Kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn theo pháp luật bảo vệ môi trường từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh (LV thạc sĩ)Kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn theo pháp luật bảo vệ môi trường từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh (LV thạc sĩ)Kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn theo pháp luật bảo vệ môi trường từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh (LV thạc sĩ)Kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn theo pháp luật bảo vệ môi trường từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh (LV thạc sĩ)Kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn theo pháp luật bảo vệ môi trường từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh (LV thạc sĩ)Kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn theo pháp luật bảo vệ môi trường từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh (LV thạc sĩ)Kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn theo pháp luật bảo vệ môi trường từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh (LV thạc sĩ)Kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn theo pháp luật bảo vệ môi trường từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh (LV thạc sĩ)Kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn theo pháp luật bảo vệ môi trường từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh (LV thạc sĩ)
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG LAN
KIỂM SOÁT Ô NHIỄM TIẾNG ỒN
THEO PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
Trang 2Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học Xã hội
Người hướng dẫn khóa học: PGS.TS Vũ Thị Duyên Thủy
Phản biện 1: ………
………
Phản biện 2:………
………
Luận văn này sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ tại: Học viện khoa học xã hội ……… giờ……….ngày
…… tháng ………năm
Có thể tìm hiểu luận văn tại: Thư viện Học viện Khoa học xã hội
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Tiếng ồn tác động lên con người ở ba phương diện: tác động về mặt cơ học, tác động về mặt sinh học và tác động lên các
hoạt động xã hội Tác giả chọn thực hiện đề tài “Kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn theo pháp luật bảo vệ môi trường từ thực tiễn Thành phố
Hồ Chí Minh” để nghiên cứu những quy định pháp luật hiện hành
về vấn đề trên so thực tiễn áp dụng pháp luật trong quá trình kiểm tra, xử lý, kiểm soát, cũng như là cơ sở để chỉ ra những điểm còn vướng mắc trong thực tiễn áp dụng từ đó đưa ra những hướng hoàn thiện hơn đối với những quy định liên quan đề tài
2 Tình hình nghiên cứu đề tài:
Trên cơ sở nghiên cứu, tiêp cận các tài liệu, sách, báo, bài viết của các học giả liên quan đến đề tài nghiên cứu này, tác giả nhận thấy các công trình nghiên cứu về ô nhiễm môi trường, kiểm soát ô nhiễm môi trường, nội dung của kiểm soát ô nhiễm môi trường, pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường đã được nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau, các luận văn nghiên cứu về từng lĩnh vực cụ thể như: nghiên cứu về chất thải nguy hại; chất thải rắn; chất thải y tế… Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu các vấn đề về thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn chưa được nghiên cứu, chỉ có các đề tài về kiểm soát tiếng ồn dưới góc độ kỹ thuật hoặc lồng ghép một phần kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn vào trong công trình nghiên cứu về không khí, tiếng ồn và độ rung Do đó có thể khẳng định, đề tài “Kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn theo pháp luật bảo vệ môi trường từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh” là một đề tài mới
Trang 43 Mục đích nghiên cứu của đề tài:
Mục đích nghiên cứu của đề tài này là tìm hiểu và làm sáng
tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn, tổng hợp và hệ thống hoá các quy định của pháp luật hiện hành về kiểm soát Ô nhiễm Tiếng ồn ở Việt Nam qua thực tiễn tại Thành phố Hồ Chí Minh, trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp hoàn thiện pháp luật để kiểm soát Ô nhiễm Tiếng ồn ở nước ta trong giai đoạn hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Về đối tượng nghiên cứu của đề tài trong khuôn khổ của một Luận văn thạc sĩ chủ yếu là đi sâu nghiên cứu các quy định pháp luật về kiểm soát tiếng ồn được ghi nhận trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 và các băn bản pháp lý liên quan khác
Về phạm vi nghiên cứu của đề tài ở đây chủ yếu tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận pháp lý và thực tiễn xoay quanh pháp luật kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn tại Thành phố Hồ Chí Minh ở thời điểm hiện nay
5 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Luận văn dựa trên những thành tựu của các chuyên ngành khoa học pháp lý như: Luật Bảo vệ môi trường, Lịch sử nhà nước
và pháp luật, Luật Hành chính, Luật Dân sự, Lý luận Nhà nước và pháp luật… những luận điểm khoa học trong các công trình nghiên cứu, sách chuyên khảo và các bài viết đăng trên các Tạp chí chuyên ngành liên quan đến kiểm soát ô nhiễm Tiếng ồn, Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn
Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài, tác giả sử dụng nhiều phương pháp đan xen để nghiên cứu như: quan trắc, phân tích, đánh giá, tổng hợp, khảo sát thực tiễn… Đồng thời luận
Trang 5văn còn dựa vào những số liệu thống kê, tổng kết hàng năm trong các báo cáo của Sở Tài nguyên môi trường, Chi cục Bảo vệ môi trường Thành phố Hồ Chí Minh và những thông tin trên mạng Internet
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Luận văn nghiên cứu làm rõ các vấn đề từ lý luận, pháp lý đến thực tiễn về quá trình phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn phát tán và xử lý tiếng ồn trên cơ sở lý luận và thực tiễn về kiểm soát tiếng ồn tại Thành phố Hồ Chí Minh, đối chiếu với pháp luật hiện hành của Việt Nam và trên thế giới để phân tích chỉ ra những ưu điểm, hạn chế, thiếu sót, bất cập Từ đó đưa ra nhu cầu, định hướng
và các giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách, pháp luật về kiểm soát tiếng ồn ở nước ta hiện nay
7 Kết cấu
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được trình bày thành 02 Chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về kiểm soát ô nhiễm
tiếng ồn và Pháp luật về Kiểm soát Ô nhiễm tiếng ồn
Chương 2: Thực trạng pháp luật bảo vệ môi trường trong
kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn qua thực tiễn thi hành tại Thành phố Hồ Chí Minh và giải pháp hoàn thiện
Trang 6Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT Ô NHIỄM TIẾNG ỒN VÀ PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT Ô NHIỄM
TIẾNG ỒN 1.1 Những vấn đề lý luận về kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn
1.1.1 Khái niệm, phân loại Tiếng ồn
Tiếng ồn là một dạng ô nhiễm rất phổ biến trong đô thị phần lớn là từ các tuyến đường giao thông, các tụ điểm dân cư, từ các công trình xây dựng, hoạt động sản xuất công nghiệp… Ô nhiễm tiếng ồn
là tiếng ồn trong môi trường vượt quá nhưỡng nhất định gây khó chịu cho người hoặc động vật
Các nguồn ồn chính bao gồm:
