1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Kế thừa các giá trị truyền thống của người phụ nữ Việt Nam trong bối cảnh hội nhập hiện nay (LV thạc sĩ)

92 250 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 582,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kế thừa các giá trị truyền thống của người phụ nữ Việt Nam trong bối cảnh hội nhập hiện nay (LV thạc sĩ)Kế thừa các giá trị truyền thống của người phụ nữ Việt Nam trong bối cảnh hội nhập hiện nay (LV thạc sĩ)Kế thừa các giá trị truyền thống của người phụ nữ Việt Nam trong bối cảnh hội nhập hiện nay (LV thạc sĩ)Kế thừa các giá trị truyền thống của người phụ nữ Việt Nam trong bối cảnh hội nhập hiện nay (LV thạc sĩ)Kế thừa các giá trị truyền thống của người phụ nữ Việt Nam trong bối cảnh hội nhập hiện nay (LV thạc sĩ)Kế thừa các giá trị truyền thống của người phụ nữ Việt Nam trong bối cảnh hội nhập hiện nay (LV thạc sĩ)Kế thừa các giá trị truyền thống của người phụ nữ Việt Nam trong bối cảnh hội nhập hiện nay (LV thạc sĩ)Kế thừa các giá trị truyền thống của người phụ nữ Việt Nam trong bối cảnh hội nhập hiện nay (LV thạc sĩ)Kế thừa các giá trị truyền thống của người phụ nữ Việt Nam trong bối cảnh hội nhập hiện nay (LV thạc sĩ)Kế thừa các giá trị truyền thống của người phụ nữ Việt Nam trong bối cảnh hội nhập hiện nay (LV thạc sĩ)

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRỊNH THỊ NHỊ

KẾ THỪA CÁC GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG

CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ VIỆT NAM, TRONG BỐI CẢNH

HỘI NHẬP HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

HÀ NỘI, 2017

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRỊNH THỊ NHỊ

KẾ THỪA CÁC GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG

CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ VIỆT NAM, TRONG BỐI CẢNH

HỘI NHẬP HIỆN NAY

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu ghi

trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng công

bố trong bất kỳ công trình nào khác

Hà Nội, ngày 18 tháng 8 năm 2017

Tác giả

Trịnh Thị Nhị

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn, tác giả đã nhận được sự động viên, khuyến khích và sự giúp đỡ nhiệt tình của quý Thầy giáo, cô giáo, các cấp lãnh đạo, bạn bè đồng nghiệp và gia đình

Với tình cảm chân thành, tác giả xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến:

- TS Mai Thị Quý, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn

- Lãnh đạo Khoa Triết học, Học viện Khoa học xã hội (thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam), Quý Thầy cô giáo đã dạy lớp Cao học Triết học đợt 2 - K6 năm 2015, các phòng chuyên môn của Học viện đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu

- Mặc dù đã rất cố gắng, nhưng chắc chắn luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Tác giả rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến chân thành của Quý thầy cô giáo, các nhà khoa học và các bạn đồng nghiệp để luận văn này có giá trị lý luận và thực tiễn hơn

Xin chân thành cảm ơn và xin kính chúc các thầy cô, bạn bè, đồng nghiệp luôn mạnh khỏe, hạnh phúc và thành đạt

Hà Nội, tháng 8 năm 2017

Người thực hiện

Trịnh Thị Nhị

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 Chương 1 KẾ THỪA VÀ VẤN ĐỀ KẾ THỪA CÁC GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ VIỆT NAM 9 1.1 Kế thừa - một hiện tượng mang tính quy luật của sự phát triển xã hội 10 1.2 Kế thừa giá trị truyền thống của người phụ nữ Việt Nam – vai trò và ý nghĩa của nó trong tiến trình phát triển của dân tộc 15 Chương 2 TÁC ĐỘNG CỦA TOÀN CẦU HÓA VÀ HỘI NHẬP ĐẾN CÁC GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ VIỆT NAM VÀ VIỆC KẾ THỪA MỘT SỐ GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP HIỆN NAY 34 2.1 Tác động của toàn cầu hóa và hội nhập đến các giá trị truyền thống của người phụ nữ Việt Nam 34 2.2 Kế thừa một số giá trị truyền thống của người phụ nữ Việt Nam trong bối cảnh hội nhập hiện nay 52 KẾT LUẬN 82 TÀI LIỆU THAM KHẢO 84

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ở Việt Nam hiện nay, phụ nữ chiếm trên 51% dân số và hơn 48% lực lượng lao động xã hội, là lực lượng to lớn, đóng vai trò quan trọng vào sự nghiệp cách mạng của nước ta Là đất nước có bề dày lịch sử lại trải qua nhiều thiên tai, địch họa

là tiền đề để hình thành những giá trị truyền thống của dân tộc ta nói chung và giá trị truyền thống của người phụ nữ Việt Nam nói riêng Vừa phải đấu tranh chống thiên tai, địch họa lại vừa phải gồng mình lên để chăm sóc gia đình, làm hậu phương vững chắc cho chồng, con yên tâm ra mặt trận, vừa tham gia tích cực vào các hoạt động kinh tế - chính trị - văn hóa - xã hội, người phụ nữ Việt Nam đã mang trong mình bao đời nay những giá trị truyền thống tốt đẹp, trong đó có những giá trị chung của

cả dân tộc cũng có những giá trị riêng của những người phụ nữ Việt như: yêu nước; nhân ái, bao dung; anh hùng, bất khuất; coi trọng gia đình; cần cù, tiết kiệm; thông minh, sáng tạo; chịu thương chịu khó; nhường nhịn; thủy chung son sắt; thương chồng, thương con; hy sinh, chịu đựng; công, dung, ngôn, hạnh

Khi nói về truyền thống và vai trò của người phụ nữ Việt Nam, nguyên Tổng

Bí thư Đỗ Mười đã nêu trong bài phát biểu tại Đại hội đại biểu Phụ nữ Việt Nam lần thứ VIII: "Từ xưa đến nay, phụ nữ Việt Nam luôn luôn giữ vị trí quan trọng trong quá trình hình thành cộng đồng dân tộc, trong sự nghiệp đấu tranh lâu dài dựng nước và giữ nước cũng như trong cuộc đời thường Truyền thống và phẩm giá của phụ nữ nước ta được hình thành qua hàng nghìn năm lịch sử” Bác Hồ kính yêu

cũng đã trao tặng tám chữ vàng cho phụ nữ Việt Nam: "Anh hùng, bất khuất, trung

hậu, đảm đang" Đây chính là sự đúc kết một cách sâu sắc truyền thống vẻ vang và

phẩm giá cao đẹp của những người phụ nữ Việt

Những giá trị truyền thống đó đã trở thành nét đẹp của người phụ nữ Việt Nam

và tạo nên sức mạnh giúp những người mẹ, người chị vượt qua được những khó khăn, thử thách và có những đóng góp không nhỏ trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc ta trong suốt trường kỳ lịch sử Ngày nay, người phụ nữ Việt Nam mang trong mình trọng trách lớn đối với gia đình và xã hội, vừa phải “giỏi việc

Trang 7

nước” vừa phải “đảm việc nhà”, đóng góp công sức, trí tuệ đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu Để hoàn thành trọng trách đó, phụ nữ Việt Nam hiện nay cần phải biết trân trọng, giữ gìn, kế thừa, phát huy những giá trị truyền thống mà những thế hệ phụ nữ đi trước đã tạo dựng nên để tạo nên sức mạnh nội sinh và lòng tự hào dân tộc cũng như để bảo vệ thuần phong mỹ tục, bản sắc văn hóa không chỉ của người phụ nữ mà của cả dân tộc Việt Nam Mặt khác, trên cơ sở những giá trị truyền thống cao đẹp, người phụ nữ Việt Nam hiện nay cần chủ động tiếp thu những giá trị tinh hoa của người phụ nữ hiện đại như trí tuệ, năng động, sáng tạo, tự trọng, tự tin

để có thể khẳng định năng lực, vai trò, vị trí của người phụ nữ trong gia đình cũng như ngoài xã hội

Ngày nay, đại đa số phụ nữ Việt Nam vẫn biết trân trọng, giữ gìn những giá trị truyền thống tốt đẹp của những thế hệ phụ nữ đi trước Trên khắp mọi miền của Tổ quốc, từ thành thị đến nông thôn, từ đồng bằng đến miền núi, hải đảo xa xôi, từ các công sở, trường học đến những công trường, những cánh đồng đầy nắng gió và đặc biệt là dưới những mái nhà, chúng ta vẫn thường xuyên bắt gặp hình ảnh những người phụ nữ chịu thương chịu khó, tần tảo sớm hôm, vun vén cho gia đình, thương chồng, thương con, thủy chung, son sắt, vượt qua mọi khó khăn để hoàn thành tốt mọi công việc trong gia đình cũng như ngoài xã hội Tỷ lệ các chị đạt danh hiệu

“Giỏi việc nước, đảm việc nhà” rất cao

Tuy nhiên, do ảnh hưởng của toàn cầu hóa, hội nhập, mặt trái của kinh tế thị trường, cuộc cách mạng công nghệ và một số yếu tố khác, một bộ phận phụ nữ có

sự thay đổi trong quan niệm, lối sống theo hướng xem nhẹ những giá trị truyền thống mà quá đề cao những giá trị hiện đại, thậm chí “sính ngoại” hay “tây hóa”, chạy theo 1ối sống hưởng thụ, xa hoa, đua đòi, ăn chơi làm cho giá trị truyền thống

bị mờ nhạt, cái hay, cái đẹp bị xói mòn, coi thường giá trị chuẩn mực, luân thường đạo lý Thậm chí, có một bộ phận phụ nữ không giữ được mình vì bị sa ngã trước cám dỗ của đồng tiền, của quyền lực mà đánh mất bản thân dẫn đến gia đình không còn chu toàn, bị rạn nứt, chưa làm tròn bổn phận, thiên chức người vợ, người mẹ,

Trang 8

người con dâu hiếu thảo nên dần bị phá vỡ, bị ly tán, tỷ lệ ly thân, ly hôn ngày càng gia tăng

Chính vì vậy, vấn đề kế thừa các giá trị truyền thống của người phụ nữ Việt

Nam trong bối cảnh hội nhập hiện nay là một đề tài có ý nghĩa cấp thiết cả về lý

luận và thực tiễn

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

* Về vấn đề toàn cầu hóa và hội nhập

Toàn cầu hoá và tác động của nó đối với sự phát triển kinh tế - xã hội là một vấn

đề lớn và mang tính thời sự, vì vậy đã có nhiều công trình trong và ngoài nước tập trung nghiên cứu ở những góc độ khác nhau Có thể kể đến một số công trình sau đây:

“Việt Nam hội nhập kinh tế trong xu thế toàn cầu hoá - vấn đề và giải pháp” do

Chu Tuấn Cáp chủ biên, (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002) Trên cơ sở phân tích

lý luận và thực tiễn quá trình phát triển của toàn cầu hoá cùng những tác động của nó, các tác giả đã trình bày quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, nêu lên những

thành công bước đầu, những hạn chế và bài học kinh nghiệm của nước ta; “Toàn cầu hoá -

những vấn đề lý luận và thực tiễn” do Lê Hữu Nghĩa - Lê Ngọc Tòng đồng chủ biên, (Nxb

Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004) Đây là kết quả nghiên cứu của đề tài KX 08 01 về “Xu

thế toàn cầu hoá trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI” gồm có 27 chuyên luận tập trung bàn

về các vấn đề đặc điểm, bản chất của toàn cầu hoá, tính chất hai mặt của toàn cầu hoá đối với sự phát triển kinh tế của các quốc gia và sự tác động của toàn cầu hoá đến các mặt chính trị - xã hội, văn hoá của các nước, về thời cơ và thách thức đối với Việt Nam khi chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và tham gia toàn cầu hoá kinh tế

Công trình “Toàn cầu hoá - cơ hội và thách thức đối với các nước đang phát

triển” của Đường Vinh Sường, (Nxb Thế giới, 2004) là công trình nghiên cứu được

thực hiện trên cơ sở phân tích quá trình phát triển, những đặc trưng cơ bản của toàn cầu hoá kinh tế, những cơ hội và thách thức đặt ra với các nước đang phát triển, đồng thời

có sự liên hệ với Việt Nam trong quá trình đổi mới “Toàn cầu hoá và tác động đối với

sự hội nhập của Việt Nam” là một công trình tập hợp những bài tham luận được tuyển

chọn từ hai cuộc hội thảo cùng tên do trường Đại học Quốc gia Hà Nội hợp tác với

Trang 9

Viện Quốc tế Konrad Adenauer (Cộng hòa liên bang Đức) phối hợp tổ chức tại Hà Nội vào tháng 11 năm 2002 và tháng 12 năm 2003 Các tham luận tập trung vào những vấn

