1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

tìm hiểu giá trị Lịch Sử - Văn Hóa tỉnh Đồng Nai 2017

83 394 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 1,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

tìm hiểu lịch sử hình thành và phát triển địa lý hành chính tỉnh đồng nai

Trang 1

BẢO TÀNG ĐỒNG NAI

Bài dự thi cuộc thi Tìm hiểu Giá trị Văn Hóa – Lịch Sử Đồng Nai Năm 2017

Trang 3

Lời mở đầu

Lịch sử hình thành và phát triển xứ Đồng Nai thực chất là lịch sử chiếnđấu Lao động sản xuất của con người sinh sống ở đấy, chinh phục thiên nhiên,chống ngoại xâm giữ gìn cương thổ, đấu tranh chống cường hào áp bức, bảo vệvà xây dựng quê hương Trong đó, có những con người ưu tú đã cống hiến tâmhuyết cho mảnh đất Đồng Nai, khiến người Đồng Nai đời đời ghi nhớ

Từ thế kỷ XVII, vùng đất Nam Bộ mà xứ Đồng Nai là địa đầu, công cuộckhai khẩn của các luồng dân di cư từ các nơi đến đã diễn ra Càng về sau, quy

mô và tốc độ của việc khai khẩn được đẩy mạnh

Lực lượng lưu dân khai hoang đông nhất là những người dân xứ NgũQuảng (Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Đức, Quảng Nam, Quảng Ngãi) Từ quêhương của mình do đói khổ, thiên tai và chiến tranh, họ bắt đầu đi tìm một vùngđất mới để sinh cơ lập nghiệp Đồng Nai – vùng đất rộng, người thưa trỏ thànhnơi lý tưởng cuốn hút họ đến khai phá Họ đến cư trú, sinh sống và làm ăn trongmột thời gian dài không chịu sự ràng buộc của hệ thống chính quyền nào Họ didân tự phát và trên vùng đất mới, liên kết nhau, cần mẫn khai hoang, mưu cầumột cuộc sống ấm no, hạnh phúc hơn quê nhà

Sau này, một lực lượng người Hoa đến Đồng Nai khai khẩn do TrầnThượng Xuyên người Quảng Đông (Trung Quốc) cầm đầu Họ được chúaNguyễn cho phép vào xứ Đồng Nai lập nghiệp Tại vùng đất mới với việckhuyếch trương thương mại, nhóm người Hoa đã mở mang vùng Biên Hoà màtrọng điểm là Cù Lao Phố trở thành một thương cảng sầm uất lúc bấy giờ

Trên cơ sở của một lực lượng di dân, khai khẩn vùng đất phương Nam nàymà chúa Nguyễn Phúc Chu đã cử Nguyễn Hữu Cảnh – một tướng tài giỏi kinhluợc phía Nam vào mùa xuân năm Mậu Dần (1698)

Trang 4

Chuyến kinh lược này, Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh đã thực thi một việc

vô cùng quan trọng; đó là thiết lập một hệ thống tổ chức bộ máy hành chánh ởvùng đất mới Cụ thể là: Ông “lấy xứ Đồng Nai làm huyện Phước Long dựngdinh Trấn Biên , lấy xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình dựng dinh Phiên Trấn, mỗidinh đặt chức Lưu thủ, Cai bộ và Ký lục để quản trị, nha thuộc có hai ty xá – lạiđể làm việc; quân binh thì có cơ, đội, thuyền, thuỷ bộ binh và thuộc binh để hộvệ

Đất đai thời Nguyễn Hữu Cảnh kinh lược ( kể toàn phủ Gia Định) mở rộng

1000 dặm, dân số hơn 4 vạn hộ Ông chiêu mộ lưu dân từ Bố Chánh (QuảngBình) đưa vào Nam cho ở đông đúc: “Thành lập xã, thôn, phường, ấp, chia đặtđịa giới, khai khẩn ruộng đất, định lệ thuế, tô và dung, đồng thời lập sổ đinh, sổđiền”

Việc làm của Nguyễn Hữu Cảnh có tác động lớn đến vùng đất mới Vùngđất rộng, ngươi thưa, dân cư gồm những ngừơi tha phương cầu thực đã chungsống trở thành cộng đồng Về mặt pháp lý, với bộ máy hành chánh cụ thể, ngườidân chịu sự cai quản của nhà nước, sống theo trật tự xã hội và có điều kiện pháttriển kinh tế Bên cạnh đó, Nguyễn Hữu Cảnh thực thi chính sách dân tộc độcđáo khai thác tiền năng của cộng đồng người Hoa và ổn định về xã hội cho họyên tâm cùng với lưu dân Việt phát triển vùng đất Đồng Nai bằng cách lập đơnvị hành chánh riêng Cụ thể là lập xã Thanh Hà ở Trấn Biên (Biên Hoà), MinhHương (Sài Gòn) ở Phiên Trấn

Trên cơ sở khẳng định vùng lãnh thổ, chúa Nguyễn bắt đầu thực hiệnnhững chính sách khẩn hoang và phát triển kinh tế trên đất Nam bộ nói chung vàĐồng Nai nói riêng

Vùng Đất Biên Hòa – Đồng Nai được tái hiện là một chốn rừng núi thâm

u, giàu có sản vật; và mang đầy những nét bí ẩn Con người ở nơi đây hiển hiện

ra từ tận trong truyền thuyết, trong lịch sử dân tộc với những cuộc đấu tranhgiành quyền sống, quyền làm chủ thiên nhiên và hơn hết là những cuộc đấutranh giành lại độc lập tự do dân tộc trước mũi giày xâm luộc của ngoại bang

Trang 5

Người Việt vào vùng đất Biên Hòa – Đồng Nai vốn mang trong ngườitruyền thống 4000 năm của dân tộc, luôn canh cánh nỗi nhớ về cội nguồn dântộc.

PHẦN MỘT TRẢ LỜI CÂU HỎI

Trang 6

CÂU HỎI 1: Anh/ Chị hãy nêu khái quát lịch sử hình thành và phát triển địa lý hành chính vùng đất Biên Hòa – Đồng Nai từ năm 1698 đến khi hình thành tỉnh Đồng Nai hiện nay Những đặc điểm văn hóa truyền thống của các dân tộc ở Đồng Nai.

1 Khái quát chung về Biên Hòa – Đồng Nai.

1.1 Bối cảnh lịch sử.

Vùng đất Đồng Nai hầu như hoang vắng vào cuối thế kỷ XVI thì vào đầuthế kỷ XVII nên sôi động với sự xuất hiện của lớp cư dân mới mà chủ yếu làngười Việt từ vùng Thuận Quảng di cư vào

Nguyên nhân của hiện tượng xã hội này chính là cuộc chiến tranh tươngtàn của hai dòng họ phong kiến Trịnh – Nguyễn Cuộc giao tranh quyết liệt kéodài 175 năm, trong đó có 45 năm đã diễn ra liên tiếp 7 trận đánh lớn cực kỳ ácliệt Để phục vụ cho nhu cầu của cuộc chiến tranh giành giật quyền lợi này,đồng thời cũng để thỏa mãn như cầu xa hoa của giới quý tộc, các tập đoànphong kiến Trịnh – Nguyễn thi nhau vơ vét cùng kiệt nhân lực, vật lực của dânchúng, gây nên cảnh đói khổ lầm than mọi nơi Chỉ riêng xứ Đàng Trong, sự vơvét bóc lột của phong kiến Nguyễn đã làm cho nhân dân vô cùng cơ cực lần thanphải rời bỏ ruộng vườn làng mạc, phiêu tán đi khắp nơi để mưu cầu cuộc sống

Lê Quý Đôn ghi nhận “trong cõi đã xảy ra hạn và đói, dân phiêu bạt và chết đói rất nhiều.”

Khổ sở, điêu đứng vì chiến tranh, vì bóc lột cùng với thiên tai tàn phá ácliệt làm cho những người nông dân phải rời bỏ ruộng vườn, làng mạc, phiêu tán

đi khắp nơi để tìm cuộc sống mới, no đủ hơn

Trang 7

Chính vì vùng đất phía Nam là vùng đất của vương quốc Champa đang suytàn, và xa hơn nữa là vùng đất sau này có tên là Đồng Nai – Gia Định, một vùngđất màu mỡ nhưng hầu như vô chủ là nơi thu hút mạnh mẽ lưu dân Việt đi tìmđất sống Vì vậy làn sóng di dân ngày một dâng lên Trong số lưu dân Việt đếnĐồng Nai, ngoài những nông dân nghèo khổ, đói rách là thành phần chủ yếu,còn có những người trốn tránh binh dịch, sưu thuế, binh lính đào ngũ, các tùnhân bị lưu đầy, thầy lang, thầy đồ nghèo và cả những người giàu có nhưng vẫnmuốn tìm đất mới để mở rộng công việc làm ăn, làm giàu thêm.

Những lưu dân Việt thuộc lớp tiên phong đi vào vùng đất mới Đồng Nai –Gia Định lập nghiệp làm thành nhiều đợt trước cả thời Trịnh – Nguyễn phântranh nhưng dâng lên thành làn sóng mạnh mẽ hơn là vào cuối thế kỷ XVI, đầuthế kỷ XVII Phần đông họ chọn phương thức tự động, đi lẻ tẻ, hoặc cả gia đình,hoặc những người khỏe mạnh đi trước tạo dựng cơ nghiệp rồi đón cả gia đìnhđến sau, hoặc một vài gia đình cùng cả xóm kết nhóm với nhau cùng đi Phầnlớn họ chọn thuyền buồm hay ghe bầu làm phương tiện di chuyển chính, bởi lúcbấy giờ di chuyển giữa các phủ miền Trung với Đồng Nai – Gia Định chủ yếu làđường biển, một số người phải trèo đèo lội suối đi đường bộ, đi dần từng chặngmột, đến một địa phưong ở lại một thời gian, thấy bám trụ được thì ở lại lậpnghiệp, bằng không đi tiếp và lần hồi cũng tới vùng đất mới Đồng Nai

Tiến trình nhập cư của lưu dân Việt vào vùng Đồng Nai – Gia Định từ lẻ

tẻ rời rạc, dần dần có quy mô lớn hơn Những lưu dân Việt từ việc lập nhữnglàng xóm nhỏ trên vùng đất Đồng Nai đã thôi thúc các chúa Nguyễn đặt nhữngbước tiến lớn hơn trên vùng đất này

Sự kiện quan trọng có ý nghĩa mở đầu cho mối quan hệ chính thức giữa ChânLạp và Đàng Trong cũng như đối với quá trình mở đất của các chúa Nguyễn đólà cuộc hôn nhân ngoại giao giữa vua Chân Lạp là Chettha II với công chúaNgọc Vạn vào năm 1620

