậm chí còn có sự tùy tiện, buông lỏng quản lý dẫn đến chất lượng và hiệu quả công tác quản lý nhà nước về hộ tịch còn chưa cao, tạo nên sự chênh lệch giữa các vùng miền

Thứ năm, sự chuyển dịch cơ cấu dân số từ nông thôn ra đô thị và các khu

công nghiệp với mục đích phát triển kinh tế nên lực lượng lao động này chủ yếu đăng ký tạm trú tại nơi làm việc, gây không ít khó khăn trong công tác đăng ký, quản lý hộ tịch khi phát sinh các sự kiện hộ tịch Đôi khi, các sự kiện đăng ký hộ tịch không được thực hiện kịp thời dẫn đến tình trạng đăng ký quá hạn Một số sự kiện hộ tịch được đăng ký tại nơi tạm trú nhưng chưa thông báo kịp thời cho nơi thường trú của công dân nên công tác quản lý nhà nước khi có sự kiện hộ tịch phát sinh còn nhiều hạn chế

2.2 Thực tiễn quản lý nhà nước về hộ tịch tại tỉnh Hải Dương

2.2.1 Việc ban hành văn bản chỉ đạo, quản lý nhà nước về hộ tịch

- Kết quả đạt được và nguyên nhân

Xác định công tác quản lý nhà nước về hộ tịch là một nội dung quan trọng trong hoạt động quản lý nhà nước của địa phương Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh, công tác quản lý nhà nước về hộ tịch trên địa bàn tỉnh Hải Dương đã có nhiều chuyển biến tích cực, các sự kiện về hộ tịch của nhân dân được các cấp, các ngành chỉ đạo thực hiện kịp thời, đúng quy định của pháp luật; công tác phổ biến giáo dục pháp luật về hộ tịch luôn được chú trọng triển khai đến tận cơ sở; nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật về hộ tịch của nhân dân được nâng lên; đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác

hộ tịch ở cơ sở được quan tâm, củng cố về số lượng và kỹ năng thực hiện nghiệp vụ; các loại sổ sách, biểu mẫu hộ tịch được hỗ trợ và cung cấp kịp thời đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước về hộ tịch

Trang 36

Trong quá trình triển khai thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về hộ tịch, Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Dương đã ban hành các văn bản sau:

- Chỉ thị số 01/2010/CT-UBND ngày 05/01/2010 về tăng cường công tác đăng ký và quản lý hộ tịch trên địa bàn tỉnh Hải Dương;

- Quyết định số 31/2010/QĐ-UBND ngày 20/12/2010 về việc bãi bỏ một số khoản thu lệ phí hộ tịch đối với việc đăng ký hộ tịch tại Ủy ban nhân dân cấp xã trên địa bàn tỉnh;

- Quyết định số 14/2012/QĐ-UBND ngày 20/7/2012 về việc điều chỉnh mức thu một số loại phí, lệ phí trên địa bàn tỉnh Hải Dương trong đó có nội dung về mức thu lệ phí hộ tịch;

- Quyết định số 1895/QĐ-UBND ngày 21/8/2012 về việc ban hành Kế hoạch triển khai đăng ký nuôi con nuôi thực tế theo quy định của Luật Nuôi con nuôi;

- Quyết định số 2147/QĐ-UBND ngày 06/4/2014 về việc công bố Bộ TTHC thuộc chức năng quản lý của Sở Tư pháp Hải Dương thay thế các TTHC trong lĩnh vực tư pháp hành chính áp dụng chung tại UBND cấp huyện được công bố theo Quyết định số 766/QĐ-UBND ngày 07/4/2012; thay thế các TTHC trong lĩnh vực tư pháp hành chính áp dụng chung tại UBND cấp xã được công bố theo Quyết định số 767/QĐ-UBND ngày 07/4/2012

- Kế hoạch số 471/KH-UBND ngày 18/3/2015 về triển khai thi hành Luật Hộ tịch 2014 trên địa bàn tỉnh Hải Dương Kế hoạch này đã xác định cụ thể các nội dung công việc, thời hạn, tiến độ hoàn thành và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức có liên quan trong việc triển khai thi hành Luật Hộ tịch

Đồng thời ban hành các Kế hoạch, các văn bản chỉ đạo các sở, ngành, địa phương triển khai thực hiện Bộ Luật Dân sự, Luật Hôn nhân và Gia đình; Luật Quốc tịch, Luật nuôi con nuôi, Luật Hộ tịch và các văn bản hướng dẫn thi hành