đề lý luận và những hệ quả của toàn cầu hoá, đồng thời cũng đề cập đến những khó khăn và thuận lợi của Việt Nam trong qua trình hội nhập;

Như vậy, các công trình trên chủ yếu xem xét toàn cầu hoá dưới góc độ kinh tế mà chưa nhìn nhận toàn cầu hoá với tư cách là một chỉnh thể bao gồm tất cả các mặt: kinh

tế, chính trị, văn hoá, xã hội luôn tác động qua lại lẫn nhau, trong đó kinh tế giữ vai trò nền tảng Hơn nữa, các công trình trên chủ yếu chỉ dừng lại ở sự tác động của toàn cầu hoá đối với kinh tế, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc hội nhập kinh tế quốc tế đối với Việt Nam, mà chưa chú trọng nhiều đến sự tác động của toàn cầu hoá đến sự biến đổi của các giá trị của xã hội nói chung và của người phụ nữ Việt Nam nói riêng cũng như các giải pháp để kế thừa giá trị truyền thống của người phụ nữ Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập Đây cũng chính là sự gợi mở cho một hướng nghiên cứu mới mà tác giả sẽ thực hiện trong đề tài này

* Về vấn đề giá trị và giá trị truyền thống

Vấn đề nghiên cứu về giá trị truyền thống của dân tộc, tiêu biểu phải kể đến công

trình nghiên cứu của Trần Văn Giàu: “Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt

Nam”, (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1980) Trong công trình này, tác giả đã đề cập

đến cơ sở hình thành, nội dung và những biểu hiện của các giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc, trong đó chủ yếu là những giá trị đạo đức Đề tài KX- 07- 02 mang tên:

“Các giá trị truyền thống và con người Việt Nam hiện nay”, do Phan Huy Lê và Vũ

Minh Giang chủ biên, đã nghiên cứu quá trình hình thành, phát triển và biến đổi của các giá trị truyền thống Việt Nam, phân tích nội dung cấu thành của truyền thống Việt Nam, đánh giá những mặt mạnh, mặt yếu của di sản truyền thống, đồng thời đưa ra những khuyến nghị về phương hướng và giải pháp giáo dục, phát huy các giá trị truyền thống để giải quyết một cách hài hoà mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại

Công trình “Mấy vấn đề về đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta

hiện nay” do Nguyễn Trọng Chuẩn - Nguyễn Văn Phúc đồng chủ biên, (Nxb Chính trị

Quốc gia, Hà Nội, 2003) đã đề cập đến những tác động của kinh tế thị trường đối với

Trang 10

những giá trị đạo đức truyền thống, vai trò của đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường và đề xuất một số giải pháp xây dựng đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường

ở nước ta hiện nay Công trình “Một số vấn đề về lối sống, đạo đức, chuẩn giá trị xã

hội” do Huỳnh Khái Vinh chủ biên, (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001) đã đề cập

đến những vấn đề cơ bản của lối sống, đạo đức, chuẩn giá trị xã hội; việc kế thừa và phát huy nếp sống, đạo đức, chuẩn giá trị xã hội truyền thống và cách mạng trong thời

kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Công trình “Giá trị truyền thống

trước những thách thức của toàn cầu hoá”, (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002) do

Nguyễn Trọng Chuẩn - Nguyễn Văn Huyên đồng chủ biên, tập hợp những bài viết

chọn lọc của một số tác giả được trình bày trong Hội thảo khoa học quốc tế “Giá trị

truyền thống trước những thách thức của toàn cầu hoá” được tổ chức tại Hà Nội vào

tháng 05 năm 2001 Các bài viết đều tập trung chỉ ra những thách thức của toàn cầu hóa đối với các giá trị truyền thống của dân tộc, những xung đột giữa giá trị truyền thống với giá trị hiện đại dẫn đến nguy cơ làm xói mòn các giá trị truyền thống vốn có từ bao

đời của dân tộc Công trình “Về định hướng giá trị của con người Việt Nam trong điều

kiện kinh tế thị trường” của tác giả Nguyễn Thế Hùng (Tạp chí Triết học số tháng 8

năm 2013, tr.76-82) đã đề cập đến vấn đề định hướng các giá trị cơ bản của con người Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay Theo tác giả, cần tập trung định hướng một số nhóm giá trị cơ bản như: các giá trị chính trị; các giá trị dân chủ; các giá trị trí tuệ; các giá trị đạo đức; các giá trị văn hóa; các giá trị về phát triển thể chất

Công trình “Giá trị học – cơ sở lý luận góp phần đúc kết, xây dựng giá trị chung

của người Việt Nam thời nay” của GS.TSKH Phạm Minh Hạc (2012) đã tiếp cận khái

niệm giá trị dưới góc độ của giá trị học Từ đó, tác giả đã phân tích cách tiếp cận thế

giới theo “Giá trị quan” của nhiều nhà nghiên cứu trong lịch sử Với nhiều lát cắt khác

nhau, tác giả đã đi sâu làm rõ khái niệm giá trị, cấu trúc của giá trị, cơ chế hình thành giá trị, hệ giá trị xã hội, chỉ ra những giá trị truyền thống cốt lõi của dân tộc Việt Nam cũng như hệ giá trị truyền thống Đông Á, Tây Âu, đồng thời cũng chỉ ra những giá trị chung của nhân loại Tác giả cũng chỉ ra những biến động phức tạp của một số giá trị ở Việt Nam hiện nay theo những xu hướng khác nhau như: chuyển từ coi trọng giá trị

Trang 11

tinh thần sang coi trọng các giá trị vật chất; từ giá trị cộng đồng sang giá trị cá nhân; từ cống hiến sang hưởng thụ; từ bị động sang chủ động; từ tâm lý cào bằng sang tâm lý phân hóa…Từ đó, tác giả đề xuất hệ giá trị cần định hướng cho con người Việt Nam hiện nay trên cơ sở các nguyên tắc: kết hợp giá trị truyền thống với giá trị hiện đại, kết hợp giá trị dân tộc với giá trị nhân loại, thống nhất trong da dạng Hệ giá trị mà tác giả

đề xuất được chia thành: các giá trị chung của loài người; các giá trị toàn cầu; các giá trị dân tộc; các giá trị gia đình; các giá trị bản thân Đây là hệ giá trị chung có thể làm cơ

sở để xây dựng hệ giá trị cho từng đối tượng cụ thể trong xã hội

* Về vấn đề kế thừa và phát huy các giá trị truyền thống của người phụ nữ Việt Nam

Công trình nghiên cứu “Những phẩm chất đạo đức truyền thống của người

phụ nữ Việt Nam” của tác giả Lê Nhâm Tuyết – Nhà nghiên cứu nhân học xã hội,

Giám đốc sáng lập TTNC giới, gia đình và môi trường trong phát triển (CGFED) đã khẳng định những giá trị đạo đức truyền thống của người phụ nữ Việt Nam đã được khẳng định trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước cũng như trong công cuộc xây dựng đất nước hiện nay Họ là “con người lao động”, “con người nội trợ”,

“con người chiến sỹ” Tuy nhiên, tác giả cũng chỉ ra những mặt trái cần khắc phục của người phụ nữ Việt Nam truyền thống đó là: an phận, tự ti, cam chịu, thụ động… Đây chính là điểm yếu của người phụ nữ Việt Nam

Tác giả Trâm Duyên trong bài viết “Phát huy truyền thống của người phụ nữ

Việt Nam” cũng khẳng định rằng: phụ nữ Việt Nam cần phát huy truyền thống

“Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang” để xứng đáng với tám chữ vàng mà Bác Hồ kính yêu đã ban tặng Mặt khác, trong giai đoạn hiện nay, với những nhiệm

vụ mới, vận mệnh mới, người phụ nữ Việt Nam cần hướng tới những chuẩn mực giá trị mới đó là: “Tự tin, tự trọng, trung hậu, đảm đang” để khẳng định hơn nữa vị trí, vai trò của người phụ nữ Việt Nam hiện đại

Trong công trình nghiên cứu “Phụ nữ Việt Nam – Bách khoa toàn thư”, các

tác giả đã đề cập đến vị trí, vai trò của người phụ nữ Việt Nam thời xưa, thời chiến tranh và thời nay Đồng thời cũng chỉ ra những nét đẹp truyền thống của người phụ

nữ Việt Nam vừa cần cù, thông minh, sáng tạo, thủy chung son sắt, thương chồng,

Trang 12

thương con… và nêu lên những tấm gương phụ nữ làm lãnh đạo nổi tiếng của Việt Nam qua các thời kỳ

Công trình nghiên cứu “Lịch sử phong trào phụ nữ Việt Nam” đã đề cập đến

vấn đề Bác Hồ với phong trào phụ nữ Việt Nam, vai trò của người phụ nữ Việt Nam trong lịch sử đồng thời phác họa chân dung người phụ nữ Việt Nam truyền thống

Từ đó đặt ra vấn đề cần giữ gìn và phát huy các giá trị truyền thống của người phụ

nữ Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Ngoài các công trình nghiên cứu nêu trên còn có nhiều công trình, bài viết đề cập đến giá trị truyền thống của người phụ nữ Việt Nam, vai trò của người phụ nữ Việt nam trong lịch sử cũng như những chuẩn mực của người phụ nữ Việt Nam hiện đại Tuy nhiên, chưa có công trình nào đề cập một cách khoa học và đầy đủ về vấn đề kế thừa những giá trị truyền thống của người phụ nữ Việt Nam trong bối

cảnh hội nhập hiện nay Vì vậy, việc nghiên cứu vấn đề Kế thừa các giá trị truyền thống của người phụ nữ Việt Nam trong bối cảnh hội nhập hiện nay thật sự là

của người phụ nữ Việt Nam trong bối cảnh hội nhập hiện nay

3.2 Nhiệm vụ của đề tài

- Làm rõ thực chất, đặc trưng, vai trò của kế thừa và kế thừa giá trị truyền thống của người phụ nữ trong giai đoạn hiện nay

- Phân tích tác động của toàn cầu hóa và hội nhập đến các giá trị truyền thống của người phụ nữ Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập

- Luận chứng về vai trò, ý nghĩa và sự cần thiết của việc kế thừa một số giá trị truyền thống tiêu biểu của phụ nữ Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và nêu những nội dung cơ bản của sự kế thừa đó

Trang 13

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng

Giá trị truyền thống của người phụ nữ Việt Nam

4.2 Phạm vi

Chỉ nghiên cứu một số giá trị truyền thống tiêu biểu của người phụ nữ Việt Nam

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

- Dựa trên những quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy

vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh; các quan điểm của Đảng Cộng Sản Việt Nam về vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống phụ nữ trong điều kiện toàn cầu hóa

- Sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, logíc – lịch sử, quy nạp, diễn dịch để giải quyết những nội dung cụ thể sau:

+ Khái quát nêu lên những giá trị truyền thống cần được kế thừa của phụ nữ

Việt Nam hiện nay

+ Đề xuất những giải pháp có tính định hướng để kế thừa những giá trị truyền

thống trong việc xây dựng người phụ nữ trong bối cảnh hiện nay

+ Tiếp cận dưới góc độ triết học, nhìn nhận kế thừa truyền thống với tư cách là một chỉnh thể bao gồm nhiều mặt, nhiều yếu tố vừa thống nhất, vừa tác động qua lại với nhau và mang tính hai mặt, cả tích cực lẫn tiêu cực

+ Phân tích một cách có hệ thống những biến động của các giá trị truyền thống phụ nữ Việt Nam trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Chỉ rõ những đặc trưng của việc kế thừa giá trị truyền thống của người phụ nữ Việt Nam, những vấn đề đặt ra trong quá trình này, đồng thời chỉ rõ tại sao trong bối cảnh hội nhập hiện nay, cần phải kế thừa các giá trị truyền thống của người phụ nữ,

kế thừa những nội dung gì và kế thừa như thế nào để đạt hiệu quả cao nhất

- Với kết quả nghiên cứu, luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu giảng dạy vấn đề kế thừa truyền thống của phụ nữ trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập hiện nay

Trang 14

- Luận văn cũng góp phần giải quyết một vấn đề quan trọng là làm thế nào để có

thể phát huy nội lực và giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống của phụ nữ trong xu thế toàn cầu hóa góp phần thúc đẩy các nghiên cứu tiếp theo về vấn đề này

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận thì luận văn được kết cấu gồm 2 chương:

Chương 1: Kế thừa và vấn đề kế thừa các giá trị truyền thống của người phụ nữ Việt Nam

Chương 2: Tác động của toàn cầu hóa và hội nhập đến các giá trị truyền thống của người phụ nữ Việt Nam và việc kế thừa một số giá trị truyền thống của người phụ

nữ Việt Nam trong bối cảnh hiện nay

Trang 15

Chương 1

KẾ THỪA VÀ VẤN ĐỀ KẾ THỪA CÁC GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG

CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ VIỆT NAM 1.1 Kế thừa - một hiện tượng mang tính quy luật của sự phát triển xã hội

Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan đều luôn nằm trong quá trình vận động, biến đổi và phát triển không ngừng theo những quy luật nhất định Một trong những quy luật chung biểu hiện khuynh hướng của sự phát triển là quy luật phủ định của phủ định mà kế thừa là một đặc trưng cơ bản Tính kế thừa thực chất chính là mối liên hệ tất yếu khách quan giữa mới và cũ trong quá trình phát triển Trong mối quan hệ đó, cái mới luôn ra đời, thay thế và phủ định cái cũ, nhưng giữa chúng lại có mối liên hệ khăng khít với nhau, đó là sự kế thừa của cái mới đối với cái cũ

Quá trình phủ định diễn ra không phải là sự phủ định siêu hình, phủ định sạch trơn mà là sự phủ định biện chứng, đó là “quá trình tự thân phủ định, tự thân phát triển, là mắt khâu trên con đường dẫn tới sự ra đời của cái mới, tiến bộ hơn so với cái cũ bị phủ định” [21, tr 333] Phủ định biện chứng mang hai đặc trưng cơ bản, đó là: tính khách quan và tính kế thừa

Tính khách quan của phủ định biện chứng thể hiện ở chỗ: phủ định là kết quả của quá trình giải quyết mâu thuẫn nội tại bên trong sự vật chứ không phải do

sự áp đặt từ bên ngoài Hơn nữa, phương thức phủ định sự vật cũng không phụ thuộc vào ý muốn của con người, mà mỗi sự vật có một phương thức phủ định riêng

“trước hết là do tính chất chung của quá trình, hai là do tính chất riêng của quá trình quyết định” [3, tr 201]

Mặt khác, phủ định biện chứng không phải là sự thủ tiêu, sự phá huỷ hoàn toàn cái bị phủ định Trái lại, để dẫn tới sự ra đời của cái mới, quá trình phủ định biện chứng bao hàm trong nó việc giữ lại những nội dung tích cực đồng thời loại bỏ những yếu tố tiêu cực của cái bị phủ định Phủ định biện chứng, do vậy, là sự phủ định mang tính kế thừa Với nghĩa đó, phủ định đồng thời cũng là khẳng định Diễn

Trang 16

đạt tư tưởng này, V.I Lênin viết: “Không phải sự phủ định sạch trơn, không phải sự phủ định không suy nghĩ, không phải sự phủ định hoài nghi, không phải sự do dự, cũng không phải sự nghi ngờ là cái đặc trưng và cái bản chất trong phép biện chứng, - dĩ nhiên, phép biện chứng bao hàm trong nó nhân tố phủ định và thậm chí với tính cách là nhân tố quan trọng nhất của nó mà là sự phủ định coi như là vòng khâu của liên hệ, vòng khâu của sự phát triển, với sự duy trì cái khẳng định” [29, tr 245]

Giá trị của kế thừa biện chứng được quy định bởi vai trò của nó trong sự ra đời của cái mới Không có cái mới nào lại ra đời từ hư vô Nhờ việc giữ lại những nhân tố tích cực của cái bị phủ định - tức là nhờ có kế thừa - mà cái mới có tiền đề cho sự xuất hiện của mình Trong dòng chảy vô tận của thời gian, cái quá khứ không mất đi mà không để lại dấu vết nào trong cái hiện tại Thực chất, nó đã tham gia vào việc tạo ra cái hiện tại, tạo ra mối liên hệ chặt chẽ và sống động giữa các sự vật, hiện tượng trong quá khứ với hiện tại và tương lai Mối liên hệ này biểu hiện khuynh hướng phát triển đi lên của các sự vật, hiện tượng

Phát triển chính là sự vận động theo khuynh hướng đi lên từ thấp đến cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn, từ lạc hậu đến tiến bộ Kết quả của quá trình vận động đó là sự ra đời của sự vật mới hoàn thiện hơn sự vật cũ Trong quá trình này, những yếu tố tích cực của cái cũ được giữ lại, cải biến để tham gia vào sự vật mới với tư cách là yếu tố cấu thành của nó Phủ định biện chứng không phải là sự tiêu diệt giản đơn cái cũ mà là phủ định làm cho cái mới nảy sinh từ trong lòng cái

cũ, là những nhân tố tích cực của cái cũ trở thành vật liệu cần thiết cho cái mới

Như vậy, kế thừa là một trong những đặc trưng quan trọng, phổ biến của quy luật phủ định của phủ định Nó là sự biểu hiện mối quan hệ giữa cái cũ và cái mới trong quá trình phát triển của sự vật: cái mới tuy phủ định cái cũ nhưng là một sự phủ định có kế thừa Cụ thể hơn, kế thừa chính là mối liên hệ giữa các giai đoạn hay giữa các cấp độ khác nhau trong sự phát triển của sự vật Sự kế thừa biểu hiện ở chỗ, một hay nhiều yếu tố của sự vật được bảo tồn khi sự vật chuyển từ trạng thái này sang trạng thái khác

Trang 17

Như vậy, kế thừa là nhân tố bên trong của sự phát triển Không thể nói đến

sự phát triển mà tước bỏ đi tính kế thừa, cũng không thể nói đến kế thừa mà tách rời khỏi sự phát triển Kế thừa là sự bảo tồn những đặc điểm, đặc tính của một sự vật và hiện tượng cũ trong quá trình phát triển Còn phát triển không chỉ là sự bảo tồn mà còn là sự mở rộng, bổ sung, hoàn thiện và nâng cao về chất những đặc điểm, đặc tính vốn có trong sự vật và hiện tượng Như vậy, “để phát triển được bao giờ cũng cần có sự kế thừa, tức là bảo tồn, giữ lại những đặc điểm, đặc tính của đối tượng để trên cơ sở đó mở rộng, nâng cao trình độ, còn phát triển chính là sự kế thừa tốt nhất, tích cực nhất” [18, tr 35]

Mặt khác, kế thừa phải luôn gắn liền với lọc bỏ và đổi mới Ngay cả đối với nhân tố tích cực của cái bị phủ định được giữ lại, nó vẫn được duy trì dưới dạng lọc

bỏ, chứ không phải bê nguyên xi, không phê phán, không cải tạo và không phải lắp ghép một cách máy móc cái cũ vào cái mới Nếu kế thừa mà không gắn với đổi mới

và lọc bỏ thì sự kế thừa đó không thể làm xuất hiện cái mới tiến bộ hơn, hoàn thiện hơn cái cũ mà cùng lắm chỉ lặp lại cái cũ một cách phiến diện hơn

Hêghen là người đầu tiên phân tích tính kế thừa theo quan điểm biện chứng của sự phát triển bằng quy luật phủ định của phủ định Tuy nhiên, vốn là một nhà biện chứng duy tâm, cho nên các quy luật, phạm trù do Hêghen nêu ra chỉ là các quy luật vận động và phát triển của tư duy, của khái niệm Mác và Ăngghen là những người đã phát hiện và kế thừa, phát triển hạt nhân biện chứng trong cái vỏ duy tâm thần bí của học thuyết triết học Hêghen và đã “dựng nó lại” để xây dựng nên phép biện chứng duy vật

Khi nói về sự tác động của quy luật phủ định của phủ định, Ănghen đã vạch

rõ, đây “là một quy luật vô cùng phổ biến và chính vì vậy mà nó có một tầm quan trọng và có tác dụng vô cùng to lớn về sự phát triển của tự nhiên, của lịch sử và của

tư duy; một quy luật, , biểu hiện trong giới động vật và thực vật, trong địa chất học, toán học, lịch sử, triết học ” [3, tr 200]

Trong tự nhiên, tính kế thừa được biểu hiện, chẳng hạn như những nhân tố

vô cơ được giữ lại khi chuyển sang giới tự nhiên hữu cơ Giới tự nhiên hữu cơ là

Trang 18

bước phát triển cao hơn giới tự nhiên vô cơ, nhưng những nhân tố vô cơ vẫn được giữ lại như một điều kiện tồn tại của các cơ thể hữu cơ Trong thế giới động vật và thực vật, kế thừa là điều kiện để hoàn thiện các hình thức sống trên cơ sở di truyền Học thuyết tiến hoá của Đác-uyn đã chứng minh rằng: thông qua biến dị, di truyền

và chọn lọc tự nhiên, tất cả các thế hệ sau bao giờ cũng kế thừa những đặc tính của các thế hệ trước trên cơ sở biến đổi, gạn lọc làm cho cơ thể chúng ngày càng hoàn thiện hơn Chẳng hạn, sự tiến hoá của loài người trải qua hàng triệu năm đã cho thấy: loài người hiện nay vẫn kế thừa những nét cơ bản của tổ tiên từ xa xưa nhưng những nét cơ bản đó ngày càng được bổ sung làm cho con người ngày càng hoàn thiện hơn cả về mặt thể chất và tinh thần Trong vận động, các hình thức cao luôn bao hàm trong nó những hình thức thấp hơn Chẳng hạn, vận động sinh học bao hàm trong nó các vận động cơ học, vật lý, hoá học, song đặc trưng sinh học đóng vai trò chi phối Tương tự như vậy, các hình thức phản ánh cao bao giờ cũng bao hàm trong

nó các hình thức phản ánh thấp hơn

Trong sự phát triển của xã hội, tính kế thừa cũng được biểu hiện rõ nét mà lịch sử phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là một minh chứng Lịch sử loài người là lịch sử của sự phát triển sản xuất, lịch sử của các phương thức sản xuất kế tiếp nhau từ thấp đến cao Con người bắt đầu bước vào lịch sử của mình

và phân biệt mình với động vật là nhờ có lao động sản xuất bằng cách chế tạo và sử dụng công cụ lao động Quá trình sản xuất tiếp theo cũng chính là quá trình con người từng bước hoàn thiện công cụ lao động, kinh nghiệm, kỹ năng, kỹ xảo của mình Để làm được điều đó, con người ở những thế hệ sau không thể không kế thừa những thành quả mà các thế hệ trước đã để lại Thế hệ sau dùng những công cụ, những kinh nghiệm do thế hệ trước đã tạo ra để sản xuất ra những công cụ mới ngày càng tiên tiến hơn, hiện đại hơn và cho năng suất lao động cao hơn

Quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa và quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa khác nhau về bản chất nhưng điều đó không có nghĩa là trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, một số yếu tố tích cực của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa không cần được kế thừa Chẳng hạn: những kinh nghiệm tổ chức, quản lý sản xuất

Trang 19

dưới các hình thức khoán, đấu thầu, công ty cổ phần , các biện pháp thực hiện quyền sử dụng, chuyển nhượng, các nghiệp vụ quản lý sản xuất kinh doanh, các biện pháp áp dụng khoa học và công nghệ mới là những nhân tố tích cực vốn có trong xã hội bản chủ nghĩa mà quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa cần phải kế thừa nếu không muốn mò mẫm làm lại từ đầu Việc nhà nước tư bản can thiệp vào các quá trình kinh tế với các công cụ điều tiết ở tầm vĩ mô như pháp luật, chính sách tài chính, tín dụng cũng là một trong những yếu tố cần được xem xét, kế thừa

Trong tư duy, sự phát triển của các hình thái ý thức xã hội như khoa học, triết học, nghệ thuật, đạo đức, pháp quyền cũng thể hiện rõ tính kế thừa trong nhận thức của con người qua các thời đại lịch sử khác nhau Lênin đã chỉ ra rằng, các học thuyết triết học không phải là bất biến và có giá trị tuyệt đối mà các vấn đề triết học đều được lặp lại để giải quyết làm cho chúng ngày càng sâu sắc thêm Sự sâu sắc thêm của các tri thức ở những giai đoạn sau bao giờ cũng phải dựa trên trình độ tri thức đã đạt được trước đó; mỗi trình độ tri thức của giai đoạn trước bao giờ cũng là

cơ sở cho sự phát triển của các tri thức ở trình độ sau Chủ nghĩa Mác đã kế thừa và cải tạo cả chủ nghĩa duy vật siêu hình lẫn phép biện chứng duy tâm để xây dựng nên chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Như vậy, chủ nghĩa Mác không phải là một học thuyết đoạn tuyệt với quá khứ, cũng không phải ra đời trên một mảnh đất trống rỗng, mà nó đã kế thừa một cách xuất sắc tất cả những tinh hoa của những học thuyết triết học trước đó Đúng như Lênin đã đánh giá: “Học thuyết của ông (Mác) ra đời là sự kế thừa thẳng và trực tiếp những học thuyết của những đại biểu xuất sắc nhất trong triết học, trong kinh tế chính trị học và trong chủ nghĩa xã hội Nó là người thừa kế chính đáng của tất cả những cái tốt đẹp nhất mà loài người đã tạo ra hồi thế kỷ XIX, đó là triết học Đức, kinh tế chính trị học Anh và chủ nghĩa xã hội Pháp” [28, tr 49 - 50]

Song, chủ nghĩa Mác không kế thừa một cách nguyên xi những quan niệm của các nhà tiền bối, mà là một sự kế thừa có đổi mới và phát triển Kết quả của sự

kế thừa ấy là đã tìm ra hạt nhân hợp lý trong cái vỏ duy tâm của hệ thống Hêghen, lột bỏ cái vỏ duy tâm đó và thay vào đó cái vỏ duy vật, cũng như đã bổ sung thêm

Trang 20

cho các quan niệm duy vật của Phoiơbăc một phương pháp biện chứng, tạo nên một học thuyết “toàn diện, sâu sắc và không phiến diện”

Như vậy, qua sự phân tích ở trên, chúng ta thấy rõ rằng: kế thừa, đổi mới là một quá trình mang tính quy luật, biểu hiện đặc trưng của sự phát triển bất kể đó là

sự phát triển trong tự nhiên, xã hội hay tư duy Tuy nhiên, trong mỗi lĩnh vực cụ thể, tính kế thừa có những đặc thù riêng Quá trình kế thừa những giá trị truyền thống của dân tộc cũng có những đặc thù riêng của nó

1.2 Kế thừa giá trị truyền thống của người phụ nữ Việt Nam – vai trò và ý nghĩa của nó trong tiến trình phát triển của dân tộc

1.2.1 Giá trị, truyền thống và giá trị truyền thống

Khái niệm “giá trị” đã xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử ngôn ngữ nhân loại

Trong tiếng anh có hai thuật ngữ tương đương với khái niệm giá trị, đó là value và

worth – tức có nghĩa là giá trị, giá trị, hữu ích, đáng giá…Hiện nay, khái niệm giá trị

đang được sử dụng rộng rãi trong nhiều ngành khoa học khác nhau như: kinh tế chính trị học, tâm lý học, đạo đức học, xã hội học, mỹ học…Trong mỗi một bộ môn

cụ thể, khái niệm giá trị được hiểu theo những nội dung rộng hẹp khác nhau

Nhìn từ góc độ kinh tế chính trị học, giá trị là giá trị của hàng hóa, nó là một

trong hai thuộc tính cơ bản của hàng hóa, là lực lượng lao động xã hội kết tinh trong hàng hóa Do vậy, những hàng hóa nào có chất lượng hao phí lao động xã hội kết tinh càng lớn thì giá trị của nó càng cao và ngược lại

Nhìn từ góc độ đạo đức học, giá trị được xem xét trong phạm vi đời sống đạo

đức của con người Giá trị đạo đức chính là những thái độ, hành vi được con người lựa chọn, đánh giá là có ý nghĩa tích cực đối với đời sống xã hội, được lương tâm đồng tình và dư luận biểu dương, phù hợp với những chuẩn mực đạo đức của xã hội trong từng thời kỳ nhất định, hướng con người đến với “cái thiện”

Nhìn từ góc độ mỹ học, giá trị được xem xét trong phạm vi đời sống thẩm mỹ

cùng các quan hệ thẩm mỹ của con người Giá trị thẩm mỹ đó là những chuẩn mực thẩm mỹ được nhận thức thông qua các khách thể thẩm mỹ (cái đẹp, cái bi, cái hài, cái cao cả…) Trong đó cái đẹp được xem là một giá trị trung tâm và cơ bản, nói

Trang 21

cách khác, giá trị thẩm mỹ hướng con người ta đến với “cái mỹ”

Tuy có những định nghĩa khác nhau, nhưng chúng ta vẫn tìm thấy một số điểm chung trong quan niệm về giá trị như sau:

Thứ nhất, giá trị là ý nghĩa của những sự vật, hiện tượng vật chất hay tinh thần

có khả năng thoả mãn những nhu cầu tích cực của con người và góp phần vào thúc đẩy sự phát triển của xã hội

Thứ hai, giá trị luôn mang tính lịch sử khách quan, nghĩa là sự xuất hiện, tồn

tại hay mất đi của một giá trị nào đó không phụ thuộc vào ý thức con người mà nó phụ thuộc vào sự xuất hiện, tồn tại hay mất đi của một nhu cầu nào đó của con người do yêu cầu của hoạt động, của thực tiễn trong đó con người sống và hoạt động

Thứ ba, giá trị chứa đựng các yếu tố nhận thức, tình cảm và hành vi của chủ

thể trong mối quan hệ với sự vật, hiện tượng mang giá trị, thể hiện sự lựa chọn, đánh giá của chủ thể

Thứ tư, giá trị được xác định trong mối quan hệ thực tiễn với con người, được xác

định bởi sự đánh giá đúng đắn của con người, xuất phát từ thực tiễn và được kiểm nghiệm qua thực tiễn Thực tiễn được coi vừa là tiêu chuẩn của chân lý về bản chất khách thể, vừa là tiêu chuẩn của chân lý về giá trị mà khách thể đó có được

Chủ nghĩa Mác – Lênin nhấn mạnh bản chất xã hội, tính lịch sử, tính nhận thức được và tính thực tiễn của giá trị Giá trị là những hiện tượng xã hội đặc thù và mọi giá trị đều có nguồn gốc từ lao động sáng tạo quần chúng Theo giáo sư Vũ Khiêu,

“Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin, chúng ta quan niệm giá trị là những thành tựu của con người góp vào sự phát triển đi lên của lịch sử xã hội, phục vụ cho lợi ích và hạnh phúc của con người Giá trị xuất hiện từ mối quan hệ xã hội giữa chủ thể và đối tượng, nghĩa là từ thực tiễn và chiến đấu của con người xã hội Giá trị vì thế được xác định bởi sự đánh giá đúng đắn của con người, xuất phát từ thực tiễn và được kiểm nghiệm qua thực tiễn” [22,tr.10]

Giá trị phải được xuất từ hai phía: phía khách thể - bản thân sự vật với những phẩm chất khách quan của nó và phía chủ thể - sự đánh giá của con người đối với khách thể đó

Trang 22

Về mặt chủ thể, đó là sự đánh giá của con người đối với khách thể mang giá trị Theo sự đánh giá này thì giá trị phải được xác định là tất cả những gì có thể thõa mãn những nhu cầu tích cực, đem lại sự phát triển, sự tiến bộ, sự tốt đẹp cho con người và cho xã hội, hướng con người tới “Chân – Thiện – Mỹ” V.E.Đaviđôvích thì cho rằng, “giá trị, sự đánh giá, cái được ưu thích, cái được mong đợi, cái được chờ đợi, nội dung tốt – tất cả những điều đó đều nói lên một cái gì đó tích cực đối với con người và đời sống của con người” [17, tr201]

Dưới góc độ triết học, theo chúng tôi, giá trị là một phạm trù dùng để chỉ ý nghĩa tích cực của các sự vật, hiện tượng, quá trình, quan hệ… (cả vật chất lẫn tinh thần) đối với một cá nhân, một cộng đồng, một giai cấp, một xã hội hay toàn thể nhân loại trong một điều kiện lịch sử cụ thể Điều đó cũng có nghĩa là, các sự vật, hiện

tượng, quá trình, quan hệ… có thể được coi là có giá trị khi chúng có khả năng thõa mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần mang tính tích cực, lành mạnh của con người Hình thức biểu hiện của giá trị là vô cùng phong phú, đa dạng phụ thuộc vào tính đa dạng trong nhu cầu của con người

Truyền thống vốn là một từ Hán - Việt và hiện nay đang được sử dụng phổ

biến trong tiếng Việt Đã có nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm này, tuy nhiên, nói đến truyền thống người ta nghĩ ngay đến những thói quen được lặp lại nhiều lần và truyền qua nhiều thế hệ Trong ngôn ngữ nhiều nước phương Tây, từ

truyền thống tức tradition bắt nguồn từ chữ traditio trong tiếng La - tinh có nghĩa là

“giao, chuyển giao” Bách khoa thư Pháp định nghĩa: “Truyền thống theo nghĩa tổng quát là tất cả những gì người ta biết và thực hành bằng sự chuyển giao từ thế

hệ này đến thế hệ khác, thường là truyền miệng, hay bằng sự bảo tồn và noi theo những tập quán, những cách ứng xử, những mẫu hình và tấm gương” [Dẫn theo 23,

Trang 23

quán và lối sống Truyền thống tác động khống chế đến mọi xã hội và tất cả mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội” [Dẫn theo 23, tr 11]

Như vậy, truyền thống là một bộ phận của ý thức xã hội, mà ý thức xã hội lại luôn chịu sự quy định của tồn tại xã hội, vì vậy, truyền thống của một dân tộc không phải tự nhiên mà có, cũng không phải do con người tự lựa chọn cho mình, mà nó được hình thành, được quy định bởi chính những điều kiện lịch sử, kinh tế, xã hội

mà dân tộc đó đã phải trải qua Con người ta, ngay từ buổi đầu sơ khai trong quan

hệ với thiên nhiên và xã hội, đã dần tích luỹ những kinh nghiệm trong sản xuất, chiến đấu và sinh hoạt hàng ngày nhằm phục vụ đời sống của mình Những kinh nghiệm quý được giữ lại đã dần dần ăn sâu vào tâm lí của con người và truyền từ đời này qua đời khác, trở thành truyền thống C.Mác khẳng định: “Cả một kiến trúc thượng tầng những cảm giác, những ảo tưởng, những lối suy nghĩ và quan niệm sống khác nhau và độc đáo đã mọc lên trên những hình thức khác nhau, trên các điều kiện sinh hoạt xã hội Toàn thể giai cấp tạo ra và hình thành nên tất cả những cái đó trên cơ sở những điều kiện vật chất của mình và trên những quan hệ xã hội tương ứng Một cá nhân, qua truyền thống hoặc qua giáo dục mà tiếp thu được những tình cảm và quan điểm ấy ” [4, tr 179 - 180]

Phải thừa nhận rằng, truyền thống là một trong những yếu tố vững bền nhất, khó thay đổi nhất trong ý thức xã hội cho dù tồn tại xã hội đã thay đổi Chính vì tính

ổn định và bảo thủ của truyền thống mà trong mỗi thời điểm nhất định thì truyền thống bao giờ cũng mang tính hai mặt: mặt giá trị và mặt phản giá trị Có những truyền thống tích cực tạo ra được sức mạnh cho dân tộc, lại có những truyền thống tiêu cực cản trở sự phát triển của dân tộc Mặt khác, có những truyền thống trước đây có giá trị tích cực nhưng khi điều kiện lịch sử - xã hội đã thay đổi thì không còn

có giá trị nữa, thậm chí trở thành sức cản rất lớn nhưng để phá bỏ nó đi thì lại không phải dễ dàng Về vấn đề này, trong tác phẩm “Ngày Mười tám tháng sương mù của Lu-i Bônapác”, C.Mác viết: “Truyền thống của tất cả các thế hệ đã chết đè nặng như quả núi lên đầu óc những người đang sống” [4, tr 178] Điều này có nghĩa là, cho dù thực tiễn đã có nhiều đổi thay nhưng các thế hệ đi sau vẫn không thoát khỏi