Trang 8

Những xúc tiến cho công cuộc mở đất của các chúa Nguyễn vào Gia Định,

Mô Xoài, Đồng Nai được đẩy mạnh thực hiện ngay sau cuộc hôn nhân này Sauđó là những giúp đỡ thường xuyên của chúa Nguyễn Phúc Nguyên cho ChânLạp Thậm chí, chúa Nguyễn còn gửi cả quân đội và chiến thuyền đến giúpChân Lạp chống lại các hoạt động chiến tranh và gây sức ép của quân Xiêmkhiến cho liên minh giữa Chân Lạp và Đàng Trong ngày càng chặt chẽ hơn Mặtkhác, công chúa Ngọc Vạn, bấy giờ đã trở thành hoàng hậu của Chân Lạp,thường đề nghị với chồng để tạo điều kiện cho người Việt sang sinh sống, khaiphá ở vùng Prey Nokor – Kas Krobei (vùng Sài Gòn, Bến Nghé sau này), ĐồngXoài, Mô Xoài (vùng Biên Hòa, Bà Rịa) vẫn đang còn bỏ hoang Bà chính làcầu nối của mối quan hệ giữa Chân Lạp và Đàng Trong, đồng thời là nhân tốquan trọng trong những ngày đầu mở đất về phía Nam Bình Thuận của chúaNguyễn Đây chính là cơ sở thuận lợi từng bước hợp pháp hóa sự kiểm soát củamình đối với vùng đất đã được khẩn hoang

Sự kiện nữa có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình xâm nhập vào đấtĐồng Nai của chúa Nguyễn là việc mở trạm thu thuế ở Sài Gòn vào năm 1623 Sự ra đi của vua Chettha II vô hình tạo nên nhiều thay đổi trong mối quanhệ giữa Chân Lạp và Đàng Trong, cũng như tiến trình khẩn hoang ở Đồng Naicủa các chúa Nguyễn Kể từ đây, cuộc khai hoang mở đất của các chúa Nguyễnvào Nam Bộ luôn gắn với sự xung đột trong chính quyền Chân Lạp

Hai sự kiện tiếp theo có vai trò quan trọng nữa đối với quá trình mở đấtnày là hai cuộc can thiệp quân sự vào lãnh thổ Chân Lạp của các chúa Nguyễnđáp ứng lời thỉnh cầu của Chân Lạp nhằm giải quyết các tranh chấp nội bộ (năm

1658 và 1674) khiến thanh thế và vai trò của Đàng Trong ngày càng lên cao,Chân Lạp trở thành nước thần phục và phải cống nạp hàng năm

Tiếp nối con đường mà chúa Nguyễn Phúc Nguyên đã khai mở, chúaNguyễn Phúc Tần có vai trò thúc đẩy hơn nữa công cuộc mở đất vào Nam Bộ.Như vậy, tiến trình nhập cư của cư dân người Việt vào đất Đồng Nai – Gia Địnhđã diễn ra liên tục trong suốt gần một thế kỷ

1.2 Tên gọi Biên Hòa – Đồng Nai.

Trang 9

►Tên gọi Biên Hòa:

Tên gọi Biên Hoà có từ năm 1808 Khi vua Gia Long đổi tên dinh TrấnBiên thành Biên Hoà Trấn được hiểu theo nghĩa là gìn giữ, cũng là đơn vị Tìmhiểu giá trị Văn hóa – Lịch sử Đồng Nai 5 hành chánh có tính quân quản cấptỉnh Biên: được hiểu theo nghĩa là chỗ giáp giới bờ cõi Hoà được hiểu theonghĩa hiệp làm một, thuận một bề Biên Hoà được đặt tên gọi với mong muốn,

hy vọng vùng đất nơi biên cương này được trấn giữ chắc chắn, bình yên, thuậnhoà Biên Hùng là tên gọi của Biên Hoà trong thời kỳ nửa cuối thế kỷ XVIII.Bắt nguồn từ sự kiện thương nhân người Hoa là Lý Tài đem quân chiếm vùngChiêu Thái (núi Châu Thới – trước thuộc tỉnh Biên Hoà, nay thuộc tỉnh BìnhDương) Năm 1773, Lý Tài cùng Tập Đình đem quân tham gia vào hàng ngũTây Sơn và được tin dùng Sau một thời gian, Tập Đình bỏ trốn, Lý Tài thuatrận nhiều nên ra hàng với Tống Phước Hiệp - tướng của nhà Nguyễn đóng tạiBình Khang (nay thuộc địa phận tỉnh Khánh Hoà) Năm 1776, Tống Phước Hiệpkéo quân vào Nam, Đỗ Thành Nhân (gốc người Minh Hương, trước ở HươngTrà thuộc Thừa Thiên – Huế) Năm 1775, theo chúa Nguyễn Phước Thuần vàoGia Định Đỗ Thành Nhân đến đất Ba Giồng (phía nam Đồng Tháp Mười) chiêumộ binh sĩ, lấy tên là quân Đông Sơn, xưng là Đông Sơn Thượng tướng quân.Khi thấy quân của Tống Phước Hiệp vào Nam, có Lý Tài, Đỗ Thành Nhân xemthường và hiềm khích Sau khi Tống Phước Hiệp qua đời, Lý Tài kéo quân vềvùng Chiêu Thái trú đóng, không theo nhà Nguyễn Tại đây, Lý Tài xưng hùngvà truyền sửa tên gọi Trấn Biên thành Biên Hùng trấn Biên Hùng trấn chỉ tồntại trong một thời gian ngắn khi Đông Định Vương Nguyễn Lữ (một trong baanh em nhà Tây Sơn) đánh thắng quân chúa Nguyễn, đổi dinh Trấn Biên thànhBiên Trấn

► Tên gọi Đồng Nai:

Trang 10

Cách đây khoảng 3000 - 5000 năm, các cư dân Việt cổ trên đất Đồng Nai

đã biết chế tạo công cụ lao động Bằng những công cụ nầy, người cổ ĐồngNai đã đặt dấu ấn của mình trong lịch sử phát triển chung của nhân loại.Mười thế kỷ đầu công nguyên, Đồng Nai chịu ảnh hưởng của nền văn hoá Oc –

eo và sau đó là văn hóa Ăng co Giai đoạn tiếp theo Đồng Nai là vùng “trái độn”giữa vương quốc Chămpa và Chân Lạp

Từ cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII người Việt bắt đầu có những đợt di

cư vào vùng đất Đồng Nai Tiến trình nhập cư của cư dân người Việt vào đấtĐồng Nai – Gia Định đã diễn ra liên tục trong suốt gần một thế kỷ Đến năm

1698, khi Nguyễn Hữu Cảnh theo lệnh của Nguyễn Phúc Chu vào kinh lược,thiết lập hệ thống quản lý hành chính ,tổ chức việc khai thác đất đai và ổn địnhtrật tự xã hội

Cùng với việc nhập cư của người Việt, một nhóm người Hoa do TrầnThượng Xuyên dẫn đầu cũng đến khai phá ở vùng đất Cù Lao Phố, xây dựngthương cảng đầu tiên của vùng đất phương Nam Cuối thế kỷ XVIII Nông Nạiđại phố là một đô thị xuất hiện sớm trên vùng đất Đồng Nai Không biết tên gọiĐồng Nai đã xuất hiện tự bao giờ nhưng cho đến nay có rất nhiều cách lý giải vềnó

Về mặt văn bản, theo TS Lê Trung Hoa, tên gọi Đồng Nai xuất hiện lần đầu tiên bằng chữ La tinh là Dou Nai vào năm 1747 do Launy viết trong báo

cáo về giáo dân Nam bộ cho giáo hội Thiên Chúa; sau đó thấy được dùng bằng

chữ Nôm và chữ quốc ngữ trong Tự điển An Nam – La tinh của Pigneau de

Béhaine năm 1772 Theo tài liệu của linh mục Trương Bá Cần, trong một bứcthư gửi Ban Giám đốc Chủng viện truyền giáo nước ngoài Paris đề

ngày 24/7/1710, giám mục Labbé viết: “… Có một miền gọi là Dou – Nai ở

giữa Cao Miên và Chiêm Thành, đây là một vùng đồng bằng, đất tốt, khá rộng

và dài, rừng rậm, cây to, nơi mà người Đàng Trong đến lập nghiệp từ 35 hay

40 năm nay…”

Trang 11

Trong cuốn sách “Bản sắc dân tộc và văn hóa Đồng Nai”, TS Huỳnh VănTới có viết: Lê Quý Đôn (1776), Trịnh Hoài Đức (1820), Huỳnh Tịnh Của (1895

– 1896)… đều dùng tên gọi Đồng Nai trong tác phẩm của mình với cách viết bằng chữ Hán như Lộc Dã (cánh đồng có nhiều nai); Nông Nại (phiên âm

từ Đồng Nai như kiểu Nông Nại Đại Phố để gọi Cù Lao Phố) Nhưng cũng

theo TS Huỳnh Văn Tới, thì còn có một cách lý giải khác về sự xuất hiện của tên

gọi Đồng Nai: Đồng trong “Đồng Nai” là cách gọi biến âm từ chữ Đờng trong tiếng dân tộc Mạ: Đạ Đờng (Sông Cái) Giả thuyết này đưa ra bằng chứng rằng còn có nhiều địa danh khác cũng bắt nguồn từ chữ Đồng (Đờng?) mà không phải là cánh đồng: Đồng Tranh, Đồng Môn, Đồng Lách, Đồng Tràm, Đồng

Bơ…

Và cũng cần nói thêm, Đồng Nai hiện nay là địa bàn hành chính cấp tỉnh(ai cũng biết) nhưng tên gọi Đồng Nai xưa dùng để chỉ một vùng đất rộng hơn,

có người nói là chỉ cả vùng Nam bộ (Rồng chầu ngoài Huế, ngựa tế Đồng

Nai; Bến Nghé của tiền tan bọt nước / Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây;

hoặc câu ca dao nói lên sự lịch lãm từng trải:

Làm trai cho đáng nên trai

Phú Xuân đã trải Đồng Nai cũng từng.

Trang 12

Bằng những tư liệu được dẫn ra ở trên đã góp phần làm rõ về nguồn gốc,

ý nghĩa của địa danh Đồng Nai Với sự cấu tạo địa hình của vùng đất này cósông, bãi bồi ven sông, cù lao trên sông, đất đai màu mỡ phì nhiêu, gò đồi thoaithoải…thuận lợi cho sự sinh trưởng của sinh giới mà con người là chủ thể nổi

bật Như một quy luật tất yếu “Đất lành chim đậu”, vùng đất này sớm trở thành

nơi hội tụ, giao lưu của các cộng đồng dân cư Vì thế, đất Đồng Nai trở thànhmột vùng đất thu hút cư dân Việt đến khai phá, mở ra một thời kỳ phát triểnmới Khi dân cư ngày một đông đúc, sản xuất phát triển, chợ búa hình thành đểgiải quyết mối liên hệ xã hội qua hoạt động trao đổi hàng hóa, giao lưu cộngđồng, thúc đẩy phát triển kinh tế và xã hội Như vậy, trải qua bao biến thiênmuôn màu của lịch sử, danh xưng Đồng Nai ngày nay đã trở thành tên gọi củađơn vị hành chánh cấp tỉnh Danh xưng của một vùng đất, của một dòng sông,của một hào khí oai hùng, của một phức hệ văn hóa hàm chứa cái thiêng liêng,hàm ẩn một sức sống mãnh liệt trong sự tồn tại của con người Biên Hòa - ĐồngNai

1.3 Điều kiện tự nhiên và xã hội:

1.3.1 Điều kiện tự nhiên.