Nhìn chung, việc ban hành các văn bản chỉ đạo, quản lý nhà nước về hộ tịch

đã được chính quyền địa phương của tỉnh quan tâm thực hiện Cùng với các văn bản chỉ đạo của Nhà nước về lĩnh vực hộ tịch, các văn bản chỉ đạo, điều hành của chính quyền tỉnh Hải Dương nói riêng không chỉ khẳng định vị trí, vai trò, chức

Trang 37

năng, nhiệm vụ, cơ chế và phương thức hoạt động trong lĩnh vực hộ tịch mà còn tạo cơ

sở pháp lý quan trọng cho việc củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động này, góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội; thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của địa phương và của ngành Tư pháp

Có được kết quả như vậy là bởi các cấp, các ngành và toàn xã hội đã nhận thức sâu sắc hơn về vị trí, vai trò của công tác đăng ký và quản lý hộ tịch nên ngày càng có sự quan tâm hiệu quả, thiết thực đến hoạt động này Đặc biệt là sự chỉ đạo sát sao của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương trong việc ban hành các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ đăng ký, quản lý hộ tịch

- Hạn chế và nguyên nhân

Mặc dù các văn bản pháp luật về đăng ký và quản lý hộ tịch đã tạo nên một khung pháp lý làm cơ sở cho việc đăng ký và quản lý hộ tịch nhưng hệ thống pháp luật trong lĩnh vực này còn tản mạn, thiếu đồng bộ, hiệu lực pháp lý không cao nên dẫn đến nhiều khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện; vẫn còn tình trạng chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ trong quản lý, đăng ký hộ tịch Ngoại trừ các quy định mang tính nguyên tắc trong Bộ luật Dân sự, Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật nuôi con nuôi thì văn bản trực tiếp điều chỉnh trong lĩnh vực hộ tịch là Nghị định và Thông tư, sau đó là Luật Hộ tịch, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2016, nhưng thời gian có hiệu lực đến nay còn quá ngắn nên việc triển khai thực hiện còn gặp nhiều vướng mắc

+ Theo quy định của Nghị định 158/2005/NĐ-CP về đăng ký và quản lý hộ tịch có quy định việc cấp lại bản chính Giấy khai sinh nhưng theo Luật Hộ tịch năm

2016 và các văn bản hướng dẫn thi hành thì không quy định việc cấp lại bản chính Giấy khai sinh Vấn đề này gây khó khăn trong thực tiễn cho cán bộ, công chức hộ tịch cũng như cho công dân, đặc biệt trong nhiều trường hợp, các cơ quan, tổ chức chưa quen với Trích lục hộ tịch nên vẫn yêu cầu công dân xuất trình bản chính Giấy khai sinh; đặc biệt là trường hợp có giao dịch với nước ngoài, nếu không có bản chính Giấy khai sinh thì rất phiền hà cho người dân

Trang 38

+ Luật Hộ tịch quy định việc đăng ký khai sinh không phụ thuộc vào nơi cư trú của cha, mẹ Đây là một quy định thoáng nhằm tạo điều kiện cho người dân Tuy nhiên, trên thực tế, có những trường hợp công dân đăng ký khai sinh quá hạn cho trẻ theo nơi thường trú của người cha nhưng đã làm mất Giấy chứng sinh Vì chưa có cơ sở dữ liệu hộ tịch nên cán bộ hộ tịch chưa tra cứu được trường hợp này

đã đăng ký khai sinh theo nơi thường trú của người mẹ hay chưa?

+ Thủ tục đăng ký giám hộ đối với người mất năng lực hành vi dân sự theo quy định tại Điều 22 Bộ luật Dân sự 2015 thì Tòa án ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận của tổ chức giám định Nhưng trên thực

tế khi công dân có yêu cầu giám hộ cho người thân bị bệnh tâm thần thì lại không cung cấp được Quyết định của Tòa án Điều này cho thấy, Luật hộ tịch quy định thẩm quyền cho cấp xã nhưng khi đi vào thực hiện thì lại phụ thuộc vào một cơ quan chức năng khác

+ Bất cập trong việc cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho người đã qua nhiều nơi cư trú khác nhau do không có quy chế phối hợp trong việc giải quyết các vấn đề hộ tịch nên gặp rất nhiều khó khăn cho Ủy ban nhân dân cấp xã trong việc đề nghị nơi thường trú trước đây xác minh