- Nguồn ồn giao thông: Tiếng ồn giao thông hiện nay chủ yếu là do mật độ xe trên đường phố lớn, tập hợp nhiều xe sẽ gây ra hỗn hợp tiếng ồn với nhiều tần số khác nhau
- Nguồn ồn trong xây dựng: Việc sử dụng phương tiện cơ giới ngày càng phổ biến, khi có một công trình xây dựng được thực thi thì tiếng ồn của các phương tiện này gây ra cho con người cũng rất đáng kể
- Nguồn ồn công nghiệp và sản xuất: Công nghiệp sử dụng rất nhiều máy móc, khi hoạt động sẽ gây ra tiếng ồn đáng kể
- Nguồn ồn sinh hoạt: Trong sinh hoạt thường sử dụng nhiều thiết bị thu phát âm thanh Những loại tiếng ồn kể trên do các hoạt động sửa chữa nhà cửa thì có thể lan truyền trong vật thể rắn như sàn, trần, tường Tất cả những loại tiếng ồn này phụ thuộc chủ yếu vào ý thức của con người gây nên
Các loại tiếng ồn:
- Tiếng ồn cơ khí
Trang 7- Tiếng ồn khí động
- Tiếng ồn điện từ
- Tiếng ồn thuỷ động
1.1.2 Ảnh hưởng của tiếng ồn đối với sức khoẻ cộng đồng
Tiếng ồn là một dạng ô nhiễm môi trường rất nguy hại, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng nhưng lại ít được quan tâm như các loại ô nhiễm khác Nguyên nhân gây nên tiếng ồn rất đa dạng, từ các
âm thanh phát ra từ nhà máy, công xưởng đến hoạt động giao thông
và cả tiếng ồn trong sinh hoạt của người dân
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) ghi nhận trong những thập niên gần đây, tình trạng ô nhiễm tiếng ồn đã ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc sống của con người:
- Căng thẳng tinh thần
- Rối loạn giấc ngủ
- Giảm thính lực và mất thính lực
- Đối với hệ tiêu hóa
- Suy giảm khả năng, chất lượng lao động, học tập
- Biến đổi hành vi con người
- Ảnh hưởng đến trao đổi thông tin
Tiếng ồn là một trong các yếu tố của môi trường gây tác động xấu lên con người Xuất phát từ những tác động tiêu cực đó, kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn trở thành một trong những yêu cầu cấp bách trong hoạt động kiểm soát ô nhiễm môi trường nói chung ở Việt Nam hiện nay
1.1.3 Kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn
Tầm quan trọng của kiểm soát ô nhiễm trong công tác quản
lý môi trường đã được xác định trong Luật bảo vệ môi trường (năm 2005), trong chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010
Trang 8và định hướng đến năm 2020, đặc biệt là trong Quyết định số 328/2005/QĐ-TTG ngày 12 tháng 12 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt kế hoạch quốc gia kiểm soát ô nhiễm môi trường đến năm 2010
Kiểm soát ô nhiễm Tiếng ồn, theo Tác giả là Trách nhiệm của cơ quan Nhà nước, các cá nhân, tổ chức là chủ nguồn ồn trong quá trình phòng ngừa, theo dõi, kiểm tra, giám sát những tác động đếnmôi trường, những biến đổi so với quy chuẩn kỹ thuật môi trường, xử lý những hoạt động tiêu cực gây ra nhằm đảm bảo cho môi trường sống của con người được trong lành, sạch đẹp Trong
các cấp kiểm soát, phòng chống ô nhiễm và giảm thiểu tiếng ồn được xem là các biện pháp hiệu quả
Cần nhấn mạnh rằng trách nhiệm kiểm soát ô nhiễm môi trường nói chung và kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn nói riêng là nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân chủ nguồn ồn và trách nhiệm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và khi họ vi phạm nghĩa vụ này phải chịu trách nhiệm pháp lý
1.2 Những vấn đề lý luận về pháp luật kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn
1.2.1 Khái niệm pháp luật kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn
Mục đích cơ bản của pháp luật kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn là nhằm hạn chế nguồn ồn, phòng ngừa, giảm thiểu những ảnh hưởng xấu của tiếng ồn, bảo vệ chất lượng môi trường sống của con người Thông qua việc định hướng xử sự của cơ quan nhà nước và các tổ chức, cá nhân trong quá trình làm phát sinh tiếng ồn, đồng thời ràng buộc những chủ thể này bằng những chế tài cụ thể, có thể định nghĩa
pháp luật Kiểm soát ô nhiễm Tiếng ồn như sau: “Pháp luật Kiểm soát ô nhiễm Tiếng ồn là tổng thể cácquy phạm pháp luật các cơ
Trang 9quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh hoạt động của các cơ quan nhà nước, các cá nhân, tổ chức là chủ nguồn ồn và các chủ thể khác trong quá trình phòng ngừa, dự báo, theo dõi, kiểm tra, giám sát và phát hiện những tác động của tiếng ồn, sự phát tán
tiếng ồn, xử lý tiếng ồn, đảm bảo môi trường sống của con người”
Nhà nước ta đã thông qua Luật Bảo vệ môi trường năm
2014 Trong Luật này có sửa đổi, bổ sung quan trọng liên quan đến kiểm soát ô nhiễm Môi trường, quy định về quy chuẩn kỹ thuật về Môi trường xung quanh gồm: nhóm quy chuẩn kỹ thuật môi trường đối với không khí, nhóm quy chuẩn kỹ thuật môi trường đối với âm thanh, ánh sáng, bức xạ, nhóm quy chuẩn kỹ thuật môi trường đối với tiếng ồn, độ rung (bao gồm cả nguồn di động và cố định) Các quy chuẩn này là cơ sở đề đánh giá hiện trạng Môi trường, mức độ ô nhiễm, quản lý ô nhiễm và là cơ sở để xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về Môi trường
1.2.2 Các nguyên tắc trong điều chỉnh pháp luật Kiểm soát
ô nhiễm Tiếng ồn
Thứ nhất, nguyên tắc cơ bản của Pháp luật Kiểm soát ô nhiễm Tiếng ồn chính là Nhà nước ghi nhận và bảo vệ quyền được sống trong môi trường trong lành của con người, đảm bảo cuộc sống được hài hòa với tự nhiên
Thứ hai, nguyên tắc “phòng ngừa – giảm thiểu" là nguyên tắc ưu tiên trong Kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn Nguyên tắc này luôn được coi là phương châm của hoạt động kiểm soát ô nhiễm môi trường nói chung, trong đó có kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn
Thứ ba, nguyên tắc “phát triển bền vững”, phát triển bền vững chính là phát triển trên cơ sở duy trì được mục tiêu và cơ sở vật chất của quá trình phát triển Chỉ có thể phát triển biền vững khi
Trang 10kiểm soát ô nhiễm môi trường được hiệu quả đồng thời từ đó sẽ thúc đẩy phát triển xã hội
Thứ tư là nguyên tắc phối hợp và liên kết, có nghĩa là trên phạm vi toàn cầu phải có sự hợp tác để kiểm soát ô nhiễm chung, trong phạm vi quốc gia phải đặt dưới sự quản lý thống nhất của Nhà nước theo hướng hình thành cơ chế mang tính liên vùng, bảo đảm sự hợp tác chặt chẽ giữa các địa phương, cần phải đảm bảo có mối quan
hệ tương tác giữa các ngành, các văn bản quy phạm pháp luật trong việc quản lý, điều chỉnh các hoạt động phát triển phù hợp với công tác kiểm soát ô nhiễm môi trường
Thứ năm là nguyên tắc kiểm soát ô nhiễm tại nguồn: Nguyên tắc này được ghi nhận xuất phát từ một đặc đỉểm rất quan trọng của
âm thanh là khuếch tán và lan truyền, nên khi có hành vi gây tiếng ồn thì việc xác định cường độ và hậu quả đối với con người là rất khó khăn Cách hiệu quả nhất để hạn chế tiếng ồn là kiểm soát ngay tại nguồn ồn
Cuối cùng, nguyên tắc thứ sáu là nguyên tắc người gây ồn phải chịu trách nhiệm pháp lý: Người hoặc tổ chức gây ô nhiễm tiếng
ồn thì phải chịu trách nhiệm pháp lý như trách nhiệm hành chính, trách nhiệm dân sự, trách nhiệm hình sự và bồi thường thiệt hại do tiếng ồn của mình gây ra
1.2.3 Vai trò của pháp luật Kiểm soát ô nhiễm Tiếng ồn
Hệ thống pháp luật đã bảo vệ môi trường bằng việc thể chế hóa các chính sách, kế hoạch của Đảng, nhà nước trong công tác bảo