► Vị trí địa lý:

Đồng Nai có vị trí, địa hình thuận lợi ở nhiều mặt Đồng Nai nằm ở10022’30’’ đến 10036’ vĩ Bắc và 107010’ đến 10604’15’’ kinh Đông, giaothoa giữa cao nguyên Trung Bộ và đồng bằng Bắc Bộ; phía Đông giáp tỉnhBình Thuận, Bắc giáp Lâm Đồng, Tây Bắc giáp Bình Dương, Bình Phước; Tâygiáp Thành phố Hồ Chí Minh, Nam giáp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; có quốc lộtrực tiếp đến các đô thị trong khu vực, đường sắt xuyên Việt qua địa bàn ĐồngNai dài 85 km, sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất và sân bay quân sự Biên Hòa làcầu hàng không thường trực; bến cảng Thị Vải, đủ để giao thương với tàu vạntấn đến từ khắp nơi Với vị trí này, Đồng Nai như là nút giao thông, giao lưukinh tế - văn hóa trong vùng kinh tế trọng điểm ở phía Nam

► Đặc điểm khí hậu:

Trang 13

Khí hậu ở Đồng Nai thuộc khu vực châu Á nhiệt đới gió mùa; chịu ảnhhưởng của gió mùa Đông Bắc và gió mùa Tây Nam; ngoài ra còn chịu sự chiphối của không khí chí tuyến Thái Bình Dương từ tháng 4 đến tháng 10; rõ rệthai mùa mưa nắng Mùa khô kéo dài từ tháng 5 đến tháng 6 (từ tháng 12 đếntháng 3 hoặc tháng 4 năm sau), mùa mưa tháng 6 hoặc tháng 7 (từ tháng 4 hoặctháng 5 đến tháng 11) Nhiệt độ trung bình tháng 23 đến 29 ºC thấp hơn so vớitiêu chuẩn trung bình vùng nhiệt đới (26 – 300C).

Khí hậu Đồng Nai với chế độ nắng, gió, mưa, nhiệt ẩm ở tỉ lệ cao, ổn địnhvà phân bổ khá đồng đều giữa các vùng là điều kiện tốt cho sản xuất nôngnghiệp, phát triển công nghiệp và sinh hoạt văn hóa, du lịch

► Hệ thống sông ngòi:

Sông Đồng Nai là hệ thống sông lớn thứ hai ở miền Nam và đứng thứ batoàn quốc, toàn bộ lưu vực của nó chủ yếu nằm trọn trong lãnh thổ Việt Nam,chỉ có một phần nhỏ nằm trên lãnh thổ Campuchia Sông Đồng Nai dài khoảng586,4 km, diện tích toàn lưu vực khoảng 36.000 km²

Sông Đồng Nai có nhiều chi lưu và đi qua địa phận nhiều tỉnh Ngoài ra,sông Đồng Nai còn có một số sông hợp lưu khác như: Sông La Ngà, Sông LáBuông… hệ thống sông ngòi cung cấp nguồn lợi thủy sản, tài nguyên nước cònlà huyết mạch giao thông quan trọng, góp phần phát triển kinh tế, mở rộng địabàn cư trú của người dân

► Địa hình:

Địa hình Đồng Nai thuộc dạng địa hình trung du chuyển tiếp từ vùng caonguyên (cao nguyên Nam Trung Bộ) đến đồng bằng (đồng bằng Bắc Bộ), khábằng phẳng, độ dốc không cao Độ cao trung bình dưới 100m so với mặt biển,giảm dần từ Đông Bắc sang Tây Nam, có thể phân thành 4 dạng tiêu biểu: địahình đồng bằng với độ cao trung bình trên 300 mét; trong đó địa hình đồi đượcxem là đặc trưng của tỉnh…

Trang 14

- Đất hình thành trên phù sa cổ và đá phiến sét (đất xám, nâu xám, đấtloang lổ) phân bổ ở các huyện Xuân Lộc, Long Thành, Thống Nhất, NhơnTrạch, Biên Hòa, Đông Vĩnh Cửu, phù hơp với các loại cây ngắn ngàynhất là các loại đậu và cây ăn trái…

Rừng Nguồn sản phẩm từ rừng của Biên Hòa - Đồng Nai còn khá lớn.Trước đây rừng Đồng Nai chiếm 45% diện tích đất tự nhiên Do nhiều nguyênnhân, rừng Đồng Nai hiện chỉ còn khoảng 19,2% (số liệu đến tháng 10-1995).Trong đó có 130.789 ha rừng tự nhiên, với trữ lượng gỗ trên 4 triệu m³, vớinhiều loại gỗ quí như cẩm lai, gõ mật, gụ, giáng hương, sao, trắc, mun…; hàngtriệu cây tre, nứa và nhiều loại cây dược liệu quí Rừng Đồng Nai còn cónhiều loại thú quí, hiếm như tê giác, voi, bò tót, hươu, nai, sơn dương, khỉ,dọc Đặc biệt khu rừng nguyên sinh Nam Cát Tiên nối liền với rừng củahai tỉnh Lâm Đồng, Bình Phước rộng trên 35 ngàn hecta đã được qui hoạchthành khu rừng quốc gia

► Khoáng sản:

Các loại tài nguyên khoáng sản ở Đồng Nai gồm có: khoáng sản kimloại, phi kim, đá quý, và nước khoáng…

Trang 15

Các khoáng sản kim loại chủ yếu phân bố ở Đồng Nai gồm vàng, bô xít,thiếc, chì, kẽm… các mỏ vàng nhỏ ở Hiếu Liêm, Vĩnh An và các điểm quặngchưa được đánh giá đầy đủ ở: Suối Ty, suối Nho, Tam Bung, suối Sa Mách,lâm trường Vĩnh An, lâm trường La Ngà, lâm trường Hiếu Liêm Quặng boxitphát hiện 2 mỏ ở DaTapok (lâm trường Mã Đà) và lâm trường La Ngà với trữlượng ước đạt khoảng 450 triệu m³ thiếc chỉ gặp dưới dạng và phân tánkhoáng vật, hàm lượng thấp, tập trung ở núi Chứa Chan, suối Rét, suối Sao,sông Gia Ray Chì kẽm đa kim được phát hiện ở núi Chứa Chan…

1.3.1 Điều kiện xã hội.

Trước khi cư dân Việt đến Biên Hòa – Đồng Nai, “trên vùng đất rộngmênh mông này, lúc bấy giờ có các dân tộc Stiêng, Mạ, Lơ ho, M’nông, Chơ

Ro sinh sống” Đến cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII, vùng đất Biên Hòa –Đồng Nai trở nên sôi động với sự xuất hiện của lớp dân cư Việt từ miền Trung vào.Thế kỷ XVI – XVIII, lịch sử Việt Nam chứng kiến cuộc nội chiến kéo dài giữahai tập đoàn phong kiến, làm cho nhân dân “Bị khổ sở điêu đứng, những ngườidân miền Thuận Quảng phải rời bỏ quê hương bản quán, tìm đất sống ĐồngNai – vùng đất gần như vô chủ lại màu mỡ, phì nhiêu đã thu hút mạnh mẽ lưudân Việt Làn sóng di cư tự phát của lưu dân Việt vào đất Đồng Nai ngày càngtăng Thành phần lưu dân rất đa dạng, gồm: nông dân nghèo, người trốn tránh binh dịch, sưu thuế, tù nhân bị lưu đày, binh lính đào ngũ…” Tiến trình nhập cư của lưu dân Việt vào đất Đồng Nai diễn ra liên tục trong suốt thế kỷXVII

Trang 16

Điểm đầu đặt chân trong quá trình di dân của lưu dân Việt là Mỗi Xuy (BàRịa) Từ đây, “Di dân người Việt ngược sông Đồng Nai, hoặc mở đường bộ tiếnsâu vào vùng đất Đồng Nai Các địa điểm định cư và khai khẩn sớm là vùngNhơn Trạch, Long Thành, Bến Gỗ, Bến Cá, Bàn Lân, Cù Lao Rùa, Tân Triều,

Cù Lao Tân Chánh, Rạch Lá Buông, Cù Lao Ngô, Cù Lao Kinh ” Những lưudân Việt đến vùng đất mới Đồng Nai, họ đã chọn những địa điểm thuận lợi đểđịnh cư Ai muốn ở đâu, mở làng lập ấp chỗ nào tùy thích, vì lúc ấy sự quản lýhành chính chưa được xác lập Một trong nhiều điểm đến của cư dân Việt là CùLao Phố, đến thế kỷ XVII trở đi “ người Kinh đến khai hoang lập ấp, chính yếulà tại Cù Lao Phố ngày nay và vùng lân cận Cù Lao Phố lúc ấy có 32 xóm: xómChợ Chiếu về sau là xã Hưng Phú ” Thành quả lao động cần cù trongkhai hoang và sản xuất của lưu dân Việt cùng với các tộc người bản địa trongthế kỷ XVII đã làm biến đổi bước đầu bộ mặt kinh tế - xã hội vùng đất BiênHòa

Năm 1679, nhóm người Hoa do Dương Ngạn Địch, Trần Thượng Xuyênxin chúa Nguyễn cho tỵ nạn trên đất Việt Thấy họ thế cùng lực tận, chúaNguyễn đã cho phép họ nhập cư Thế là, Trần Thượng Xuyên cùng gia binh củamình tiến vào cửa biển Cần Giờ rồi ngược sông Đồng Nai lên định cư ở BànLân, xứ Đồng Nai Buổi đầu đến định cư khai phá, “Nhóm Hoa kiều này khắcphục những trở ngại thiên nhiên trong đời sống hàng ngày Họ tham gia khaiphá đất đai để sản xuất nông nghiệp, nhưng đó chỉ là một phương tiện để sau đóchuyển sang kinh doanh buôn bán” với sự thành lập và phát triển thương cảng

Cù Lao Phố

Vùng đất Biên Hòa – Đồng Nai trở thành đơn vị hành chính của chúaNguyễn bởi công lao to lớn của Nguyễn Hữu Cảnh vào năm 1698 Trong thế kỷXVIII, công cuộc khai khẩn đất đai ở đây được mở mang nhanh chóng nhờ cácchính sách khuyến khích khai hoang của chính quyền chúa Nguyễn Vì thế,nhiều làng xóm mới được thành lập, làm cho diện mạo kinh tế – xã hội có thiềuthay đổi so với trước

Trang 17

Sau khi đánh bại chính quyền Tây Sơn, nhà Nguyễn thành lập năm 1802tiếp tục xây dựng chính quyền trung ương tập quyền Từ đó, vùng đất Biên Hòa– Đồng Nai dưới sự xác lập và quản lý của chính quyền nhà Nguyễn với baothăng trầm lịch sử