Nguyên nhân là bởi hệ thống các văn bản quản lý về hộ tịch còn chưa hoàn chỉnh, chưa có bước đột phá trong xây dựng thể chế, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật về quản lý hộ tịch còn chưa tương thích giữa luật nội dung và luật hình thức dẫn tới hệ thống văn bản chỉ đạo, quản lý về hộ tịch trên địa bàn tỉnh Hải Dương hiệu quả chưa cao

2.2.2 Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về hộ tịch

- Kết quả đạt được và nguyên nhân

Trong những năm qua, xác định rõ vị trí, vai trò quan trọng của công tác đăng ký, quản lý hộ tịch nên bộ máy quản lý hộ tịch luôn được các cấp Đảng ủy, chính quyền tỉnh Hải Dương quan tâm thực hiện để đảm bảo được hiệu quả, hiệu lực trong quản lý và đăng ký hộ tịch Bộ máy và đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác đăng ký, quản lý hộ tịch của tỉnh Hải Dương được tăng cường, củng cố ở

Trang 39

cả ba cấp; nhằm giúp Ủy ban nhân dân các cấp trong lĩnh vực quản lý và đăng ký

hộ tịch

+ Ở cấp tỉnh: Sở Tư pháp là cơ quan chuyên môn tham mưu giúp Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn trong quản lý nhà nước về hộ tịch; thực hiện các văn bản pháp luật về hộ tịch tại địa phương; tổ chức, đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho công chức Tư pháp - Hộ tịch; thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về hộ tịch Đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác hộ tịch tại Sở Tư pháp tỉnh Hải Dương đều có trình độ Đại học và trên Đại học, đáp ứng được yêu cầu để hoàn thành tốt nhiệm vụ

+ Ở cấp huyện: Phòng Tư pháp là cơ quan chuyên môn tham mưu giúp Ủy ban nhân dân cùng cấp thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn trong quản lý nhà nước

về hộ tịch tại địa phương mình: Đăng ký sự kiện hộ tịch có yếu tố nước ngoài; Đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch cho công dân Việt Nam từ đủ 14 tuổi trở lên cư trú ở trong nước; xác định lại dân tộc; Thực hiện các việc hộ tịch: Ghi vào Sổ hộ tịch sự kiện khai sinh; kết hôn; ly hôn; hủy việc kết hôn; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; xác định cha, mẹ, con; nuôi con nuôi; thay đổi hộ tịch; khai tử của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài

Hiện nay, Phòng Tư pháp của 12/12 huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh Hải Dương trung bình có từ 4-5 cán bộ, công chức làm công tác Tư pháp với tổng số công chức là 54 người 100% đội ngũ này có trình độ Đại học Luật và đã được bồi dưỡng nghiệp vụ về công tác Tư pháp; thực hiện tốt việc tham mưu cho

Ủy ban nhân dân cùng cấp trong công tác Tư pháp nói chung và công tác đăng ký, quản lý hộ tịch nói riêng

+ Ở cấp xã: Công chức Tư pháp - Hộ tịch có trách nhiệm giúp Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể theo quy định Đăng ký sự kiện hộ tịch cho công dân Việt Nam cư trú ở trong nước; Đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch cho người chưa đủ 14 tuổi; bổ sung thông tin hộ tịch cho công dân Việt Nam cư trú ở trong nước; Ghi vào Sổ hộ tịch việc thay đổi hộ tịch của cá nhân theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền: Thay đổi quốc tịch;