Trang 24

được sự ràng buộc bởi những nếp nghĩ, cách làm của các thế hệ đi trước, thậm chí lặp lại một cách máy móc, không sáng tạo Đó chính là mầm mống của tư tưởng bảo thủ, trì trệ, cản trở sự phát triển của xã hội Như vậy, truyền thống của mỗi dân tộc luôn cần được đổi mới, bổ sung và phát triển cho phù hợp với điều kiện lịch sử mới

Truyền thống có vị trí rất quan trọng trong quá trình phát triển của mỗi dân tộc Tác giả Vũ Khiêu khẳng định: “Truyền thống là một điều kiện thiết yếu của quá trình duy trì và phát triển đời sống xã hội” và “Với truyền thống, con người xã hội tiếp thu được những thành tựu của người đời trước, rút ngắn được thời gian, không phải mò mẫm lại từ đầu Con người sinh ra trong xã hội không thể tự mình chọn riêng lấy một cách thức làm ăn Con người phải đi vào quỹ đạo của lịch sử với những phương tiện sản xuất, những quan hệ xã hội, những cách thức ăn ở, đối xử, suy nghĩ, hành động đã có sẵn và được truyền lại từ những thế hệ trước” [26, tr

35 - 36] Chính vì vậy, có thể nói, giải pháp truyền thống bao giờ cũng là một giải pháp hàng đầu đối với một xã hội cần có sự ổn định để phát triển

Tuy nhiên, tác động của truyền thống mang tính hai mặt rõ rệt: Một mặt, truyền thống góp phần suy tôn, giữ gìn những gì là quý giá, là cốt cách, là nền tảng cho sự phát triển, cho sự vận động đi lên của cộng đồng, của dân tộc Xét từ mặt này, truyền thống mang ý nghĩa tích cực, góp phần tạo nên sức mạnh và là chỗ dựa không thể thiếu của mỗi dân tộc trên con đường phát triển Mặt khác, truyền thống cũng còn là mảnh đất hết sức thuận lợi cho sự dung dưỡng, duy trì và làm sống lại mặt bảo thủ, lạc hậu, lỗi thời khi mà điều kiện lịch sử - xã hội đã thay đổi Xét từ mặt này, truyền thống lại có thể là vật cản làm kìm hãm, níu kéo sự phát triển của một quốc gia

Bởi vậy, khi nói đến truyền thống, chúng ta cần phân biệt những truyền thống đã lạc hậu, lỗi thời cần phải khắc phục, phải loại bỏ với những truyền thống tốt đẹp, những truyền thống tạo nên các giá trị và bản sắc riêng cần phải được duy trì, bảo tồn và phát triển Sự sống còn của một truyền thống dựa vào sự lựa chọn của con người, đó là sự cân nhắc giữa được và mất khi phủ nhận hay kế thừa một truyền

Trang 25

thống nào đú Như vậy, người ta cú thể núi rằng, truyền thống khụng phải là một mệnh lệnh đạo đức mà là một sự tớnh toỏn hợp lý giữa được và mất Sự chấp nhận (bảo tồn) hay phủ nhận một truyền thống vỡ vậy khụng phải là một hành vi mự quỏng, mà là sự lựa chọn cú chủ đớch của con người

Giỏ trị truyền thống là một khái niệm tổng hợp của hai khái niệm đơn là giá trị và truyền thống mà chúng tôi đã trình bày ở trên Theo Giáo s- Trần Văn

Giàu, “truyền thống thì có cái tốt cái xấu; nh-ng khi chúng ta nói “giá trị truyền thống” thì ở đây chỉ có cái tốt mà thôi, bởi vì chỉ có những cái gì tốt đều đ-ợc gọi là giá trị; thậm chí, không phải mỗi cái gì tốt thì mới đ-ợc gọi là giá trị, mà phải là những cái tốt phổ biến, cơ bản, có nhiều tác dụng tích cực cho đạo đức luân lý, có cả tác dụng h-ớng dẫn sự nhận định và h-ớng dẫn sự hành động, thì mới đ-ợc

mang danh là giá trị truyền thống” [22, tr 50]

Giá trị truyền thống tr-ớc hết đó là những truyền thống, nh-ng không phải mọi truyền thống đều có giá trị và đều là giá trị truyền thống Mặt khác, một giá trị khi đã trở thành giá trị truyền thống thì đã bao hàm trong nó ý nghĩa lâu dài, hoặc cũng có thể nói, "một giá trị xét về mặt thời gian là bền vững thì tự thân nó

đã mang ý nghĩa giá trị truyền thống" [26, tr 112] Từ đó, cần phân biệt các giá trị truyền thống với những giá trị nhất thời, có phạm vi ảnh h-ởng hạn hẹp; với các giá trị đang mờ nhạt dần hoặc thực sự đã lỗi thời; với các giá trị đang hình thành mà ch-a đoán định đ-ợc chắc chắn ý nghĩa của chúng

Theo chúng tôi, giá trị truyền thống là những truyền thống có giá trị vững bền,

những truyền thống tốt đẹp, tích cực tiêu biểu cho bản sắc văn hoá dân tộc, có tác

động tích cực thúc đẩy sự phát triển của dân tộc đó trong suốt chiều dài lịch sử

Hoặc cũng có thể nói, giá trị truyền thống là những giá trị nội sinh, cao đẹp và vững

bền tiêu biểu cho bản sắc văn hoá dân tộc, có tác động tích cực thúc đẩy sự phát triển của dân tộc đó trong suốt chiều dài lịch sử và đ-ợc giữ gìn, kế thừa từ thế hệ này sang thế hệ khác

Giáo s- Trần Văn Giàu nhận định: “ Nếu mỗi lúc mỗi thay thì tính truyền thống không còn nữa; nói truyền thống là nói lâu dài qua nhiều thời mà lõi cốt

Trang 26

vẫn giữ; nói của dân tộc là nói chung của đại đa số nhân dân Trong giá trị truyền thống dân tộc thì ng-ời x-a và ng-ời nay đều cơ bản đồng tình, ng-ời sau nối chí ng-ời tr-ớc, phát huy lên, làm giàu mãi” [22, tr 51]

Giỏ trị truyền thống là sự kết tinh toàn bộ tinh hoa được chắt lọc, cụ đỳc nờn từ

tất cả di sản truyền thống trong suốt quỏ trỡnh hỡnh thành, tồn tại và phỏt triển Toàn

bộ giỏ trị truyền thống là cỏi thể hiện cụ đọng nhất, độc đỏo nhất, rừ nột nhất Chớnh

vỡ vậy, khụng thể đồng nhất cũng khụng thể tỏch rời giỏ trị truyền thống với văn húa dõn tộc mà giỏ trị truyền thống là một bộ phận của văn húa, hơn thế là bộ phận cốt lừi nhất làm nờn sức mạnh nội sinh của một nền văn húa Việt Nam

Như vậy, giỏ trị truyền thống dõn tộc được cụ đỳc nờn trong suốt quỏ trỡnh hỡnh thành, tồn tại và phỏt triển của dõn tộc, nú gắn liền với đời sống, với những thăng trầm của dõn tộc Toàn bộ giỏ trị truyền thống dõn tộc là cỏi thể hiện cụ đọng nhất, độc đỏo nhất, rừ nột nhất bản sắc dõn tộc đồng thời nú cũng chớnh là sức mạnh nội sinh để một dõn tộc, một đất nước tồn tại và phỏt triển Theo tỏc giả Trần Văn Giàu, “Giỏ trị truyền thống là một sức mạnh vĩ đại khụng thể xem thường Huy động cỏc giỏ trị truyền thống để làm cỏch mạng và khỏng chiến hiện đại, là huy động sức mạnh của hàng mấy mươi thế kỷ tổ tiờn ụng cha cổ vũ và trợ chiến cho con chỏu hoàn thành sự nghiệp dõn tộc” [26, tr 52]

Chớnh vỡ giỏ trị truyền thống cú một vị trớ vụ cựng quan trọng trong sự tồn tại và phỏt triển của một dõn tộc, nờn mọi dõn tộc trong mọi thời đại đều phải biết khai thỏc và phỏt huy những giỏ trị truyền thống của chớnh dõn tộc mỡnh Khi lịch sử cú những biến động lớn thỡ mỗi dõn tộc khụng vỡ thế mà phủ định sạch trơn những giỏ trị truyền thống đó cú từ ngàn xưa mà cần phải biết chắt lọc, kế thừa những giỏ trị

đú, bổ sung, phỏt triển làm cho nú trở thành động lực thỳc đẩy tiến trỡnh đi lờn của đất nước Một dõn tộc cú những giỏ trị truyền thống bền vững, mạnh mẽ, cú bản sắc văn hoỏ đậm đà sẽ khụng bao giờ bị hoà tan hay xoỏ nhoà cho dự đất nước cú bị xõm lược, cú nguy cơ bị thụn tớnh hay ở trong dũng xoỏy của hội nhập Với sức mạnh nội sinh đú, tiếp thu tinh hoa từ bờn ngoài bổ sung cho những cỏi bờn trong

mà nú đang thiếu hụt, giỏ trị truyền thống sẽ ngày càng phong phỳ thờm và sẽ là cơ

Trang 27

sở vững chắc cho sự vận động của xã hội, cho sự phát triển của đất nước và của dân tộc

1.2.2 Kế thừa giá trị truyền thống của người phụ nữ Việt Nam

Giá trị truyền thống của người phụ nữ Việt Nam là những giá trị tốt đẹp của

người phụ nữ Việt Nam đã được hình thành từ lâu trong lịch sử và được các thế hệ phụ nữ Việt Nam qua các thời kỳ thừa nhận, noi theo Những giá trị đó đã làm nên nét đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt đồng thời cũng tạo nên sức mạnh to lớn giúp những người phụ nữ Việt Nam nhỏ bé vượt qua được mọi khó khăn, thử thách, làm tròn bổn phận của người vợ, người mẹ, người em và hoàn thành tốt mọi nhiệm

vụ được giao, đóng góp một phần công sức vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Phụ nữ Việt Nam là một bộ phận của dân tộc Việt Nam Vì vậy, người phụ nữ Việt Nam cũng mang trong mình tất cả những giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam nói chung được hình thành từ chính lịch sử đau thương và hào hùng của dân tộc Là một đất nước có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt với nền văn minh nông nghiệp lúa nước dựa trên nền kinh tế tiểu nông và những thiết chế cộng đồng bền vững, dân tộc ta luôn phải chống chọi với những trận thiên tai cuồng bạo Thêm vào

đó, Việt Nam lại luôn là miếng mồi béo bở để cho bọn xâm lược nước ngoài tranh giành, xâu xé Từ thời xa xưa cho đến ngày nay, lịch sử đất nước ta dường như là một chuỗi dài những cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm Chúng ta đã từng phải đương đầu với những kẻ địch lớn mạnh hơn mình gấp nhiều lần như: bọn phong kiến phương Bắc, thực dân Pháp, phát xít Nhật, đế quốc Mỹ và chúng ta đều đã giành được những chiến thắng oanh liệt Tuy nhiên, do phải tốn quá nhiều sức người, sức của cho công cuộc giải phóng dân tộc mà nước ta luôn là một nước nghèo, đời sống nhân dân rất khó khăn Từ những điều kiện đó, những giá trị truyền thống của dân tộc đã dần được hình thành và phát huy sức mạnh Ở đây có một mối quan hệ hết sức biện chứng, đó là, do phải gồng mình để vượt qua những thử thách của thiên tai và giặc ngoại xâm, mà những giá trị truyền thống của dân tộc ta được hình thành; mặt khác, khi những giá trị truyền thống đó đã được hình thành, chúng

Trang 28

lại trở thành động lực, thành sức mạnh, thành cốt cách, thành linh hồn, thành bản sắc của con người Việt Nam, của dân tộc Việt Nam Đó chính là những di sản truyền thống quý giá mà chúng ta không thể đánh mất

Theo Giáo sư Trần Văn Giàu, giá trị đạo đức truyền thống là cốt lõi của hệ giá trị tinh thần của dân tộc Trong các giá trị như yêu nước, cần cù, anh hùng, sáng tạo, lạc quan, thương người, vì nghĩa, Giáo sư khẳng định: “tiêu điểm của các tiêu điểm, giá trị của các giá trị là yêu nước” [26, tr 94]

Theo Giáo sư Vũ Khiêu, trong những truyền thống quý báu của dân tộc, nổi bật lên nhất là truyền thống đạo đức và khẳng định truyền thống đạo đức cao đẹp của dân tộc ta bao gồm: lòng yêu nước, truyền thống đoàn kết, lao động cần cù và sáng tạo; tinh thần nhân đạo, lòng yêu thương và quý trọng con người, trong đó yêu nước là bậc thang cao nhất trong hệ thống giá trị đạo đức của dân tộc [24, tr 74 - 86]

Kết quả của chương trình khoa học công nghệ cấp Nhà nước KX- 07: “Con người Việt Nam - mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội” cũng đã khẳng định rằng, trong các giá trị truyền thống Việt Nam nổi lên vị trí hàng đầu và mang tính bền vững nhất là tinh thần yêu nước, ý thức dân tộc, ý chí tự lập tự cường, truyền thống đoàn kết vì đại nghĩa dân tộc Kế tiếp đó là truyền thống lao động cần cù, sáng tạo, nhạy cảm với cái mới, biết đối phó linh hoạt, ứng xử mềm mỏng, biết thích nghi và hội nhập để tồn tại và phát triển, truyền thống đoàn kết, tương thân tương ái, lòng bao dung, truyền thống tôn sư trọng đạo [Xem 23, tr 47

- 48]

Trong Nghị quyết của Bộ chính trị về một số định hướng lớn trong công tác

tư tưởng hiện nay khẳng định: “Những giá trị văn hoá truyền thống vững bền của dân tộc Việt Nam là lòng yêu nước nồng nàn, ý thức cộng đồng sâu sắc, đạo lý

“thương người như thể thương thân”, đức tính cần cù, vượt khó, sáng tạo trong lao động Đó là nền tảng và sức mạnh tinh thần to lớn để nhân dân ta xây dựng một xã hội phát triển, tiến bộ, công bằng và nhân ái [11, tr 19] Gần đây, trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII) một lần nữa

Trang 29

khẳng định: “Bản sắc dân tộc bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc; lòng nhân ái khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống” [12, tr 56]

Tuy những ý kiến trên không hoàn toàn đồng nhất với nhau nhưng qua đó chúng ta cũng có thể khẳng định rằng: dân tộc Việt Nam có một di sản những giá trị truyền thống vô cùng phong phú, trong đó phải kể đến những giá trị điển hình như: tinh thần yêu nước; ý chí tự lực, tự cường; tinh thần nhân văn, nhân ái; chủ nghĩa anh hùng cách mạng; tinh thần đoàn kết cộng đồng, tương thân, tương ái; đức tính cần cù, tiết kiệm; khả năng sáng tạo, linh hoạt, thích ứng nhanh, dễ hội nhập; tinh thần hiếu học, ham học hỏi, ham hiểu biết Trong đó tinh thần yêu nước là một giá trị chủ đạo, xuyên suốt Những giá trị truyền thống nêu trên đã tạo ra được một sức mạnh to lớn cho dân tộc Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử, giúp dân tộc Việt Nam vượt qua biết bao khó khăn, thử thách để tiếp tục tồn tại và phát triển

Mặt khác, do có vị trí, vai trò và chức năng riêng đối với gia đình và xã hội khác với nam giới nên phụ nữ Việt Nam còn có những giá trị truyền thống riêng của giới mình Người phụ nữ Việt Nam truyền thống vừa phải chăm lo, vun vén hạnh phúc gia đình, tần tảo sớm hôm lo miếng cơm manh áo cho con, chăm sóc con cái cho chồng yên tâm ra mặt trận lại vừa phải lao động sản xuất ra của cải vật chất, là hậu phương lớn cho tiền tuyến chống quân thù Gánh nặng giang sơn và gánh nặng gia đình đặt lên đôi vai gầy của những người mẹ, người chị nhỏ bé buộc các mẹ, các chị phải gồng người lên để gánh vác trọng trách lớn lao đó Và chính trong những điều kiện khắc nghiệt đó, những giá trị truyền thống của người phụ nữ Việt Nam đã được hình thành

Người phụ nữ Việt Nam không chỉ lo việc gia đình hoặc làm hậu phương cho chồng con ra mặt trận mà chính họ cũng “xung trận” khi đất nước lâm nguy với tinh thần “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh” Lịch sử đã chứng minh những người phụ nữ

Trang 30

Việt Nam nhỏ bé nhưng mang trong mình sức mạnh phi thường khiến cho kẻ địch phải run sợ Từ xa xưa, hình ảnh Bà Trưng, Bà Triệu cưỡi voi ra trận đánh giặc ngoại xâm với ý chí của một bậc anh hùng, hào kiệt không thua kém gì nam giới:

"Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp làn sóng dữ, chém cá kình ngoài biển Đông "

đã làm cho kẻ thù khiếp đảm, cho đến hình ảnh của người phụ nữ Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước: “O du kích nhỏ dương cao súng, thằng Mỹ lênh khênh bước cúi đầu” đã cho thấy sức mạnh của người phụ nữ Việt Nam trong suốt trường kỳ lịch sử

Trong hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ, người phụ nữ Việt Nam tiếp tục phát huy truyền thống anh hùng, bất khuất của các thế hệ đi trước và lập được những chiến công vang dội Nhiều chị em đã tham gia kháng chiến và hoàn thành trọng trách cách mạng mà Đảng và Nhà nước giao phó Chị em là cán bộ lãnh đạo, là anh hùng, chiến sĩ thi đua trong lao động và chiến đấu, là dũng sĩ diệt Mỹ, dũng sĩ vót chông, là những thanh niên xung phong anh dũng hy sinh trên con đường Trường Sơn huyền thoại…Trong những thời khắc cam go của lịch sử đã xuất hiện nhiều tấm gương phụ nữ kiên trung, những người anh hùng dân tộc, để lại danh tiếng cho muôn đời sau như: Nguyễn Thị Minh Khai, Võ Thị Sáu, Mạc Thị Bưởi,

Tạ Thị Kiều, Lê Thị Hồng Gấm, Nguyễn Thị Định, Nguyễn Thị Bình, Nhất Chi Mai, Nguyễn Thị Út (Út Tịch), 10 cô gái thanh niên xung phong hy sinh tại Ngã ba Đồng Lộc cùng với hàng vạn nữ nông dân và công nhân "tay cày, tay súng", "tay búa, tay súng" làm nên một hậu phương vững chắc, trên đồng ruộng, công trường, nhà máy, xí nghiệp, hầm mỏ

Trong thư gửi Phụ nữ nhân dịp kỷ niệm khởi nghĩa Hai Bà Trưng và Quốc tế Phụ nữ ngày 8-3-1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định rằng, trong cuộc kháng chiến to lớn của dân tộc ta, phụ nữ ta đang gánh một phần quan trọng Nhiều

bà cụ ngoài bảy tám mươi tuổi, chẳng những đã xung phong đi dân công, mà còn thách thi đua với các cụ ông và con cháu… Những phụ nữ chân yếu tay mềm đã góp

phần không nhỏ đem đến thắng lợi “Lừng lẫy năm châu chấn động địa cầu” trong hai

cuộc kháng chiến vĩ đại, giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc

Trang 31

Đất nước bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa với nhiều thời cơ và thách thức đan xen, cùng với cả dân tộc, phụ nữ Việt Nam cũng đang không ngừng phát huy truyền thống tốt đẹp của mình để vừa “giỏi việc nước” vừa “đảm việc nhà”, đóng góp một phần công sức của mình để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Ngày nay, phụ nữ đã và được thể hiện vai trò không kém gì nam giới Nhiều chị giữ những trọng trách trong bộ máy Đảng, Nhà nước, đoàn thể Tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội nước ta ngày càng tăng Phụ nữ Việt Nam luôn phấn đấu thực hiện

các mục tiêu như: "Có sức khỏe, có tri thức, có kỹ năng nghề nghiệp, năng động,

sáng tạo, có lối sống văn hóa, có lòng nhân hậu", nhằm góp phần thực hiện tốt mục tiêu

"Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh"

Như vậy, lịch sử dân tộc đã chứng minh người phụ nữ Việt Nam mang trong mình những giá trị truyền thống đặc sắc của cả dân tộc và cả của riêng giới nữ,

trong đó phải kế đến những giá trị tiêu biểu như: anh hùng bất khuất, yêu nước,

nhân ái bao dung, đôn hậu, vị tha, cần cù, tiết kiệm, chịu thương chịu khó, đảm đang, coi trọng gia đình, coi trọng phẩm giá, đức hy sinh vì chồng con, thủy chung son sắt, công, dung, ngôn, hạnh… Những giá trị chung của người Việt Nam nhưng

được biểu hiện ở người phụ nữ vẫn có những màu sắc riêng rất “phụ nữ” Tất cả những giá trị truyền thống nói trên không những làm nên hình ảnh đẹp về người phụ

nữ Việt Nam mà còn làm nên sức mạnh phi thường khiến cho những người phụ nữ Việt Nam nhỏ bé có thể đương đầu và chiến thắng trước những kẻ thù hung bạo nhất Tuy nhiên, do chịu ảnh hưởng của tư tưởng “trọng nam khinh nữ” của Nho giáo và chế độ phong kiến kéo dài nên người phụ nữ Việt Nam truyền thống cũng mang trong mình những đức tính, những quan niệm, những thói quen tiêu cực như:

tự ti, nhẫn nhục chịu đựng, chấp nhận hoàn cảnh, mặc cảm về giới, nhút nhát, buông xuôi, an phận thủ thường…Đây là những mặt trái của truyền thống mà những người phụ nữ hiện đại cần mạnh dạn đấu tranh loại bỏ để ngày càng khẳng định được vị trí, vai trò của người phụ nữ trong gia đình và xã hội

Bác Hồ luôn luôn coi lực lượng phụ nữ là một bộ phận không thể tách rời của

cách mạng, một trong những nhân tố quan trọng bảo đảm mọi thắng lợi của sự

Trang 32

nghiệp đấu tranh vì độc lập, tự do của dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân Ghi nhận những thành tích đóng góp của phụ nữ Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ

cứu nước vĩ đại của dân tộc, Người tặng phụ nữ Việt Nam 8 chữ vàng: “Anh hùng,

bất khuất, trung hậu, đảm đang” và khẳng định: “Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ” Đây chính là

sự khẳng định của Bác về vị trí, vai trò vô cùng quan trọng của phụ nữ Việt Nam đối với sự phát triển của đất nước và cũng khẳng định một phần những giá trị truyền thống quý báu của người phụ nữ Việt Nam

Những lời dạy của Bác thể hiện sự quan tâm sâu sắc, đồng thời cũng tỏ rõ tình cảm của mình giành cho “nửa thế giới” Bác luôn trân trọng, thương yêu và coi

“Phụ nữ Việt Nam là chị em của tôi” Phụ nữ chiếm một nửa tổng số nhân dân Để

xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải thật sự giải phóng phụ nữ và tôn trọng quyền lợi của phụ nữ Trong xây dựng chủ nghĩa xã hội, phụ nữ phải được giải phóng khỏi những tàn dư của hủ tục, định kiến hẹp hòi của tư tưởng phong kiến; vươn lên đóng góp sức mình xây dựng chủ nghĩa xã hội Cả cuộc đời 79 mùa xuân, Bác đã giành trọn vẹn cho dân cho nước Trước lúc đi xa, trong Di chúc thiêng liêng để lại cho

dân cho nước, Bác căn dặn toàn Đảng, toàn dân “Trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu

nước, phụ nữ đảm đang ta đã góp phần xứng đáng trong chiến đấu và trong sản xuất Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ

để ngày thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo Bản thân phụ nữ thì phải cố gắng vươn lên Đó là một cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ”

Khắc sâu lời dạy và thực hiện tâm nguyện của Bác “một nửa thế giới” cần

được giải phóng, bình đẳng về mọi mặt, mục tiêu thiên niên kỷ quốc gia đã ưu tiên phát triển bền vững nguồn lực phụ nữ như: Tăng cường giáo dục, đào tạo, tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức về mọi mặt, trình độ nghề nghiệp và năng lực quản

lý kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường cho phụ nữ; hỗ trợ phụ nữ làm kinh tế, tạo việc làm và xóa đói giảm nghèo; đẩy mạnh các chương trình chăm sóc sức khỏe phụ

nữ và trẻ em, cải thiện môi trường sinh hoạt tại từng địa phương; tạo điều kiện để

Trang 33

chị em tham gia xây dựng và giám sát việc thực hiện các chính sách, pháp luật về bình đẳng giới để phụ nữ Việt Nam khẳng định vị thế của mình trong xã hội và trên

trường quốc tế, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng Việt Nam “dân giàu, nước

mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”

Ngày nay, đất nước ta đang bước sang một trang sử mới, nỗi nhục mất nước

đã hết nhưng nỗi nhục đói nghèo thì vẫn còn đó như thách thức tất cả người dân Việt Nam trong đó có những người phụ nữ Để có thể phát huy vai trò, vị trí của người phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội trong điều kiện mới, phụ nữ Việt Nam ngày nay cần phải kế thừa và phát huy những gái trị truyền thống của các thế hệ đi trước, biến nó thành sức mạnh, trên cơ sở đó tiếp thu những giá trị tinh hoa của nhân loại để có thể trở thành những người phụ nữ vừa truyền thống vừa hiện đại, vừa hội nhập và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ của mình vừa giữ được thuần phong

mỹ tục, bản sắc văn hóa cũng như hình ảnh của người phụ nữ Việt Nam trong con mắt bạn bè quốc tế

Như vậy, kế thừa các giá trị truyền thống của người phụ nữ Việt Nam hiện nay

là một yêu cầu khách quan đối với sự phát triển và hoàn toàn phù hợp với quy luật chung của sự phát triển Nó không những giúp phụ nữ Việt Nam giữ gìn được bản sắc văn hoá của mình mà còn giúp khơi dậy sức mạnh tiềm tàng vốn có tạo nên động lực mạnh mẽ góp phần thúc đẩy cả dân tộc tiến lên

Tuy nhiên, kế thừa không phải là bê nguyên xi tất cả những giá trị truyền thống

đã có của phụ nữ để đặt vào một hoàn cảnh hoàn toàn mới, mà kế thừa phải luôn gắn liền với lọc bỏ, đổi mới và phát triển Cần phải lưu ý rằng, truyền thống không chỉ có tác động tích cực mà còn có tác động tiêu cực nếu xét trên quan điểm lịch sử

- cụ thể Hơn nữa, có những truyền thống ở điều kiện này thì có giá trị nhưng ở điều kiện khác thì không còn giá trị nữa Vì vậy cần chống lại hai khuynh hướng:

Khuynh hướng thứ nhất, tuyệt đối hoá vai trò của giá trị truyền thống, không

thấy được tính khả biến của chúng, không biết biến đổi chúng cho phù hợp với yêu cầu mới của lịch sử, thậm chí còn lưu truyền thiếu phê phán, tán dương quá đáng những truyền thống ít giá trị hay không còn giá trị, thậm chí có hại hoặc cản trở sự

Trang 34

phát triển Mặt khác, khuynh hướng này cũng không chấp nhận chủ động tiếp thu những giá trị tinh hoa của nhân loại để làm giàu thêm cho truyền thống của dân tộc mình

Khuynh hướng thứ hai, từ bỏ tất cả những giá trị truyền thống, tức là phủ định

sạch trơn mọi truyền thống và giá trị truyền thống của phụ nữ Việt Nam Họ cho rằng, những gì đã gọi là truyền thống thì không còn giúp ích gì cho hiện tại, và vì vậy, phải thay đổi hoàn toàn hệ thống giá trị của dân tộc nói chung và phụ nữ nói riêng Đây chính là mầm mống của những tư tưởng coi thường các giá trị truyền thống của dân tộc, không thấy không thấy được sức mạnh to lớn của chúng, từ đó

mà sùng bái và muốn bắt chước các nền văn minh nước ngoài

Hồ Chí Minh là người có tư tưởng độc đáo về việc kế thừa các giá trị truyền thống Bản thân sự nghiệp và cuộc đời của Người đã là một tấm gương sáng về ý thức “gạn đục, khơi trong”, “đãi cát tìm vàng” trong kho tàng giá trị của dân tộc và nhân loại Người nói: “Những người cộng sản chúng ta rất quý trọng cổ điển Có nhiều dòng suối tiến bộ chảy từ ngọn nguồn cổ điển đó Càng thấm nhuần chủ nghĩa Mác - Lênin, càng phải coi trọng những truyền thống tốt đẹp của cha ông” [2, tr 335] Nhưng Người cũng lưu ý: “Đời sống mới không phải cái gì cũ cũng bỏ hết, không phải cái gì cũng làm mới Cái gì cũ mà xấu, thì phải bỏ Cái gì cũ mà không xấu, nhưng phiền phức thì phải sửa đổi lại cho hợp lí Cái gì cũ mà tốt thì phải phát triển thêm Cái gì mới mà hay thì ta phải làm” [35, tr 94 - 95]

Có thể nói, giá trị truyền thống tất nhiên không phải là những cái gì tạm thời,

“sớm nở, tối tàn”, đồng thời cũng không phải là cái không bao giờ thay đổi Trái lại, chúng luôn vận động, đổi mới cùng với quá trình phát triển của dân tộc và giao lưu quốc tế Nhưng trong quá trình vận động, đổi mới đó nó vẫn không bị mất gốc hay biến chất Đó chính là phép biện chứng giữa kế thừa và phát triển, giữa truyền thống

và hiện đại Phát triển trên cơ sở kế thừa những cái tốt đẹp, tiến lên hiện đại mà vẫn bảo tồn được những giá trị ưu tú của truyền thống; đồng thời cũng gạn lọc, loại bỏ những yếu tố lạc hậu, lỗi thời, không thích hợp

Trang 35

Việc kế thừa và phát huy các giá trị truyền thống của dân tộc nói chung có một

ý nghĩa vô cùng to lớn trong giai đoạn phát triển mới của mỗi quốc gia Điều này đã được chứng minh trên thực tế ở nhiều nước trong khu vực và trên thế giới

W Rostow trong “Các giai đoạn tăng trưởng kinh tế - một tuyên ngôn không cộng sản” đã cho rằng, tất cả các nước đang phát triển trên thế giới đều cần phải bắt chước Mỹ càng giống càng tốt Vì vậy, trong những năm 60 - 70, nhiều nước đang phát triển ở châu Phi và châu Mỹ La - tinh đã thực hiện theo lý thuyết này Nhưng kết quả là đem lại sự phụ thuộc ngày càng tăng vào các nước lớn về vốn, kỹ thuật, nguyên vật liệu, đội ngũ chuyên gia Mặt khác, một sự xâm nhập ồ ạt các chuẩn mực giá trị, lối sống từ bên ngoài đã làm cho hệ giá trị truyền thống ở các nước này

bị biến dạng và biến chất Điều này đã đẩy các nước đó lâm vào tình trạng rối loạn

và thoái triển, khiến cho họ phải điều chỉnh lại chiến lược phát triển của mình Trong khi đó, Singapore - một quốc đảo nhỏ, diện tích chỉ có 633 km vuông với gần 3 triệu dân, sau ngày tuyên bố độc lập ngoài đất đai và con người ra thì gần như không có gì cả, thế mà chỉ sau 30 năm đã trở thành một trong bốn con rồng của châu Á Bí quyết thành công của Singapo là phải vừa tận lực áp dụng những thành tựu mới nhất của khoa học và công nghệ thế giới để tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, vừa phải rất coi trọng việc kế thừa và phát huy tất cả những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Nguyên thủ tướng Singapo Goh Chok Tong đã khẳng định: “Để tiếp tục thành công, chỉ có chính sách kinh tế đúng không đủ Những yếu tố phi kinh tế cũng quan trọng - ý thức về cộng đồng và dân tộc, nhân dân cần cù, kỷ luật, những giá trị truyền thống và mối quan hệ gia đình vững chắc Cái đưa Singapore tiến lên không thể chỉ là chủ nghĩa vật chất thuần tuý và việc chạy theo lợi nhuận cá nhân Điều quan trọng hơn là ý thức về lý tưởng và sự phụng sự được sinh ra từ tình cảm đoàn kết xã hội và bản sắc dân tộc Không có những yếu tố thiết yếu ấy, chúng ta không thể có một xã hội năng động và hạnh phúc” [Dẫn theo 26, tr 334] Xuất phát từ quan điểm đó mà Quốc hội Singapore đã cho phê chuẩn năm giá trị điển hình mà mọi người dân cần phải noi theo trong thời

kỳ mới và Singapore đã thu được những kỳ tích thật bất ngờ

Trang 36

Như vậy, không còn nghi ngờ gì về sự cần thiết phải kế thừa các giá trị truyền thống dân tộc trong giai đoạn hiện đại trong đó có những gái trị dành riêng cho giới

nữ Tuy nhiên, kế thừa như thế nào để có thể thu được hiệu quả cao nhất, đó là một vấn đề cần được suy ngẫm Kế thừa giá trị truyền thống chính là góp phần giữ gìn bản sắc dân tộc, mà việc giữ gìn bản sắc dân tộc lại có tính hai mặt Một mặt, nó khẳng định bản sắc và truyền thống văn hoá của dân tộc, thôi thúc mỗi người dân tìm về cội nguồn tạo nên động lực cho việc đoàn kết cộng đồng, củng cố sự ổn định

và phát triển kinh tế, xã hội, giành lại phẩm giá cho quốc gia, dân tộc Mặt khác, chính sự khẳng định lại bản sắc cũng là nền tảng cho một chủ nghĩa biệt lập cực đoan, làm cho các dân tộc trở nên cứng rắn hơn, ranh giới ngăn cách họ bị bịt kín hơn, việc gặp gỡ, đối thoại lẫn nhau giữa họ khó khăn hơn Trong hoàn cảnh này, sự tìm về với bản sắc văn hoá lại biến thành sự cô lập, dẫn tới nguy cơ loại trừ những

gì khác với mình, tới những ý định thanh lọc sắc tộc, bài ngoại, chủ nghĩa chủng tộc

và bạo lực

Một dẫn chứng khác mà chúng ta cũng không thể bỏ qua đó là bài học kinh nghiệm của hai nước lớn là Trung Quốc và Nhật Bản trong thời gian cách đây không lâu Người Nhật đề cao các giá trị truyền thống và rất coi trọng sự kế thừa truyền thống nhưng chính là để vượt ra khỏi xã hội truyền thống mà bước vào xã hội hiện đại chứ không phải là để duy trì những truyền thống đã lỗi thời, lạc hậu Trong khi đó, người Trung Hoa lại đề cao truyền thống đến mức không muốn thay đổi xã hội truyền thống, duy trì cả những mặt tích cực lẫn mặt lạc hậu của truyền thống, không muốn học tập hoặc giao lưu với các nước khác Kết quả là nước Nhật

đã tạo nên một sự thần kỳ được cả thế giới nể phục, còn Trung Hoa thì một thời gian dài đã rơi vào sự trì trệ

Vấn đề đặt ra là làm sao phân biệt được trong di sản truyền thống, đâu là những yếu tố tích cực, đâu là những yếu tố tiêu cực; đâu là những giá trị còn phù hợp và còn có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của xã hội còn đâu là những giá trị không còn phù hợp nữa thậm chí còn làm cản trở sự phát triển của xã hội Đây là một việc làm không dễ bởi những truyền thống tích cực, còn giá trị và những truyền

Trang 37

thống lạc hậu, không còn giá trị lại luôn tồn tại đan xen nhau trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội mà không phải bất cứ ai cũng có thể phân biệt được Mặt khác, ngay cả khi đã phân biệt được chúng thì cũng không dễ loại bỏ ngay những truyền thống đã lạc hậu mà lại vấp phải một sức ỳ tâm lý rất lớn bắt nguồn từ những thói quen cũ của phần đông người dân Do đó, mỗi dân tộc vừa cần phải mạnh dạn, sáng tạo, lại vừa phải hết sức thận trọng với những di sản của quá khứ mà những thế

hệ đi trước đã để lại để có thể khai thác một cách có hiệu quả nhất những giá trị truyền thống của dân tộc mình

Như vậy, kế thừa các giá trị truyền thống có vai trò vô cùng quan trọng đối với tiến trình phát triển của dân tộc nói chung và đối với mỗi thế hệ người nói riêng Lịch sử của dân tộc không phải là một sự lắp ghép rời rạc các gia đoạn lại với nhau

mà là một quá trình liên tục được tiếp nối từ quá khứ đến hiện tại Trong quá trình đó, các thế hệ đi sau bao giờ cũng cần phải dựa trên những kinh nghiệm nhất định của các thế hệ đi trước, bổ sung, phát triển những kinh nghiệm đó làm cơ sở để tích lũy những kinh nghiệm mới Các thế hệ đi sau sinh sống trong những điều kiện khác với các thế hệ

đi trước, có khi còn khác rất xa Vậy họ phải bắt đầu từ đâu nếu không phải là từ những truyền thống mà cha ông họ đã để lại ? Ngày nay, xu thế toàn cầu hóa cùng với sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đã và đang nảy sinh vấn đề xử lý như thế nào về mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại, đồng thời đánh giá một cách thực sự khách quan về vai trò của truyền thống và giá trị truyền thống trong giai đoạn hiện nay Trong điều kiện như vậy, chúng ta càng phải đặc biệt quan tâm đến việc kế thừa các giá trị truyền thống của phụ nữ

Như vậy, mọi quá trình phát triển trong tự nhiên, xã hội và tư duy đều không thể tách rời khỏi sự kế thừa Kế thừa chính là việc giữ lại những nhân tố tích cực của cái cũ trong sự ra đời của cái mới Mặt khác, kế thừa luôn gắn liền với đổi mới

và lọc bỏ Trong quá trình phát triển của xã hội, kế thừa các giá trị truyền thống dân tộc nói chung và giá trị truyền thống của phụ nữ Việt Nam nói riêng có một ý nghĩa

vô cùng to lớn Nó không những giúp các dân tộc giữ gìn được bản sắc riêng mà còn tạo nên một động lực thúc đẩy sự phát triển của các dân tộc đó Theo chúng tôi,

Trang 38

kế thừa các giá trị truyền thống của người phụ nữ Việt Nam cần có ba mặt hoạt động đan xen và gắn bó với nhau dưới đây:

Thứ nhất, gạt bỏ mặt hạn chế, tiêu cực và bảo thủ dưới bóng dáng truyền thống Thứ hai, kế thừa và phát huy những mặt tích cực và tiến bộ của truyền thống Thứ ba, hiện đại hoá các nhân tố truyền thống trong những điều kiện mới để cái

truyền thống có thể tồn tại ngang hàng với những gì hiện đại nhất của xã hội hiện đại Ba hoạt động trên nếu được tiến hành đồng thời sẽ có tác dụng hỗ trợ lẫn nhau làm cho việc kế thừa các giá trị truyền thống của người phụ nữ Việt Nam đạt hiệu quả cao hơn

Tiểu kết chương 1

Giá trị truyền thống của người phụ nữ Việt Nam là những truyền thống

có từ lâu đời, mang đậm màu sắc văn hóa truyền thống Việt thì việc kế thừa các giá trị truyền thống càng trở nên cấp bách và cần thiết trong điều kiện hiện nay Nếu kế thừa phát huy tốt các giá trị truyền thống tốt đẹp đó và giữ gìn những nét truyền thống của người phụ nữ Việt Nam với bản sắc riêng đáng tự hào còn là sức mạnh tiềm tàng vô cùng to lớn để góp phần xây dựng một đất nước phồn thịnh, văn minh trong thời kỳ mới

Giá trị truyền thống của người phụ nữ Việt Nam rất phong phú và tất cả những giá trị đó cần được kế thừa trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, trong

đó nổi bật lên các giá trị: yêu nước; nhân ái, bao dung; anh hùng, bất khuất; đôn hậu, vị tha; cần cù, tiết kiệm; chịu thương chịu khó; trung hậu, đảm đang; coi trọng gia đình, coi trọng phẩm giá; đức hy sinh vì chồng con; thủy chung son sắt, công, dung, ngôn, hạnh… Đó là những giá trị truyền thống căn bản nhất của người phụ nữ Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, những giá trị truyền thống đó vẫn thật sự cần thiết để tạo nên sức mạnh cho người phụ nữ Việt Nam vượt qua những thước đo, rào cản, khó khăn, thử thách của thời kỳ CNH – HĐH đất nước

Trang 39

Chương 2 TÁC ĐỘNG CỦA TOÀN CẦU HÓA VÀ HỘI NHẬP ĐẾN CÁC GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ VIỆT NAM VÀ VIỆC KẾ THỪA MỘT SỐ GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ VIỆT

NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP HIỆN NAY

2.1 Tác động của toàn cầu hóa và hội nhập đến các giá trị truyền thống của người phụ nữ Việt Nam

Khái niệm toàn cầu hóa (globalization) xuất hiện lần đầu tiên trong từ điển của

Anh vào năm 1961 và được sử dụng phổ biến từ khoảng cuối thập niên 1980 trở lại đây Cho đến nay, đã có nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm này Để hiểu rõ hơn thực chất của quá trình toàn cầu hóa, chúng ta có thể nêu ra một số khái niệm về nó Chúng tôi chia các quan niệm này thành hai loại là quan niệm rộng và quan niệm hẹp

Một học giả phương Tây, ông McGrew cho rằng: “Toàn cầu hóa là…việc hình thành một chuỗi vô số các mối liên kết và ràng buộc giữa các chính phủ và các

xã hội, tạo lập nên hệ thống thế giới hiện đại Toàn cầu hóa cũng chính là quá trình mà ở

đó, các sự kiện, các quyết định và các động của một phần thế giới có thể tác động nghiêm trọng tới các cá nhân và cộng đồng ở các phần khác xa khác của trái đất” [dẫn theo 50, tr12]

Theo quan niệm hẹp, đa số các nhà nghiên cứu khi đề cập đến toàn cầu hóa thì

trước hết và chủ yếu là đề cập đến toàn cầu hóa kinh tế, đó là một khái niệm chỉ hiện tượng hay quá trình hình thành thị trường toàn cầu hóa làm tăng sự tương tác

và tùy thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế quốc gia Theo quan niệm của tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) thì “Toàn cầu hóa là sự vận động tự do của các yếu tố sản xuất nhằm phân bổ tối ưu các nguồn lực trên phạm vi toàn cầu…Là một quá trình ly tâm và là một lực lượng kinh tế vĩ mô, toàn cầu hóa rút ngắn khoảng cách kinh tế không những giữa các nước và khu vực, mà còn giữa các tác nhân kinh tế với nhau Toàn cầu hóa cũng có khuynh hướng làm mất sự ổn định của

Trang 40

tổ chức độc quyền nhóm đã được thiết lập bằng cách làm thay đổi các “luật chơi” của cuộc đấu tranh giữa các doanh nghiệp để chiếm lợi thế cạnh tranh trên các thị trường quốc gia cũng như thế giới [41,tr123]

Với quan điểm đó, theo chúng tôi, toàn cầu hóa là một khái niệm chỉ quá trình

vận động của lịch sử xã hội loài người từ những bộ phận, quốc gia riêng lẻ, tương đối độc lập và tách biệt đến hình thành những mối liên kết chặt chẽ, tác động qua lại và phụ thuộc lẫn nhau trên tất các mặt ở phạm vi toàn cầu của đời sống xã hội

mà nền tảng là sự liên kết kinh tế cùng với sự hình thành các tổ chức, các định chế quốc tế nhằm quan lý và điều chỉnh các hoạt động mang tính toàn cầu hóa

Về phương diện kinh tế: toàn cầu hóa là quá trình làm tăng các mối liên kết

kinh tế giữa các quốc gia trên thế giới tạo nên một sự thay đổi căn bản trong hoạt động kinh tế của con người Từ chỗ các hoạt động kinh tế chỉ bó hẹp trong khuôn khổ quốc gia dần trải rộng trên phạm vi quốc tế dẫn đến hình thành một thị trường quốc tế rộng lớn

Về phương diện chính trị: toàn cầu hóa kinh tế, về nguyên tắc, tất yếu dẫn đến

những sự biến đổi nhất định về quan hệ chính trị giữa các quốc gia Đây là một đòi

hỏi tất yếu để hội nhập kinh tế vừa là sản phẩm của sự hội nhập kinh tế thể hiện sự

phụ thuộc lẫn nhau ngày càng lớn về mặt chính trị giữa các quốc gia trên thế giới

Về phương diện xã hội: toàn cầu hóa kinh tế tất yếu cũng dẫn đến những thay

đổi trên lĩnh vực xã hội Những hiện tượng xã hội như; thất nghiệp, bất bình đẳng,

tệ nạn xã hội…trước đây chủ yếu giới hạn trong một quốc gia hay một vũng lãnh thổ thì trong toàn cầu hóa, ngày càng mang tính quốc tế

Về phương diện văn hóa: Toàn cầu hóa về kinh tế tác động đến chính trị, xã

hội và dẫn đến những thay đổi lớn trong các mối quan hệ chính trị, xã hội giữa các quốc gia Đó là quá trình vận động của các nền văn hóa từ những bộ phận tương đối tách biệt, khép kín đến hình thành mối liên kết, tác động qua lại, ảnh hưởng, xâm nhập, chi phối lẫn nhau

Hội nhập có nguồn gốc từ “liên kết” (integration) với nghĩa chung nhất là hành

động hoặc quá trình gắn kết các phần tử riêng rẽ với nhau; hợp chung các bộ phận

Ngày đăng: 11/12/2017, 16:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thuý Anh (2000), Các nước đang phát triển trong quá trình toàn cầu hoá kinh tế, Tạp chí Cộng sản (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nước đang phát triển trong quá trình toàn cầu hoá kinh tế
Tác giả: Nguyễn Thuý Anh
Năm: 2000
2. Bác Hồ với văn nghệ sỹ (1985), Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bác Hồ với văn nghệ sỹ
Tác giả: Bác Hồ với văn nghệ sỹ
Nhà XB: Nxb Tác phẩm mới
Năm: 1985
3. C. Mác - Ănggen (1995), Toàn tập, Tập 20, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập, Tập 20
Tác giả: C. Mác - Ănggen
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1995
4. C. Mác - Ph.Ăngghen (1993), Toàn tập, Tập 8, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập, Tập 8
Tác giả: C. Mác - Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1993
5. Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Văn Huyên (đồng chủ biên) (2002), Giá trị truyền thống trước những thách thức của toàn cầu hoá, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị truyền thống trước những thách thức của toàn cầu hoá
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Văn Huyên (đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
6. Nguyễn Trọng Chuẩn (1997), Những biến động về giá trị trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam, Báo cáo tại Hội thảo Những biến động của giá trị trong thời kỳ đổi mới, Băngkok, Thái Lan Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những biến động về giá trị trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam", Báo cáo tại Hội thảo "Những biến động của giá trị trong thời kỳ đổi mới
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn
Năm: 1997
7. Nguyễn Trọng Chuẩn, Phạm Văn Đức, Hồ Sỹ Quý (Đồng chủ biên) (2001), Tìm hiểu giá trị văn hoá truyền thống trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu giá trị văn hoá truyền thống trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn, Phạm Văn Đức, Hồ Sỹ Quý (Đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
8. Di Chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh (2010), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di Chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh (2010)
Tác giả: Di Chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2010
9. Vũ Kim Dung (1998), Phân biệt khái niệm giá trị và chuẩn mực giá trị, Tạp chí Nghiên cứu lý luận (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân biệt khái niệm giá trị và chuẩn mực giá trị
Tác giả: Vũ Kim Dung
Năm: 1998
10. Phạm Đức Dương (2003), Văn hoá Việt Nam trong bối cảnh Đông Nam Á, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá Việt Nam trong bối cảnh Đông Nam
Tác giả: Phạm Đức Dương
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2003
11. Đảng cộng sản Việt Nam (1995), Nghị quyết của Bộ chính trị về một số định hướng lớn trong công tác tư tưởng hiện nay, Tài liệu lưu hành nội bộ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết của Bộ chính trị về một số định hướng lớn trong công tác tư tưởng hiện nay
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Năm: 1995
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1998
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX , Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
17. V.E. Đaviđôvích (2002), Dưới lăng kính triết học, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dưới lăng kính triết học
Tác giả: V.E. Đaviđôvích
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
18. Phạm Văn Đức (1991), Vấn đề kế thừa và phát triển trong lịch sử triết học, Tạp chí Triết học (3), tr. 35 - 38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề kế thừa và phát triển trong lịch sử triết học
Tác giả: Phạm Văn Đức
Năm: 1991
19. Phạm Văn Đức (2006), Toàn cầu hoá và sự tác động của nó đối với Việt Nam hiện nay, Tạp chí Triết học (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn cầu hoá và sự tác động của nó đối với Việt Nam hiện nay
Tác giả: Phạm Văn Đức
Năm: 2006
20. Chen Fenglin (1999), Mấy suy nghĩ về quan niệm giá trị Đông Á, Viện Thông tin khoa học xã hội - Tài liệu nghiên cứu số TN 99- 44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy suy nghĩ về quan niệm giá trị Đông Á
Tác giả: Chen Fenglin
Năm: 1999

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w