Giai đoạn từ 1802 đến 1858 là thời kỳ triều đình nhà Nguyễn củng cố chếđộ quân chủ trung ương tập quyền, lãnh thổ thống nhất và mở rộng hơn bao giờhết Giai đoạn từ năm 1858 trở đi, cả nước bước vào thời kỳ đấu tranh chốngPháp và chịu sự đô hộ của chúng Trong bối cảnh chung khó khăn đó của đấtnước, Biên Hòa – Đồng Nai cũng không nằm ngoài sự tác động của lịch sử Lịch sử Biên Hòa – Đồng Nai cũng mang những đặc điểm chung của lịchsử dân tộc, song vẫn có những nét riêng biệt Từ năm 1698 đến nửa sau thế kỷXVIII, là thời kỳ Biên Hòa – Đồng Nai đặt dưới quản lý của chính quyền chúaNguyễn Từ năm 1802 đến năm 1861, là thời kỳ Biên Hòa – Đồng Nai đặt dướisự quản lý của chính quyền tự chủ nhà Nguyễn Từ năm 1861 trở đi là thời kỳthuộc Pháp, từ năm 1945 – 1975 là giai đoạn kháng chiến chống thực dân Phápvà đế quốc Mỹ, từ năm 1975 đến nay là thời kỳ quan trọng chấm dứt chiến tranhlập lại hòa bình thống nhất đất nước đổi mới và xây dựng

► Đơn vị hành chính:

Trang 18

Năm 1698, danh tướng thời nhà Nguyễn Nguyễn Hữu cảnh được chúaNguyễn Phúc Chu cử vào Nam kinh lý, tại đây ông tiến hành “chia đất ĐôngPhố, lấy xứ Đồng Nai làm huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên, lấy xứ SàiGòn làm huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn, mỗi dinh đều đặt các chức lưuthủ, cai bạ, ký lục và các cơ đội thuyền thủy bộ tinh binh và thuộc binh Mởrộng đất đai được nghìn dặm, được hơn bốn vạn hộ, bèn chiêu mộ những ngườidân xiêu dạt từ Bố Chính trở về Nam cho đến ở cho đông Thiết lập xã thôn,phường ấp, chia cắt giới phận, khai khẩn ruộng nương, định lệ thuế tô dung, làmsổ đinh điền Lại lấy người Thanh đến buôn bán ở Trấn Biên lập xã Thanh Hà, ởPhiên Trấn lập xã Minh Hương Từ đó người Thanh ở buôn bán đều thành dânhộ.sau khi phong trào Tây Sơn bùng nổ năm 1775, lịch sử Biên Hòa – Đồng Naicũng mang những nét chung của cả dân tộc Năm 1792, phong trào Tây Sơn kếtthúc, lịch sử dân tộc nói chung, lịch sử Biên Hòa – Đồng Nai nói riêng bướcsang trang mới với sự thay đổi trên nhiều bình diện.

Năm 1802, triều Nguyễn thành lập, đã hoàn thành thống nhất đất nước từBắc vào Nam Năm 1808, dinh Trấn Biên đổi thành trấn Biên Hòa, huyện phướcLong đổi thạnh phủ gồm bốn huyện là Bình An, Phước Chánh, Long Thành,Phước An Năm 1832, năm Minh Mạng thứ 12 thực hiện cuộc cải cách hànhchính trên cả nước và trấn Biên Hòa đổi thành tỉnh Biên Hòa Năm 1836, triềuđình tiến hành tiến công cuộc đạc điền lập địa bạ Năm 1837, đặt thêm phủPhước Tuy và hai huyện Ngãi An và Long Khánh Năm 1838, đặt thêm phủPhước Bình và tình trạng đơn vị hành chính này tồn tại cho đến khi thực dânPháp chiếm tỉnh Biên Hòa 1861 Từ năm 1861 trở đi, Biên Hòa – Đồng Nai cónhiều lần thay đổi địa giới hành chính giữa các huyện, tỉnh

Sau đại thắng ngày 30 tháng 04 năm 1975, miền Nam hoàn toàn giảiphóng, đất nước thống nhất và đi lên chủ nghĩa xã hội Năm 1976, tỉnh ĐồngNai thành lập trên cơ sở sát nhập các tỉnh Biên Hòa, Bà Rịa – Long Khánh vàTân Phú

► Dân cư:

Trang 19

Theo nghiên cứu của nhiều ngành khoa học như khảo cổ học, dân tộc học,cổ sinh học, địa lý học…, trên địa bàn vùng đất Biên Hòa – Đồng Nai đã có conngười xuất hiện từ rất sớm “có niên đại khoảng 600.000 năm đến 2.500 nămtrong điều kiện khí hậu cận nhiệt đới nóng ẩm” Cư dân bản địa vùng đất BiênHòa - Đồng Nai bao gồm nhiều tộc người có quá trình phát triển liên tục và luônsáng tạo Mỗi bộ tộc đều có nét đặc trưng văn hóa riêng biệt, song chúng vừa bổsung, vừa đan xen lần nhau để hình thành nên một nền văn hóa đa dạng, độcđáo, phù hợp với điều kiện tự nhiên, lịch sử văn hóa của một vùng bán sơn địa.Điều đó được thể hiện “vùng đất Đồng Nai từ thế kỷ thứ nhất đến thế kỷ XV saucông nguyên làm điểm hội tụ, giao lưu giữa các cộng đồng dân cư Với điềukiện lịch sử cụ thể của một giai đoạn phát triển có nhiều biến thiên của xã hội,đất Đồng Nai trở thành một vùng đất mở thu hút cư dân Việt đến khai phá, mở

ra thời kỳ phát triển mới”

► Giao thông:

Nằm trên tuyến đường thiên lý Bắc Nam, Biên Hòa – Đồng Nai có vị trígiao thông thuận lợi cả về đường bộ lẫn đường sông, là một căn cứ quân sự ởmiền Đông Nam Bộ “vùng đất chết” núi non hiểm trở Tuyến đường bộ từ BiênHòa – Đồng Nai đến Phú Xuân được nhà Nguyễn cho xây dựng một hệ thốngnhà trạm Tuyến đường bộ này phục vụ cho các loại hình giao thông phổ biếnnhư đi bộ, đi ngựa, đi voi… mà trong đó chủ yếu là đi bộ

Trang 20

Khác với giao thông đường bộ, giao thông đường thủy ở Biên Hòa – ĐồngNai hoạt động khá nhộn nhịp, tấp nập và đông đúc với nhiều loại phương tiệnlưu thông như tàu, thuyền, bè… sông Đồng Nai là hệ thống sông lớn thứ hai ởmiền Nam và đứng thứ ba toàn quốc Bên cạnh các phụ lưu chằn chịt giữ vai tròcung cấp nước ở thượng nguồn, ở hạ lưu sông Đồng Nai có hai phụ lưu giữ vaitrò giao thông rất quan trọng cho vùng đất Biên Hòa – Đồng Nai, đó là sông SàiGòn và hệ thông sông Vàm Cỏ chảy từ Campuchia về cùng ở phía hữu ngạn.Sông Sài Gòn dài khoảng 130km, sông Vàm cỏ Đông dài khoảng 283 km vàVàm Cỏ Tây dài khoảng 235 km Đồng nai nằm trong khu vực tam giác trọngđiểm kinh tế thành phố Hồ Chí Minh – Biên Hòa – Vũng Tàu có vị trí chiếnlược quan trọng, là cửa ngõ phía Đông Nam Sài Gòn; là đầu cầu nối thông rabiển đông

Đồng nai có hệ thống giao thông thuận lợi Quốc lộ 1A nối liền liền thànhphố Hồ Chí Minh – miền Bắc qua Đồng Nai; quốc lộ 51 Biên Hòa đi Vũng Tàu;quốc lộ 20 đi Tây Nguyên; xa lộ Biên Hòa – Sài Gòn (30 km).ngoài ra còn có hệthống đường liên tỉnh số 2, 3, 16, 24, 25 thuận lợi cho giao thông vận chuyểnhàng kinh tế, quân sự Đồng Nai còn có đường sắt xuyên ngang dài 90 km;đường không Đồng Nai có sân bay Biên Hòa – trước đây được đế quốc Mỹ sửdụng cho mục tiêu chiến tranh xâm lược Việt Nam Sau ngày 30 tháng 4 năm

1975, ta tiếp quản sử dụng bảo vệ tổ quốc

2 Biên Hòa – Đồng Nai qua các thời kỳ.

2.1 Đồng nai thời kỳ 1698 – 1861.

► Thiết lập đơn vị hành chính – địa lý:

Nguyễn Hữu Cảnh là một danh tướng thời nhà Nguyễn Theo một sốnguồn sử liệu cho biết, vào mùa xuân năm Mậu Dần (1698), Nguyễn Hữu Cảnhđược chúa Nguyễn Phúc Chu sai làm Thống suất kinh lược xứ Đồng Nai và tổchức việc cai trị trên vùng đất mới phương Nam Đây là vùng đất được ngườiViệt khai khẩn từ thế kỷ 16, 17

Chuyến kinh lược này, ông đặt miền đất mới (nay là Nam bộ), thành phủGia Định bao gồm hai huyện:

Trang 21

- Huyện Tân Bình ở phía tây sông Sài Gòn (nguồn là sông Thúy Vọt mà Tu TraiNguyễn Tạo dịch là Băng Bột) gồm tỉnh Tây Ninh, thành phố Hồ Chí Minh,Tiền Giang, Long An ngày nay, Huyện Tân Bình đặt dinh Phiên Trấn

- Huyện Phước Long ở phía đông sông Sài Gòn, gồm các tỉnh Đồng Nai, BìnhDương, Bình Phước, Bà Rịa - Vũng Tàu và một phần tỉnh Bình Thuận, các quận

2, 9, Thủ Đức thành phố Hồ Chí Minh bây giờ Huyện Phước Long đặt dinhTrấn Biên Đơn vị hành chính cơ sở là xã, phường, thôn, ấp, tượng

Giữa thế kỷ XVIII, đất Gia Định chia làm ba dinh: Trấn Biên, Phiên Trấn,Long Hồ (dinh Long Hồ là vùng đất mở rộng ra, sau thành Vĩnh Long) VùngHà Tiên xa xôi đặt làm trấn Hà Tiên (do một đô đốc cai quản)

Năm 1788, chúa Nguyễn chia đất Gia Định làm bốn dinh: Trấn Biên,Phiên Trấn, Vĩnh Trấn (dinh Long Hồ đổi tên), Trấn Định (cắt một phần đấtdinh Long Hồ từ mạn Cần Thơ xuống Sóc Trăng) và trấn Hà Tiên có từ trước Vào thời các chúa Nguyễn (trước năm 1802), sự thay đổi địa lý hànhchính không xảy ra ở huyện Phước Long, chỉ huyện Tân Bình do được mở rộngnên chia thành nhiều dinh mới Người ta chưa tìm thấy tài liệu có hệ thống nào

đề cập tới cấp tổng, thôn, xã ở huyện Phước Long

Năm 1808, nhà Nguyễn đổi phủ Gia Định ra Gia Định thành, các dinh(nơi đóng quân) đổi ra trấn, đơn vị hành chính có tinh quân quản cấp tỉnh Nhưvậy, dinh Trấn Biên đổi thành trấn Biên Hòa

Huyện Phước Long thăng làm phủ Phước Long Bốn tổng: Phước Chánh,Bình An, Long Thành, Phước An (của huyện Phước Long cũ) nâng thành bốnhuyện

Năm 1832 vua Minh Mạng cho đổi tiên gọi các trấn thành tỉnh Theo đó,trấn Biên Hòa được gọi là tỉnh Biên Hòa

Năm 1834 lại gọi là xứ Biên Hùng Năm 1835 trở lại tên gọi tỉnh BiênHòa

Năm 1837, tỉnh Biên Hòa đặt thâm phủ Phước Tuy, và thêm hai huyện:

Long Khánh và Ngãi An

Trang 22

Năm 1839, phủ Phước Long có thêm huyện Phước Bình.

Năm 1840, có 81 làng đồng bào dân tộc ít người quy thuộc đặt thành bốn

phủ: Tân Bình, Tân Định, Tân Thuận, Tân Lợi (nay thuộc tỉnh Bình Dương –tỉnh Bình Phước)

Trang 23

Năm 1851 bỏ ba huyện: Phước Bình, Long Khánh, Ngãi An Tỉnh BiênHòa gồm 1 phủ, 4 huyện, 8 tổng, 307 thôn, xã, phường

Huyện Phước Chánh có hai tổng (tổng Phước Vĩnh, tổng Chánh Mỹ),huyện Bình An có hai tổng (tổng Bình Chánh, tổng An Thủy), huyện LongThành có hai tổng (tổng Long Vĩnh, tổng Thành Tuy), huyện Phước An có haitổng (tổng An Phú, tổng Phước Hưng)

Đối với người Hoa thì lập tổ chức quản lý riêng: “từ đó con cháu ngườiTàu ở nơi Trấn Biên thì lập thành xã Thanh Hà, ở nơi Phiên Trấn thì lập thànhxã Minh Hương, rồi ghép vào sổ hộ tịch”

Vào thế kỷ XVIII, làng xã Đồng Nai vẫn đặt dưới quyền quản lý của viênxã trưởng, được gọi bằng danh từ chính thức là Tướng thần xã trưởng, bình dângọi là Cai xã từng được thích Đại Sán nhắc đến trong Hải Ngoại ký sự của ông.Các xã trưởng có các phận sự: duy trì an ninh trong làng xã, quản trị tài sản làngxã, bảo lưu và thiết lập sổ địa bạ và sổ đinh; phụ tác các quan trên trong cáccông vụ…

Mỗi huyện thuộc phủ Gia Định ít nhât cho đến khoảng những năm 1770được chia thành nhiều thuộc, thuộc bao gồm các trường, trại, nậu, nguồn, bãi,phố, điếm, sở, súc, cửa…

Sự hình thành và cơ cấu xã hội nông thôn ở Đồng Nai đã diễn ra theo mộtquá trình phức tạp Từ thế kỷ XVII và sau đó, xã hội nông thôn Đồng Nai đã cóvà còn có những thành phần dân cư bản địa, tuy ít ỏi và phân tán Nhóm dân tộc

ít người mà gọi là Đê man có mặt đó đây ở miền Đông, sinh sống khá tập trungở vùng bậc thềm cuối cùng của vùng Cao nguyên Nam Trung bộ, tức khu vực

Di Linh – Lâm Đồng

Xã hội nông thôn Đồng Nai còn có nhóm lưu dân người Hoa là một bộphận di dân khá quan trọng sau người Việt Họ sinh tụ trước hết trong các khuđịnh cư ở vùng bến Gỗ, Cù Lao Phố Họ có cả một cơ cấu xã hội riêng biệt trongcác làng xã của họ bắt nguồn từ truyền thống cộng đồng dân tộc ít người TrungHoa ở các tỉnh phía Nam Trung Quốc

Trang 24

Ở thời kỳ thành lập, cơ cấu xã hội được kiến tạo một cách tự phát do nhiềuthành phần đến từ phía Bắc, cụ thể là ở Thuận Quảng, Phú Yên Sự hình thànhmột cách ngẫu nhiên, được tạo bởi nhiều yếu tố khác nhau, nhưng khi đến đấtmới Đồng Nai, họ trở thành những cộng đồng làng xã mới.

Cho đến năm 1861, đơn vị hành chính và tổ chức nhà nước nêu trên về cơbản vẫn được duy trì ở tỉnh Biên Hòa nói chung và trên địa bàn thuộc tỉnh ĐồngNai ngày nay nói riêng

► Thành phần dân cư:

Số lượng các thôn, xã, phường, ấp, hộ, những tài liệu về dân cư trên vùng

đất này còn lưu lại rất ít ỏi và chúng ta không có được những số liệu cụ thể, chitiết

Bên cạnh hệ thống tổ chức hành chính do nhà Nguyễn lập ra mà đơn vị cơsở là thôn, xã, phường, ấp, hộ; vùng đất Đồng Nai vào thời kỳ lịch sử này còntồn tại những đơn vị cư trú cổ truyền của các đơn vị ít người, như bon của ngườiMạ, ploy của người Chăm…

► kinh tế – xã hội:

Vào giữa thế kỷ XVIII, địa bàn tỉnh Đồng Nai ngày nay đã có những hoạtđộng kinh tế đa dạng và phát triển hơn so với các địa bàn khác trên vùng đấtNam bộ Những hoạt động kinh tế khá toàn diện cả về nông nghiệp, thủ côngnghiệp và thương nghiệp mà Cù Lao Phố là một trung tâm khá nổi tiếng đươngthời Nhưng cuộc chiến tranh tàn khốc giữa Nguyễn Ánh và Tây Sơn vào cuốithế kỷ XVIII đã có tác động nhiều đến hoạt động kinh tế trên địa bàn này

Có thể nói rằng, tỉnh Biên Hòa nữa đầu thế kỷ XIX, có một nền kinh tế pháttriển tương đối toàn diện hơn so với các tỉnh khác thuộc Nam Kỳ Những hoạtđộng kinh tế trên vùng đất ngày nay thuộc tỉnh Đồng Nai là biểu hiện tương đốitập trung những đặc điểm kinh tế của Biên Hòa đương thời Vào thời kỳ này,hoạt động của trung tâm thương mại và thủ công nghiệp Cù Lao Phố tuy cógiảm sút so với giữa thế kỷ XVIII nhưng đx phục hồi dần Nhìn tổng thể thì nền

Trang 25

kinh tế của vùng đất Đồng Nai trong những năm từ 1802 đến 1861 có nhữngbước khá phát triển so với các thời kỳ lịch sử trước đó.

Xã hội Đồng Nai trong những năm từ 1698 – 1861 đó là sự vận động tiếpnối sự vận động của xã hội của nhiều tộc người sống gần gũi bên nhau mới vượtqua thời kỳ chiến tranh và cùng chung hưởng cảnh thái bình dưới sự chi phốicủa chính quyền nhà nước phong kiến và ở một mức độ nhất định, nó đáp ứngphần nào những đòi hỏi cụ thể về sự phát triển của vùng đất Đồng Nai lúc đó Sự quản lý xã hội của vùng đất Đồng Nai trong thời kỳ lịch sử này ngàymột chặt chẽ hơn theo phạm trù thiết chế xã hội xã hội phong kiến, triển khaitrên vùng đất mới khai phá – mà những chủ nhân là lớp dân cư mới

Cùng với sự phát triển kinh tế – xã hội, trong nữa đầu thế kỷ XIX, sinhhoạt văn hóa của cư dân Đồng Nai cũng diễn ra khá phong phú

Trong toàn bộ sinh hoạt văn hóa làng xã Việt Nam nói chung, Đồng Nainói riêng trong thời kỳ này, điểm nỗi bật nhất vẫn là sinh hoạt chung quanh ngôiđình làng, cùng những thú tiêu khiển và nghệ thuật mang tính chất dân gian Việc làm của Nguyễn Hữu Cảnh có tác động lớn đến vùng đất mới Vùngđất rộng, người thưa, dân cư gồm những người tha phương cầu thực đã chungsống trở thành cộng đồng Về mặt pháp lý, với bộ máy hành chính cụ thể, ngườidân chịu sự cai quản của nhà nước, sống theo trật tự xã hội và có điều kiện pháttriển kinh tế Bên cạnh đó, Nguyễn Hữu Cảnh thực thi chính sách dân tộc độcđáo khai thác tiềm năng của cộng đồng người Hoa và ổn định về xã hội cho họyên tâm cùng với lưu dân Việt phát triển vùng đất Đồng Nai bằng cách lập đơnvị hành chánh riêng Cụ thể là lập xã Thanh Hà ở Trấn Biên (Biên Hoà), MinhHương (Sài Gòn) ở Phiên Trấn

Trên cơ sở khẳng định vùng lãnh thổ, chúa Nguyễn bắt đầu thực hiệnnhững chính sách khẩn hoang và phát triển kinh tế trên đất Nam Bộ nói chungvà Đồng Nai nói riêng Qua cuộc kinh lược của Nguyễn Hữu Cảnh vào năm

1698 đã biến vùng đất Đồng Nai – Gia Định thực sự thuộc chủ quyền và đặtdưới sự quản lý của chúa Nguyễn Nó đẩy nhanh quá trình khai khẩn đất hoang

Trang 26

và phát triển kinh tế ở vùng đất này Những việc làm này đã đặt nền tảng xã hội

cơ bản cho việc hình thành vùng Biên Hòa – Đồng Nai sau này

2.2 Đồng Nai thời kỳ thuộc Pháp 1861 – 1945.

► Bối cảnh lịch sử:

Âm mưu xâm lược Việt Nam, được bắt nguồn từ những năm đầu thế kỷ

XV, và ngày càng phát triển mạnh mẽ, nhất là vào giữa thế kỷ XIX

Trang 27

Trong sự tranh giành thuộc địa giữa các nước tư bản, tư bản Pháp càngbám sâu vào Việt Nam Công cụ đắc lực đó là việc truyền giáo vào Việt Namvừa truyền đạo vừa buôn bán, tích cực chuẩn bị cho việc xâm lược của thực dânPháp.