Ngày đăng: 12/12/2017, 14:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (1992), Giản yếu Hán Việt từ điển, quyển thượng, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giản yếu Hán Việt từ điển
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1992
2. Trương Thị Vân Anh (2015), Quản lý nhà nước về hộ tịch ở cấp xã, thực tiễn ở huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội; Luận văn Thạc sỹ Luật học, Khoa Luật - Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà nước về hộ tịch ở cấp xã, thực tiễn ở huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội
Tác giả: Trương Thị Vân Anh
Năm: 2015
3. Bộ Tư pháp (2006), Hướng dẫn nghiệp vụ Đăng ký và quản lý hộ tịch, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn nghiệp vụ Đăng ký và quản lý hộ tịch
Tác giả: Bộ Tư pháp
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2006
4. Bộ Tư pháp (2007), Nghiệp vụ đăng ký hộ tịch, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiệp vụ đăng ký hộ tịch
Tác giả: Bộ Tư pháp
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2007
5. Bộ Tư pháp (2007), Số chuyên đề về “Công chứng, hộ tịch và quốc tịch”, phần 2 Hộ tịch và quốc tịch, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Số chuyên đề về “Công chứng, hộ tịch và quốc tịch”
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2007
6. Bộ Tư pháp (2010), Tài liệu Hướng dẫn nghiệp vụ Tư pháp xã, phường, thị trấn, Nxb. Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu Hướng dẫn nghiệp vụ Tư pháp xã, phường, thị trấn
Tác giả: Bộ Tư pháp
Nhà XB: Nxb. Tư pháp
Năm: 2010
7. Bộ Tư pháp (2012), Báo cáo tổng kết công tác đăng ký, quản lý hộ tịch và thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về hộ tịch, tài liệu Hội nghị chuyên đề về hộ tịch tháng 6/2012, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác đăng ký, quản lý hộ tịch và thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về hộ tịch
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2012
9. Bộ Tư pháp (2015), Thông tư số 15/2015/TT-BTP ngày 16/11/2015 quy định chi tiết một số điều của Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 15/2015/TT-BTP ngày 16/11/2015 quy định chi tiết một số điều của Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2015
10. Bộ Tư pháp (2016), Thông tư số 04/2016/TT-BTP ngày 03/3/2016 Quy định một số nội dung về hoạt động thống kê của ngành Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 04/2016/TT-BTP ngày 03/3/2016 Quy định một số nội dung về hoạt động thống kê của ngành Tư pháp
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2016
11. Bộ Tư pháp (2016), Báo cáo chuyên đề về tình hình triển khai thi hành Luật Hộ tịch 6 tháng đầu năm và nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2016, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chuyên đề về tình hình triển khai thi hành Luật Hộ tịch 6 tháng đầu năm và nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2016
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2016
12. Cục Lãnh sự Bộ Ngoại giao (2012), Kinh nghiệm thực tiễn và một số kiến nghị về công tác đăng ký, quản lý hộ tịch tại các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, Tạp chí Dân chủ và pháp luật (số 9), tr 22-25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm thực tiễn và một số kiến nghị về công tác đăng ký, quản lý hộ tịch tại các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài
Tác giả: Cục Lãnh sự Bộ Ngoại giao
Năm: 2012
13. Nguyễn Tài Cẩn (1975), Từ loại danh từ trong tiếng Việt hiện đại, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ loại danh từ trong tiếng Việt hiện đại
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1975
14. Phan Huy Chú (1993), Lịch triều hiến chương loại chí, quyển 2, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chương loại chí
Tác giả: Phan Huy Chú
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1993
15. Huỳnh Tịnh Paulus Của (1895), Đại nam Quốc âm tự vị, quyển 1, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại nam Quốc âm tự vị
16. Phạm Trọng Cường (2003), Quản lý hộ tịch ở nước ta - Một số ý kiến về hướng đổi mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (số 2), tr.29-32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý hộ tịch ở nước ta - Một số ý kiến về hướng đổi mới
Tác giả: Phạm Trọng Cường
Năm: 2003
17. Phạm Trọng Cường (2007), Từ quản lý đinh đến quản lý hộ tịch, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ quản lý đinh đến quản lý hộ tịch
Tác giả: Phạm Trọng Cường
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2007
18. Phạm Trọng Cường (2013), Sự biến đổi mô hình cơ quan quản lý và đăng ký hộ tịch từ năm 1945 đến nay, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số Chuyên đề Pháp luật về hộ tịch, tr.149-162 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự biến đổi mô hình cơ quan quản lý và đăng ký hộ tịch từ năm 1945 đến nay
Tác giả: Phạm Trọng Cường
Năm: 2013
19. Chính phủ (1956), Nghị định 764/TTg ngày 08/5/1956 ban hành Điều lệ đăng ký hộ tịch, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 764/TTg ngày 08/5/1956 ban hành Điều lệ đăng ký hộ tịch
Tác giả: Chính phủ
Năm: 1956
20. Chính phủ (1961), Nghị định số 04/CP ngày 16/01/1961 ban hành Bản Điều lệ Đăng ký hộ tịch, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 04/CP ngày 16/01/1961 ban hành Bản Điều lệ Đăng ký hộ tịch
Tác giả: Chính phủ
Năm: 1961
21. Chính phủ (2005), Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 về quản lý và đăng ký hộ tịch, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 về quản lý và đăng ký hộ tịch
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2005

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm