1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

luận án: Văn chính luận Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh từ góc nhìn lý thuyết phân tích diễn ngôn

197 288 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 197
Dung lượng 2,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các công trình nghiên cứu văn chính luận Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh từ trước tới nay mặc dù được khai thác trên nhiều bình diện khác nhau như vấn đề sử dụng từ ngữ, xây dựng câu, cách

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

TRẦN BÌNH TUYÊN

VĂN CHÍNH LUẬN NGUYỄN ÁI QUỐC – HỒ CHÍ MINH

TỪ GÓC NHÌN LÝ THUYẾT PHÂN TÍCH DIỄN NGÔN

Chuyên ngành: NGÔN NGỮ HỌC

Mã số: 62 22 02 40

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1: PGS.TS Trương Thị Nhàn 2: TS Nguyễn Thị Bạch Nhạn

Huế, 2017

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, tôi xin cảm ơn hai nhà giáo: PGS.TS Trương Thị Nhàn và

TS Nguyễn Thị Bạch Nhạn đã tận tình chỉ dạy, hướng dẫn, đóng góp những ý

kiến quý báu giúp tôi hoàn thành luận án trong điều kiện tốt nhất có thể

Tôi xin cảm ơn Đại học Huế, lãnh đạo Trường Đại học Khoa học, lãnh đạo

Khoa Ngữ văn, lãnh đạo Nhà xuất bản Đại học Huế đã tạo điều kiện cho tôi

thực hiện luận án này

Tôi xin được cảm ơn tất cả quý Thầy Cô, những người thân yêu trong gia đình

cùng bạn bè, đồng nghiệp đã luôn khuyến khích và giúp đỡ tôi trong suốt quá

trình thực hiện đề tài

Tác giả

Trần Bình Tuyên

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Việc giải quyết các vấn đề đặt ra cũng như các kết quả nghiên cứu trình bày trong luận án là hoàn toàn trung thực, chính xác và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả

Trần Bình Tuyên

Trang 4

CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT DÙNG TRONG LUẬN ÁN

BĐNT : Bị đồng nhất thể BSHT : Bị sở hữu thể

BN : Bổ ngữ

CC : Chu cảnh

CN : Chủ ngữ CDA : Critical Discourse Analysis

– Phân tích diễn ngôn phê phán ĐNT : Đồng nhất thể

ĐgT : Đương thể

ĐT : Đích thể

ĐN : Đề ngữ

HT : Hành thể HTg : Hiện tượng PNT : Phát ngôn thể

PN : Phụ ngữ QTHV : Quá trình hành vi QTPN : Quá trình phát ngôn QTQH : Quá trình quan hệ QTSH : Quá trình sở hữu QTTT : Quá trình tinh thần QTVC : Quá trình vật chất SFG : Systemic functional grammar

– Lý thuyết Ngữ pháp chức năng hệ thống

ƯT : Ứng thể ThT : Thuộc tính TgN : Trạng ngữ

TN : Thuyết ngữ

VN : Vị ngữ

KÝ HIỆU DÙNG TRONG LUẬN ÁN

// : ranh giới giữa các cú

Trang 5

BIỂU BẢNG DÙNG TRONG LUẬN ÁN

Bảng 2.1 Thống kê các kiểu quá trình

trong văn chính luận Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh 43

Bảng 2.2 Thống kê quá trình vật chất với các Hành thể khác nhau

trong văn chính luận Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh trước năm 1945 43

Bảng 2.3 Thống kê các động từ chỉ hoạt động vật lý

trong văn chính luận Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh trước năm 1945 44

Bảng 2.4 Thống kê quá trình vật chất với các Hành thể khác nhau

trong văn chính luận Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh sau năm 1945 46

Bảng 2.5 Thống kê các động từ chỉ hoạt động vật lý

trong văn chính luận Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh sau năm 1945 47

Bảng 2.6 Thống kê quá trình tinh thần với các Cảm thể khác nhau

trong văn chính luận Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh trước năm 1945 50

Bảng 2.7 Thống kê các động từ chỉ hoạt động tâm lý

trong văn chính luận Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh trước năm 1945 50

Bảng 2.8 Thống kê quá trình tinh thần với các Cảm thể khác nhau

trong văn chính luận Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh sau năm 1945 52

Bảng 2.9 Thống kê các động từ chỉ hoạt động tâm lý

trong văn chính luận Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh sau năm 1945 52

Bảng 2.10 Thống kê các quá trình phát ngôn với các Phát ngôn thể khác nhau

trong văn chính luận Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh trước năm 1945 54

Bảng 2.11 Thống kê các động từ chỉ hoạt động nói năng

trong văn chính luận Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh trước năm 1945 54

Bảng 2.12 Thống kê các quá trình phát ngôn với các Phát ngôn thể khác nhau

trong văn chính luận Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh sau năm 1945 56

Bảng 2.13 Thống kê quá trình quan hệ

trong văn chính luận Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh 57

Bảng 2.14 Thống kê quá trình quan hệ sâu

trong văn chính luận Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh trước năm 1945 58

Bảng 2.15 Thống kê quá trình quan hệ sâu

trong văn chính luận Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh sau năm 1945 59

Bảng 2.16 Thống kê sở hữu thể của quá trình quan hệ sở hữu

trong văn chính luận Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh sau năm 1945 61

Bảng 2.17 Thống kê các kiểu chu cảnh

trong văn chính luận Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh 62

Trang 6

Bảng 3.1 Thống kê các loại cú

trong văn chính luận Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh 69

Bảng 3.2 Các yếu tố tình thái thực hữu

trong văn chính luận Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh trước năm 1945 76

Bảng 3.3 Các yếu tố tình thái thực hữu

trong văn chính luận Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh sau năm 1945 76

Bảng 3.4 Các yếu tố tình thái không thực hữu

trong văn chính luận Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh trước năm 1945 78

Bảng 3.5 Các yếu tố tình thái không thực hữu

trong văn chính luận Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh sau năm 1945 79

Bảng 3.6 Các yếu tố tình thái phản thực hữu

trong văn chính luận Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh trước năm 1945 80

Bảng 3.7 Các yếu tố tình thái phản thực hữu

trong văn chính luận Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh sau năm 1945 80

Bảng 3.8 Các yếu tố tình thái đạo nghĩa

trong văn chính luận Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh 82

Bảng 3.9 Thống kê các phương thức quy chiếu đối tượng kẻ thù

trong văn chính luận Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh trước năm 1945 83

Bảng 3.10 Thống kê các phương thức quy chiếu đối tượng kẻ thù

trong văn chính luận Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh sau năm 1945 84

Bảng 3.11 Thống kê các trường hợp sử dụng ẩn dụ

trong văn chính luận Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh 87

Bảng 3.12 Tổng hợp các cặp từ xưng hô

trong văn chính luận Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh 90

Bảng 3.13 Thống kê lớp từ Hán Việt phân theo trường nghĩa

trong văn chính luận Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh 94

Bảng 3.14 Thống kê các tính từ đánh giá tiêu biểu

trong văn chính luận Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh trước năm 1945 98

Bảng 3.15 Thống kê các tính từ đánh giá tiêu biểu

trong văn chính luận Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh sau năm 1945 98

Trang 8

SƠ ĐỒ DÙNG TRONG LUẬN ÁN

Sơ đồ 4.1 Mô hình cấu trúc diễn ngôn dạng 1

trong văn chính luận Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh

120

Sơ đồ 4.2 Mô hình cấu trúc diễn ngôn dạng 2

trong văn chính luận Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh

120

Trang 9

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 12

1.1.1 Tình hình nghiên cứu lý thuyết phân tích diễn ngôn 12

1.1.1.2 Về thực tiễn vận dụng lý thuyết phân tích diễn ngôn vào nghiên cứu

các thể loại diễn ngôn trong tiếng Việt

15

1.1.2 Tình hình nghiên cứu văn chính luận Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh 17

1.2.1.2 Lý thuyết ngữ pháp chức năng hệ thống 27 1.2.1.3 Lý thuyết ngữ vực

1.2.1.3 Một số vấn đề liên quan đến phân tích diễn ngôn

31

33 1.2.2 Khái quát về văn chính luận và văn chính luận Nguyễn Ái Quốc

Trang 10

CHƯƠNG 2

TRONG VĂN CHÍNH LUẬN NGUYỄN ÁI QUỐC – HỒ CHÍ MINH 42

2.1 Đặc trưng về Trường trong văn chính luận Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh

qua các quá trình chuyển tác

2.2 Đặc trưng về Trường trong văn chính luận Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh

qua chu cảnh chuyển tác

62

CHƯƠNG 3

TRONG VĂN CHÍNH LUẬN NGUYỄN ÁI QUỐC – HỒ CHÍ MINH 69

3.1 Đặc trưng về Không khí trong văn chính luận Nguyễn Ái Quốc

– Hồ Chí Minh qua các kiểu cú phân theo mục đích nói năng

3.2 Đặc trưng về Không khí trong văn chính luận Nguyễn Ái Quốc

– Hồ Chí Minh qua các yếu tố tình thái

76

3.3 Đặc trưng về Không khí trong văn chính luận Nguyễn Ái Quốc

– Hồ Chí Minh qua các biểu thức quy chiếu

83

3.4 Đặc trưng về Không khí trong văn chính luận Nguyễn Ái Quốc

– Hồ Chí Minh qua lớp từ ngữ ẩn dụ

87

3.5 Đặc trưng về Không khí trong văn chính luận Nguyễn Ái Quốc

– Hồ Chí Minh qua các cặp từ xưng hô

90

Trang 11

3.6 Đặc trưng về Không khí trong văn chính luận Nguyễn Ái Quốc

– Hồ Chí Minh qua lớp từ Hán Việt

94

3.7 Đặc trưng về Không khí trong văn chính luận Nguyễn Ái Quốc

– Hồ Chí Minh qua lớp từ đánh giá

98

CHƯƠNG 4

TRONG VĂN CHÍNH LUẬN NGUYỄN ÁI QUỐC – HỒ CHÍ MINH 101

4.1 Đặc trưng về Cách thức trong văn chính luận Nguyễn Ái Quốc

– Hồ Chí Minh qua cấu trúc Đề - Thuyết

4.2 Đặc trưng về Cách thức trong văn chính luận Nguyễn Ái Quốc

– Hồ Chí Minh qua cấu trúc diễn ngôn

111

4.2.1 Cấu trúc diễn ngôn chính luận Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh 111

Trang 13

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nghiên cứu ngôn ngữ nửa cuối thế kỷ XX có sự chuyển biến mạnh mẽ với việc

chuyển đổi đối tượng nghiên cứu từ bản thân hệ thống ngôn ngữ sang việc sử dụng ngôn

ngữ trong thực tế Đây chính là giai đoạn tổng hợp trong việc nghiên cứu ngôn ngữ: gắn

hệ thống ngôn ngữ với việc nó được sử dụng để làm gì và tác dụng của nó như thế nào

đối với đời sống xã hội Để thực hiện sự chuyển đổi đó đã có rất nhiều lý thuyết nghiên

cứu ngôn ngữ mới xuất hiện trong thời gian này, và phân tích diễn ngôn là một trong

những hướng nghiên cứu tiêu biểu Dưới quan điểm của phân tích diễn ngôn, ngôn ngữ

không chỉ đơn giản là công cụ giao tiếp mà nó còn là một quá trình giao tiếp/ tương tác,

một thực tiễn xã hội, một lối sống, một cách hành động và là một bộ phận của nền văn

hóa Nói cách khác, phân tích diễn ngôn nghiên cứu ngôn ngữ như một thực thể xã hội,

miêu tả sự hoạt động của ngôn ngữ trong các ngữ cảnh xã hội cụ thể Như vậy có thể nói,

lý thuyết phân tích diễn ngôn là hướng nghiên cứu đáp ứng nhanh, kịp thời những yêu

cầu mới của ngành ngôn ngữ học, do đó rất cần được tìm hiểu, nghiên cứu; đặc biệt đối

với ngành nghiên cứu ngôn ngữ học ở nước ta, đây là địa hạt đã và đang được quan tâm

mạnh mẽ

Trong thực tế nghiên cứu lý thuyết phân tích diễn ngôn ở Việt Nam những năm

qua, nguồn cứ liệu chủ yếu tập trung vào ngôn ngữ báo chí, diễn ngôn khẩu hiệu, quảng

cáo hay diễn ngôn chính trị - xã hội Đây là những đối tượng đặc biệt được các nhà phân

tích diễn ngôn trên thế giới quan tâm Trong thời gian gần đây cũng đã có một số công

trình ứng dụng lý thuyết này vào việc phân tích những tác phẩm văn học nghệ thuật

Trong khi đó, văn chính luận là một phong cách chức năng có những yếu tố phù hợp với

hướng nghiên cứu của phân tích diễn ngôn (đó là sự chi phối sâu sắc của những yếu tố

ngữ cảnh tình huống đối với việc lựa chọn và cách thức sử dụng ngôn ngữ; vấn đề mạch

lạc được thể hiện một cách nổi trội, đặc biệt là sự tác động mạnh mẽ của nó đối với lịch

sử, xã hội và tư tưởng, ) lại chưa có một công trình nghiên cứu chuyên sâu nào

Các công trình nghiên cứu văn chính luận Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh từ

trước tới nay mặc dù được khai thác trên nhiều bình diện khác nhau như vấn đề sử dụng

từ ngữ, xây dựng câu, cách thức tổ chức văn bản cũng như những vấn đề thuộc về phong

cách ngôn ngữ,… nhưng do chịu ảnh hưởng của khuynh hướng cấu trúc nên chủ yếu tập

trung vào phân tích cấu trúc nội tại của đối tượng dưới quan điểm của ngữ pháp học

truyền thống mà chưa có công trình nào nghiên cứu nó dưới góc độ của ngôn ngữ học

hành chức, cụ thể ở đây là từ góc nhìn của lý thuyết phân tích diễn ngôn

Với những lý do trên đây, việc lựa chọn hướng nghiên cứu văn chính luận Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh từ góc nhìn phân tích diễn ngôn (vấn đề ngôn ngữ giao

tiếp, vấn đề ngôn ngữ trong quá trình sử dụng) cũng là một hướng đi mới của người

nghiên cứu

Trang 14

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài Văn chính luận Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh từ góc nhìn lý thuyết

phân tích diễn ngôn nhằm làm sáng tỏ đặc điểm diễn ngôn chính luận Nguyễn Ái Quốc –

