Chính sách thuế là đòn bẩy kinh tế quan trọng để tăng trưởng kinh tế xã hội và có mục đích chính là tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Trong tình hình nền kinh tế của Việt Nam mới ở giai đoạn đầu của kinh tế thị trường chính sách thuế như thế nào là hợp lý là vô cùng quan trọng.Từ khi bắt đầu chuyển sang kinh tế thị trường Việt Nam đã tiến hành hai lần cải cách thuế đó là cải cách thuế bước một (19911995) và cải cách thuế bước hai (19962001). Kết quả đạt được của hai cuộc cải cách này khá tốt tuy nhiên hệ thống thuế của nước ta vẫn còn nhiều nhược đIểm chưa phát huy được sức mạnh to lớn của nó.Hiện nay chúng ta đang từng bước thực hiện cải cách thuế bước ba với phương châm là từng bước toàn diện và hiện đại hoá hệ thông thuế nhằm nâng cao và phát huy vai trò của thuế trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam. CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ THUẾ1.1.Khái niệm thuế và các đặc điểm của thuế1.1.1.Khái niệm về thuếCho đến nay trong các sách báo kinh tế trên thế giới vẫn chưa có thông nhất tuyệt đối về khái niệm thuế. Đứng trên các góc độ khác nhau theo các quan điểm của các nhà kinh tế khác nhau thì có định nghĩa về thuế khác nhau.Theo nhà kinh tế học Gaston Jeze trong cuốn “Tài chính công” đưa ra một định nghĩa tương đối cổ điển về thuế: “Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho nhà nước thông qua con đường quyền lực nhằm bù đắp những chi tiêu của Nhà Nước.”.Trên góc độ phân phối thu nhập: “Thuế là hình thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành các quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước.”Trên góc độ người nộp thuế: “Thuế là khoản đóng góp bắt buộc mà mỗi tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho nhà nước theo luật định để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước.”Trên góc độ kinh tế học: “Thuế là một biện pháp đặc biệt, theo đó, nhà nước sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu vực tư sang khu vực công nhằm thực hiện các chức năng kinh tế – xã hội của nhà nước.”Theo từ điển tiếng Việt: “Thuế là khoản tiền hay hiện vật mà người dân hoặc các tổ chức kinh doanh, tuỳ theo tài sản, thu nhập, nghề nghiệp… buộc phải nộp cho nhà nước theo mức quy định.”Khái niệm tổng quát về thuế là: “Thuế là một khoản thu có tính chất bắt buộc, được quy định bởi pháp luật do các tổ chức và cá nhân thục hiện nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước vì lợi ích chung”.1.1.2.Đặc điểm của thuếThuế có những thuộc tính tương đối ổn định qua từng giai đoạn phát triển và biểu hiện thành những đặc trưng riêng có của nó, qua đó giúp ta phân biệt thuế với các công cụ khác. Những đặc trưng đó là:•Tính bắt buộcTính bắt buộc là thuộc tính cơ bản vốn có của thuế để phân biệt giữa thuế với các hình thức động viên tài chính khác của ngân sách nhà nước.Đặc điểm này cho ta thấy rõ nội dung kinh tế của thuế là những quan hê tiền tệ được hình thành một cách khách quan và có một ý nghĩa xã hội đặc biệt việc động viên mang tính chất bắt buộc của nhà nước. Phân phối mang tính chất bắt buộc dưới hình thức thuế là một phương thức phân phối của nhà nước, theo đó một bộ phân thu nhập của người nộp thuế được chuyển giao cho nhà nước mà không kèm theo một sự cấp phát hoặc những quyền lợi nào khác cho người nộp thuế, mà hành động đóng thuế là hành động thực hiện nghĩa vụ của người công dân.•Tính không hoàn trả trực tiếpTính chất không hoàn trả trực tiếp của thuế được thể hiện ở chỗ: thuế được hoàn trả gián tiếp cho người nộp thuế thông qua việc cung cấp các dịch vụ công cộng của nhà nước. Sự không hoàn hảo trả trực tiếp được thể hiện kể cả trước và sau thu thuế. Trước khi thu thuế, nhà nước không hề cung ứng trực tiếp một dịch vụ công cộng nào cho người nộp thuế. Sau khi nộp thuế, nhà nước cũng không có sự bồi hoàn trực tiếp nào cho người nộp thuế.•Hình thức phân phối lạiĐặc điểm này xuất phát từ nguyên tắc nguồn thu của thuế chính là kết quả của quá trình hoạt động kinh tế, không có hoạt động kinh tế hoặc hoạt động kinh tế kém hiệu quả không thể tạo ra nguồn thu của thuế. Ngược lại, việc đánh thuế của Chính phủ tất yếu sẽ ảnh hưởng đến các hoạt động kinh tế.1.2.Các yếu tố cấu thành một sắc thuếMỗi sắc thuế có mục đích, yêu cầu riêng nhưng đều được cấu thành bởi những yếu tố sau: •Tên gọi của thuế•Đối tượng nộp thuế: Là chủ thể của thuế, là các thể nhân và pháp nhân có nghĩa vụ phải nộp khoản thuế do luật định.