vệ môi trường và quy định các phương tiện, biện pháp, nhân lực để đảm bảo thực hiện các chính sách đó Chính vì vậy, pháp luật về bảo
vệ môi trường đã trở thành một công cụ hữu hiệu để quản lý và bảo
vệ môi trường Cũng giống như những lĩnh vực pháp luật bảo vệ môi
Trang 11trường khác, pháp luật Kiểm soát ô nhiễm Tiếng ồn cũng có vai trò quan trọng, cụ thể như sau:
- Pháp luật quy định các quy tắc xử sự cho con người
- Pháp luật quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của các cơ quan quản lý nhà nước về Kiểm soát ô nhiễm Tiếng
ồn
- Pháp luật Kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn góp phần thúc đẩy nghiên cứu các ứng dụng khoa học tiên tiến để bảo vệ môi trường, hạn chế tiếng ồn do các hoạt động thường xuyên của con người gây
ra
- Pháp luật Kiểm soát ô nhiễm Tiếng ồn góp phần thay đổi
và nâng cao nhận thức của cộng đồng theo hướng có lợi
- Pháp luật quy định các chế tài ràng buộc con người thực hiện những đòi hỏi của pháp luật để bảo vệ môi trường
1.2.4 Nội dung của pháp luật Kiểm soát ô nhiễm Tiếng
ồn
Các quy chuẩn kỹ thuật và tiêu chuẩn môi trường: Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật là công cụ và phương tiện quan trọng để duy trì các chuẩn mực trong các quan hệ kinh tế, thương mại, thúc đẩy doanh nghiệp quan tâm đổi mới, nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, đảm bảo
an toàn, vệ sinh, sức khỏe cho con người; bảo vệ động vật, thực vật
và môi trường, sử dụng hợp lý tại nguyên thiên nhiên để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của người dân
Pháp luật về đánh giá tác động môi trường trong hoạt động kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn
Để phòng ngừa ô nhiễm môi trường do hoạt động phát triển kinh tế gây ra, bên cạnh quy định về quy hoạch môi trường, Luật Bảo
Trang 12vệ Môi trường 2014 cũng quy định về việc lập, thẩm định thông qua các báo cáo đánh giá tác động môi trường Đánh giá tác động môi trường là việc phân tích, dự báo tác động đến môi trường của dự án đầu tư cụ thể để đưa ra biện pháp Bảo vệ Môi trường khi triển khai
Các quy định về kiểm soát ô nhiễm Tiếng ồn từ nguồn thải cố định (trong sinh hoạt và sản xuất, kinh doanh và dịch vụ)
Nhà nước ta đã ban hành nhiều quy chuẩn kỹ thuật về tiếng
ồn đối với nguồn thải cố định ví dụ như thời gian phát tán tiếng ồn, thời gian tiếp xúc, độ ồn
Các quy định về xử lý vi phạm pháp luật về kiểm soát
- Trách nhiệm hành chính
- Trách nhiệm dân sự
- Trách nhiệm hình sự
Trang 13Kết luận chương 1
1 Tiếng ồn là hệ quả tất yếu khi đời sống kinh tế ngày càng tăng cao, nhu cầu giải trí, sinh hoạt, phát triển cơ sở hạ tầng của người dân ngày càng cao, vì vậy Tiếng ồn ngày càng tăng, ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe con người
2 Kiểm soát ô nhiễm Tiếng ồn là một hoạt động không thể thiếu trong quá trình Kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn theo quan điểm bảo
vệ sức khỏe con người Hoạt động này là tổng hợp của những hoạt động của các cơ quan có thẩm quyền, các chủ nguồn ồn di động và
cố định cũng như toàn xã hội nhằm giảm thiểu những tác động nguy hại mà Tiếng ồn có thể gây ra trong sức khỏe cộng đồng
3 Pháp luật kiểm soát Tiếng ồn giữ một vai trò hết sức quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường, sức khỏe con người Đây là một trong những công cụ hữu hiệu để phòng ngừa, góp phần thay đổi, nâng cao nhận thức cộng đồng theo hướng có lợi cho sức khỏe, tinh thần của con người; tạo điều kiện thuận lợi cho nghiên cứu và ứng dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến để giải thiểu Tiếng ồn