Trong khi đó, Việt Nam thế kỷ XVIII cuộc chiến tranh giữa Tây Sơn vàNguyễn Ánh diễn ra quyết liệt Biên Hòa là một trong những vung chiến sự củacuộc nội chiến này Năm 1784, sau năm lần liên tiếp thua quân Tây Sơn,Nguyễn Ánh tiếp viện tư bản Pháp giúp binh lính, súng đạn, tàu chiến Giữa thếcuộc một chế độ phong kiến Việt Nam đang dần suy yếu và Bá Đa Lộc nắm bắt

cơ hội can thiệp vào Việt Nam Và chính Bá Đa Lộc đã thay Nguyễn Ánh kí vớiđại diện vua Pháp Louis XVI bản hòa ước Versailles Mở đường cho kế hoạch

âm mưu, kế hoạch xâm lược Việt Nam

Như vậy, quá trình xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp đã được chuẩnbị lâu dài với mục đích bành trướng, xâm chiếm, mở rộng thị trường

► Tiến trình xâm lược của thực dân Pháp ở Biên Hòa:

Ngày 1 tháng 9 năm 1858 liên quân Pháp – Tây Ban Nha kéo vào vịnhĐà Nẵng nổ súng, đổ bộ, chính thức mở màn xâm lược nước ta

Sau năm tháng giằng co, sa lầy ở mặt trận Đà Nẵng, địch đã để lại đây mộtđại đội và vài tàu chiến, còn đại bộ phận kéo vào Nam Kỳ

Ngày 10 tháng 2 năm 1859, liên quân Pháp – Tây Ban Nha pháo kích vàohệ thống phòng thủ của ta tại Vũng Tàu Sau khi quân Pháp tiến vào cửa biểnVũng Tàu, chỉ sau một ngày tấn công, liên quân Pháp – Tây Ban Nha đã phá vỡhệ thống phòng ngự của ta tại cửa biển Vũng Tàu mở ra một cửa ngõ quan trọngđể tiến sâu vào lãnh thổ Nam Kỳ

Ngày 17 tháng 2 năm 1859, quân Pháp – Tây Ban Nha tiến công thànhGia Định Sau khi Gia Định thất thủ, kế tiếp là Đại đồn Chí Hòa cũng bị đánhchiếm (24 tháng 2 năm 1861), ở Biên Hòa quân và dân ta đã làm nhiều chướngngại trên sông Đồng Nai, nhằm ngăn chặn quân Pháp theo sông Bến Nghé tiếnlên tấn công Biên Hòa

Trang 28

Trong cuộc kháng chiến chống xâm lược, đồng bào Châu ro, Stiêng ở BiênHòa đã sát cánh cùng nghĩa quân chiến đấu hết sức dũng cảm, làm cho quânPháp bị nhiều thất bại Tổng hành dinh của đại tá Loubére ở Biên Hòa nhiều lầnbị nghĩa quân bao vây tiến công Tên Peyon thiếu tá hải quân Pháp thú nhận:

“Quân khởi nghĩa đã thành công trong việc lôi kéo các bộ lạc người Thượng ởBiên Hòa, Bà Rịa Trước đó, những nguời này vẫn đứng ngoài cuộc chiến đấu.Việc tham gia của những bộ lạc này chứng tỏ quân khởi nghĩa ở Biên Hòa, BàRịa đã có những trợ lực quan trọng”

►Thực dân Pháp thiết lập bộ máy cai trị và tiến hành khai thác ở Biên Hòa:

Chiến tranh xâm lược và sự cai trị của thực dân Pháp gây xáo trộn, khiếnnhiều đổi thay trong đời sống kinh tế - xã hội ở Biên Hoà - Đồng Nai nói riêng,cả Nam kỳ nói chung Từ 1862, Biên Hòa trở thành nhượng địa thuộc Pháp.Cùng với việc đàn áp phong trào chống Pháp, thực dân Pháp từng bước ra sứclàm biến đổi văn hóa bản địa theo kiểu văn hóa Pháp: Đốt phá Văn miếu, hạnchế sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng truyền thống; khuyến khích việc truyền đạoCông giáo, phân chia lại địa giới hành chính và đặt quan cai trị đến xã, thôn Ngay sau khi chiếm được ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ, thực dân Pháp đặtbộ máy cai trị đứng đầu là viên thống đốc (Lieutenant – Gouverneur) do một sĩquan cao cấp từ chuẩn đô đốc lên đảm nhận Tỉnh Biên Hòa do một viên quantham biện chủ tỉnh (Inspecteur – Chef de province) là sĩ quan cai quản Tên đơnvị hành chính có nhiều thay đổi

Đến cuối năm 1861, Pháp vẫn giữ nguyên bộ máy hành chính như cũ gồmcó hai phủ Phước Long và Phước Tuy với 4 huyện: Phước Chánh, Bình An,Long Thành, Phước An

Năm 1864 đô đốc La Grandiere chia ba tỉnh miền Đông: Biên Hòa, Gia Định, Định Tường thành 7 tiểu khu chỉ huy

Trang 29

Năm 1865, tỉnh Biên Hòa được chia thành 5 sở tham biện: Biên Hòa, BàRịa, Thủ Dầu Một, Long Thành, Bảo Chánh.

Năm 1866, tỉnh Biên Hòa được chia thành 6 địa hạt: Biên Hòa, Bà Rịa,Bình An, Thủ Đức, Long Thành, Bảo Chánh

Năm 1867, tỉnh Biên Hòa được chia thành 5 sở tham biện: Biên Hòa, tỉnh

lỵ ở Châu Thành Biên Hòa, huyện Phước Chánh; Bà Rịa, tỉnh lỵ ở Châu ThànhBà Rịa, huyện Phước An; Long Thành, tỉnh lỵ ở làng Long Thành, huyện LongThành; Bình An, tỉnh lỵ ở Châu Thành Thủ Dầu Một, huyện Bình An; Nghĩa

An, lỵ sở ở Thủ Đức, huyện Nghĩa An

Năm 1871 cả Nam Kỳ có 18 sở tham biện thì tỉnh Biên Hòa còn lại 3 sở tham biện: Biên Hòa, Bà Rịa, Thủ Dầu Một

Trang 30

Ngày 1 tháng 11 năm 1899, Pháp lập tỉnh Thủ Dầu Một trên cơ sở thambiện Đồng Nai Thượng (Haut Donnai) gồm cả tỉnh Lâm Đồng hiện nay và phầnlớn huyện Định Quán, huyện Tân Phú tỉnh Đồng Nai bây giờ, tỉnh lỵ đặt tạiDjiring (Di Linh) Như vậy, đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, thực dân Phápchia tỉnh Biên Hòa thành 3 tỉnh: Biên Hòa, Thủ Dầu Một và Bà Rịa nhằm thựchiện chính sách “chia để trị” trước sự chiến đấu mãnh liệt của các tầng lớp nhân

ta chống Pháp

Chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp làm cho xã hội ViệtNam có nhiều thay đổi so với trước đây Tỉnh Biên Hòa nằm trong quỹ đạo củasự thay đổi này Sự cấu kết chặt chẽ giữa thực dân với địa chủ phong kiến đãlàm phân hóa xã hội xã hội nảy sinh nhiều mâu thuẫn, trong đó có hai mâu thuẫn

cơ bản: mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với chế độ thực dân Pháp và mâuthuẫn giữa các tầng lớp nhân dân lao động mà chủ yếu là giai cấp công nhân,nông dân với bọn tư bản (bản xứ với thực dân) cấu kết với địa chủ phong kiến Có thể nói chính sách cai trị và khai thác thuộc địa của thực dân Pháp ởViệt Nam nói chung, Nam Kỳ nói riêng đã tạo nên những thay đổi trong tìnhhình xã hội của nước ta Ở Biên Hòa từ ngày thực dân Pháp chiếm đóng cho đếnnhững năm đầu thập niên 30 của thế kỷ XX bộ mặt xã hội có nhiều biến chuyển

so với trước Hệ thống giao thông được đầu tư xây dựng, môi trường giáo dục ytế có phát triển, đô thị với việc xây dựng các công sở phát triển, diện tích canhtác nông nghiệp, công nghiệp đẩy mạnh song những điều đó chưa phải là thựctâm của công việc khai hóa của thực dân Pháp mà chỉ nhằm phục vụ cho mụcđích khai thác thuộc địa triệt để của chúng Chính sách cai trị, áp bức gay gắt vàbóc lột tàn bạo về kinh tế, chính trị của thực dân Pháp và bọn tay sai làm cho xãhội Việt Nam ngày càng khủng hoảng nghiêm trọng, phần lớn tầng lớp nhân dânkhổ cực, thất học, trong lầm than nô lệ Điều đó, tất yếu đưa tới sự mâu thuẫn xãhội, đặc biệt của lớp người bị trị đối với xâm lăng và thế lực tay sai bán nước vàbuộc họ phải đứng lên đấu tranh để đòi quyền sống, quyền tự do Nhân dân BiênHòa đứng lên đấu tranh với kẻ thù, mà quan trọng là sự tham gia của giai cấp

công nhân

► Biên Hòa trong công cuộc giải phóng dân tộc:

Trang 31

Từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, nhân dân ta khắp nơi từ Nam chí Bắcdưới sự lãnh đạo của các sĩ phu yêu nước đã liên tiếp vùng lên đấu tranh chốngthực dân Pháp xâm lược giành độc lập dân tộc Nhưng các cuộc khởi nghĩa đềulần lượt thất bại Nguyên nhân chính là tất cả các cuộc đấu tranh đó chưa có mộtđường lối đúng đắn để tập hợp được đông đảo nhân dân chống giặc, phù hợp với

xu thế của thời đại

Từ những năm 1925, 1926 trở đi, tỉnh Biên Hòa cũng như nhiều địaphương khác ở Nam Bộ được soi sáng bởi đường lối cách mạng vô sản doNguyễn Ái Quốc tiếp thu và truyền bá vào Việt Nam bằng những phong trào yêunước… tuyên truyền vận động và xây dựng tổ chức cách mạng đồng thời cũngđể tự rèn luyện lập trường giai cấp công nhân

Với điều kiện đó, dưới sự lãnh đạo của tổ chức hội cách mạng thanh niênnhiều cuộc ngày một tăng thêm Phong trào đấu tranh của nhân dân trong tỉnhdấy lên ngày càng mạnh mẽ, đặc biệt là phong trào đấu tranh của công nhân ởcác đồn điền cao su Nhiều cơ sở đảng đã phát triển ở một số nơi trong tỉnh BiênHòa như đề pô xe lửa Dĩ An, nhà máy cưa BIF, đồn điền cao su Cam Tiêm, đồnđiền Cuộc – tơ – nay

Tại Biên Hòa, phong trào cách mạng phát triển trong những năm

1929-1930 đã tác động, ảnh hưởng lớn trong các tầng lớp nhân dân, nhất là số thanhniên tiến bộ trong tỉnh Nhiều người đã giác ngộ cách mạng, được kết nạp vàoĐảng Trong số đó, có anh thanh niên yêu nước Lưu Văn Viết (Tư Chà) ngườixã Bình Phước quận Châu Thành tỉnh Biên Hòa

Sự kiện “Phú Riềng đỏ” lan nhanh đến các xí nghiệp, đồn điền tác động

đến phong trào đấu tranh ở Biên Hòa và miền Đông Nam bộ Cùng với sự caotrào đó, nhiều phong trào đấu trạnh khác diễn ra một cách mạnh mẽ

Trước sự phạt triển của phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân tatrên phạm vi cả nước cũng như ở tỉnh Biên Hòa, và trước sự đàn áp, tàn sát dãman nhiều cơ sở đảng ở Nam Kỳ bị vỡ, phong trào cách mạng ở Biên Hòa bướcvào giai đoạn “thoái trào”, tạm thời lắng xuống

Trang 32

Để phát triển phong trào, mở rộng hình thức tuyên truyền xây dựng cơ sởcách mạng trong tầng lớp thanh niên học sinh, sau đó bí mật thành lập “liên

đoàn học sinh” Sự ra đời của chi bộ đảng Bình Phước – Tân Triều và các tổ

chức cách mạng của đảng năm 1935 đánh dấu một mốc lịch sử quan trọng, mộtbước phát triển mới của phong trào cách mạng ở tỉnh Biên Hòa

Đầu năm 1937, tỉnh ủy lâm thời tỉnh Biên Hòa được tổ chức Công tác xâydựng đảng từ đây có những bước phát triển mới Ngoài ra, tỉnh ủy còn chỉ đạovận động thành lập các tổ chức hợp pháp, bán hợp pháp để tập hợp lực lượng,tuyên truyền giác ngộ cách mạng, phát động quần chúng đấu tranh

Tháng 2 năm 1937, chi bộ Đảng ở quận Xuân Lộc được thành lập do đồngchí Nguyễn Văn Lắm (Ba Nghệ) làm Bí thư và đồng chí Lê Văn Vận (NămVận) làm Phó Bí thư

Đồng chí Trương Văn Bang cũng tổ chức được một chi bộ ở đồn điền cao

su Cuộc-tơ-nay (Cẩm Mỹ)

Phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân Biên Hòa trong những năm

1936 - 1939 diễn ra sôi động và rộng khắp Qua thắng lợi của các cuộc đấutranh, vai trò vị trí của các cơ sở Đảng càng cao

Thời kỳ 1936- 1939 là giai đoạn Đảng bộ Biên Hòa phát triển tương đốitốt lực lượng của mình; hình thành được nhiều tổ chức cơ sở Đảng; xây dựngđược nhiều tổ chức quần chúng cách mạng vừa công khai, bán công khai dướimọi hình thức đấu tranh từ thấp lên cao với khẩu hiệu dân sinh, dân chủ thiếtthực, phù hợp với yêu cầu nguyện vọng bức thiết của quần chúng lao động Những thành quả đạt được trong cao trào cách mạng 1936 – 1939 củaĐảng bộ và nhân dân tỉnh Biên Hòa đánh dấu một bước phát triển quan trọng tạo

cơ sở vững chắc cho phong trào đấu tranh cách mạng trong những năm kế tiếpnhất là cao trào tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cách mạng tháng támnăm 1945

Trang 33

Năm 1944, phong trào cách mạng ở Biên Hòa từng bước phục hồi và pháttriển, khí thế cách mạng của quần chúng nhân dân được khơi dậy ngày càngmạnh mẽ Thực lực cách mạng lớn mạnh nhanh chóng, tạo được cơ sở vữngchắc để nhân Biên Hòa cùng với cả nước nhất tề đứng dậy khởi nghĩa giànhchính quyền.

Ngày 15 tháng 8 năm 1945, quân Nhật đầu hàng đồng minh Ở Biên Hòa,quân Nhật đang hoang mang rệu rã, giữa lúc ngọn lửa cách mạng bùng lên mạnh

mẽ Giữa lúc đó, Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến

Ngày 19 tháng 8 năm 1945, cuộc khởi nghĩa giành được thắng lợi Từthân phận nô lệ lầm than, nhân dân tỉnh Biên Hòa dưới sự lãnh đạo của đảngcùng cả nước vùng lên đấu tranh đập tan bộ máy thống trị của giặc, giành độclập tổ quốc cho dân tộc Những khó khăn trở ngại được đảng bộ và nhân dânBiên Hòa đoàn kết tiếp tục đưa sự nghiệp cách mạng tiến lên

Trang 34

2.3 Biên Hòa – Đông Nai thời kỳ kháng chiến chống Pháp 1945 -1954.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là “Một cuộc đổi đời chưa từng có vớingười Việt Nam” Từ một Đảng hoạt động bí mật, Đảng Cộng sản Đông Dươngtrở thành một Đảng lãnh đạo chính quyền trong cả nước

Vừa mới ra đời, chính quyền cách mạng đã phải đương đầu với nhiều khókhăn, phức tạp: thiên tai, lũ lụt, nạn đói ở miền Bắc và thù trong giặc ngoài Đặcbiệt thực dân Pháp - kẻ đã thống trị Đông Dương hơn 80 năm, không dễ chịu gìchịu mất đi một thuộc địa béo bở từng làm giàu cho chính quốc Chúng gấp rúthuy động quân đội ở Viễn Đông, Bắc Phi, chuẩn bị trở lại xâm lược ĐôngDương

Khi thực dân Pháp chiếm thị xã Biên Hòa và các vùng phụ cận thuộc quậnChâu Thành, đồng chí Huỳnh Văn Nghệ - một thành viên của Ủy ban khángchiến miền Đông đã cùng một bộ phận vượt sông Đồng Nai về quận Tân Uyênxây dựng lực lượng vũ trang, xây dựng căn cứ kháng chiến lâu dài Tại vùngrừng Tân Uyên, Huỳnh Văn Nghệ đã nhanh chóng tập hợp nhóm vũ trang doông Nguyễn Văn Quỳ phụ trách có từ trước năm 1945 Lực lượng trại huấnluyện Vĩnh Cửu thành lực lượng giải phóng Biên Hòa (thường gọi là bộ đội TámNghệ) Đến đầu năm 1946, quân giải phóng Biên Hòa đã phát triển lên 5 phânđội (tương đương 5 trung đội)

Ngày 17 tháng 12 năm 1945, cơ quan Khu bộ Khu 7 về đóng tại xã AnLạc quận Tân Uyên - nơi đứng chân của Vệ quốc đoàn Biên Hòa, được chínhthức xây dựng thành căn cứ kháng chiến của khu 7, từ tháng 02 năm 1946, được

gọi tên là “Chiến khu Đ”.

Đi đôi với công tác xây dựng căn cứ kháng chiến, lực lượng vũ trang theochỉ đạo của Trung ương Đảng và Xứ ủy, Mặt trận Việt Minh tỉnh Biên Hòa đãtích cực tiến hành công tác quan trọng: chuẩn bị cho cuộc bầu cử Quốc Hội đầutiên trong cả nước Từ tháng 12 năm 1945, tất cả cán bộ của Mặt trận Việt Minhđều về cơ sở nắm danh sách cử tri, xúc tiến việc lựa chọn, đề cử các ứng cử viêntiêu biểu của dân tham gia Quốc hội

Trang 35

Như vậy, chỉ hưởng độc lập được 2 tháng, nhân dân Biên Hòa đã phảibước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược Với tinh thần: “thà

hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nôlệ”, với khí thế sục sôi căm thù giặc, nhân dân Biên Hòa từ già đến trẻ đếu thamgia kháng chiến Phong trào tiêu thổ kháng chiến, bất hợp tác với giặc đã tõ rõlòng yêu nước, quyết tâm bảo vệ nền độc lập vừa giành lại của nhân dân BiênHòa

Ngày 15 tháng 3 năm 1946 và 18 tháng 4 năm 1946, thực dân Pháp tổchức hai cuộc hành quân lớn có cả thủy, lục, không quân đánh vào chiến khuLạc An (Tân Uyên) Các lực lượng vũ trang vừa phải chống càn quét vừa giúpnhân dân sơ tán rút sâu vào rừng Giặc Pháp đã thực hiện “giết sạch, đốt sạch,phá sạch” gây nhiều thiệt hại cho nhân dân vùng căn cứ Để bảo toàn lực lượng,

cơ quan Khu bộ Khu 7 đã rời An Lạc, tạm rút về chiến khu Đông Thành (ĐứcHuệ - Long An) Lạc An, quận Tân Uyên trở thành căn cứ kháng chiến của tỉnhBiên Hòa

Đến giữa năm 1946, trên địa bàn tỉnh Biên Hòa đã hình thành hai vùng

căn cứ kháng chiến lớn là Chiến khu Đ (Tân Uyên) và Chiến khu rừng Sác (Phước An) Ngoài ra, Biên Hòa còn xây dựng được các căn cứ du kích áp sát

thị xã Biên Hòa như Bình Đa (Châu Thành), Phước Can (Long Thành), Hố Cạn(Tân Phong)…, tạo địa bàn đứng chân cho các lực lượng kháng chiến của tỉnhvà quận Châu Thành

Trước cách mạng tháng 8 năm 1945, phong trào công nhân ở các đồn điềncao su tỉnh Biên Hòa phát triển khá mạnh Ngay khi thực dân Pháp mở rộng lấnchiếm, tại Biên Hòa các đồn điền liên tục chặn đánh địch và mở rộng lấn chiếm Tháng 7 năm 1947, Tỉnh ủy Biên Hòa đã triệu tập hội nghị cán bộ Đảngtoàn tỉnh lần thứ II tại Mỹ Lộc (Tân Uyên)

Tiếp đó, ngày 28 tháng 7 năm 1947, Thường vụ Xứ ủy Nam bộ đã ra Chỉthị: “Phát triển Đảng”

Trang 36

Đây là một thắng lợi có ý nghĩa rất quan trọng đảm bảo sự lãnh đạo toàndiện của Đảng bộ đối với phong trào địa phương Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộBiên Hòa, cuộc kháng chiến của nhân dân có bước phát triển đi lên Nổi bật làxây dựng phong trào làng xã chiến đấu bảo vệ căn cứ, phong trào phá hoại kinhtế của giặc.

Tháng 12 năm 1947, theo chỉ đạo của Phòng quân dân Nam bộ, Tỉnh ủyBiên Hòa thành lập Tỉnh đội bộ dân quân theo hệ thống: dọc quận có quận độibộ, xã có xã bộ Các quận đội bộ có đội du kích tập trung, xã đội bộ có dân quân

du kích, dân quân tự vệ

Đầu năm 1948, Tỉnh ủy Biên Hòa tổ chức Hội nghị Đại biểu toàn Đảng bộtại Cây Cầy (Chiến khu Đ)

Tháng 3 năm 1950, được sự đồng ý của Xứ ủy và Ủy ban Kháng chiếnHành chính Nam bộ, Tỉnh ủy, Ủy ban Kháng chiến Hành chính tỉnh Biên Hòađã tổ chức lại chiến trường Xuân Lộc

Tháng 5 năm 1951, tỉnh Thủ Biên được thành lập trên cơ sở sát nhập haitỉnh Thủ Dầu Một và Biên Hòa, thêm huyện Thủ Đức (từ tỉnh Gia Định cũ giaolại), cắt huyện Long Thành, (giao về cho tỉnh Bà Rịa – chợ Lớn)

Tháng 6 năm 1951, Tỉnh ủy tăng cường thêm cán bộ Dân chính Đảng đểcủng cố đội vũ trang tuyên truyền của thị xã Biên Hòa Về xây dựng căn cứ địacách mạng, theo chỉ đạo của Trung ương Cục, Tỉnh ủy Thủ Biên chủ trương xâydựng quy hoạch căn cứ địa vững mạnh không chỉ về quân sự mà cả chính trị vàkinh tế

Về kinh tế, Tỉnh ủy, Ủy ban Kháng chiến Hành chính tỉnh ra lệnh bãi bỏchủ trương bao vây kinh tế địch (mà thực tế chỉ tự đóng khung kinh tế khángchiến trong căn cứ)

Trang 37

Từ cuối năm 1953, cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp càngngày đi vào bế tắc, chủ trương của thực dân Pháp tranh thủ viện trợ của Mỹ tậptrung nổ lực đẩy mạnh chiến tranh hòng tìm một “thắng lợi vinh dự” đã thất bại.Kế hoạch Nava nhằm đánh chiếm các vùng căn cứ ở Nam bộ hoàn toàn bị phásản.