•Đối tượng chịu thuế: là các khách thể của thuế, là những căn cứ để tính thuế. Đối tượng đánh thuế bao gồm: thu nhập, giá trị tài sản, giá trị hàng hóa...•Thuế suất , mức thuếThuế suất là phần thuế phải nộp trên mỗi đơn vị tính của đối tượng đánh thuế. Thuế suất bao gồm:Thuế suất tỷ lệ: Thuế suất được quy định theo tỷ lệ % trên đối tượng đánh thuế.Thuế suất lũy tiến: Thuế suất tăng dần theo mức độ tăng của đối tượng đánh thuế, gồm 2 loại: Thuế suất lũy tiến từng phần: thuế được tính từng phần theo từng bậc thu nhập chịu thuế theo thuế suất tương ứng. Số thuế phải nộp cuối cùng là tổng cộng số thuế đã tính cho từng phần.Thuế suất lũy tiến toàn phần: thuế được tính trên toàn bộ đối tượng tính thuế theo thuế suất tương ứng.Thuế suất cố định: Mức thuế được quy định bằng một lượng tuyệt đối trên đối tượng đánh thuế.•Đơn vị tính thuế: Là đơn vị được sử dụng làm phương tiện tính toán của đối tượng đánh thuế.•Giá tính thuế: Là giá trị của đối tượng đánh thuế.•Chế độ miễn giảm thuế: Để chiếu cố đến hoàn cảnh khách quan mang lại khó khăn làm giảm thu nhập của đối tượng nộp thuế hoặc để khuyến khích một số nghành nghề , lĩnh vực cần khuyến khích, thường trong một sắc thuế quy định chế độ miễn, giảm thuế bao gồm: các trường hợp miễn, giảm điều kiện thủ tục miễn, giảm, mức độ miễn giảm thẩm quyền của các cấp trong việc xét duyệt miễn giảm.•Thủ tục nộp thuế: Là những quy định về cách thức thu nộp mang tính hành chính để thi hành luật thuế như: thủ tục đăng ký, kê khai, nộp thuế và quyết toán thuế.1.3. Phân loại thuế1.3.1. Phân loại theo cấp độ hành chínhCách phân loại này thường được sử dụng trong kế toán quốc gia, theo đó, dựa vào cách tổ chức quản lý thu và cấp ngân sách thụ hưởng chúng: thuế được phân thành hai loại: thuế nhà nước (quốc gia) và thuế địa phương.Ở Việt Nam, Nhà nước được xây dựng theo nguyên tắc tập trung – dân chủ: Trung ương thống nhất ban hành pháp luật, chính sách; các cấp chính quyền địa phương không được phép ban hành và quản lý thu các loại thuế riêng. Tất cả các nguồn thu thuế do Nhà nước thống nhất quản lý và việc phân bổ nguồn lực cho các địa phương, phân chia các nguồn thu từ thuế trên địa bàn được thực hiện theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước. Vì vậy, hiện hành ở nước ta không sử dụng cách phân loại này.1.3.2. Phân loại theo tính chất kinh tế•Phân loại thuế theo khả năng chuyển dịch gánh nặng thuế (theo tính chất điều tiết của thuế)Theo cách phân loại này hệ thống thuế của mỗi quốc gia bao gồm thuế trực thu và thuế gián thu. Các sắc thuế có sự khác biệt về tính chất và có điểm mạnh yếu khác nhau.Thuế gián thu: là loại thuế gián tiếp thu vào thu nhập của người tiêu dùng thông qua hoạt động của cơ sở kinh doanh. Điển hình cho thuế gián thu bao gồm: thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế xuất nhập khẩu. Đây là những sắc thuế do cơ sở kinh doanh kê khai và nộp cho ngân sách Nhà nước nhưng gánh nặng thuế được chuyển vào người tiêu dùng. Bao nhiêu phần trăm (%) gánh nặng thuế chuyển vào người tiêu dùng là tùy thuộc vào độ co giãn của đường cung và đường cầu về một mặt hàng cụ thể.Thuế trực thu: Là loại thuế mà đối tượng nộp thuế trích một phần thu nhập của mình để nộp cho Nhà nước. Trong loại thuế này, người chịu thuế trực tiếp nộp số tiền thuế vào ngân sách Nhà nước mà không thông qua cơ sở trung gian nào. Điển hình cho thuế trực thu là thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân. Thuế trực thu không căn cứ vào mức độ tiêu dùng mà căn cứ vào mức độ thu nhập đạt được.Nếu như thuế gián thu có nhược điểm là thuận lợi cho người có thu nhập cao thì thuế trực thu góp phần sửa chữa nhược điểm đó. Đối với các quốc gia phát triển, thuế trực thu chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thuế thì ngược lại các quốc gia đang phát triển có tỷ trọng thuế gián thu cao hơn.