Hồ Chí Minh từ quan điểm ngữ pháp chức năng hệ thống của Halliday về phương diện

ngữ vực (register), qua đó góp phần chứng minh ngôn ngữ như một thực thể của xã

hội, có mối quan hệ biện chứng với các yếu tố bên ngoài ngôn ngữ Bên cạnh đó, những kết quả nghiên cứu của luận án cũng sẽ góp phần vào việc phân tích những tác phẩm văn chính luận nói chung và văn chính luận Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh nói riêng trong nhà trường

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận án xác định những nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản sau:

– Nghiên cứu lý thuyết:

+ Xác lập khung lý thuyết áp dụng cho phương pháp phân tích diễn ngôn nhằm xác định những bước khảo sát, phân tích cụ thể và những nội dung trọng tâm mà luận

án hướng tới;

+ Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và nghiên cứu tổng quan làm cơ sở cho việc nghiên cứu

– Khảo sát, thu thấp ngữ liệu

– Từ khung lý thuyết áp dụng và những vấn đề lý luận đã được xác định, luận án tiến hành khảo sát, phân tích ngữ liệu một cách có hệ thống trên các phương diện đặc trưng về Trường, Không khí và Cách thức

– Rút ra những nhận xét tổng quát về vấn đề nghiên cứu

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là đặc điểm văn chính luận Nguyễn Ái Quốc –

Hồ Chí Minh qua các đặc trưng về Trường, Không khí và Cách thức

4.2 Phạm vi nghiên cứu

– Hiện nay có rất nhiều đường hướng phân tích diễn ngôn, tuy nhiên để thực hiện

đề tài này chúng tôi lựa chọn đường hướng phân tích diễn ngôn dựa trên cơ sở lý thuyết ngữ pháp chức năng hệ thống của Halliday về phương diện ngữ vực [114, 117] Cụ thể: + Đặc trưng về Trường được thực hiện hóa qua chức năng kinh nghiệm trong văn chính luận Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh: chúng tôi tập trung tìm hiểu qua các kiểu quá trình chuyển tác và các loại chu cảnh chuyển tác thể hiện nội dung, kinh nghiệm về thế giới hiện thực của chủ thể diễn ngôn;

+ Đặc trưng về Không khí được thực hiện hóa qua chức năng liên nhân trong văn chính luận Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh: chúng tôi nghiên cứu Thức trong các kiểu

cú phân theo mục đích nói năng và Tình thái qua các yếu tố tình thái, các biểu thức quy chiếu, lớp từ ngữ ẩn dụ, các cặp từ xưng hô, lớp từ Hán Việt và hệ thống từ đánh giá

Trang 15

+ Đặc trưng về Cách thức được thực hiện hóa qua chức năng tạo văn bản trong văn

chính luận Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh: chúng tôi tìm hiểu các cách thức tiến hành

liên kết diễn ngôn thông qua các đặc điểm cấu trúc Đề - Thuyết và cấu trúc diễn ngôn

– Để thực hiện đề tài, chúng tôi lựa chọn và khảo sát nguồn ngữ liệu là 13 tác phẩm:

+ Những tác phẩm trước năm 1945: Tâm địa thực dân, Những cái tốt đẹp của nền văn

minh Pháp, Bình Đẳng, Công cuộc khai hóa giết người, Bản án chế độ thực dân Pháp

+ Những tác phẩm sau năm 1945: Tuyên ngôn độc lập; Toàn dân kháng chiến; Lời

kêu gọi toàn quốc kháng chiến; Lời kêu gọi nhân dịp cách mạng tháng Tám và ngày độc

lập (1950); Lời kêu gọi nhân dịp kỷ niệm Nam Bộ kháng chiến (18-9-1952); Không có gì

quý hơn độc lập, tự do; Lời kêu gọi cả nước tiến lên đánh thắng giặc Mỹ xâm lược; bản

Di chúc

Như vậy, nguồn ngữ liệu trong phạm vi nghiên cứu của luận án là ngữ liệu gồm

nhiều loại diễn ngôn khác nhau, gọi chung là diễn ngôn chính trị

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp thu thập ngữ liệu

Trong quá trình thu thập ngữ liệu, chúng tôi nhận thấy văn chính luận Nguyễn Ái Quốc

– Hồ Chí Minh có những vấn đề sau:

Những tác phẩm trước năm 1945 khởi đầu được viết bằng tiếng Pháp, xuất bản tại

nước Pháp vì thời điểm này tác giả đang hoạt động cách mạng trên đất Pháp, viết những

tác phẩm chính luận với mục đích tác động đến người Pháp cũng như các dân tộc thuộc

địa Pháp Sau Cách mạng, những tác phẩm này được dịch sang tiếng Việt và xuất bản tại

Việt Nam Trong khi đó, tác phẩm sau năm 1945 ban đầu là những bản viết tay hoặc bản

đánh máy chưa được in ấn chính thức (thể hiện qua các bút tích chỉnh sửa của tác giả);

sau khi hoàn thiện đã được đọc trước công chúng trong những sự kiện lịch sử trọng đại

của dân tộc và được xuất bản trên báo chí, tiêu biểu là báo Nhân dân

Sau đó, những tác phẩm chính luận này đã qua nhiều lần biên tập, bổ sung và in ấn

dưới nhiều hình thức và nhiều nhà xuất bản khác nhau Tuy nhiên, Nhà xuất bản Quốc

gia - Sự thật (nay là Nhà xuất bản Chính trị quốc gia) là nhà xuất bản đã tập hợp một

cách đầy đủ những tác phẩm văn chương, bài báo, thư từ, bài diễn văn, bản báo cáo, và

các trả lời phỏng vấn truyền thông, báo chí trong và ngoài nước của Nguyễn Ái Quốc –

Hồ Chí Minh thành một công trình có tựa đề Hồ Chí Minh toàn tập (sau này là

Hồ Chí Minh tuyển tập) và xuất bản nhiều lần như: Hồ Chí Minh toàn tập gồm 10 tập

(năm 1990); Hồ Chí Minh toàn tập gồm 13 tập (năm 2000); và đến năm 2002 là ấn phẩm

Hồ Chí Minh tuyển tập gồm ba tập, phân chia theo ba giai đoạn: từ năm 1919 đến năm

1945, từ năm 1945 đến năm 1954 và từ năm 1954 đến năm 1969

Có thể nói, văn chính luận Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh được viết và in ấn dưới

nhiều hình thức khác nhau, trong nhiều thời điểm khác nhau Để đảm bảo tính chính

danh cho ngữ liệu khảo sát, chúng tôi quyết định sử dụng những tác phẩm chính luận

được xuất bản năm 2002 của Nhà xuất bản Chính trị quốc gia vì những lý do sau:

– Những tác phẩm trước năm 1945 được viết bằng tiếng Pháp hiện nay không được

xem là một tài liệu phổ biến trong các công trình nghiên cứu; bên cạnh đó, những bản

Trang 16

viết tay (và bản đánh máy ban đầu) được lưu giữ hiện nay (như là tư liệu gốc) là những

bản đang trong quá trình biên soạn, chỉnh sửa, chưa hoàn chỉnh Do đó, chúng tôi không

sử dụng những bản này làm ngữ liệu khảo sát

– Trong khi đó, những tác phẩm chính luận Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh được

xuất bản tại Nhà xuất bản Chính trị quốc gia (cụ thể là bản xuất bản năm 2002) là những

ngữ liệu đã được thẩm định nhiều lần, được Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng,

thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh cùng Nhà xuất bản Chính trị quốc gia

tiến hành xuất bản dưới sự chỉ đạo và chủ trương của Ban Bí thư Trung ương Đảng

Vì thế, tính chính danh và phổ biến của những ngữ liệu này là cao nhất Do đó, chúng

tôi quyết định sử dụng những tác phẩm chính luận trong phạm vi khảo sát được in trong

Hồ Chí Minh tuyển tập (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 2002) làm ngữ liệu để khảo sát

trong luận án này

5.2 Phương pháp phân tích ngữ liệu

5.2.1 Phương pháp phân tích diễn ngôn

Sử dụng khung lý thuyết ngữ pháp chức năng hệ thống của Halliday để phân tích

các đặc điểm ngôn ngữ văn chính luận Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh trong những

ngữ cảnh, tình huống cụ thể nhằm làm rõ các phương diện: đặc trưng về Trường, đặc

trưng về Không khí và đặc trưng về Cách thức Khung lý thuyết áp dụng cụ thể như sau:

a Đặc trưng về Trường được thực hiện hóa qua chức năng kinh nghiệm trong

văn chính luận Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh: liên quan đến nội dung về hiện thực

được trình bày trong diễn ngôn thông qua các kiểu quá trình với các yếu tố như tham

thể, chính quá trình (vị từ trung tâm) và chu cảnh

(1) Thứ nhất, chúng tôi sẽ đi tìm hiểu đặc trưng về Trường qua hệ thống chuyển tác

được phân thành 6 kiểu quá trình, đặc biệt đi vào chính quá trình được thể hiện qua vị từ

trung tâm Đây là các kiểu quá trình theo quan điểm của Halliday [114] vận dụng trong

tiếng Anh và được Hoàng Văn Vân [97] vận dụng trong phân tích tiếng Việt Tên gọi của

các yếu tố tham gia các quá trình chúng tôi sử dụng theo cách gọi của Hoàng Văn Vân

– Quá trình vật chất: ứng với phạm trù ý nghĩa hành động (doing), gồm hành động

(doing) và hiện tượng xảy ra (happening), với các tham thể chính gồm Hành thể (actor)

và Đích thể (goal) Ví dụ:

Chính phủ Tuynidi trục xuất chủ nhiệm tờ L'Avenir social

– Quá trình hành vi: ứng với phạm trù ý nghĩa cư xử (behaving), gồm tham thể ứng

xử được gọi là Ứng thể (behaver) Ví dụ:

– Quá trình phát ngôn: ứng với phạm trù ý nghĩa nói năng (saying), gồm các tham

thể chủ yếu được gọi là Phát ngôn thể (sayer) và Tiếp ngôn thể (target) Ví dụ:

Trang 17

– Quá trình tinh thần: ứng với phạm trù ý nghĩa cảm nhận (sensing), gồm tri giác (nhìn thấy: seeing), tình cảm (cảm thấy: feeling), tri nhận (thinking), và các tham thể Cảm thể (senser) và Hiện tượng (phenomenon) Ví dụ:

Ông Camilơ Đơvila khao khát cái danh hiệu người yêu chuộng chân lý

trong thế giới này và trong thế giới bên kia

Trang 18

Đích thể, Tiếp ngôn thể,… thì việc xác định hệ thống và các phạm trù nghĩa của các vị từ trung tâm cùng mối quan hệ của chúng với các tham tố của các quá trình có ý nghĩa hết sức quan trọng

(2) Bên cạnh đó, chúng tôi đi vào tìm hiểu đặc điểm của Chu cảnh trong hệ thống chuyển tác với vai trò là một yếu tố không cố hữu trong quá trình nhưng có ý nghĩa quan trọng trong việc góp phần thực hiện chức năng kinh nghiệm của diễn ngôn

Chu cảnh là một trong ba yếu tố cấu thành nên cú, cung cấp khung tham chiếu để giải thích kinh nghiệm về những gì đang diễn ra Bên cạnh chính quá trình và các tham thể trong quá trình đóng vai trò là những yếu tố trung tâm trong việc thực hiện chức năng của cú, thì Chu cảnh cũng là một trong những yếu tố quan trọng, góp phần làm cho các quá trình phản ánh nội dung, thông tin một cách đầy đủ và sâu sắc hơn Chức năng chính của Chu cảnh là tạo “hậu cảnh” hay “tình huống” cho quá trình, nghĩa là chúng giải thích

rõ quá trình đó, sự kiện đó xảy ra ở đâu, như thế nào, khi nào, tại sao,…

Việc phân loại Chu cảnh theo lý thuyết ngữ pháp chức năng hệ thống có nhiều quan điểm khác nhau Trong phạm vi luận án, chúng tôi lựa chọn cách phân loại dựa vào tiêu chí ngữ nghĩa và ngữ pháp - từ vựng, được Hoàng Văn Vân vận dụng để nghiên cứu chuyển tác Chu cảnh trong tiếng Việt thông qua mô hình sau: [97, tr 423]

Chu cảnh

Phạm vi Định vị Cách thức Nguyên nhân Đồng hành Vai diễn Vấn đề Quan điểm

– Chu cảnh phạm vi được chia thành hai loại là chu cảnh phạm vi không gian và

chu cảnh phạm vi thời gian: chỉ khoảng không gian/ thời gian mà quá trình diễn ra

– Chu cảnh định vị cũng được chia làm hai loại là chu cảnh định vị thời gian, chu

cảnh định vị không gian: chỉ nơi chốn, địa điểm và thời điểm của hành động/ sự kiện,

Do những điểm chung của chu cảnh định vị và chu cảnh phạm vi, trong luận án này

chúng tôi thống kê gộp thành hai nhóm là chu cảnh không gian (gồm cả chu cảnh định

vị không gian và chu cảnh phạm vi không gian) và chu cảnh thời gian (gồm chu cảnh

định vị thời gian và chu cảnh phạm vi thời gian) Ví dụ:

Một lần, ở một công trường, ông ta đã giật súng (của một

người lính coi tù )

để đánh một người tù

CC thời gian CC không gian

– Chu cảnh cách thức cụ thể hóa cách thức trong đó quá trình được thực hiện bởi

một tham thể nào đó Loại chu cảnh này được chia thành ba tiểu loại là chu cảnh cách

Trang 19

thức phương tiện, chu cảnh cách thức chất lượng và chu cảnh cách thức so sánh Chu

cảnh cách thức phương tiện chỉ phương tiện qua đó quá trình diễn ra Chu cảnh cách thức chất lượng chỉ quá trình xảy ra như thế nào Chu cảnh cách thức so sánh không thể

hiện cách thức thực hiện của hành động một cách trực tiếp mà lại cụ thể hóa cách thức của quá trình bằng cách so sánh nó với cách thức thực hiện bởi một thực thể khác và cách thức của thực thể ấy Ví dụ:

(…) Chúng cướp bóc trắng trợn hơn là người Âu trên thị trường

– Chu cảnh nguyên nhân bao gồm các tiểu loại: chu cảnh nguyên nhân lý do (chỉ lý

do để quá trình xảy ra), chu cảnh nguyên nhân mục đích (thể hiện mục đích để hành động hay sự kiện xảy ra), chu cảnh nguyên nhân điều kiện (cụ thể hóa điều kiện trong đó sự thực hiện của một quá trình xảy ra), chu cảnh nguyên nhân nhượng bộ (cụ thể hóa điều

kiện có thể đã đạt được nhưng lại không có tác dụng đối với kết quả đạt được) Ví dụ:

Để che đậy sự xấu xa của chế độ

bóc lột đầy tội ác,

chủ nghĩa tư bản thực dân

trang điểm

cho cái huy chương mục nát của nó

– Chu cảnh đồng hành thể hiện các ý nghĩa "và", "hoặc", "không" Ví dụ:

Inhaxiô Paredô bèn bàn mưu tính kế với ông thống đốc

– Chu cảnh chỉ vấn đề cụ thể hóa vấn đề hay chủ đề Ví dụ:

– Chu cảnh chỉ quan điểm thể hiện góc độ tín hiệu học đối với quá trình, cung cấp

điểm tham chiếu cho quá trình trong cú Ví dụ:

Cứ theo lời ngài Xarô quý mến thì ngài là người cha hiền của dân bản xứ

b Đặc trưng về Không khí được thực hiện hóa qua chức năng liên nhân trong văn chính luận Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh

Halliday cho rằng, Không khí diễn ngôn – một trong ba khái niệm về môi trường

xã hội của văn bản – thể hiện bằng việc sử dụng ngôn ngữ để diễn đạt các mối quan

hệ xã hội và quan hệ cá nhân Ngôn ngữ thể hiện những đặc trưng này thông qua hệ

thống Thức (mood system) và hệ thống Tình thái (modality system)

Trang 20

Thức chỉ rõ vai trò của người nói trong việc lựa chọn tình huống nói và vai trò

mà người nói ấn định cho người nghe Cấu trúc Thức (mood structures) gồm hai phần: Thức (mood) và Dư (residue) Cấu trúc Thức nằm trong mối quan hệ của chủ ngữ với động từ biến vị (finite) Sự phân tích cấu trúc Thức tùy thuộc vào cách tổ

chức của từng hệ thống ngôn ngữ cụ thể Ví dụ, trong tiếng Anh – ngôn ngữ biến hình – phần Thức gồm hai tiểu thành phần là Chủ ngữ và động từ Hữu định (chia theo ngôi, thời và thể) Tuy nhiên, tiếng Việt là ngôn ngữ không biến hình, không có sự tương hợp

giữa chủ ngữ và vị ngữ nên Thức được thể hiện trong việc tạo Thức của câu (sentence

mood), theo cách hiểu như của Diệp Quang Ban (2004) Các Thức trong tiếng Việt

thể hiện trong cú phân theo mục đích nói năng với 4 kiểu cụ thể: tường thuật, nghi vấn, mệnh lệnh và cảm thán Trong khi đó, Tình thái được thể hiện qua sự đánh giá và

dự đoán của người sử dụng ngôn ngữ Từ những đặc điểm trên, trong phạm vi luận án, nghiên cứu về đặc trưng Không khí trong văn chính luận Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh chúng tôi tập trung vào các biểu hiện cụ thể sau:

(1) Chức năng liên nhân thông qua hệ thống Thức được thể hiện trong các kiểu cú được phân theo mục đích nói năng, gồm:

từ đánh giá Đây là những yếu tố thể hiện rất cụ thể thái độ, tình cảm cũng như quan

điểm, cách đánh giá và sự dự đoán chủ quan của tác giả đối với đối tượng được phản ánh; qua đó diễn đạt và xác lập, duy trì những mối quan hệ xã hội và mối quan hệ liên cá nhân giữa người viết và người tiếp nhận

Trang 21

c Đặc trưng về Cách thức được thực hiện hóa qua chức năng tạo văn bản trong văn chính luận Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh: liên quan đến cách thức tổ chức để tạo lập văn bản

(1) Trước hết, chúng tôi tiến hành tìm hiểu các loại cấu trúc Đề - Thuyết thể hiện là

đơn vị cơ sở để tổ chức thông điệp; tìm hiểu đặc điểm của các loại Đề ngữ qua cách phân loại cú, từ đó cho thấy tính liên kết cũng như sự thể hiện mạch lạc trong diễn ngôn Theo Halliday, có ba loại đề khác nhau là: Đề chủ đề, Đề ngôn bản và Đề liên nhân

– Đề chủ đề:

+ Đề đánh dấu (thời gian, không gian, trạng thái – cách thức, mục đích,…) Ví dụ:

Ngày 9 tháng 3 năm nay, Nhật tước khí giới của quân đội Pháp

5.2.2 Ngoài ra, luận án còn sử dụng các thủ pháp nghiên cứu như

– Thủ pháp miêu tả định lượng: Chúng tôi sử dụng thủ pháp thống kê để xác định

số lượng và tần số xuất hiện, tính tỷ lệ theo tần số xuất hiện của các đối tượng nghiên cứu đã được xác định như các lớp từ ngữ chỉ hoạt động, các lớp từ Hán Việt, các kiểu quá trình, các loại chu cảnh, các cấu trúc cú hay các thành phần của cấu trúc diễn ngôn,

Từ đó, phân loại, thống kê thành những bảng biểu tương ứng Trên cơ sở tỷ lệ của từng đối tượng để lựa chọn những đối tượng có tần suất sử dụng nhiều nhất, những kết quả mang tính phổ biến để nêu ra những tính chất, những phạm trù cơ bản

– Thủ pháp miêu tả định tính: Chúng tôi dùng thủ pháp miêu tả, phân tích, tổng

hợp, khái quát nhằm làm nổi bật những đặc điểm trong chiến lược lựa chọn và cách thức

sử dụng ngôn ngữ trong việc đối chiếu với các yếu tố phi ngôn ngữ dưới quan điểm của khung lý thuyết phân tích diễn ngôn đã lựa chọn

Trang 22

6 Ý nghĩa/ đóng góp của luận án

Sự nghiệp văn chương Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh nói chung và mảng văn

chính luận của Người nói riêng đã và đang được nghiên cứu trên nhiều góc độ khác nhau

nhưng chủ yếu là trên quan điểm mô tả cấu trúc luận Từ góc nhìn lý thuyết phân tích

diễn ngôn, chúng tôi hy vọng luận án sẽ mang lại một số đóng góp mới như sau:

6.1 Về lý luận

Luận án góp phần khẳng định thêm giá trị của phương pháp phân tích diễn ngôn:

không chỉ quan tâm đến hệ thống cấu trúc ngôn ngữ mà còn quan tâm đến các chức năng

của ngôn ngữ; xem xét đối tượng nghiên cứu trong tính tổng thể, ngôn ngữ hành chức,

ngôn ngữ hoạt động, tương tác xã hội hay việc sử dụng ngôn ngữ; qua đó chứng minh

ngôn ngữ như một thực thể của xã hội, có mối quan hệ biện chứng với xã hội

6.2 Về thực tiễn

– Việc phân tích đặc điểm ngôn ngữ xét theo quan điểm của Halliday về các

chức năng ngôn ngữ cũng như đặt ngôn ngữ trong mối quan hệ với các yếu tố của tình

huống giao tiếp cụ thể sẽ giúp làm sáng tỏ đặc điểm văn chính luận Nguyễn Ái Quốc –

Hồ Chí Minh trên các phương diện: đặc trưng về Trường, Không khí và Cách thức; qua

đó góp phần làm phong phú thêm hướng nghiên cứu cũng như những đặc điểm ngôn ngữ

văn chính luận Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh

– Những kết quả nghiên cứu của luận án sẽ góp phần nâng cao hiệu quả tiếp

nhận văn bản chính luận Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh trong chương trình Ngữ

văn phổ thông

– Luận án cũng có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc dạy và học văn

bản chính luận nói chung và sự nghiệp văn chương của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh

nói riêng trong chương trình Ngữ văn phổ thông

7 Bố cục của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, luận án được triển khai thành bốn chương

như sau:

Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu và cơ sở lý luận Trong chương này,

chúng tôi trình bày một cách chi tiết tổng quan vấn đề nghiên cứu trên các nội dung: tình

hình nghiên cứu về lý thuyết phân tích diễn ngôn và tình hình nghiên cứu về văn chính

luận Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh; những vấn đề lý luận chung về phân tích diễn

ngôn và văn chính luận Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh

Chương 2: Đặc trưng về Trường trong văn chính luận Nguyễn Ái Quốc –

Hồ Chí Minh Xuất phát từ cách tiếp cận đối tượng nghiên cứu theo đường hướng phân

tích diễn ngôn trên cơ sở lý thuyết chức năng hệ thống của Halliday về ngữ vực, trong

chương này, để làm rõ các đặc trưng về Trường chúng tôi tiến hành khảo sát, mô tả và

phân tích các kiểu quá trình và các loại chu cảnh thể hiện nội dung, kinh nghiệm về thế

giới hiện thực được phản ánh trong diễn ngôn với mục đích thấy được mối quan hệ biện

chứng giữa những đặc điểm ngôn ngữ này với các yếu tố ngoài ngôn ngữ cũng như chức

năng kinh nghiệm của ngôn ngữ dưới quan điểm của ngữ pháp chức năng hệ thống

Trang 23

Chương 3: Đặc trưng về Không khí trong văn chính luận Nguyễn Ái Quốc –

Hồ Chí Minh Cũng với cách thức tiến hành và mục đích nghiên cứu như chương 2,

trong chương 3 chúng tôi tiến hành tìm hiểu và phân tích những đặc trưng về Không khí thông qua các biểu hiện của chức năng liên nhân trong văn chính luận Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh

Chương 4: Đặc trưng về Cách thức trong văn chính luận Nguyễn Ái Quốc –

Hồ Chí Minh Trong chương này, chúng tôi tiến hành tìm hiểu các hình thức liên kết từ

các đặc điểm cấu trúc Đề - Thuyết đến các đặc điểm cơ bản của cấu trúc diễn ngôn trong văn chính luận Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh

Trang 24

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Tình hình nghiên cứu lý thuyết phân tích diễn ngôn

1.1.1.1 Về lý thuyết phân tích diễn ngôn

Phân tích diễn ngôn (Discourse Analysis – DA) là một trong những hướng nghiên

cứu ngôn ngữ mở đầu cho việc chuyển đổi đối tượng nghiên cứu từ bản thân hệ thống ngôn ngữ sang việc sử dụng ngôn ngữ Chính vì vậy, ở nước ngoài cũng như ở Việt Nam

đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về phân tích diễn ngôn cũng như sự vận dụng lý thuyết phân tích diễn ngôn vào việc nghiên cứu những diễn ngôn cụ thể

a Những nghiên cứu ở nước ngoài

Harris [118] là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ “phân tích diễn ngôn”, khi vào

năm 1952 ông đề cập vấn đề này trong một bài báo có tên Phân tích diễn ngôn (Discourse Analysis) Harris đã đề xuất khái niệm “diễn ngôn” là văn bản liên kết, ở bậc

cao hơn câu, đồng thời cũng cho rằng, diễn ngôn là đối tượng của phân tích diễn ngôn; bên cạnh đó, ông cũng chỉ ra, văn bản mới thể hiện sự hoạt động của ngôn ngữ chứ không phải câu hay từ, và đặc trưng của đơn vị này là sự thống nhất nghĩa và chức năng giao tiếp Tuy nhiên, thuật ngữ này, một mặt còn khá mới mẻ đối với độc giả; mặt khác, mặc dù Harris đã đề cập đến phép phân tích toàn bộ diễn ngôn, nhưng sức thuyết phục ở các luận điểm của Harris là chưa cao và ông cũng chưa đưa ra một mô hình phân tích hoàn chỉnh Vì vậy, sự phổ biến của khái niệm diễn ngôn, phân tích diễn ngôn thời điểm này còn rất hạn chế

Tiếp nối Harris là Mitchell (1957, 123), sau đó là Sinclair và Coulthard (1975, 127)

đã dần đưa các thuật ngữ này đến gần với độc giả hơn Tiêu biểu là công trình Towards

an Analysis of Discourse (Về Một phân tích diễn ngôn) của Sinclair và Coulthard [127], hay

công trình An Introduction to Discourse Analysis (Một Dẫn luận về phân tích diễn ngôn)

của Coulthard được công bố vào năm 1977 [106],…

Năm 1975, trong công trình Logic and conversation (Lôgích và hội thoại) [113], Grice đã phác thảo lý thuyết về hàm ngôn (Theory of implicature) Công trình này được

xem là một trong những công trình có tầm ảnh hưởng lớn trong việc phát triển ngành ngữ dụng học Trong lý thuyết của mình, Grice cố gắng giải thích cách thức người nghe hiểu được nghĩa từ phát ngôn của người nói, từ cấp độ ngữ nghĩa cho đến cấp độ hàm

ngôn của phát ngôn Ông mô tả hai loại hàm ngôn: hàm ngôn quy ước (conventional

implicature) và hàm ngôn hội thoại (conversational implicature) Cả hai đều thể hiện cấp