Ngày 7 tháng 5 năm 1954, chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng, cứ điểmkiên cố của địch bị đập tan, buộc thực dân Pháp phải vào đàm phán Ngày 20tháng 7 năm 1954, hiệp định Genève được ký kết Để tạo thuận lợi cho việc thihành hiệp định, tỉnh ủy Thủ Biên chỉ đạo đình chỉ mọi hoạt động vũ trang trênđịa bàn tỉnh

Quân dân Biên Hòa – Đồng Nai, qua chín năm kháng chiến với bao giankhổ hy sinh, mất mát, đau thương, vượt bao thử thách góp phần vào thắng lợichung của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, làm rạng danh đất

“miền Đông gian lao mà anh dũng”

Những năm 1945 – 1954 cơ sở tổ chức hành chính vẫn không có thayđổi nhiều Giai đoạn này, trên chiến trường Việt Nam nói chung và mặt trận ởBiên Hòa nói riêng chỉ tập trung vào việc kháng chiến và xây dựng các cơ sởmặt trận vững chắc để đánh đuổi thực dân Pháp, kết thúc thời kỳ kháng chiếnchống thực dân Pháp xâm lược

2.4 Thời kỳ kháng chiến chống đế quốc Mỹ 1954 – 1975.

► Đấu tranh chống kẻ thù mới - chiến trường Biên Hòa:

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Genève được ký kết Cuộc chiến

tranh kết thúc Quân Pháp rút về nước, miền Bắc nước ta được hoàn toàn giảiphóng Theo Hiệp định Geneve, sau 2 năm sẽ tổ chức tổng tuyển cử thống nhấtnước Việt Nam Nhưng đế quốc Mỹ với ý đồ xâm lược Việt Nam từ lâu, đã lợidụng cơ hội, gạt Pháp ra, nhảy vào tổ chức, chỉ huy nguỵ quyền, nguỵ quân tay sai,viện trợ kinh tế quân sự, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới, chia cắt lâu dàinước ta Cả dân tộc ta lại bước vào chiến đấu chống xâm lược mới

Trang 38

Hội nghị lần thứ 6 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa II (tháng

9-1954) đã vạch rõ: “Đế quốc Mỹ là kẻ thù chính của nhân dân yêu chuộng hòabình thế giới và hiện đang trở thành kẻ thù chính và trực tiếp của nhân dân ĐôngDương” Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 8 (tháng 8-1955) nhậnđịnh: “quyền thống trị ở miền Nam Việt Nam hiện nay căn bản là quyền thốngtrị của đế quốc Mỹ và của phái thân Mỹ”

Trang 39

Tình thế cách mạng miền Nam đã thay đổi, nhiệm vụ chính trị chuyển từkháng chiến vũ trang sang đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ, đòi thi hành hiệpđịnh Trong bối cảnh đó tâm tư tình cảm của nhân dân miền Nam, nhân dânBiên Hòa luôn biến động.

Ngày 30 tháng 7 năm 1954, tỉnh ủy Thủ Biên tổ chức cuộc họp bất thườngbàn biện pháp thực hiện chủ trương và chỉ thị của cấp trên Hội nghị tập trung bàn

về việc chuyển hướng từ đấu tranh toàn diện sang đấu tranh chính trị Sắp xếp lựclượng, chuyển quân tập kết trên địa bàn tỉnh, bố trí cán bộ ở lại hoạt động

Tháng 1 năm 1955 Xứ ủy quyết định tách Thủ Biên thành hai tỉnh: Biên Hòavà Thủ Dầu Một Tỉnh Biên Hòa gồm các huyện: Long Thành, Vĩnh Cửu, TânUyên, Xuân Lộc và thị xã Biên Hòa

Ngày 25 tháng 10 năm 1955, đế quốc Mỹ, tay sai Ngô Đình Diệm tổ chứccái gọi là “trưng cầu dân ý” truất phế Bảo Đại, đưa Ngô Đình Diệm lên làm tổngthống tỉnh ủy Biên Hòa vận động quần chúng tẩy chay bầu cử, lực lượng vũtrang Biên Hòa (lấy danh nghĩa lực lượng Bình Xuyên ly khai) nã đạn vào sânbay Biên Hòa, gây hoang mang bọn tề ngụy ở địa phương Nhân dân Biên Hòabằng nhiều hình thức không tham dự bầu cử Tháng 10 năm 1955, Ngô ĐìnhDiệm ra dụ tước quyền sở hữu ruộng đất của nông dân

Đầu năm 1956, phong trào chính trị ở Biên Hòa tiếp tục diễn ra mạnh mẽ.Công nhân các đồn điền cao su, nhà máy, các nghiệp đoàn và nông dân đoàn kếtđấu tranh chống địch cướp đất

Ngày 7 tháng 7 năm 1956, Ngô Đình Diệm chịnh thức lên nắm quyền tổngthống, công khai tuyên bố: “không tổ chức toonkgr tuyển cử”, đẩy mạnh chiếndịch “tố cộng”; “diệt cộng” Mỹ mở chiến dịch Trương Tấn Bửu đánh phá khốcliệt nhằm đàn áp phong trào và tiêu diệt cán bộ, đảng viên, cơ sở cách mạng Thời kỳ 1954 – 1956 đảng bộ Biên Hòa kiện toàn củng cố được hệ thống

cơ sở đảng, xây dựng được mạng lưới cơ sở cách mạng trong công nhân, nôngdân và tri thức Từ đội quân chính trị đông đảo này, Đảng phát động hng tràođấu tranh chính trị mạnh mẽ với khẩu hiệu trung tâm là đòi các quyền dân sinh,dân chủ, đòi hiệp thương tổng tuyển cử

Trang 40

Trước làn sóng đấu tranh của quân và dân ta, địch lo sợ Chính quyền MỹDiệm giết hàng tram cán bộ, đảng viên Tỉnh ủy Biên Hòa chỉ đạo ngay cuộcđấu tranh chính trị với quy mô lớn trong toàn tỉnh Tháng 5 năm 1959, Mỹ –Diệm ban hành đạo luật 10/59.

Trước tình hình khủng bố dã man của Mỹ ngụy, lãnh đạo Liên tỉnh ủymiền Đông đã tổ chức lược lượng tập kích vào trụ sở phái đoàn cố vấn quân sựMỹ (MAAG), đóng tại nhà máy cưa BIF thị xã Biên Hòa

Từ năm 1956 đến năm 1959 là một thời kỳ cực kỳ ác liệt gian khổ củacách mạng Đảng bộ và nhân dân Biên Hòa đã vượt qua những thử thách khắcnghiệt đầy máu và nước mắt Suốt thời gian đó, tuyệt đại bộ phận cán bộ đảngviên vẫn kiên định lập trường, giữ vững ý chí chiến đấu Hàng trăm đồng bào,đồng chí đã anh dũng hy sinh, số đảng viên còn lại thực sự là những hạt gạo cộiđược trui rèn trong màu lửa và chính họ là nhũng hạt nhân trung kiên lãnh đạophong trào vũ trang nổi dậy ở địa phương trong giai đoạn cách mạng đầy sôiđộng sau này

► Biên hòa mở rộng vùng giải phóng:

Mỹ Diệm gây ra muôn vàn tội ác đối với nhân dân miền Nam Sự căm hờnvà phẫn nộ của nhân dân đã lên đến tột đỉnh Đau thương uất hận đè nặng khắpmọi gia đình, khắp xóm ấp, đồn điền cao su, phố thị Đã đến lúc đứng lên cầm

vũ khí chiến đấu giải phóng quê hương Nguyện vọng thiết tha, bức xúc đó thựcsự trở thành ý nguyện của toàn Đảng, toàn dân

Ngày đăng: 12/12/2017, 11:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Vũ Minh Giang chủ biên (2008), lược sử vùng đất Nam Bộ - Việt Nam. NXB Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: lược sử vùng đất Nam Bộ - Việt Nam
Tác giả: Vũ Minh Giang chủ biên
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 2008
12.Huỳnh Văn Tới (1999), Bản sắc dân tộc và văn hóa Đồng Nai. NXB Đồng Nai 13.Biên Hòa – Đồng Nai 300 hình thành và phát triển (1998),NXB tổng hợp Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản sắc dân tộc và văn hóa Đồng Nai
Tác giả: Huỳnh Văn Tới (1999), Bản sắc dân tộc và văn hóa Đồng Nai. NXB Đồng Nai 13.Biên Hòa – Đồng Nai 300 hình thành và phát triển
Nhà XB: NXB Đồng Nai13.Biên Hòa – Đồng Nai 300 hình thành và phát triển (1998)
Năm: 1998
1. Mai Xuân Bé (2009) Đồng Nai từ mở cõi đến mở cửa, NXB Đồng Nai Khác
3. Điạ chí Đồng Nai (2001) tập 1 – tổng quan, NXB tổng hợp Đồng Nai Khác
4. Điạ chí Đồng Nai (2001) tập 2 – Địa lý, NXB tổng hợp Đồng Nai Khác
5. Điạ chí Đồng Nai (2001) tập 3 – Lịch sử, NXB tổng hợp Đồng Nai Khác
6. Điạ chí Đồng Nai (2001) tập 4 – Kinh tế, NXB tổng hợp Đồng Nai Khác
7. Điạ chí Đồng Nai (2001) tập 5 – Văn hoá Xa hội, NXB tổng hợp Đồng Nai Khác
8. Lịch sử Đảng bộ Đảng cộng sản Việt Nam (1930 -1995) tập 1, NXB Đồng Nai Khác
9. Lịch sử Đảng bộ Đảng cộng sản Việt Nam (1930 -1995) tập 2, NXB Đồng Nai Khác
10.Trần Ngọc thêm Tìm hiểu bản sắc văn hóa Việt Nam, NXB tp. HCM Khác
11.Trần Quang Toại (2003) Đồng Nai – Di tích Lịch sử Văn hóa, NXB tổng hợp Đồng Nai Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w