•Phân loại thuế theo cơ sở tính thuếỞ hầu hết các quốc gia, người ta có thể đánh thuế dựa trên cơ sở tính thu nhập, tiêu dùng, giá trị tài sản. Thuế thu nhập: Là loại thuế đánh vào thu nhập do lao động, kinh doanh, đầu tư... của các thể nhân và pháp nhân. Nếu căn cứ vào chủ sở hữu thu nhập để đánh thuế thì có thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân. Nếu căn cứ vào các loại thu nhập để đánh thuế thì có thuế lương, thuế thu nhập từ hoạt động chứng khoán. Thuế tiêu dùng: Là loại thuế đánh vào phân thu nhập để chi tiêu cho việc mua sắm hàng hóa, dịch vụ trên thị trường. Trên lý thuyết, thuế tiêu dùng là loại thuế gián thu do người tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ gánh chịu. Thuế tài sản: Là loại thuế đánh vào các tài sản lưu giữ hay chuyển dịch. Thuế tài sản bao gồm thuế động sản và thuế bất động sản, tuy nhiên hiện nay chủ yếu thuế tài sản mới đánh vào giá trị bất động sản. CHƯƠNG 2: VAI TRÒ CỦA THUẾ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM2.1. Đôi nét về nền kinh tế thị trường ở Việt Nam2.1.1. Khái niệm về nền kinh tế thị trường
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Chính sách thuế là đòn bẩy kinh tế quan trọng để tăng trưởng kinh tế - xã hội và cómục đích chính là tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước Trong tình hình nền kinh tế củaViệt Nam mới ở giai đoạn đầu của kinh tế thị trường chính sách thuế như thế nào là hợp
lý là vô cùng quan trọng
Từ khi bắt đầu chuyển sang kinh tế thị trường Việt Nam đã tiến hành hai lần cảicách thuế đó là cải cách thuế bước một (1991-1995) và cải cách thuế bước hai (1996-2001) Kết quả đạt được của hai cuộc cải cách này khá tốt tuy nhiên hệ thống thuế củanước ta vẫn còn nhiều nhược đIểm chưa phát huy được sức mạnh to lớn của nó
Hiện nay chúng ta đang từng bước thực hiện cải cách thuế bước ba với phươngchâm là từng bước toàn diện và hiện đại hoá hệ thông thuế nhằm nâng cao và phát huyvai trò của thuế trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
Trang 2CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ THUẾ
1.1 Khái niệm thuế và các đặc điểm của thuế
1.1.1 Khái niệm về thuế
Cho đến nay trong các sách báo kinh tế trên thế giới vẫn chưa có thông nhất tuyệtđối về khái niệm thuế Đứng trên các góc độ khác nhau theo các quan điểm của các nhàkinh tế khác nhau thì có định nghĩa về thuế khác nhau
Theo nhà kinh tế học Gaston Jeze trong cuốn “Tài chính công” đưa ra một địnhnghĩa tương đối cổ điển về thuế: “Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền, có tính chất xácđịnh, không hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho nhà nước thông qua conđường quyền lực nhằm bù đắp những chi tiêu của Nhà Nước.”
Trên góc độ phân phối thu nhập: “Thuế là hình thức phân phối và phân phối lạitổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành các quỹ tiền tệ tập trung củanhà nước để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụcủa nhà nước.”
Trên góc độ người nộp thuế: “Thuế là khoản đóng góp bắt buộc mà mỗi tổ chức,
cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho nhà nước theo luật định để đáp ứng nhu cầu chitiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước.”
Trên góc độ kinh tế học: “Thuế là một biện pháp đặc biệt, theo đó, nhà nước sửdụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu vực tư sang khu vựccông nhằm thực hiện các chức năng kinh tế – xã hội của nhà nước.”
Theo từ điển tiếng Việt: “Thuế là khoản tiền hay hiện vật mà người dân hoặc các
tổ chức kinh doanh, tuỳ theo tài sản, thu nhập, nghề nghiệp… buộc phải nộp cho nhànước theo mức quy định.”
Khái niệm tổng quát về thuế là: “Thuế là một khoản thu có tính chất bắt buộc,được quy định bởi pháp luật do các tổ chức và cá nhân thục hiện nhằm đáp ứng nhu cầuchi tiêu của Nhà nước vì lợi ích chung”
1.1.2 Đặc điểm của thuế
Thuế có những thuộc tính tương đối ổn định qua từng giai đoạn phát triển và biểuhiện thành những đặc trưng riêng có của nó, qua đó giúp ta phân biệt thuế với các công
cụ khác Những đặc trưng đó là:
Tính bắt buộc
Tính bắt buộc là thuộc tính cơ bản vốn có của thuế để phân biệt giữa thuế với cáchình thức động viên tài chính khác của ngân sách nhà nước
Trang 3Đặc điểm này cho ta thấy rõ nội dung kinh tế của thuế là những quan hê tiền tệđược hình thành một cách khách quan và có một ý nghĩa xã hội đặc biệt - việc động viênmang tính chất bắt buộc của nhà nước Phân phối mang tính chất bắt buộc dưới hình thứcthuế là một phương thức phân phối của nhà nước, theo đó một bộ phân thu nhập củangười nộp thuế được chuyển giao cho nhà nước mà không kèm theo một sự cấp phát hoặcnhững quyền lợi nào khác cho người nộp thuế, mà hành động đóng thuế là hành độngthực hiện nghĩa vụ của người công dân.
Tính không hoàn trả trực tiếp
Tính chất không hoàn trả trực tiếp của thuế được thể hiện ở chỗ: thuế được hoàntrả gián tiếp cho người nộp thuế thông qua việc cung cấp các dịch vụ công cộng của nhànước Sự không hoàn hảo trả trực tiếp được thể hiện kể cả trước và sau thu thuế Trướckhi thu thuế, nhà nước không hề cung ứng trực tiếp một dịch vụ công cộng nào cho ngườinộp thuế Sau khi nộp thuế, nhà nước cũng không có sự bồi hoàn trực tiếp nào cho ngườinộp thuế
Hình thức phân phối lại
Đặc điểm này xuất phát từ nguyên tắc nguồn thu của thuế chính là kết quả của quátrình hoạt động kinh tế, không có hoạt động kinh tế hoặc hoạt động kinh tế kém hiệu quảkhông thể tạo ra nguồn thu của thuế Ngược lại, việc đánh thuế của Chính phủ tất yếu sẽảnh hưởng đến các hoạt động kinh tế
1.2 Các yếu tố cấu thành một sắc thuế
Mỗi sắc thuế có mục đích, yêu cầu riêng nhưng đều được cấu thành bởi những yếu
tố sau:
Tên gọi của thuế
Đối tượng nộp thuế: Là chủ thể của thuế, là các thể nhân và pháp nhân cónghĩa vụ phải nộp khoản thuế do luật định
Đối tượng chịu thuế: là các khách thể của thuế, là những căn cứ để tính thuế.Đối tượng đánh thuế bao gồm: thu nhập, giá trị tài sản, giá trị hàng hóa
Thuế suất , mức thuế
Thuế suất là phần thuế phải nộp trên mỗi đơn vị tính của đối tượng đánh thuế.Thuế suất bao gồm:
- Thuế suất tỷ lệ: Thuế suất được quy định theo tỷ lệ % trên đối tượng đánh thuế
- Thuế suất lũy tiến: Thuế suất tăng dần theo mức độ tăng của đối tượng đánhthuế, gồm 2 loại:
Trang 4Thuế suất lũy tiến từng phần: thuế được tính từng phần theo từng bậc thu nhậpchịu thuế theo thuế suất tương ứng Số thuế phải nộp cuối cùng là tổng cộng số thuế đãtính cho từng phần.
Thuế suất lũy tiến toàn phần: thuế được tính trên toàn bộ đối tượng tính thuế theothuế suất tương ứng
- Thuế suất cố định: Mức thuế được quy định bằng một lượng tuyệt đối trên đốitượng đánh thuế
Đơn vị tính thuế: Là đơn vị được sử dụng làm phương tiện tính toán của đốitượng đánh thuế
Giá tính thuế: Là giá trị của đối tượng đánh thuế
Chế độ miễn giảm thuế: Để chiếu cố đến hoàn cảnh khách quan mang lại khókhăn làm giảm thu nhập của đối tượng nộp thuế hoặc để khuyến khích một số nghànhnghề , lĩnh vực cần khuyến khích, thường trong một sắc thuế quy định chế độ miễn, giảmthuế bao gồm: các trường hợp miễn, giảm điều kiện thủ tục miễn, giảm, mức độ miễngiảm thẩm quyền của các cấp trong việc xét duyệt miễn giảm
Thủ tục nộp thuế: Là những quy định về cách thức thu nộp mang tính hànhchính để thi hành luật thuế như: thủ tục đăng ký, kê khai, nộp thuế và quyết toán thuế.1.3 Phân loại thuế
1.3.1 Phân loại theo cấp độ hành chính
Cách phân loại này thường được sử dụng trong kế toán quốc gia, theo đó, dựa vàocách tổ chức quản lý thu và cấp ngân sách thụ hưởng chúng: thuế được phân thành hailoại: thuế nhà nước (quốc gia) và thuế địa phương
Ở Việt Nam, Nhà nước được xây dựng theo nguyên tắc tập trung – dân chủ: Trungương thống nhất ban hành pháp luật, chính sách; các cấp chính quyền địa phương khôngđược phép ban hành và quản lý thu các loại thuế riêng Tất cả các nguồn thu thuế do Nhànước thống nhất quản lý và việc phân bổ nguồn lực cho các địa phương, phân chia cácnguồn thu từ thuế trên địa bàn được thực hiện theo quy định của Luật Ngân sách Nhànước Vì vậy, hiện hành ở nước ta không sử dụng cách phân loại này
1.3.2 Phân loại theo tính chất kinh tế
Phân loại thuế theo khả năng chuyển dịch gánh nặng thuế (theo tính chất điềutiết của thuế)
Theo cách phân loại này hệ thống thuế của mỗi quốc gia bao gồm thuế trực thu vàthuế gián thu Các sắc thuế có sự khác biệt về tính chất và có điểm mạnh yếu khác nhau
- Thuế gián thu: là loại thuế gián tiếp thu vào thu nhập của người tiêu dùngthông qua hoạt động của cơ sở kinh doanh Điển hình cho thuế gián thu bao gồm: thuế
Trang 5giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế xuất nhập khẩu Đây là những sắc thuế do
cơ sở kinh doanh kê khai và nộp cho ngân sách Nhà nước nhưng gánh nặng thuế đượcchuyển vào người tiêu dùng Bao nhiêu phần trăm (%) gánh nặng thuế chuyển vào ngườitiêu dùng là tùy thuộc vào độ co giãn của đường cung và đường cầu về một mặt hàng cụthể
- Thuế trực thu: Là loại thuế mà đối tượng nộp thuế trích một phần thu nhập củamình để nộp cho Nhà nước Trong loại thuế này, người chịu thuế trực tiếp nộp số tiềnthuế vào ngân sách Nhà nước mà không thông qua cơ sở trung gian nào Điển hình chothuế trực thu là thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân Thuế trực thukhông căn cứ vào mức độ tiêu dùng mà căn cứ vào mức độ thu nhập đạt được
Nếu như thuế gián thu có nhược điểm là thuận lợi cho người có thu nhập cao thìthuế trực thu góp phần sửa chữa nhược điểm đó Đối với các quốc gia phát triển, thuếtrực thu chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thuế thì ngược lại các quốc gia đang phát triển có
tỷ trọng thuế gián thu cao hơn
Phân loại thuế theo cơ sở tính thuế
Ở hầu hết các quốc gia, người ta có thể đánh thuế dựa trên cơ sở tính thu nhập,tiêu dùng, giá trị tài sản
- Thuế thu nhập: Là loại thuế đánh vào thu nhập do lao động, kinh doanh, đầu tư của các thể nhân và pháp nhân Nếu căn cứ vào chủ sở hữu thu nhập để đánh thuế thì cóthuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân Nếu căn cứ vào các loại thu nhập
để đánh thuế thì có thuế lương, thuế thu nhập từ hoạt động chứng khoán
- Thuế tiêu dùng: Là loại thuế đánh vào phân thu nhập để chi tiêu cho việc muasắm hàng hóa, dịch vụ trên thị trường Trên lý thuyết, thuế tiêu dùng là loại thuế gián thu
do người tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ gánh chịu
- Thuế tài sản: Là loại thuế đánh vào các tài sản lưu giữ hay chuyển dịch Thuế tàisản bao gồm thuế động sản và thuế bất động sản, tuy nhiên hiện nay chủ yếu thuế tài sảnmới đánh vào giá trị bất động sản
Trang 6CHƯƠNG 2: VAI TRÒ CỦA THUẾ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ
TRƯỜNG Ở VIỆT NAM
2.1 Đôi nét về nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
2.1.1 Khái niệm về nền kinh tế thị trường
Kinh tế thị trường là mô hình kinh tế mà ở đó các quan hệ kinh tế đều được thựchiện trên thị trường, thông qua quá trình trao đổi mua bán Quan hệ hàng hóa - tiền tệphát triển đến một trình độ nhất định sẽ đạt đến kinh tế thị trường
Kinh tế thị trường là giai đoạn phát triển của kinh tế hàng hóa dựa trên cơ sở pháttriển của lực lượng sản xuất Trong những điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau, sự pháttriển của kinh tế hàng hóa, tất nhiên, chịu sự tác động của những quan hệ xã hội nhất địnhhình thành nên các chế độ kinh tế - xã hội khác nhau Vì vậy, không thể nói kinh tế hànghóa là sản phẩm của một chế độ kinh tế - xã hội nào mà phải hiểu rằng nó là một sảnphẩm của quá trình phát triển của lực lượng sản xuất xã hội loài người, nó xuất hiện vàtồn tại trong nhiều phương thức sản xuất xã hội và đến trình độ cao hơn đó là kinh tế thịtrường
Ở Việt Nam, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, những điều kiện chung đểkinh tế hàng hóa xuất hiện vẫn còn tồn tại Do đó, sự tồn tại kinh tế hàng hóa ở nước ta làmột tất yếu khách quan
2.1.2 Đặc điểm kinh tế thị trường ở Việt Nam
Nền kinh tế thị trường đang hình thành và phát triển
Thứ nhất, trong thời gian qua, kết cấu hạ tầng được đầu tư với mức độ ngày càngtăng Tuy nhiên, kết cấu hạ tầng vật chất và xã hội ở nước ta còn ở trình độ thấp, chưađáp ứng yêu cầu phát triển Trình độ công nghệ lạc hậu, máy móc cũ kỹ, quy mô sản xuấtnhỏ bé, năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất còn thấp