độ nghĩa hàm ngôn ngoài cấp độ ngữ nghĩa của các từ ngữ trong mỗi phát ngôn

Tuy nhiên, phải đến công trình Discourse Analysis (Phân tích diễn ngôn – 1983)

của Brown và Yule thì phân tích diễn ngôn mới được nghiên cứu một cách đầy đủ khi các tác giả đã trình bày một cách cụ thể những vấn đề về phân tích diễn ngôn như khái niệm, phương pháp và những cơ sở lý thuyết của việc phân tích diễn ngôn; trong đó, các tác giả chú ý nhiều đến việc sử dụng phương pháp ngôn ngữ học để phân tích diễn ngôn

Trang 25

qua nguồn ngữ liệu là diễn ngôn tiếng Anh Thông qua việc khảo sát quá trình con người

sử dụng ngôn ngữ để thực hiện các hoạt động giao tiếp xã hội từ thành tựu của các lĩnh vực liên ngành, đặc biệt là thành tựu của ngôn ngữ học mô tả: mô tả các hình thức ngôn ngữ được sử dụng như thế nào trong giao tiếp, các tác giả đã khẳng định, chính con người đã giao tiếp và hiểu biết: người nói/ viết đưa ra chủ đề, tiền giả định và cũng chính

họ tạo ra cấu trúc thông tin và hệ quy chiếu; trong khi đó, người nghe/ đọc hiểu và rút ra kết luận Hướng nghiên cứu này đã đạt được những thành tựu mới khi kết quả cho thấy

đã trái ngược hoàn toàn với hướng nghiên cứu các vấn đề mà trong đó câu được tách ra khỏi ngữ cảnh giao tiếp

Năm 1994, nhà nghiên cứu Schiffrin đã khảo sát và tập hợp được các đường hướng

phân tích diễn ngôn như sau: đường hướng dụng học (pragmatics); đường hướng biến đổi ngôn ngữ (language variation); đường hướng ngôn ngữ học xã hội tương tác (interactional socio-linguistics) bắt nguồn từ các lĩnh vực khác nhau như xã hội học, nhân chủng học; đường hướng dân tộc học giao tiếp (ethnography of communication); đường hướng phân tích hội thoại (conversation analysis); đường hướng phân tích diễn ngôn trong tâm lý học xã hội (discourse analysis in social psychology); đường hướng giao tiếp liên văn hóa (cross cultural communication); đường hướng phân tích diễn ngôn tổng hợp (integrated) Mặc dù mỗi đường hướng có hệ thống phương pháp đặc thù,

nhưng đều có điểm chung là nhìn nhận ngôn ngữ như công cụ của một quá trình tương tác tạo nghĩa Giao điểm của chúng là giải quyết mối quan hệ giữa cấu trúc và chức năng, giữa văn bản và ngữ cảnh, giữa diễn ngôn và giao tiếp Hay nói cách khác, mục đích của chúng đều hướng về phân tích việc sử dụng hệ thống và chức năng của ngôn ngữ trong quá trình giao tiếp xã hội trên những cứ liệu ngôn ngữ cụ thể và trong những ngữ cảnh cụ thể

Bên cạnh những tác giả trên, khi nói đến các nhà nghiên cứu về phân tích diễn ngôn được biết nhiều ở Việt Nam phải kể đến Levinson (1983), Halliday (1985), Nunan (1997),… Những công trình của họ cũng góp phần tạo nên nền tảng lý thuyết quan trọng, định hướng cho sự tiếp cận phân tích diễn ngôn cũng như phân tích diễn ngôn phê phán sau này

b Những nghiên cứu ở Việt Nam

Phân tích diễn ngôn du nhập vào Việt Nam khá muộn Đó là một quá trình phát triển qua hai giai đoạn từ ngữ pháp văn bản đến phân tích diễn ngôn

– Ở giai đoạn đầu, các nhà nghiên cứu đã bước đầu nghiên cứu các vấn đề liên quan đến giao tiếp, phân tích diễn ngôn và cấu tạo của văn bản Trong những công trình của mình, mặc dù không đi sâu vào khái niệm, bản chất của phân tích diễn ngôn nhưng những quan điểm của các tác giả về vấn đề ngữ pháp văn bản đã mở đường cho hướng tiếp cận ngôn ngữ trên câu Những yếu tố cũng như các phương thức liên kết văn bản và đặc biệt là vấn đề mạch lạc trong văn bản – một khái niệm và nhân tố quan yếu của lý thuyết phân tích diễn ngôn sau này cũng được đề cập là những định hướng và nhân tố không thể thiếu trong quá trình phân tích một diễn ngôn Tiêu biểu cho những đóng góp

này là các tác giả Trần Ngọc Thêm với công trình Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt

Trang 26

(1985), Diệp Quang Ban với công trình Giao tiếp Văn bản Mạch lạc Liên kết Đoạn

văn (2002) hay công trình Văn bản và liên kết trong tiếng Việt (2006),…

– Ở giai đoạn tiếp theo, Đỗ Hữu Châu với bài viết Tìm hiểu văn hóa qua ngôn ngữ

(Tạp chí Ngôn ngữ, số 10/2000) đã đề cập đến mối liên hệ giữa ngôn ngữ với những yếu

tố ngoài ngôn ngữ Hay nói cách khác, đây chính là các yếu tố văn hóa - ngữ cảnh, một nhân tố quan trọng trong quá trình tìm hiểu và phân tích diễn ngôn Đặc biệt, trong Giáo

trình Đại cương Ngôn ngữ học, Tập hai: Ngữ dụng học (2001), với những kiến thức về

ngữ dụng học - liên quan trực tiếp đến vấn đề sử dụng ngôn ngữ như mối liên hệ giữa ngôn ngữ với ngữ cảnh, chiến lược giao tiếp, lý thuyết hành động ngôn từ, lý thuyết hội thoại, ý nghĩa tường minh và hàm ngôn, Đỗ Hữu Châu đã cung cấp những kiến thức quan trọng, góp phần định hướng cho vấn đề tiếp cận ngôn ngữ trong giao tiếp

Năm 2000, trong cuốn Dụng học Việt ngữ [27], Nguyễn Thiện Giáp cũng đã đề cập

đến một số vấn đề của phân tích diễn ngôn như các quan niệm về văn bản và diễn ngôn, diễn ngôn và phân tích diễn ngôn, diễn ngôn và văn hóa, liên kết và mạch lạc, ngữ cảnh

và ý nghĩa, dụng học giao văn hóa, cấu trúc thông tin, ngữ dụng học diễn ngôn, Ngoài những vấn đề này, tác giả còn nhấn mạnh đến yếu tố ngữ vực bao gồm ba yếu tố là trường diễn ngôn, tính chất diễn ngôn và phương thức diễn ngôn

Phải đến chuyên luận Phân tích diễn ngôn: Một số vấn đề lý luận và phương pháp

(2003) của tác giả Nguyễn Hòa thì lý thuyết phân tích diễn ngôn mới thực sự được giới thiệu một cách chi tiết và đầy đủ ở Việt Nam Trong chuyên luận này, tác giả đã đưa ra một cái nhìn cụ thể về những vấn đề của phân tích diễn ngôn từ lý luận đến thực tiễn áp dụng Ngoài những nội dung trọng tâm như khái niệm diễn ngôn, các đặc tính và các vấn

đề liên quan đến diễn ngôn, các đường hướng chính trong phân tích diễn ngôn hay vấn

đề ngữ cảnh và giao tiếp,… thì tác giả đặc biệt nhấn mạnh đến nội dung mạch lạc trong diễn ngôn và coi đây là một trong những vấn đề thuộc về bản chất của diễn ngôn Trong

công trình này, tác giả đã lựa chọn phương pháp phân tích diễn ngôn tổng hợp (integrated method) làm khung lý luận để áp dụng tìm hiểu, phân tích nguồn cứ liệu là

thể loại diễn ngôn tin trong tiếng Anh và thể loại bình luận chính trị trong tiếng Việt Trên cơ sở công trình nêu trên, năm 2006, Nguyễn Hòa tiếp tục giới thiệu công

trình Phân tích diễn ngôn phê phán, lý luận và phương pháp Trong công trình này, tác

giả đã trình bày một cách chi tiết tất cả các vấn đề cơ bản của phân tích diễn ngôn phê

phán (Critical Discourse Analysis – CDA) từ những vấn đề lý luận đến phương pháp

vận dụng trong quá trình nghiên cứu ngôn ngữ Đồng thời, dựa trên sự tích hợp các đường hướng phân tích CDA trên thế giới, đặc biệt là lý thuyết diễn ngôn phê phán theo quan điểm của Fairclough và lý thuyết chức năng hệ thống của Halliday, Nguyễn

Hòa đã xây dựng mô hình CDA với các yếu tố cơ bản như căn cứ tiếp cận, hoàn cảnh

văn hóa - xã hội, ngữ cảnh tình huống, phương tiện ngôn ngữ sử dụng, giao diện và cuối cùng là miêu tả, giải thích và tường giải Theo tác giả, quá trình phân tích cần

phải hướng đến cả khía cạnh cấu trúc (tức nguồn lực ngôn ngữ) và chức năng (tức sự

tương tác) Trong chuyên luận này, tác giả cũng dành một mục lớn (Một số trường hợp

xem xét cụ thể) để tiến hành phân tích bài phát biểu của tổng thống Hoa Kỳ – Bill

Clinton dựa trên mô hình phân tích CDA của Fairclough kết hợp với mô hình tổng hợp

Trang 27

của chính tác giả với các yếu tố cơ bản như giá trị kinh nghiệm của từ vựng, ngữ pháp, hiểu và giải thích bài phát biểu,

Năm 2012, trong công trình Giao tiếp, diễn ngôn và cấu tạo văn bản, Diệp Quang Ban

đã dành chương 4 và một phần của chương 5 để đề cập đến diễn ngôn và phân tích diễn ngôn Bên cạnh việc trình bày quá trình hình thành phân tích diễn ngôn, những vấn đề về phân tích diễn ngôn phê bình và ngôn ngữ học sinh thái, tác giả còn xác định một số hướng ứng dụng phân tích diễn ngôn vào phân tích ngôn ngữ nghệ thuật với những yếu

tố như âm thanh ngôn ngữ suy diễn được, nhịp điệu suy diễn được, từ suy diễn được, việc chọn từ để dùng, hiện thực được miêu tả suy diễn được, Có thể nói, cũng như hai

công trình chuyên khảo của Nguyễn Hòa, công trình Giao tiếp, diễn ngôn và cấu tạo văn

bản của Diệp Quang Ban là một trong những công trình có nhiều đóng góp lớn, là tài

liệu quan trọng cho những nghiên cứu chuyên sâu về lý thuyết này

Ngoài những tác giả đã nêu ở trên, chúng ta cũng cần nhắc đến một số tác giả khác như Cao Xuân Hạo (1991), Nguyễn Đức Dân (1996, 1998), Hoàng Phê (2003), Những tác giả này, trong những công trình của mình, cũng đã đề cập đến các vấn đề liên quan đến diễn ngôn và phân tích diễn ngôn ở những góc độ khác nhau

Bên cạnh những công trình biên khảo, còn có nhiều bài viết đăng trên các tạp chí ngôn ngữ đã cung cấp những kiến thức lý luận cũng như những ứng dụng thực tế của lý

thuyết này như: Bàn về mạch lạc của diễn ngôn (Tạp chí Khoa học ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội, số 2/2002) và Phân tích diễn ngôn phê phán là gì? (Tạp chí Ngôn ngữ,

số 2/2005) của Nguyễn Hòa, Thực hành phân tích diễn ngôn bài Lá rụng (Tạp chí Ngôn ngữ, số 2/2009) của Diệp Quang Ban, Một vài dạng cấu trúc nhân quả khó nhận biết trong

diễn ngôn nghệ thuật ngôn từ (Tạp chí Ngôn ngữ, số 4/2009) của Nguyễn Văn Thành,…

Như vậy, đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến những vấn đề liên quan đến phân tích diễn ngôn Ở khía cạnh chung nhất, những công trình này đều khẳng định được vai trò, vị trí của lý thuyết phân tích diễn ngôn trong quá trình tìm hiểu

và phân tích ngôn ngữ; nhấn mạnh những ưu điểm của lý thuyết phân tích diễn ngôn so với những ngành khoa học liên quan, góp phần hình thành lên hướng nghiên cứu ngôn ngữ mới: ngôn ngữ trong quá trình sử dụng

1.1.1.2 Về thực tiễn vận dụng lý thuyết phân tích diễn ngôn vào nghiên cứu các thể loại diễn ngôn trong tiếng Việt

Mặc dù lý thuyết phân tích diễn ngôn du nhập vào Việt Nam khá muộn, tuy nhiên cho đến nay, số lượng công trình nghiên cứu bậc tiến sĩ và thạc sĩ ứng dụng lý thuyết này tương đối nhiều, nhất là những năm gần đây Có thể nêu ra một số hướng ứng dụng sau:

Thứ nhất là những công trình ứng dụng lý thuyết phân tích diễn ngôn sử dụng cứ

liệu ngôn ngữ trong các văn bản chính trị - xã hội

Về luận án: Trong công trình Khảo sát chức năng ngôn ngữ văn bản quản lý nhà

nước qua phương pháp phân tích diễn ngôn [30], Nguyễn Thị Hà (2010) đã áp dụng

đường hướng phân tích diễn ngôn phê phán chức năng hệ thống do Kress và Fairclough xây dựng để tiến hành phân tích ba siêu chức năng ngôn ngữ theo quan điểm của Halliday, qua đó thấy được sự hiện thực hóa quyền lực trong văn bản quản lý Nhà nước cũng như sự tác động của các chức năng ngôn ngữ đến chất lượng và hiệu quả của văn bản quản lý Nhà nước

Trang 28

Tác giả Đỗ Thị Xuân Dung (2015) trong công trình Đối chiếu đặc điểm diễn ngôn

khẩu hiệu tiếng Anh và tiếng Việt [20] đã sử dụng đường hướng phân tích diễn ngôn phê

phán (CDA) với khung lý thuyết ngữ pháp chức năng hệ thống trên cơ sở các siêu chức năng của ngôn ngữ để mô tả một cách hệ thống các đặc điểm ngôn ngữ của khẩu hiệu chính trị - xã hội tiếng Anh và tiếng Việt thông qua các đặc điểm sử dụng từ ngữ, cấu trúc ngữ pháp và cấu trúc diễn ngôn, qua đó góp phần chứng minh diễn ngôn không chỉ

là một tập quán xã hội mà còn là sự thể hiện của các mặt xã hội đó; đồng thời, tác giả cũng làm rõ thái độ, hệ tư tưởng và quyền phát ngôn của người phát ngôn khẩu hiệu, định hướng những chiến lược xây dựng các khẩu hiệu đúng, thuyết phục vừa mang tính khoa học vừa mang tính nghệ thuật và có giá trị giao tiếp cao

Trần Thị Thùy Linh (2016) trong công trình Nghiên cứu ngôn ngữ văn bản hợp

đồng tiếng Việt từ bình diện Phân tích diễn ngôn [59] đã dựa vào các mô hình lý thuyết

ngữ vực và phương pháp phân tích thể loại để nghiên cứu ngôn ngữ văn bản hợp đồng tiếng Việt thông qua những đặc trưng về Trường, đặc trưng về Ý chỉ và đặc trưng về Phương thức Từ kết quả đạt được, tác giả đã nhấn mạnh đến các chức năng của ngôn ngữ trong các tình huống giao tiếp, vai trò của nó trong phát ngôn nhằm đạt được một mục đích cụ thể nào đó trong giao tiếp

Bên cạnh đó cũng có nhiều công trình là luận văn thạc sĩ hay những công trình nghiên cứu khác đã dựa vào những nguyên lý CDA và Ngữ pháp chức năng hệ thống của Halliday với cơ sở là mô hình phân tích CDA của Fairclough để phân tích mối quan hệ giữa ngôn ngữ và xã hội, đặc biệt thể hiện quyền lực và hệ tư tưởng của người nói trong các bài phát biểu của các nhà chính trị lớn trên thế giới hoặc ngôn ngữ báo chí, truyền hình hay các tác phẩm văn học ký Tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này là những công trình của các tác giả Trần Thị Hồng Vân (2005), Lý Thị Thanh Yên (2006), Hoàng Nguyệt Anh (2008), Đặng Thị Anh Thư (2010), Nguyễn Thị Phương Nam (2011), Hà Thị Phước (2015),

Thứ hai là những công trình ứng dụng lý thuyết phân tích diễn ngôn sử dụng cứ

liệu là ngôn ngữ trong các tác phẩm văn học

Về luận án, Vũ Văn Lăng (2013) trong đề tài Một số tác phẩm của Nam Cao dưới

ánh sáng của phân tích diễn ngôn và dụng học [58] đã kết hợp giữa hai lý thuyết phân

tích diễn ngôn và dụng học để tập trung vào tìm hiểu và phân tích các vấn đề bố cục và thời gian trong truyện, các lớp nhân vật, yếu tố lập luận, cách dùng từ ngữ và một số dấu hiệu ký hiệu học xã hội, Qua đó, tác giả đã làm rõ nội dung chứa đựng trong tác phẩm trên cơ sở các chứng cứ ngôn ngữ có trong tác phẩm như nội dung sự việc được trình bày, tính cách và cách nhìn của nhân vật, tình huống vật lý và tình huống xã hội - văn hóa liên quan đến đề tài tác phẩm cũng như cả quan điểm và bút pháp của tác giả

Trong khi đó, đối với những đề tài là luận văn thạc sĩ, tùy vào mục đích nghiên cứu

cụ thể cũng như đặc trưng cơ bản của đối tượng nghiên cứu, các tác giả đã sử dụng những đường hướng phân tích diễn ngôn khác nhau, thậm chí chỉ áp dụng một vài vấn đề nhỏ của một đường hướng nào đó Chẳng hạn, Phạm Thị Thu Trang (2008) ứng dụng những quan điểm của diễn ngôn hội thoại, diễn ngôn phê phán; Quách Thị Thanh Nhàn (2014) tiếp cận đối tượng từ hai góc độ ngữ vực với các trường, thức, không khí chung

Trang 29

và góc độ mạch lạc và liên kết; trong khi đó, Lê Thị Thảo Nguyên (2015) lại xuất phát từ

những quan điểm của Halliday về các chức năng siêu ngôn ngữ hay mô hình tam phân

ngữ pháp chức năng hệ thống để tìm hiểu các đặc điểm từ ngữ, cấu trúc cú pháp cũng

như cấu trúc diễn ngôn của đối tượng nghiên cứu,…

Như vậy, cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu ứng dụng lý thuyết

phân tích diễn ngôn hoặc những vấn đề liên quan đến phân tích diễn ngôn đã được thực

hiện Trong các công trình này, tùy vào mục đích nghiên cứu cụ thể cũng như đặc trưng

văn bản của đối tượng nghiên cứu, các tác giả đã lựa chọn đường hướng và các khung lý

thuyết khác nhau để thực hiện đề tài của mình Trong đó, đối với những công trình sử

dụng cứ liệu ngôn ngữ trong các văn bản chính trị - xã hội, các tác giả chủ yếu dựa vào

những quan niệm của ngữ pháp chức năng hệ thống của Halliday về các chức năng ngôn

ngữ làm khung lý thuyết nghiên cứu Đây cũng chính là hướng đi của đề tài luận án của

chúng tôi Những đường hướng lựa chọn cũng như cách thức tiếp cận đối tượng và kết

quả nghiên cứu của những công trình ứng dụng trên sẽ là những gợi ý làm cơ sở quý giá

để chúng tôi có thể tham khảo cho quá trình thực hiện đề tài

1.1.2 Tình hình nghiên cứu về văn chính luận Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh

a Các nghiên cứu ở nước ngoài

Số lượng công trình nghiên cứu về văn thơ Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh của

các tác giả nước ngoài đến nay vẫn chưa thể xác định được chính xác Dưới đây là một

số nhận xét tiêu biểu của những nhà nghiên cứu nước ngoài đối với văn chính luận của Người:

Tờ World Daily, sau ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh mất, đã đăng liên tiếp nhiều bài

viết dưới tiêu đề Di sản của Hồ Chí Minh Chẳng hạn, số báo ra ngày 20-9-1969 đã nhấn

mạnh đến sự tác động của những tác phẩm chính luận Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp giải

phóng dân tộc trên thế giới: “Nhà lãnh đạo Việt Nam vĩ đại này đã để lại một di sản tinh

thần thôi thúc ý chí mọi người và thúc đẩy những hành động lớn lao trong sự nghiệp tự do

và chủ nghĩa Cộng sản trong các nhà cách mạng trên toàn thế giới!” [104] Quan điểm

này cũng được thể hiện rất rõ trong bài Một anh hùng của thời đại chúng ta [72, tr 139]

của nhà nghiên cứu Cuba – Rơnê đơ Pêstrê; ngoài ra, trong bài viết này, tác giả còn nhấn

mạnh đến dấu ấn tinh tế, sinh động và sáng tạo của Người trong cách thể hiện tư tưởng,

nội dung phản ánh

Nhà nghiên cứu Niculin hướng đến bàn luận về giá trị của những luận cứ trong văn

chính luận của Người Khi nghiên cứu Bản án chế độ thực dân Pháp, tác giả cho rằng:

“Bằng giọng cáo trạng dựa trên những chứng cớ sắc cạnh đầy sức thuyết phục, cuốn

sách đã xây dựng hình tượng khái quát về tên thực dân ở châu Á và các nước châu Phi”

[đã dẫn: 66, tr 246]

Trong khi đó, Bớcset (Úc) lại hướng đến một khía cạnh khác khi nhấn mạnh đến

lối trình bày ngắn gọn, dùng những hình ảnh trong sáng của Hồ Chủ tịch để phản ánh

mọi vấn đề, thậm chí cả những vấn đề phức tạp nhất [70, tr 621-622]

Nhà nghiên cứu Apđen Malếch Khalin (Cộng hòa Ả Rập thống nhất) bên cạnh ngợi

ca sự đa dạng trong cách thức trình bày còn có những nhận xét đầy tinh tế về nghệ thuật

Trang 30

châm biếm đả kích trong văn chính luận Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh: “Lần đầu tiên

thế giới được thấy vị Chủ tịch của một Đảng Cộng sản kết hợp chặt chẽ văn học với

chính trị, kết hợp bài thơ với những con số ( ) Trước đây cũng vậy, những lời châm

biếm mỉa mai của Cụ đã từng là những ngọn roi quất mạnh vào lưng bọn chúa tể ở Pháp

và các nơi khác” [70, tr 522-523]

Hướng đến những giá trị tinh thần biểu hiện trong các tác phẩm chính luận

Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, Sac-lơ Phuôc-ni-ô (Pháp) cho rằng: “Đây không phải

là một thói quen trong cách sử dụng ngôn ngữ mà đây chính là một nếp suy nghĩ của

Người, nếp suy nghĩ ấy thể hiện ra như vậy, làm cho người ta thấy rằng tất cả mọi tình

huống dù là đen tối nhất, Người đã phân biệt rõ cái gì là tích cực, cái gì hướng về cuộc

sống tương lai” [72, tr 518-519]

Nhìn chung, những nghiên cứu về văn chính luận Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh

của các tác giả nước ngoài cơ bản mang tính khái quát, đồng thời tập trung vào nghiên

cứu về hình tượng của tác giả cũng như tư tưởng, nội dung và nghệ thuật nói chung,

chưa có những bài viết thực sự chuyên sâu về vấn đề ngôn ngữ

b Các nghiên cứu ở Việt Nam

b1 Những nghiên cứu chung về ngôn ngữ văn chính luận Nguyễn Ái Quốc –

Hồ Chí Minh

Thứ nhất, về vấn đề sử dụng từ ngữ: Cho đến nay đã có rất nhiều bài viết nghiên

cứu nhiều góc nhìn khác nhau về vấn đề sử dụng từ ngữ trong các tác phẩm chính luận

Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh như: khẳng định giá trị nghệ thuật trong cách Người sử

dụng lớp từ ngữ gắn liền với lời ăn tiếng nói của quần chúng, tiếng nói của dân tộc hay

vấn đề sử dụng từ Hán Việt, sử dụng thành ngữ Bên cạnh đó, vấn đề hình tượng hóa ngữ

nghĩa của danh từ thuần Việt, vấn đề tạo nghĩa mới cho từ trong quá trình sử dụng ngôn

ngữ của Người cũng được đánh giá dưới góc nhìn nghệ thuật độc đáo Đồng thời, một

khía cạnh khác cũng được các nhà nghiên cứu rất quan tâm đó chính là cách sử dụng

ngôn ngữ một cách khéo léo trong mục đích châm biếm, đả kích kẻ thù Tìm hiểu về vấn

đề này có một số bài viết tiêu biểu sau đây:

Đào Thản và Hoàng Văn Hành trong Những nét đặc sắc trong ngôn ngữ Hồ Chí Minh

[99, tr 86] nhấn mạnh đến khía cạnh Người đã phát huy những khả năng tiềm tàng của

tiếng nói dân tộc cũng như sử dụng hiệu quả vốn từ khẩu ngữ của quần chúng Cùng

quan điểm này, Nguyễn Phan Cảnh trong bài viết Bước đầu tìm hiểu ngôn ngữ Hồ Chủ

tịch qua những lời kêu gọi [103] cũng đã khẳng định những giá trị của cách Người sử

dụng những từ khẩu ngữ cũng như những lớp từ ngữ thường dùng (lớp từ dùng chung

cho mọi thành viên trong xã hội)

Trong khi đó, trong công trình Hồ Chí Minh, tác gia, tác phẩm nghệ thuật ngôn từ

Nguyễn Như Ý lại nhấn mạnh đến tính sáng tạo và cách sử dụng tài tình lớp từ ngữ trong

từng hoàn cảnh cụ thể khi khẳng định: “Với vật liệu sẵn có của tiếng ta, Người đã sáng

tạo ra một số từ ngữ mới, một số ca dao, tục ngữ mới mà hiện nay mọi người chúng ta

đã quen dùng ( ) Thông qua những sáng tạo của mình về từ ngữ, về cách diễn đạt,

Người đóng góp cho sự phát triển ngôn ngữ, thậm chí ảnh hưởng lớn đến chiều hướng

Trang 31

phát triển của ngôn ngữ tiếng Việt” [103, tr 209]

Cũng đề cập đến vấn đề sử dụng vốn từ và sức mạnh của từ ngữ mang lại qua cách

dùng của Người, Nguyễn Văn Tu trong bài viết Hồ Chí Minh sử dụng tài tình từ vựng để

đả kích kẻ địch lại nghiên cứu kỹ cách Chủ tịch Hồ Chí Minh sử dụng từ vựng để đả kích

kẻ thù như: khai thác triệt để vốn đại từ chỉ người trong tiếng Việt; cách chơi chữ trong

phiên âm; cách rút gọn từ làm phương tiện châm biếm; cách dùng từ có nghĩa tốt với ý

trái ngược; cách dùng từ nghĩa xấu để trực tiếp đả kích kẻ địch; cách dùng tiếng Pháp,

tiếng Anh xen với tiếng Việt; cách lảy Kiều để đả kích kẻ thù; cách dùng từ chỉ động vật

để chỉ người, gây sắc thái đả kích, [99, tr 190]

Đi tìm hiểu một khía cạnh khác của từ ngữ trong ngôn ngữ Hồ Chí Minh,

Hoàng Tuệ trong bài Học tập văn phong Hồ Chủ tịch đã nhấn mạnh đến đặc điểm hình

tượng hóa ngữ nghĩa của danh từ thuần Việt Theo tác giả: “Chỉ cần một danh từ để nêu lên

một sự vật biểu trưng là có thể làm cho tư duy được thu hút vào đó, rồi lại từ đó triển khai

tầng tầng lớp lớp vào những địa hạt cao, sâu của tư tưởng, tình cảm Chính nhờ có vậy mà

hình tượng lắng đọng vào tâm trí, qua một lời văn súc tích, ngắn gọn” [103, tr 712]

Trong bài Tiền đề và chiều sâu của một phong cách lớn [103], Nguyễn Lai đã có

những phát hiện thú vị về hiện tượng tạo nghĩa trong ngôn ngữ Hồ Chí Minh Từ những

từ ngữ thông thường, Người đã tạo thêm cho chúng những nét nghĩa mới thông qua việc

kết hợp chúng với những từ ngữ khác biểu hiện ở xu thế mở rộng đơn vị nhỏ thành tập

hợp mới để phát hiện mối liên hệ nội tại mới giữa thuộc tính và sự vật nói chung

Với phương pháp thống kê, Nguyễn Đức Dân trong bài Từ vựng trong ngôn ngữ

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiến hành nghiên cứu độ phân bố của các loại từ trong văn

chính luận và văn tiểu phẩm dựa trên các tiêu chí cơ bản là khả năng hoạt động độc lập,

tính hoàn chỉnh về kết cấu ngữ âm, ngữ nghĩa và ngữ pháp để vạch ranh giới của từ Qua

kết quả khảo sát, tác giả cho thấy, xuất phát từ đặc trưng thể loại, trong văn chính luận có

xu hướng Việt hóa ngôn ngữ nhưng cũng có hiện tượng “từ thuần Việt nhường chỗ cho

từ Hán Việt tương ứng” [100, tr 295]

Thứ hai, về vấn đề xây dựng câu văn Đây cũng là vấn đề được nghiên cứu với

nhiều kết quả khác nhau như: tính linh hoạt trong việc xây dựng các kiểu cấu tạo câu;

câu văn thường ngắn gọn, sáng sủa, chính xác nhưng cũng rất linh hoạt, tinh tế và giàu

biểu cảm; trong câu văn luôn có tính nhạc nhờ các yếu tố nhạc điệu và nhịp điệu; câu

văn luôn có sự phong phú khác thường về lượng thông tin ngữ nghĩa, Tiêu biểu viết về

vấn đề câu là một số công trình sau đây:

Lê Xuân Thại trong bài Câu văn của Bác Hồ đã tiến hành phân tích những đặc

điểm nổi bật trong cách chọn lựa và xây dựng câu văn của Người như việc cân nhắc

những kiểu cấu tạo khác nhau, tuy nội dung cơ bản giống nhau; việc cân nhắc dùng trật

tự từ nào thỏa đáng nhất; việc sử dụng lối đảo trật tự hay dựa vào các hư từ để nhấn

mạnh ý câu, cách dùng lối phủ định - khẳng định, cách đưa bổ ngữ của câu lên phía

trước làm chủ đề logic của câu, sự đa dạng của các loại câu: câu kể, câu hỏi, câu cảm

thán, câu mệnh lệnh, Từ đó, tác giả khái quát tác dụng của câu văn trong ngôn ngữ của

Người: “Câu văn của Bác ngắn gọn, sáng sủa nên dễ hiểu, dễ nhớ; câu văn của Bác tinh

tế, chính xác nên nói được đúng ý, đúng tình”,… [99, tr 84]

Trang 32

Trong bài Những nét đặc sắc trong ngôn ngữ Hồ Chủ tịch, hai tác giả Đào Thản

và Hoàng Văn Hành khi nhận xét về cách viết câu của Người lại nhấn mạnh vào yếu

tố nhạc điệu và nhịp điệu Các tác giả bài viết nhận định: Trong nhiều trường hợp,

Hồ Chủ tịch đã “chọn lựa từ ngữ hoặc thay đổi trật tự từ trong câu nhằm đảm bảo sự

hài hòa về âm thanh của lời nói trong một số bài văn (…) Câu văn của Người vì thế có

cái nhịp nhàng uyển chuyển của câu văn cổ điển, kết hợp với cái phóng khoáng tự

nhiên của lời nói hàng ngày, đôi lúc phảng phất một lối “thơ bằng văn xuôi” hết sức

gợi cảm” [99, tr 94]

Đái Xuân Ninh trong bài Lượng thông tin ngữ nghĩa trong câu văn của Chủ tịch

Hồ Chí Minh [100] lại đi tìm hiểu sự phong phú khác thường về lượng thông tin ngữ

nghĩa Cùng quan điểm với Lê Xuân Thại về sự ngắn gọn trong câu văn của Người, tác

giả còn nhấn mạnh những yếu tố tạo sức nặng truyền tải nội dung trong đó như: rút gọn,

xử lý hợp lý những yếu tố dư thừa trong thông báo; lựa chọn những yếu tố có giá trị

thông báo cao, có tính chất bất ngờ; vấn đề sử dụng các biện pháp tu từ từ vựng; yếu tố

tiền giả định,

Có thể kể thêm một số tác giả cũng đã ít nhiều đề cập đến vấn đề câu như Đào Thản

và Hoàng Văn Hành trong Những nét đặc sắc trong ngôn ngữ của Hồ Chủ tịch [103],

Nguyễn Phan Cảnh trong bài Bước đầu tìm hiểu ngôn ngữ Hồ Chủ tịch qua những lời

kêu gọi [103], Vũ Thị Sao Chi trong Nhịp điệu văn chính luận Hồ Chí Minh trên nền

nhịp điệu thơ văn Việt Nam [15],

Thứ ba, về phương thức tổ chức văn bản Tổ chức văn bản là một trong những nội

dung quan trọng của bất kỳ giai đoạn nào của lịch sử nghiên cứu ngôn ngữ Với những

tác phẩm của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, đặc biệt là những tác phẩm văn chính

luận, vấn đề này cũng được giới nghiên cứu quan tâm và bàn đến nhiều khía cạnh khác

nhau như: lối diễn đạt logic, chặt chẽ cùng hệ thống luận cứ, luận điểm sắc bén kết hợp

với cách dùng từ, cách đặt câu độc đáo; bên cạnh đó, các vấn đề như nhịp điệu, nghệ

thuật lảy Kiều, cũng là những yếu tố quan trọng góp phần vào quá trình hình thành và

tổ chức nên một văn bản vừa có tính nghệ thuật cao vừa truyền tải được nội dung một

cách sâu sắc, hiệu quả

Bàn về tính logic và lập luận chặt chẽ có các bài: Bước đầu tìm hiểu ngôn ngữ

Hồ Chủ tịch qua những lời kêu gọi của Nguyễn Phan Cảnh [103], Một số suy nghĩ trong

khi tìm hiểu di sản của Hồ Chủ tịch về ngôn ngữ của Nguyễn Kim Thản [103], Phương

pháp nghiên cứu thơ văn Hồ Chí Minh của Nguyễn Đăng Mạnh [103], Trong những

bài viết này, các tác giả đã chỉ ra: sự trình bày một cách đúng đắn hệ thống luận điểm

trong trình tự logic, tránh sự phức tạp, chủ yếu là chú ý đến nội dung; dùng rộng rãi

trong các hình thức suy lý diễn dịch, nhất là suy ý tỉnh lược và tam đoạn luận phức hợp;

cách viết rõ ràng, dẫn chứng sát thực; sức thuyết phục tập trung ở chỗ đưa ra những lý lẽ

đanh thép, những lập luận chặt chẽ, những bằng chứng không ai chối cãi được,…

Như vậy, với nhiều khía cạnh và góc độ nghiên cứu khác nhau, những bài viết đã

khẳng định những giá trị đắc dụng trong quá trình phản ánh nội dung của nghệ thuật xây

dựng và triển khai từ ngữ, câu, tổ chức văn bản trong văn chính luận Nguyễn Ái Quốc –

Hồ Chí Minh Tuy nhiên, các bài viết này đều nghiên cứu dưới quan điểm của ngữ pháp

Trang 33

học truyền thống, ít đặt nó trong vai trò là ngôn ngữ hành chức theo quan điểm của hướng

nghiên cứu hình thức luận, xem xét dưới góc độ chức năng nên chủ yếu hướng về giá trị

biểu hiện, phản ánh nội dung, sự tình Do đó có thể nói, các vấn đề nghiên cứu về từ ngữ,

câu và tổ chức văn bản có nhiều vấn đề còn bỏ ngỏ, đặc biệt nếu như chúng ta đặt nó dưới

góc nhìn phân tích diễn ngôn – một trong những hướng nghiên cứu ngôn ngữ mới

b2 Những nghiên cứu về chiến lược giao tiếp ngôn ngữ văn chính luận Nguyễn Ái Quốc

– Hồ Chí Minh

Chiến lược giao tiếp là một trong những nội dung rất đáng chú ý của thể loại văn

chính luận Với mục đích nhằm thuyết phục người nghe một cách hiệu quả nhất trong

quá trình giao tiếp, người sử dụng ngôn ngữ sẽ tiến hành lựa chọn ngôn ngữ cũng như

cách thức sử dụng ngôn ngữ sao cho phù hợp với từng đối tượng tiếp nhận và trong

những ngữ cảnh giao tiếp cụ thể Đây cũng là một trong những nội dung cơ bản của lý

thuyết phân tích diễn ngôn khi nó quan tâm đến mối quan hệ giữa ngôn ngữ và người sử

dụng ngôn ngữ, quan tâm đến cách người nói/ người viết đã lựa chọn ngôn ngữ như thế

nào trong việc thể hiện mục đích của mình Đặc điểm này cũng được một số công trình

nghiên cứu văn chính luận Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh quan tâm, đề cập

Trong bài Văn Pháp rất Pháp của Nguyễn Ái Quốc, Phạm Huy Thông cũng đánh

giá rất cao chiến lược giao tiếp ngôn ngữ của Nguyễn Ái Quốc khi Người hoạt động trên

đất Pháp những năm 20 của thế kỷ XX Tác giả bài viết đã trình bày một số đặc điểm

ngôn ngữ Nguyễn Ái Quốc mang đậm dấu ấn phong cách và văn hóa, tâm lý của người

Pháp Đó là giọng văn vừa dí dỏm, hài hước, vừa tả chân sinh động nhưng cũng vừa

thắm thiết trữ tình, xúc động Phạm Huy Thông đưa ra dẫn chứng: “Cùng trong một bài

viết với hai đoạn văn trên, là đoạn văn này, khác hẳn, cũng là tả chân, cũng là hiện thực,

mà rung động sâu xa, mà thắm thiết trữ tình” [100, tr 186] Tác giả còn nhấn mạnh,

trong ngôn ngữ thường ngày của người bình dân Pháp, trong văn viết báo thông thường

của Nguyễn Ái Quốc, chêm được vào cái gì cho vui, cho nhộn, thì người Pháp chêm, và

Nguyễn Ái Quốc chêm Lấy cợt mỉa làm thủ pháp thường trực và coi châm biếm là vũ

khí lợi hại, là Người đã hòa nhập tư duy Pháp khi viết tiếng Pháp

Đặng Anh Đào trong bài viết Nơi giao thoa nhiều tiếng nói trong ngôn ngữ

Hồ Chí Minh cũng đã có một cái nhìn khái quát và tương đối toàn diện về vấn đề lựa

chọn ngôn ngữ và phong cách viết của Người để phù hợp với từng ngữ cảnh cụ thể Đó

là sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa ngôn ngữ và phong cách Việt trong văn Pháp, giữa ngôn

ngữ và phong cách Việt trong thơ Đường, giữa ngôn ngữ và phong cách Pháp trong văn

Việt Tác giả bài viết nhận định: “Sự hòa lẫn giữa các ngôn ngữ và phong cách khác

nhau không đơn giản chỉ là vấn đề người viết mà còn là vấn đề người đọc Có nghĩa, nó

có mục đích tác động đến người đọc, truyền tải cho họ những nội dung, tình cảm của

Người một cách hiệu quả nhất” [103, tr 780]

Nguyễn Xuân Hòa trong bài Chủ tịch Hồ Chí Minh sử dụng từ ngữ và thành ngữ

trong giao tiếp đã nhận định: “Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chú ý đến mục đích, đối tượng

liên cá nhân (người phát ngôn và người tiếp nhận) và hoàn cảnh giao tiếp, mà trong

Trang 34

giao tiếp thì phát ngôn của người nói hay người viết vừa là sản phẩm vừa là phương tiện

của chính họ Bởi vậy, chủ trương của Bác là nội dung của bài nói, bài viết phải có sức

tác động đến người nghe, người đọc” [46, tr 75]

Trong công trình Thử nghiên cứu phong cách ngôn ngữ Chủ tịch Hồ Chí Minh trên

quan điểm Lý thuyết giao tiếp ngôn ngữ, xuất phát từ việc nêu lên bốn luận điểm cơ bản

của Lý thuyết giao tiếp ngôn ngữ, Nguyễn Như Ý đã đi tìm hiểu, phân tích chiến lược

giao tiếp của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong cách sử dụng ngôn ngữ Tác giả cho rằng, ở

khía cạnh nào, Người cũng lựa chọn cho mình cách ứng xử ngôn ngữ khôn khéo để đạt

được mục đích cuối cùng là thuyết phục được người nghe, người đọc một cách tốt nhất

Sau cùng, tác giả nhận định: “Đặc điểm ngôn ngữ của Chủ tịch Hồ Chí Minh được phản

ánh trong ngôn ngữ của toàn bộ các tác phẩm do Người sáng tạo ra trong các thời kỳ

lịch sử khác nhau” [100, tr 50]

Nhấn mạnh đến vai trò của ngôn ngữ Hồ Chí Minh trong việc gìn giữ và phát huy

chiều sâu văn hóa của dân tộc, Nguyễn Lai trong bài viết Chiều sâu văn hóa trong tầm

nhìn ngôn ngữ Hồ Chí Minh đã đặc biệt chú ý đến mối quan hệ giữa ngôn ngữ và mục

đích sử dụng, gắn nó với sự phát triển của nhân dân và quá trình đấu tranh cách mạng

Theo tác giả: “Để đặt mục tiêu ngôn ngữ vào định hướng hành động theo đường lối quần

chúng như Hồ Chí Minh đã làm, về một phương diện nào đó, có thể hiểu là Nhà Văn

Hóa Lớn Hồ Chí Minh đã trực tiếp tạo ra bước ngoặt quan trọng để làm gia tăng hàm

lượng văn hóa mới – cả nội dung lẫn hình thức – ngay từ trong cơ chế ngôn ngữ; và,

trong sự điều chỉnh rất tinh vi mang ý nghĩa cách mạng văn hóa trong lòng ngôn ngữ để

nâng cao dân trí theo một hướng chiến lược mới gắn liền với quá trình phát triển cách

mạng này…” [55, tr 17]

Tính mục đích trong cách viết cũng là được nhiều tác giả quan tâm như: Một vài

suy nghĩ về các phương thức tổ chức văn bản trong ngôn ngữ của Bác Hồ của

Trần Ngọc Thêm [84], Tiền đề và chiều sâu của một phong cách lớn của Nguyễn Lai

[103], Phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh của Đặng Xuân Kỳ [52], Trong khi

Trần Ngọc Thêm khẳng định: "Trong các bài nói viết của Hồ Chí Minh không có một

bài nào là không có tính mục đích" thì Đặng Xuân Kỳ cũng cho rằng: “Khi viết, khi nói

Người luôn định rõ chủ đề, mục đích và đối tượng tiếp nhận”

Như vậy, các bài viết nêu trên đã có những góc nhìn khái quát về chiến lược giao

tiếp trong cách lựa chọn và sử dụng ngôn ngữ nhằm phù hợp với từng đối tượng tiếp

nhận, từng ngữ cảnh cụ thể Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu trên chưa nghiên

cứu đối tượng một cách hệ thống, chưa nhìn nhận ngôn ngữ như một thực thể xã hội,

chưa đặt nó trong mối quan hệ biện chứng với các yếu tố ngữ cảnh giao tiếp, do đó chưa

thực sự nghiên cứu ngôn ngữ dưới quan điểm của ngôn ngữ hành chức

Văn chính luận Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh cũng là địa hạt thu hút nghiên cứu

sinh, học viên cao học và sinh viên tham gia tìm hiểu, nghiên cứu

Về luận án, Nguyễn Xuân Lan (1994) trong Các công trình nghiên cứu phê bình

văn thơ Hồ Chí Minh: Tình hình tư liệu, những quan điểm tiếp cận, các vấn đề [56]

Trang 35

không trực tiếp nghiên cứu về văn thơ Hồ Chí Minh mà tập hợp, khảo sát và tổng kết các bài nghiên cứu, phê bình từ năm 1945 đến 1994 về văn thơ của Người trên các bình diện: quan điểm nghệ thuật, các tác phẩm văn xuôi và thơ Vì vậy, những kết luận của luận án chỉ mang tính khái lược chứ không đi sâu cụ thể vào nghiên cứu một vấn đề nào đó, đặc biệt là vấn đề ngôn ngữ

Vũ Thị Sao Chi (2008) trong công trình Nhịp điệu văn chính luận Hồ Chí Minh

trên nền nhịp điệu thơ văn Việt Nam đã đi vào tìm hiểu và phân tích những giá trị nhịp

điệu trong văn chính luận Hồ Chí Minh như: nhịp điệu – nhân tố góp phần tạo nên tính nhạc cho câu văn; nhịp điệu là tiếng vang cộng hưởng cho nội dung ý nghĩa; nhịp điệu khơi gợi, gia tăng cảm xúc; nhịp điệu góp phần thể hiện mạch tư duy logic, sắc sảo và

nhịp điệu góp phần thể hiện tính hùng biện, sôi nổi Từ đó, tác giả đi đến kết luận: “Tâm

hồn, trí tuệ, tài năng kết hợp với tính nhân dân sâu sắc đã kết tinh nên những chân giá trị cao đẹp trong ngôn ngữ của Chủ tịch Hồ Chí Minh mà nhịp điệu chính là một yếu tố biểu hiện sinh động và sâu sắc” [15, tr 130]

Trong công trình Phân tích diễn ngôn có nội dung kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí

Minh (giai đoạn 1941 - 1969) [75], tác giả Phạm Nguyên Nhung (2016) đã dựa trên lý

thuyết về phân tích diễn ngôn và phân tích diễn ngôn phê phán để tiến hành nghiên cứu đối tượng trên ba bình diện: thông điệp, liên nhân và tác động Từ đó, không chỉ làm rõ chức năng tác động của ngôn từ, những ảnh hưởng đối với người tiếp nhận các thông điệp mà còn nhấn mạnh đến những biểu hiện quyền lực thông qua chiến lược giao tiếp, cách lựa chọn từ để xưng hô hoặc qua ngữ cảnh ra lời kêu gọi

Bên cạnh đó còn có rất nhiều công trình nghiên cứu là luận văn thạc sĩ Mỗi công trình lại có những phương pháp tiếp cận khác nhau để tìm hiểu, nghiên cứu những khía cạnh khác nhau về văn chính luận Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh Chẳng hạn:

– Nghiên cứu về từ Hán Việt: Nguyễn Thị Hương (2008) quan tâm đến liên từ gốc Hán Việt và các liên từ Hán Việt Việt hóa trong các tác phẩm văn chính luận của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh; Vũ Đình Tuấn (2013) lại khái quát những đặc điểm về hình thức và ngữ nghĩa của từ Hán Việt cũng như nhấn mạnh đến giá trị trong việc lựa chọn, sử dụng số lượng cũng như các từ Hán Việt của Người trong mục đích viết cho từng đối tượng khác nhau

– Nghiên cứu về nghệ thuật lập luận: Nguyễn Thị Thanh Bình (2006) tìm hiểu lập

luận trong văn chính luận Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh theo hai hướng: lập luận tường minh và lập luận ngầm ẩn; trong khi đó, Nguyễn Hoàng Anh (2014) lại dựa trên

cơ sở lý thuyết về phân tích diễn ngôn và lý thuyết lập luận để tiến hành tìm hiểu hai vấn đề: các đặc trưng về kiểu loại trong lập luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh và sự biểu hiện quyền lực trong lập luận của Người thông qua các phương diện như hệ thống từ xưng hô,

động từ ngữ vi hay thông qua phép lịch sự

– Nghiên cứu về phong cách, đặc điểm ngôn ngữ Hồ Chí Minh có các công trình của các tác giả như Nguyễn Thị Hồng Hạnh (2007), Hồ Thị Hà (2008), Trần Thị Thắm (2011), Phan Văn Khoa (2014) Mặc dù phạm vi nghiên cứu cũng như cách tiếp cận khác nhau nhưng các tác giả đều tiến hành nghiên cứu một cách cụ thể và có hệ thống

Trang 36

những đặc trưng ngôn ngữ của Người trên các phương diện: nghệ thuật dùng từ ngữ, nghệ thuật dùng câu và nghệ thuật lập luận hay các biện pháp tu từ ngữ âm và biện

pháp tu từ cú pháp

Như vậy có thể thấy, văn chính luận Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã được rất nhiều người quan tâm nghiên cứu Trong đó có những công trình dài hơi và những bài báo nghiên cứu về một bình diện cụ thể như vấn đề sử dụng từ ngữ, vấn đề đặt câu, vấn

đề tổ chức văn bản, vấn đề phong cách, chiến lược giao tiếp ngôn ngữ, với những góc nhìn và quan điểm đa dạng, phong phú Chúng tôi rút ra một số nhận xét cơ bản sau:

– Đối với vấn đề nghiên cứu từ ngữ: Những công trình nghiên cứu chủ yếu hướng

tới đánh giá những giá trị biểu hiện thông qua việc nhìn nhận các đối tượng phản ánh qua từ ngữ chỉ là những danh từ, những sự vật nói chung Ngược lại, với khung lý thuyết

đã lựa chọn chúng tôi nhìn nhận các đối tượng được phản ánh là những đối tượng, sự vật

cụ thể, gắn vào từng tình huống giao tiếp cụ thể không chỉ có vai trò quan trọng trong các quá trình của cú biểu hiện mà còn thể hiện thái độ, quan điểm và cách đánh giá của tác giả Vì vậy, bên cạnh giá trị biểu hiện thông qua việc góp phần phản ánh nội dung lịch sử, nội dung xã hội, thì từ ngữ dưới góc nhìn của luận án còn tập trung vào việc nghiên cứu bình diện nghĩa liên nhân đồng thời tạo nên sự liên kết và tính mạch lạc cho việc triển khai chủ đề của diễn ngôn

– Vấn đề về câu thường được nghiên cứu ở góc độ ngữ pháp truyền thống qua việc

tìm hiểu kiểu cấu trúc duy nhất thể hiện qua mối quan hệ chủ - vị, do đó nhiều vấn đề về câu chưa được giải quyết đặc biệt là các vấn đề có liên quan đến nghĩa và hoạt động hành chức Trong luận án, chúng tôi sẽ đi tìm hiểu cú từ quan niệm của ngữ pháp chức năng hệ thống với các kiểu cấu trúc ngữ nghĩa của cú như: cấu trúc nghĩa biểu hiện (cung cấp những yếu tố liên quan đến hiện thực), cấu trúc nghĩa liên nhân (xác lập mối quan hệ giữa người tạo lập và người giải mã), và cấu trúc nghĩa văn bản (thực hiện vai trò tổ chức văn bản cũng như tạo nên mối liên hệ tổ chức mạch lạc của diễn ngôn)

– Cuối cùng là vấn đề nghiên cứu cấu trúc văn bản, các bài nghiên cứu chủ yếu là

hướng đến tìm hiểu các mối quan hệ tổ chức bên trong văn bản thông qua các phương tiện liên kết Trong khi đó, luận án sẽ nghiên cứu mô hình cấu trúc diễn ngôn trong mối quan hệ xã hội, mối quan hệ liên văn bản; đồng thời chúng tôi xem xét vấn đề mạch lạc

là yếu tố xuyên suốt không chỉ ở cấp độ cấu trúc diễn ngôn mà ở cả các yếu tố khác như ngôn từ và cấu trúc cú

1.2 Một số vấn đề lý luận chung

1.2.1 Lý thuyết phân tích diễn ngôn

1.2.1.1 Một số khái niệm cơ bản

a Khái niệm diễn ngôn (Discourse)

Trong lĩnh vực ngôn ngữ, nếu như các nhà cấu trúc luận quy diễn ngôn cho một đơn vị nào đó như câu, đoạn văn hoặc chương sách, thì các nhà chức năng luận lại xem xét khái niệm này một cách tổng thể hơn như ngôn ngữ hành chức hay tương tác xã hội

Trang 37

Theo hướng nghiên cứu chức năng luận, đã có rất nhiều tác giả đưa ra những quan điểm của mình về khái niệm diễn ngôn Dưới đây là một số khái niệm tiêu biểu:

Halliday và Hasan (1976) quan niệm, diễn ngôn gắn với chức năng giao tiếp của nó khi

nhấn mạnh: Văn bản (hay diễn ngôn) là đơn vị ngôn ngữ chức năng giao tiếp” [116, tr 43]

Widdowson (1984) đã đồng nghĩa hóa diễn ngôn với cách dùng chuỗi các câu để

tạo nên các hành vi giao tiếp nối kết thành các đơn vị giao tiếp lớn hơn khi định nghĩa:

Diễn ngôn là một quá trình giao tiếp Kết quả về mặt tình huống của quá trình này là sự thay đổi trong sự thể: thông tin được chuyển tải, các ý định được làm rõ, và sản phẩm của quá trình này là văn bản [130, tr 100]

Cùng quan điểm này, Van Dijk cũng cho rằng: “Diễn ngôn là sự kiện giao tiếp

diễn ra giữa người nói và người nghe (người quan sát…) trong tiến trình hoạt động giao tiếp ở một ngữ cảnh thời gian, không gian, hay những ngữ cảnh khác nào đó Hoạt động giao tiếp này có thể bằng lời nói, bằng văn viết, những bộ phận hợp thành của nó có thể bằng lời và không lời” [dẫn theo Lã Nguyên, 67]

Năm 1989, Cook [105] đã xác định sự khác biệt giữa diễn ngôn và văn bản dựa trên sự đối lập giữa chức năng và hình thức khi cho rằng, diễn ngôn như là các chuỗi ngôn ngữ được cảm nhận như có ý nghĩa, thống nhất và có mục đích còn văn bản là một chuỗi ngôn ngữ được hiểu một cách hình thức, nằm ngoài ngữ cảnh

Crystal (1992) cho rằng: “Diễn ngôn là một chuỗi nối tiếp của ngôn ngữ (đặc biệt

là ngôn ngữ nói) lớn hơn một câu, thường cấu thành một chỉnh thể có tính mạch lạc, kiểu như một bài thuyết giáo, lời tranh luận, truyện vui hoặc truyện kể” [107, tr 25] Với

quan niệm trên, chúng ta có thể thấy, diễn ngôn là thuật ngữ chỉ sự kiện giao tiếp có mục đích, thống nhất và có mạch lạc, được ghi nhận lại bằng văn bản