Thứ hai, cơ cấu kinh tế đang tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá,hiện đại hoá, tuy nhiên, cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm, còn mất cân đối và kém hiệuquả Cơ cấu kinh tế nước ta còn mang nặng đặc trưng của một cơ cấu kinh tế nôngnghiệp Ngành nghề chưa phát triển; sự phân công hiệp tác, chuyên môn hóa sản xuấtchưa rộng, chưa sâu, giao lưu hàng hóa còn nhiều hạn chế
Thứ ba, chưa có thị trường theo đúng nghĩa của nó Trong những năm qua thịtrường của nước ta đang trong quá trình hình thành và phát triển nên nó còn ở trình độthấp Dung lượng thị trường nhỏ hẹp, cơ cấu và các yếu tố kinh tế thị trường hình thànhchưa đầy đủ Chưa có thị trường sức lao động theo đúng nghĩa, thị trường tài chính, thịtrường bất động sản, thị trường khoa học và công nghệ còn sơ khai, phát triển chậm
Trang 7Thứ tư, công cuộc đổi mới ở nước ta trong gần 30 năm qua đã đạt được nhữngthành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử, đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội,
có sự thay đổi cơ bản và toàn diện Một trong những thành tựu quan trọng nhất là kinh tếtăng trưởng khá nhanh, GDP bình quân đầu người liên tục tăng Song, thực tế cho thấythu nhập quốc dân và thu nhập bình quân đầu người còn thấp, do đó sức mua hàng hóacòn thấp, tỷ suất hàng hóa chưa cao
Thứ năm, còn chịu ảnh hưởng lớn của mô hình kinh tế chỉ huy với cơ chế tậptrung quan liêu, bao cấp
Nền kinh tế thị trường với nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nướcgiữ vai trò chủ đạo
Các thành phần kinh tế tiến hành sản xuất hàng hóa tuy có bản chất kinh tế khácnhau, nhưng chúng đều là những bộ phận của một cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất vớicác quan hệ cung - cầu, tiền tệ, giá cả chung Bởi vậy, chúng vừa hợp tác, vừa cạnhtranh với nhau Mỗi đơn vị kinh tế là một chủ thể độc lập, tự chủ và tất cả đều bình đẳngtrước pháp luật
Tuy nhiên, mỗi thành phần kinh tế chịu sự tác động của các quy luật kinh tế riêngnên bên cạnh tính thống nhất của các thành phần kinh tế, chúng còn có sự khác nhau vàmâu thuẫn khiến cho nền kinh tế thị trường ở nước ta có khả năng phát triển theo nhữngphương hướng khác nhau Chẳng hạn, các thành phần kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tưbản tư nhân) tuy có vai trò quan trọng trong phát triển sản xuất, giải quyết việc làm, đápứng nhu cầu về vốn, hàng hóa và dịch vụ cho xã hội, nhưng vì dựa trên sở hữu tư nhân về
tư liệu sản xuất, các thành phần kinh tế này không tránh khỏi tính tự phát, chạy theo lợinhuận đơn thuần, nảy sinh những hiện tượng tiêu cực làm tổn hại đến lợi ích chung của
xã hội
Vì vậy, cùng với sự khuyến khích làm giàu chính đáng của các doanh nghiệpthuộc các thành phần kinh tế, Nhà nước ta phải sử dụng nhiều biện pháp để ngăn chặn vàhạn chế những khuynh hướng tự phát, những hiện tượng tiêu cực, hướng sự phát triển củacác thành phần kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa Nhưng, vấn đề có ý nghĩa quyếtđịnh nhất là Nhà nước phải quan tâm tạo điều kiện củng cố, phát huy hiệu quả, ra sức xâydựng khu vực kinh tế nhà nước đủ mạnh để làm tốt vai trò chủ đạo, tránh nguy cơ chệchhướng xã hội chủ nghĩa
Nền kinh tế thị trường phát triển theo cơ cấu kinh tế "mở"
Cơ cấu kinh tế "mở" bắt nguồn từ sự phân bố không đều về tài nguyên thiên nhiên
và sự phát triển không đều về kinh tế, kỹ thuật giữa các nước, đáp ứng yêu cầu quy luật
Trang 8phân công và hợp tác lao động quốc tế Vì vậy, trong thời đại ngày nay, mỗi quốc giamuốn phát triển toàn diện cần phải tích cực mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế.
Cơ cấu kinh tế "mở" thích ứng với chiến lược thị trường "hướng ngoại", làm chothị trường trong nước thông thoáng và gắn liền với thị trường thế giới Thông qua pháttriển cơ cấu kinh tế "mở", cùng các hoạt động kinh tế đối ngoại sẽ giúp nước ta tiếp thuđược kỹ thuật công nghệ, vốn và kinh nghiệm sản xuất kinh doanh của các nước tiên tiến
để khắc phục nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế, kỹ thuật so với các nước phát triển
Nền kinh tế thị trường phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa với sự quản
lý vĩ mô của nhà nước
Đây là đặc điểm cơ bản nhất của kinh tế thị trường ở nước ta, làm cho nền kinh tếthị trường ở nước ta khác với nền sản xuất hàng hóa giản đơn trước đây, cũng như khácvới nền kinh tế thị trường ở các nước tư bản chủ nghĩa Đặc điểm này cũng chính là môhình kinh tế khái quát trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta Mô hình kinh
tế đó có những đặc trưng riêng, làm cho nó khác với kinh tế thị trường ở các nước tư bảnchủ nghĩa
2.2 Các sắc thuế hiện hành chủ yếu
2.2.1 Thuế gián thu
Thuế gián thu bao gồm: thuế giá trị gia tăng (thuế VAT), thuế tiêu thụ đặc biệt,thuế xuất nhập khẩu(thuế XNK) Qua tìm hiểu từ năm 2009 đến năm 2013 đã thu thậpđược bảng số liệu sau:
Đơn vị: Tỷ đồngNăm 2009 Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 Năm
2013Thuế XNK 76.996 74.068 81.406 72.028 78.253
Thuế tiêu
thụ đặc biệt
29.728 37.311 42.686 43.356 50.096
Thuế VAT 108.549 155.022 192.064 193.787 222.168
Theo bảng trên ta thấy:
Thuế XNK: Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là công cụ rất quan trọng để nhànước thực hiện chính sách kinh tế của mình, quản lý các hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu;
mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại; nâng cao hiệu quả của hoạt động xuất khẩu, nhậpkhẩu Căn cứ vào từng giai đoạn lịch sử và điều kiện kinh tế – xã hội của mỗi nước màthuế quan được sử dụng với nhiều mục tiêu khác nhau Từ bảng trên ta thấy, biến động
Trang 9không ổn định qua các năm Từ năm 2009 đến 2010 giảm nhẹ giảm 2928 tỷ đồng Nhưngsang năm 2011 thì tăng mạnh, tăng 7338 tỷ đồng tương ứng tăng 9,9% so với năm 2010.Tuy nhiên lại giảm mạnh ở năm 2012, giảm 9018 tỷ đồng(giảm 13,02%) Tăng trở lại vàonăm 2013, tăng 6225 tỷ đồng(tăng 8.64%).
Thuế tiêu thụ đặc biệt: là loại thuế gián thu đánh vào một số hàng hóa đặc biệt
do các doanh nghiệp sản xuất và tiêu thụ tại Thuế này do các cơ sở trực tiếp sản xuất rahàng hoá đó nộp nhưng người tiêu dùng là người chịu thuế vì thuế được cộng vào giábán Ta thấy, thuế tiêu thụ đặc biệt luôn tăng qua các năm từ năm 2009 đến năm 2013 Từnăm 2009 đến năm 2010 tăng 7538 tỷ đồng(tương ứng tăng 25,51%) Tăng 5375 tỷđồng(tăng 14,4%) năm 2010-2011 Sang năm 2012, có chút tăng nhẹ, tăng 670 tỷđồng(tăng 1.57%) Đến năm 2013, tăng mạnh trở lại, tăng 6740 tỷ đồng(tăng 15,5%)
Thuế VAT: thuế giá trị gia tăng thì thuế giá trị gia tăng là một loại thuế giánthu đánh trên khoản giá trị tăng thêm cuả hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từsản xuất, lưu thông đến tiêu dùng và được nộp vào ngân sách Nhà nước theo mức độ tiêuthụ hàng hóa, dịch vụ Thuế giá trị gia tăng luôn tăng mạnh qua các năm từ năm 2009 đếnnăm 2013 Năm 2010 tăng 46.473 tỷ đồng, tăng 42,8% so với năm 2009 Sang năm 2011tăng 37.042 tỷ đồng, tăng 23,89% đối với năm 2010 Nhưng sang năm 2012, tuy có tăngnhưng tăng với tốc độ nhẹ, chỉ tăng 1723 tỷ đồng Năm 2013 tăng mạnh trở lại với mứctăng 14,64% (28381 tỷ đồng)
Thuế gián thu từ năm 2009-2013
Thuế XNK Thuế tiêu thụ Đặc biệt Thuế VAT
Trang 10Từ biểu đồ ta thấy, thuế giá trị gia tăng đạt mức cao nhất và có tốc độ tăng là mạnhnhất so với thuế xuất nhập khẩu và thuế tiêu thụ đặc biệt Tốc độ tăng của thuế tiêu thụđặc biệt đạt tỉ trọng là thấp nhất.