Kế thừa những quan niệm của Widdowson và của các nhà nghiên cứu khác,

Nguyễn Hòa cũng đã cho rằng: Diễn ngôn là sự kiện hay quá trình giao tiếp hoàn chỉnh

nhất có mục đích không có giới hạn được sử dụng trong các hoàn cảnh giao tiếp xã hội

cụ thể [41, tr 33]

Chúng tôi tán đồng quan điểm khái niệm về diễn ngôn của Widdowson vì đây là khái niệm cụ thể hơn cả Diễn ngôn, với tư cách là toàn bộ sự kiện giao tiếp (một quá trình giao tiếp) hoàn chỉnh có tính mục đích, thống nhất và có mạch lạc được ghi nhận lại bằng toàn bộ văn bản, nó còn bao gồm cả các yếu tố ngoài ngôn ngữ như ngữ cảnh

tình huống, yếu tố dụng học, và sự tác động của các chiến lược văn hóa (cultural

strategy) ở người sử dụng ngôn ngữ Là một sự kiện giao tiếp hoàn chỉnh, diễn ngôn

phải có tính chủ đề từ chủ đề bộ phận đến chủ đề chung, có mạch lạc Để tạo được mạch lạc, diễn ngôn không những phải thể hiện sự liên kết trên nhiều phương diện mà còn là sự tổ chức một cách hợp lý của các yếu tố quan yếu (có giá trị giao tiếp) tuân theo các quy tắc cần và đủ Bên cạnh đó, khái niệm còn nhấn mạnh đến sự tác động của các yếu tố tình huống ngoài ngôn ngữ đối với sự hoạt động của ngôn ngữ như các yếu

tố văn hóa, yếu tố dụng học và sự tác động của chúng đối với các chiến lược giao tiếp của người sử dụng ngôn ngữ

Trang 38

b Khái niệm phân tích diễn ngôn (Discourse Analysis – DA)

Thuật ngữ phân tích diễn ngôn cho đến nay đã được dùng với nhiều ý nghĩa khác

nhau trong rất nhiều lĩnh vực Nó được dùng để mô tả các hoạt động trong phạm vi có tính đan xen giữa các chuyên ngành có định hướng riêng như ngôn ngữ học xã hội, ngôn ngữ tâm lý học, ngôn ngữ triết học, ngôn ngữ học điện toán, Trong khi các nhà tâm lý học tập trung vào những vấn đề liên quan đến việc nhận thức ngôn ngữ; các nhà ngôn ngữ triết học và các nhà ngôn ngữ học hình thức lưu ý đến mối quan hệ ngữ nghĩa giữa các cặp câu và kết cấu cú pháp tương ứng giữa chúng; các nhà ngôn ngữ học điện toán nghiên cứu việc tạo ra các mô hình xử lý diễn ngôn thì các nhà ngôn ngữ học xã hội đặc biệt quan tâm đến cơ cấu của tương tác xã hội biểu hiện trong hội thoại, và khi mô tả họ thường chú trọng vào những đặc điểm của bối cảnh xã hội vốn hay tuân theo sự phân loại có tính xã hội học Như vậy, các phương hướng tiếp cận nêu trên dù có những điểm khác nhau nhưng đều dựa vào một lĩnh vực, đó chính là ngôn ngữ học

Từ những đặc điểm nêu trên và từ khái niệm về diễn ngôn của Widdowson, chúng

ta có thể thấy, khi nghiên cứu về ngôn ngữ, phân tích diễn ngôn luôn gắn hệ thống ngôn

ngữ với việc sử dụng để làm gì Theo quan điểm của phân tích diễn ngôn, đối tượng

nghiên cứu của nó phải là ngôn ngữ hoạt động trong hoàn cảnh xã hội - văn hóa chứ không phải là đối tượng tĩnh (có nghĩa là chuyển sang lời nói chứ không phải ngôn ngữ theo thuật ngữ của Saussure) Do đó, nó đòi hỏi phải hình thành hệ phương pháp luận mới cho cái đối tượng không những vượt ra khỏi phạm vi câu, mà còn phải bao được các phạm trù thuộc về bản chất của hoạt động ngôn ngữ như tính mạch lạc và các mối quan

hệ giữa ngôn ngữ, cộng đồng người sử dụng ngôn ngữ, sự tác động của các yếu tố từ ngữ cảnh tình huống Như vậy, ngôn ngữ, dưới quan điểm của phân tích diễn ngôn không chỉ

dừng lại ở câu hỏi đơn thuần của Ngôn ngữ học truyền thống/ cấu trúc: Ngôn ngữ học là gì? (What language is?) mà điều quan trọng hơn chính là câu hỏi: Ngôn ngữ dùng để làm gì? (Why language is?) Từ đó, có thể thấy, sự quan tâm cơ bản của diễn ngôn chính là vấn

đề giao tiếp trong mục đích sử dụng ngôn ngữ, điều mà ngôn ngữ học truyền thống/ cấu trúc trước đó không đề cập đến

Khác quan điểm của các nhà cấu trúc luận, đối với các nhà phân tích diễn ngôn, ngôn ngữ được nhìn nhận không chỉ đơn giản là công cụ giao tiếp mà nó còn là thực tiễn

xã hội, một lối sống, một cách hành động; và thậm chí Firth cho rằng, “ngôn ngữ còn là

một bộ phận của một nền văn hóa, và bộ phận này đáp ứng được Chu cảnh (môi trường) đó” [đã dẫn: 76, tr 147] Vì vậy, phân tích diễn ngôn phải mang tính lịch sử và phải

được đặt trong một hoàn cảnh xã hội nhất định Hay nói cách khác, phân tích diễn ngôn đặc biệt quan tâm đến các yếu tố như văn hóa, xã hội và tư tưởng chi phối cách tổ chức cấu trúc và thể hiện nội dung của diễn ngôn

Xuất phát từ những đặc điểm trên, Brown và Yule khi đề cập đến khái niệm phân

tích diễn ngôn đã cho rằng: “Phân tích diễn ngôn nhất thiết là sự phân tích ngôn ngữ

hành chức Như vậy, không thể giới hạn phân tích diễn ngôn với việc miêu tả các hình

Trang 39

thức ngôn ngữ mà không quan tâm đến mục đích hay chức năng mà các hình thức này tạo ra để đảm nhận trong thế giới hoạt động của con người” [11, tr 15]

Năm 1990, Fasold nhận định, nghiên cứu diễn ngôn là nghiên cứu mọi khía cạnh

sử dụng của ngôn ngữ [108, tr 64]

Năm 2002, Diệp Quang Ban định nghĩa: Phân tích diễn ngôn là đường hướng tiếp

cận tài liệu ngôn ngữ nói và viết bậc trên câu (diễn ngôn/ văn bản) từ tính đa diện hiện thực của nó, bao gồm các mặt ngôn từ và ngữ cảnh tình huống với các mặt hữu quan thể hiện trong khái niệm ngôn vực (register) mà nội dung hết sức phong phú và đa dạng (gồm các hiện tượng thuộc thể loại và phong cách chức năng, phong cách cá nhân, cho đến các hiện tượng xã hội, văn hóa, dân tộc) [2, tr 158]

Nhìn chung, những khái niệm trên đã thể hiện khá rõ quan điểm của lý thuyết phân tích diễn ngôn, tuy nhiên theo chúng tôi, khái niệm của Brown và Yule có tính bao quát

và cụ thể nhất Trong đó, khái niệm đã nêu bật được đối tượng nghiên cứu của phân tích diễn ngôn là ngôn ngữ hành chức, nhấn mạnh đến chức năng và tính mục đích của các hình thức ngôn ngữ trong quá trình hành chức của mình

Như vậy, so với quan niệm của phân tích văn bản (text analysis), phân tích diễn

ngôn có những sự đối lập cơ bản Theo Nunan, nếu như phân tích văn bản xem xét các đặc điểm hình thức của văn bản tách rời ngữ cảnh ngoài ngôn ngữ thì phân tích diễn

ngôn sẽ quan tâm tới mặt chức năng Tuy nhiên, Nguyễn Hòa cho rằng: “Cũng giống

như mối quan hệ giữa diễn ngôn và văn bản, phân tích diễn ngôn và phân tích văn bản không phải là hai bộ môn khác biệt, mà chỉ là hai mặt của phân tích ngôn ngữ hành chức trong hoàn cảnh giao tiếp xã hội” [41, tr 34]; vì thế, khía cạnh của văn bản sẽ bao

gồm các yếu tố như liên kết, cấu trúc thông tin, kiểu loại diễn ngôn,… còn các khía cạnh của diễn ngôn bao gồm mạch lạc, các hành động nói, sử dụng kiến thức nền trong quá trình sản sinh và hiểu diễn ngôn,… Do đó, việc ngôn ngữ học chuyển sang nghiên cứu lý

do tồn tại của ngôn ngữ là điều tất yếu, nhưng không thể phủ nhận các lý luận nghiên cứu ngôn ngữ học trước đây mà nó chính là bước chuẩn bị quan trọng cho lý luận phân tích diễn ngôn Halliday cũng đã từng khẳng định, không dựa trên nền tảng ngữ pháp (trong ngữ pháp cấu trúc) thì phân tích diễn ngôn chỉ trở thành một diễn ngôn bình luận tràn lan không có trọng tâm

1.2.1.2 Lý thuyết ngữ pháp chức năng hệ thống (Systemic functional grammar – SFG)

Theo quan điểm của SFG, ngôn ngữ như là một hệ thống ký hiệu xã hội và được tổ chức theo các tầng bậc theo các quan hệ hiện thực hóa và cụ thể hóa Các tầng bậc ở lớp dưới vừa hiện thực hóa tầng bậc trên và lại là một trường hợp cụ thể của nó Nói cách khác, các tầng bậc tạo ra một nguồn lực nghĩa, một tập hợp các khả năng lựa chọn

Halliday hình dung ngôn ngữ như là một thực thể bao gồm bốn tầng: ngữ cảnh (các phạm trù của tình huống xã hội), ngữ nghĩa học (các hệ thống tạo nghĩa), ngữ pháp - từ

vựng (các đơn vị từ ngữ) và âm vị học (các tổ chức đơn vị âm thanh) Các tầng này có

mối quan hệ biện chứng với nhau trong một chỉnh thể ngôn ngữ Các mối quan hệ này có thể được hình dung qua sơ đồ sau:

Trang 40

Qua sơ đồ chúng ta có thể nhận thấy,

ngôn ngữ gắn kết ngữ nghĩa với cách biểu đạt

và ngữ nghĩa giao diện trực tiếp với yếu tố

bên ngoài ngôn ngữ là đời sống xã hội Điều

đó có nghĩa, tầng ngữ nghĩa biểu hiện nội

dung kinh nghiệm của thế giới bên ngoài; còn

cách thức biểu đạt lại giao diện với những

quá trình vật chất như cơ chế tạo âm trong

một ngôn ngữ Trong khi đó, tầng bậc ngữ

pháp - từ vựng được hình thành trên căn cứ

chức năng mà nó đảm nhận Đối với

Halliday, ngữ pháp được xem là hệ thống,

chứ không phải là các quy tắc Ông quan niệm, ngôn ngữ là một tiềm lực về nghĩa Ông đồng hóa nghĩa với chức năng và sử dụng cú như là một đơn vị cơ sở để giải thích chức năng ngôn ngữ Theo Halliday, tổ chức chức năng của ngôn ngữ quyết định hình thức cũng như quy tắc ngữ pháp và ngôn ngữ là một công cụ giao tiếp phải thực hiện ba chức năng Ba chức năng này không phải tự thân mà là để phục vụ chức năng giao tiếp

nhiệm vụ chính của ngôn ngữ, cụ thể:

(1) Thứ nhất, chức năng kinh nghiệm

Chức năng này trả lời các câu hỏi: Ai? Làm gì? Ở đâu? Là sự thể hiện kinh nghiệm của con người về thế giới xung quanh, trong bản thân người phát ngôn và thể hiện nội dung giao tiếp Chức năng này lại được chia thành siêu chức năng logic (là những nguồn lực cấu trúc để xây dựng các tiểu cú thành câu) và siêu chức năng kinh nghiệm (là những nguồn lực cấu trúc liên quan đến phân tích dòng chảy của kinh nghiệm qua đơn vị cú trong câu)

Chức năng kinh nghiệm kiến tạo và phản ánh kiến tạo của con người về thế giới, có liên quan đến Trường của diễn ngôn Phân tích câu nói từ góc độ chức năng kinh nghiệm

sẽ liên quan đến việc lựa chọn hệ thống chuyển tác (transitivity), đó là lựa chọn các kiểu

quá trình, các kiểu tham thể và các kiểu chu cảnh Trong đó, hệ thống chuyển tác thể hiện chức năng kinh nghiệm được hiển thị thông qua cấu trúc nghĩa biểu hiện Theo cấu

trúc nghĩa biểu hiện, cú được phân chia thành: Quá trình + tham thể + chu cảnh

Theo Halliday, cấu trúc nghĩa biểu hiện có 6 quá trình khác nhau: quá trình vật chất, quá trình tinh thần, quá trình quan hệ, quá trình phát ngôn, quá trình tồn tại và quá trình hành vi Dựa trên 6 kiểu quá trình này với các cấu trúc chuyển tác khác nhau, ngôn ngữ cung cấp những sự lựa chọn để người nói/ người viết có thể biểu đạt các loại kinh nghiệm khác nhau về thế giới

(2) Thứ hai, chức năng liên nhân

Đối với cấu trúc nghĩa liên nhân, cú được tổ chức như một sự kiện tương tác giữa hai phía, trong đó người nói/ người viết dùng ngôn ngữ để tác động vào người nghe/ người đọc Chức năng liên nhân của câu luân phiên thay đổi vai trò trong cách tác động qua lại

Ngày đăng: 12/12/2017, 08:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w