2.2.2 Thuế trực thu
Thuế thu nhập doanh nghiệp
Thuế thu nhập doanh nghiệp là loại thuế trực thu, thu trên kết quả hoạt động sảnxuất, kinh doanh cuối cùng của doanh nghiệp
Đối tượng nộp thuế TNDN là tất cả các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanhhàng hóa, dịch vụ có thu nhập đều phải nộp thuế TNDN Căn cứ tính thuế TNDN là thunhập chịu thuế trong kỳ tính thuế và thuế suất thuế TNDN Thu nhập chịu thuế trong kỳbao gồm thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ và thu nhập khác
Thuế suất thuế TNDN đối với cơ sở kinh doanh là 28%.Riêng đối với cơ sở kinhdoanh tiến hành tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí và tài nguyên quý hiếm khác từ28% đến 50% phù hợp với từng dự án, từng cơ sở kinh doanh
Phương pháp tính thuế TNDN như sau:
Thuế TNDN phải nộp = Giá tính thuế TNDN * Thuế suất thuế TNDN
Về nguyên tắc, thu nhập chịu thuế là bất cứ khoản thu nhập phát sinh nào dù bằngtiền vay hay hiện vật, không phân biệt từ nguồn sản xuất kinh doanh hay hoạt động, đầu
tư sau khi loại bỏ những khoản được pháp luật quy định không phải chịu thuế thu nhập.Những khoản thu nhập được quy định không phải chịu thuế thu nhập doanh nghiệp thôngthường là những khoản thu nhập còn lại sau khi đã nộp thuế thu nhập hoặc một loại thuếtương đương ở một khâu nào đó Những khoản thu nhập không chịu thuế thu nhập cũng
có thể là những khoản thu nhập nhỏ, lặt vặt nhưng lại không thuận tiện cho công tác quản
lý Nói cách khác, thu nhập chịu thuế phải gồm hầu hết các khoản thu nhập chủ yếu phátsinh, không phân biệt hình thái và nguồn gốc của chúng
Thu nhập chịu thuế phải là thu nhập ròng nghĩa là thu nhập sau khi đã tính các chiphí đã tạo ra nó và các khoản được phép giảm trừ Đối với thuế thu nhập doanhnghiệp thì thu nhập chịu thuế là doanh thu đã trừ chi phí kinh doanh hợp lý Trên thực tếviệc trừ các chi phí cần thiết thường được thực hiện thông qua việc quy định ra mức khởiđiểm chịu thuế
Thuế thu nhập cá nhân
Thuế thu nhập cá nhân là thuế trực thu, thu trên thu nhập của những người có thunhập cao
Trang 11Đối tượng nộp thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao (dưới đây gọi là thuếTNCN) bao gồm: Công dân Việt Nam ở trong nước hoặc đi công tác, lao động ở nướcngoài có thu nhập Cá nhân là người không mang quốc tịch Việt Nam nhưng định cưkhông thời hạn tại Việt Nam có thu nhập (sau đây gọi là cá nhân khác định cư tại ViệtNam) Người nước ngoài có thu nhập tại Việt Nam bao gồm người nước ngoài làm việctại Việt Nam trong các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, văn hóa, xã hội, các văn phòngđại diện, các chi nhánh công ty nước ngoài tại Việt Nam; các cá nhân hành nghề độc lậptại Việt Nam Người nước ngoài tuy không hiện diện tại Việt Nam nhưng có thu nhậpphát sinh tại Việt Nam.
Căn cứ tính thuế thu nhập là thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân và thuế suất Thunhập chịu thuế bao gồm thu nhập thường xuyên và thu nhập không thường xuyên Thunhập thường xuyên chịu thuế là số tiền của từng cá nhân thực nhận tính bình quân thángthông thường trong năm trên 5.000.000 đồng Riêng đối với ca sỹ như diễn viên thanhnhạc biểu diễn các loại hình nghệ thuật ca – nhạc kịch, cải lương, tuồng, chèo, dân ca;nghệ sỹ xiếc, múa; cầu thủ bóng đá; vận động viên chuyên nghiệp có xác nhận của cơquan quản lý Nhà nước chuyên ngành, được trừ 25% thu nhập khi xác định thu nhập chịuthuế
Thu nhập không thường xuyên, đối với thu nhập về chuyển giao công nghệ làkhoản thu nhập có giá trị trên 15 triệu đồng tính cho từng hợp đồng, không phân biệt sốlần chi trả Đối với thu nhập về trúng thưởng xổ số dưới các hình thức, kể cả trúngthưởng khuyến mại là khoản thu nhập có giá trị trên 15 triệu đồng tính cho từng lần trúngthưởng và nhận giải thưởng
Thuế suất đối với thu nhập thường xuyên áp dụng theo Biểu thuế lũy tiến từngphần quy định, cụ thể theo Thông tư 81/2004/TT – BTC ngày 13/08/2004 hướng dẫn thihành Nghị định số 147/2004/NĐ – CP ngày 23/07/2004 của Chính phủ quy định chi tiếtthi hành Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao: