1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

DSpace at VNU: Tiến hóa địa mạo của delta Sông Hồng trong Holocen

11 195 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 2,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong khoảng vài năm trồ lại đây, việc nghiên cứu tiến hoá địa m ạo và trầm tích trong Holocen ở delta Sông Hồng dã được chú ý nhiều hơn.. Vì vậy, để nghiên cứu sự tiến hoá của đồng bằng

Trang 1

TIẾN HOÁ ĐỊA MẠO CỦA DELTA SÔNG HồNG TRONG HOLOCEN

N g u y ễ n H o à n , Vũ V ă n P h á i, N g u y ế n H iệ u , H o à n g T h ị V â n

Khoa Địa lý, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQG Hà Nội

H a ru y a m a S h ig e k o

Trường Đại học Tổng hợp Tokyo, Nhật Bản

1 Mở đ ầ u

Delta Sông Hồng có dạng là m ột h ình tam giác vỏi đ inh là V iệt Tri, còn cạ n h đáy được

mò rộng vê phía dông - nam là đường bò biển từ An Hài (Hải Phòng) đến Kim Sơn (Ninh Binh) kéo dài trên 150 km Đường cao của tam giác này đo được từ Việt T rì đ ến cửa Ba Lạt khoảng 160 km N hư vậy diện tích của nó khoảng 12000 km 2 và được xếp h àn g th ứ 2 ở Việt Nam vể diện tích, sau d elta Sông Mekong Mặc dù diện tích nhỏ, nhung d elta Sông Hổng từ lâu đã trỏ th à n h nơi cư tr ú của con ngưòi Việt Nam với nền văn minh Sông Hồng rực rõ Ngày nay, nơi dây đã trở th à n h m ột vùng kinh tê - xà hội quan trọng của nước ta trong thời

kỳ công nghiệp hoá và hiện đại hoá M ặt khác, theo thòi gian, đồng bằng d elta sông Hồng cùng dà bị thay đôi r ấ t n h iều do các tác động của thiên nhiên cũng như của con người, Từ trước đến nay đã có m ột số công trin h nghiên cứu về quá trìn h tiến hoá địa m ạo và trầm tích của d elta Sông Hồng [2,3,4,6,7,9,10] Trong khoảng vài năm trồ lại đây, việc nghiên cứu tiến hoá địa m ạo và trầm tích trong Holocen ở delta Sông Hồng dã được chú ý nhiều hơn Đáng kê hơn cá là các để á n trong khuôn khô hợp tác với Hà Lan, N hật Bán [7,9] Trong báo

c á o n à y c á c t á c g i ả s ẽ đ ê c ậ p đ ế n m ộ t sô’ k ế t q u ả v ề t i ế n h o á đ ị a m ạ o d e l t a S ô n g H ồ n g t r o n g Holocen trên cơ sở tham gia các để án này

2 T à i liệ u v à p h ư ơ n g p h á p

Delta Sông H ồng được h ình th à n h trong mối tác động tương hỗ giữa sông và biển Nó

là một hệ dịa mạo mỏ, có câu trúc phức tạ p và r ấ t nhạy cảm Q uá trìn h tiến hoá của nó luôn dược xác định bởi mốì q uan hệ tương tác giữa các nh ân tô’ nội sinh và ngoại sinh (từ phía thượng nguồn củng n hư từ phía biển) và môi tướng tác giữa các hợp p h ần của chính nó Trong qu an hệ tương tác này các yếu tô ngoại sinh thường trội hơn Trong thòi kỷ hiện dại,

sự tiến hoá của delta Sông Hồng còn chịu tác dộng m ạnh mẽ của con người Vì vậy, để nghiên cứu sự tiến hoá của đồng bằng sông Hồng trong giai đoạn Holocen cần sử dụng một

hệ thông các phương pháp thích hợp và nguồn tài liệu đáng tin cậy

Trước h ết, như trê n vừa đề cặp, d elta Sông Hồng là m ột hệ thống Vì vậy quan điểm

dê nghiên cứu tiến hoá địa mạo của nó là cách tiếp cận hệ thống trên cơ sờ mối quan hệ nhản - quả. Các phương ph áp nghiên cứu được sử dụng bao gồm cả phương p háp truyền thống (nhu hình thái - nguồn gôc, hìn h thái - động lực, hình th á i - thạch học, v.v.) 'và các phương pháp hiện dại (phân tích tuổi tu y ệt đối C '\ p hản tích à n h viễn th ám , công nghệ hệ thông tin địa lý)

Trang 2

Các tà i liệu được sử dụng trong bài v iết này là kết quá p hân tích 3 lỗ khoan ở phía bò phái sông Hồng được tiến h àn h trong các năm 1999-2001 gồm lỗ khoan ND-1 ỏ Ý Yên (Nam Định) sâu 70 m ét thực hiện năm 1999, lỗ khoan DT ở Duy Tiên (H à Nam) sâu 41,3 m ét thực hiện th án g 12/2000 - th án g 1/2001 và c c ờ Phú Xuyên (Hà Tây) sâu 29,4 m ét thực hiện

th ản g 12/2001 (hình 1, 2, 3 [8]) Thêm vào đó là các kết quà điểu tra thực địa trẽ n địa bàn

d elta Sòng Hồng các năm 2000-2003, các tài liệu bản đồ địa h ình ở tỷ lệ 1:25.000 và 1:50.000 dược xuất bản vào những nAm khác n hau từ khoảng giữa th ê kỷ XX đến nay, cụ thể là: bán đồ địa h ình tỷ ]ệ 1:25.000 in năm 1952 và 1999; bản đổ địa hình tỷ lệ 1:50.000 in các năm 1965, 1990 và 2001; ản h vệ tinh SPOT các năm 1995, 2002; ản h m áy bay các năm

1985 và 1997 Ngoài ra , các tác giả còn sử dụng m ột số tư liệu lịch sử - khảo cổ có liên quan

đã được công bố

3 K ết q u ả v à t h ả o lu ậ n

3.1 Đặc điểm trầm tích

S au k h i p h â n tích m ẫu trầ m tích lấy được tro n g các lỗ khoan, H ori K và đồng

n ghiệp [8] đã chỉ ra 3 nhóm khác n h a u là trầm tích sông (aluvi), trầm tích vũng vịnh

trầm tích delta.

a Nhóm trầm tích aluvi. Nhóm trầm tích này chi gặp dược trong lỗ khoan ND-1 trong khoảng độ sâu 70-45 m ét (bề dày quan s á t dược là 25 mét) Cột địa tần g của nó đitợc chia th à n h 2 p h ần (trong cột địa tần g được ký hiệu là F l l và F1.2) P h ần dưới (từ 70 đến

54 mét) có th à n h p hần là sỏi - sạn - cát có độ chọn lọc kém đến tru n g bình, thuộc tưởng lòng sông. 0 ph ần trê n có xen vài lớp giàu vật c h ấ t hữu cờ P h ần trê n chủ yếu là sé t - bột màu loang lố dỏ với n h iều rễ cây nhỏ đã bị biến đổi, đôi chỗ xen lớp c á t m ịn dày vài mm, thuộc

tướng bãi bồi. P hân tích bào tử ph ấn hoa có trong nhóm trầ m tích này cho th ấy không có các giông loài ưa m ặn hay lợ Kết quả phân tích tuổi tu y ệ t đối bằng phương pháp CM đối với

p hần dưới cho giá trị trước 11.000 năm N hư vậy có th ể xem đây là trầm tích sông dược

th àn h tạo vào cuối Pleistocen, khi mà mực nưôc biển còn ỏ vị tr í th ấ p hơn so với hiện nay

Từ kết quà này cho thấy, vào thời kỳ s á t trước Holocen, tại khu vực nãy tồn tại môi triíòng tích tụ trầm tích alluvi Vì vậy, cần tiếp tục nghiên cứu về khối lượng và sự p hân bố của chúng dề có th ể đứa thêm một phán vị địa tầng mới của trầm tích Đệ tứ ò delta Sông Hổng

cỏ tuổi sát trước Holocen.

b Nhóm trầm tích vũng vịnh và cửa sông (trong các cột địa tầ n g được ký hiệu là F2) Đây là loại trầm tích khá phổ’ biến trong khu vực d elta Sông Hồng Nhóm trầm tích này gặp được trong cả 3 lỗ khoan và có bể dày thay đối trong phạm vi k h á lớn theo hướng tăn g dần

về phía bờ biển: từ 5,6m (lỗ khoan CC) đến 18,7m (lỗ khoan DT) và 24,5m (lỗ khoan ND-1) Nhóm trầm tích n ày có th àn h phần chủ yếu là sét m àu xám xan h n h ạ t xen nhiêu vật liệu hữu cơ, n hư các m ảnh vụn vỏ sinh vật được xác định là Potamocorbula amurensis (Shrenck)

Corbicula là các loài đặc trư ng cho mói trường nước lợ [8], Do đó, nhóm trầm tích này

Trang 3

đến 11627 năm (dối với lỗ khoan ND-1), 7469-10479 năm (lỗ khoan DT) và 9034-9530 (lỗ khoan CC) Với khoảng tuổi n hư vậy, nhóm trầm tích này được xếp vào Holocen sớm (Q2')

LỖ k h o a n ND1

Đ ộ c a o tu y ệ t dố i:+ 1 -2 m

H ìn h 1. L ỗ k h o a n N D - 1 [8]

Trang 4

M.

L Ỗ k h o a n D T

Đ ộ c a o t u y ệ t đ ỏ i : + 3 - 4 m

C ò t đ ia tấ n g Hám lưo ng b ù n tướng (F)

trầm tích

Trang 6

c Nhóm trầm tích delta (trong các cột địa tần g được ký hiệu là F3) Nhóm trầm tích này có bể dày gần n hư n hau và xu giảm dần ra phía biển, từ: 23,8m (lỗ khoan CC), đến 22,6m (lỗ khoan DT) và 20,5m (lỗ khoan ND-1) T h àn h p hần cơ học của trầm tích lại khá đa dạng, từ sét, bột - sé t m àu nâu đỏ cho dến cát, thậm chí còn có cả sỏi Trong trầm tích có lẫn khá nhiều m ành vụn vò sò óc nước m ặn - lợ Đặc b iệt ờ gần lỗ khoan c c (P hú Xuyên) có một

di chi khảo cô - di chi C hâ» Can có niên đại thời kỳ đồ đồng Đông Sơn, trong m ẫu trầm tích có chứ a kh á n h iều diatom ea nước m ặn và nước lạ T rong m ẫu trầm tích ỏ lỗ khoan ND-1 củ n g rấ t g iàu bào tử và p h ấn hoa của các cây ưa m ặn - lợ, như Rhizophora sp (0,0- 20,58%) [8], N hư vậy, vê nguồn gốc trầ m tích th ì nhóm trầm tích n ày có cà vai trò của sông, th u ỷ triề u và sóng, nên gộp chung là trầm tích d elta Tuổi dược xác địn h khoảng sau

7500 năm P h ần trê n củng của trầ m tích d elta dược biểu hiện k h á rõ trê n bề m ặt địa hình

d elta hiện nay

3.2 Tiến hoá địa mạo của delta Sông Hồng

Qua đặc điểm về nguồn gốc và tuổi các trầm tích của 3 lỗ khoan nêu trên cũ n g như các tài liệu khác [2,3,5,9,10], có th ê chia q u á trìn h tiến hoá địa m ạo của k hu vực th à n h các giai đoạn sau:

a Giai đoạn cuối Pleistocen và sát trước Holocen. Vào cuối Pleistocen và đầu Holocen (khoảng 10.000-11.000 năm trước), toàn bộ delta Sông H ồng hiện nay là m ột đồng bằng alluvi rộng lớn Đ iểu này p hù hợp với nhiều tài liệu đ ã được công bố trên th ế giới và có quan

hệ c h ặ t chẽ thời kỳ băng hà cực đại cuối cùng Vào lúc này, khó đoán nh ận được hệ thông sông Hồng chảy th eo hướng nào Song cũng dễ d àng p hán đoán khu vực lân cận lỗ khoan ND-1 cỏ thè là m ột vùng cửa sông chịu ản h hướng của thuý triều , vi các ph ấn hoa của thực

v ậ t ngập m ặn (Rhizophora sp.) chỉ gặp được trong khoảng dộ sâu nông hơn 45 m ét và có tuổi trên 11.000 năm trước ngày nay [8] Đây là lúc mực nước biển vẫn d ang dâng lên với tốc độ khá n h an h và biển liên tục trà n ngập vào đồng bằng Trong lúc đó, ờ k hu vực Hà Nội

và xa hơn vể ph ía tây, phía bắc lại là vùng bóc mòn chia c ắ t và hạ th ấp bể m ặt tích tụ của

hệ tầng Vĩnh Phúc để tạo ra cảnh quan đồng băng - đồi thoải n hư hiện nay

b Giai đoạn Holoccn sớm - giữa. Đây là giai đoạn d elta Sông Hồng được phát triền trong điều kiện biển tiến. Vào đầu Holocen, mực nước biển vẫn tiếp tục tà n g lên và lấn sâu vào lục địa P h ần rìa d elta sông H ổng bị nước biển trà n ngập Các quá trìn h địa m ạo dòng cháy dược thay th ế dần bởi các quá trìn h địa mạo ven bờ biển và cửa sông Mực nước biển đạt cực đại khoảng 6000 nâm trước tại vị trí 0 m ét so với hiện nay ỏ lỗ khoan c c , cách bò biển hiện nay khoảng 80 km Nếu lấy vị tri mực nước đầu Holocen là -45 m ét so với mực míớc bien hiện nay (theo các giá trị tại 3 lỗ khoan đã nêu), thì tốc độ dân g lên của mực nước biển trong khoảng thòi gian này khoảng 4,0-4,5m m /năm T rong khi dó, theo nhiều nguồn tài liệu khác n h au , thì giá trị dâng lèn của mực nước biển trong khoảng từ 18000 đ ến 6000 năm trước đạt xấp xỉ lm /100 năm (hoặc lOmm/năm) C ũng cần giả thiết, thêm rằng, từ 6000 nảm trước đèn nay, biên độ th u ỷ triều ớ vịnh Bắc Bộ không th a y đôi T rong giai đoạn này

Trang 7

trầm tích trong giai đoạn này chủ yếu là v ật liệu h ạ t m ịn được th àn h tạo trong diều kiện dộng lực không m ạnh và có nguồn v ậ t liệu cung cấp từ lục địa k h á phong phú Bởi th ế, tốc

độ tích tụ trầm tích trong giai đoạn n ày cũng khá lốn Đày chính là giai đoạn phát triển delta theo cơ chế lấp đầy (aggradational delta) C ũng vì thế, trầ m tích trong giai đoạn này có

sự phân bô' r ấ t phức tạp, chuyến tướng rấ t nhanh chóng theo cả chiểu thòi gian lẫn chiểu không gian Sự th ay đổi môi trường trầ m tích đa dạng n hư vậy được thê hiện r ấ t rò th àn h phần và sò’ lượng các loài bào tử và p hấn hoa rừng ngặp m ặn, đặc b iệt là Rh.izoph.ora sp Tại

lỗ khoan ND-1, trong khoảng độ sâu từ 54,0 -37,8 m ét, Rhizophora sp chi chiếm 0,0-8,0%; trong khoảng dộ sâu 37,8-16,1 chiếm tới 1,8-34,08%, s a u đó lại giảm xuống còn 0,0-20,58% trong khoảng độ sâu từ 16,1-1,5 mét

c Giai đoạn Holocen muộn. Sau khi đ ạt mức cực đại, mực nước biển tạm thòi ít th ay đổi Lúc này p hần lớn d elta Sông Hồng (toàn bộ ph ần hạ ch â u th ổ và một p h ầ n tru n g châu thổ, [5]) được phát triển trong điều kiện vịnh biển nông ven bờ (hình 4 [8]) Lúc này vùng rìa delta Sông H ồng (là n h ữ ng bộ ph ận hiện nay ]ộ ra các trầm tích của hệ tần g V ĩnh Phúc hoặc

bị phủ một lớp alluvi mỏng) vẫn là nơi chia cắt - bóc mòn và v ậ n chuyến v ặt ch ấ t đê cung cấp cho vịnh biển này Sau đó quá trìn h biển lùi xảy ra T rong quá trin h biển lùi, cũng chinh là lúc bể m ặt d elta Sõng Hồng hiện nay d ần dần được lộ ra Lúc này, ngoài lượng vật liệu trầm tích do m ài m òn bờ, dưa r a từ lục địa do các dòng sông, còn cỏ cả sự di chuyển dọc

bò cúa bồi tích, chủ yếu theo hướng đông bắc - tây nam Do tác dụng của sự di chuyển bồi tích dọc bò này, m ột hệ thông các doi cát kéo dài khá liên tục theo hướng dông bác - tây nam Nhưng rõ nhất, là từ phía nam cửa sông T hái B ình đến n am thị xã T hái Binh, qua huyện Nam Ninh (N am Đ ịnh), tới khu vực P hù Sa (khu vực gặp n h au cúa sông Nam Định

và sông Đáy) ỏ Thái Thụy B át dầu từ khoảng 2000-2500 n àm trưốc, d elta S ông Hồng đà được ph ân chia th àn h 3 bộ phận: do tác động sông chiếm ưu thế; do thuỷ triều chiếm ưu th ế

và do tác động của sóng chiếm ưu thế

+ Delta do vai trò của sông chiếm ưu thế Bộ ph ận này chiếm diện tích lớn n h ấ t và đitợc ph ản b ố ỏ p hần trê n của d elta Sông Hồng hiện nay, bao gồm vùng đồng bằn g nằm dọc hai bên bò các sông Đáy, sông Hồng, sông Đuống, sông Luộc thuộc các tỉn h Hà Tây, Hà Nội, Hưng Yên, Hà N am , phía tâ v các tin h Thái Bình, Nam Đ ịnh và phía bác N inh Bình Đặc điểm nổi b ậ t n h ấ t ỏ đầy là sự tồn tại nhiều dấu vết cùa lòng sông đã bị vùi lấp hoặc không còn hoạt động hay chỉ ho ạt động theo m ùa trong năm do tác động của cá các n h ân tô’ tự

n hiên lẫn nh ân sinh Các dấu tích này quan s á t được khá rõ cả ngoài thực đ ịa cũng như trên các ả n h vệ tinh, và thự c tế, nó chĩ được p hân bố trong p hạm vi của đai uốn khúc Một

số dòng sông, như sông Đáy, bị chết chỉ trong khoảng thời gian r ấ t gần đây Bởi trong sách

"Sử học bị khảo" được viết ra từ cuối th ế kỷ XIX, Đ ặng X uân Bảng đã mỏ tã khá cụ the đường th u ỷ di từ cửa sông H á t (nay thuộc xã H át MÔ11, huyện P húc Thọ, H à Tây) tức sông Đáy ra đến biển [1], Còn trê n bản đồ địa hình tỷ lệ 1:500.000 được th à n h lập n ãm 1926, các dòng sông nói trên vẫn là sông lốn Hơn nữa, trong các tà i liệu lịch sử, th ì sông Đáy còn

Trang 8

Hình 4. So sánh các lỗ khoan [8]

+ Delta do ho ạt động củ a thuỷ triều chiếm ưu thế Bộ p h ận d elta thuỷ triều chiếm ưu t.hế p hân bố ở phía dõng - bắc, chu yếu thuộc ph ần hạ lưu hệ thống sông T hái Bình Đây là

bộ phận th ấ p n h ấ t của d elta Sông Hồng Nhìn m ột cách khái q u át, th u ỷ triều ven bò delta Sông Hồng là như n h au , n h ư n g xét từ ng đoạn cụ th ể thì ở khu vực này độ cao của thuỷ triều vẫn cao hơn các nơi khác vài chục cm Các cửa sông ỏ đây thường có dạng hình phễu, diếp hình là cửa Bạch Đằng Trong ph ần lục địa, các sông có độ uốn khúc lớn hơn, các chi lưu và hợp lưu khá phức tạp Bộ ph ận này của d elta có m ật độ m ạng lưới sông suôi lán nhất

+ D elta do hoạt động của sóng chiếm ưu thế Bộ ph ận này p h ân b ố từ phía nam cửa sông Thái Bình thuộc huyện Thái T hụy (tình Thái Bình) và được mở rộng kéo đài về phía tây - nam đến thị xã N inh Bình Dấu tích hoạt động của sóng còn th ấy r ấ t rõ thông qua sự

p hân b ố và đ ịnh hướng của hệ thống các val cát cổ cả trên ản h vệ tin h lẫn trên bể m ặt dồng bàng Căn cử vào các tài liệu lịch sử [1] thì có lẽ dây là khu vực trẻ hơn so với 2 bộ phân của delta nói trên

d Tiến hoá địa mạo của delta Sông Hồng trong thời kỳ gần đây. T rê n cơ sở p hân tích địa mạo và trầm tích, đặc biệt là sự ph ân bố của các dải cát trê n d elta Sông Hồng, có th ể xác định các đường bờ tro n g n h ữ ng thòi kỳ khác nhau C húng bao gồm: 1) đường bờ vào đầu th ế

kỹ XIX; 2) dường bờ năm 1952; 3) đường bò năm 1965; 4) đường bò nàm 1985 và 5) đưòng bò nàm 1996

Từ giũa t h ế kỷ XIX đến nay, đường bờ của vùng cửa sông Ba L ạ t biến đổi phức tạp do các hoạt dộng bồi tụ - xói lở T uy nhiên, bồi tụ vẫn là quá trìn h địa m ạo chiếm ưu thế Đó là

lý do tại sao đường bờ của vùng cửa Ba L ạt liên tục tiến vể phía biến từ 1952 tới nay với tốc

Trang 9

khoảng 3,5 - 4,0cm/năm Giá trị này củng tương tự như ở vùng Hải Phòng Tuy n hiên, hiện tượng xói lở đường bò cũng diễn ra khá nghiêm trọng trong m ột thòi gian dài ở phía tây nam

cứ a Ba L ạt (từ xã Giao H ải tới xã Giao Phong vối chiều dài diíòng bờ tông cộng là 7 km) Tình trạ n g xói lờ đường bờ cũng x u ấ t hiện ở phần rìa phía biển của cồn V ành và cồn Lu từ năm 1992 cho đến nay

Những vùng đ ấ t mỏi ờ khu vực cửa Ba Lạt liên tục được mở rộng về phía biển bởi sự lấp dầy trầm tích p h ía sau các b ar (lagoon) Hiện nay, hoạt động của con người đã ảnh hưởng nghiêm trọng tới hoàn cành địa m ạo ở vùng cửa Ba Lạt Đó là việc xảy dựng các công trìn h ở vùng thượng lưu (đập Hoà Bình, ), khai thác v ậ t liệu xây dựng trên bãi biển (ở vùng Giao Phong), khai k h ẩn các vùng đ ấ t mới (cả hai bên cửa sông Ba L ạt) và xây dựng các hệ thống đê sông - biển

Qua khảo s á t thực địa cùng n hư tín h toán từ ản h viễn th ám và bản dồ địa h ình xuất bàn vào các thòi gian khác n h a u bằn g phần mềm hệ thông tin địa lý (GIS), có thể th ấ y trong suổt 50 năm (từ 1952 đến 1996), vùng đ ấ t ỏ k hu vực cửa Ba L ạt liên tục được mở rộng với tốc độ tru n g bình 217,2 ha/năm (87%), còn tôc độ xói lở tru n g bình chi khoảng 32,1 ha/năm (13%) Có th ể th ấy rằng tỷ lệ bồi tụ / xói lỏ cũng khác n h au ở cả 3 thời kỳ: 1952 - 1965; 1965

- 1985; 1985 - 1996 (bảng 1) Trong đó tỷ lệ bồi tụ / xói lờ lốn n h ấ t là vào thời kỳ 1965 -

1985 (khoảng 7/1), còn nhỏ n h ấ t là vào thòi kỳ 1985 - 1996 (khoảng 3/1) Điều này có thể do các nguyên nh ân khác n h a u về sự cung cấp bồi tích liên quan tỏi đập Hoà B ình và sự x ó i ló các bar cát và đường bò ỏ vùng cửa Ba L ạ t cũng như hoạt động của bào và áp th ấp nh iệt đới

dô bộ vào khu vực tăn g lên

Bảng 1. Tốc độ bồi tụ xói lở tru n g binh ỏ vùng cửa sông Ba L ạt thời kỳ 1952-1996

Ha/năm Tỷ lệ (%) Hatnãm Tỷ lệ (%)

4 K ế t lu ậ n

1 T rẽn cơ sờ p h â n tích các tín h ch ấ t trầm tích tạ i 3 lỗ khoan ờ vùng hạ lưu delta Sông Hồng đã chia được 3 nhóm trầm tích được th ành tạo trong các môi trường khác nh au là: 1) trầm tích lục dịa (aluvi) có tuổi cô’ hơn 11.000 năm ; 2) trầm tích vùng vịnh và cửa sông có bề dày từ 5,6 đến 24.5 m ét theo chiều giảm d ần về phía thượng lưu với tuổi tu y ệt đôì từ 11.000 đến 8.500 nãm ; 3) trầm tích d elta có bể dày khoảng 20 m ét và ít thay đổi với tuổi tuyệt đối

Trang 10

2 Trên cơ sỏ trầm tích n êu trên và các tài liệu khác, tiến hoá địa mạo của delta Sông Hồng được chia th à n h 4 giai đoạn: 1) giai đoạn s á t trước Holocen; 2) giai đoạn Holocen sớm

- giữa; 3) giai đoạn Holocen m uộn và 4) giai đoạn hiện đại;

3 Theo vai trò của các n hân tố động lực tham gia vào quá trin h th àn h tạo, bể m ặt delta Sông Hồng được chia th à n h 3 bộ p hận vói vai trò chiếm ưu th ê của sông, thuỷ triều và sóng

4 Trong khoàng vài nghìn năm trở lại đây, địa hìn h d elta Sông Hồng bị biên động rấ t

m ạnh mẽ, đặc biệt từ khoảng 1000 năm trỏ lại đây, do có sự can thiệp tích cực của con người Trong tương lai, đải ven biển của delta Sông Hồng (từ An Hải đến Kim Sơn) sẽ còn biến động khá phức tạp Vì t h ế các phương á n quy hoạch p h á t triển cần phải dựa trên cơ sỏ

dự báo này m ột cách đầy đủ

* Công trình này được hoàn thành trong khuôn khổ Chương trinh nghiên cứu khoa học cơ bán giai đoạn 2004-2005, đề tải mã số 74.25.04.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Đ ặng X uân Báng, Sử học bị khảo, NXB Văn hóa - Thông tin, H à Nội, 1997, 670 tr

2 Vũ Vàn P h ái, Nguyễn X uân Trường, Lịch sử p h á t triển bờ biển rìa delta Sông Hồng trong thời kỳ gần đây, Tạp chí các Khoa học về Trái đất, Viện Khoa học Việt Nam, sô' 2

(T 14), H à Nội, 1992, tr 57-60

3 Vũ Vàn P hái, Nguyễn H oàn, Nguyễn Hiệu, Tiến hoá địa m ạo vùng cửa sông Ba Lạt trong thời kỳ gần đây, Tạp chi Khoa học, Đại học Quốc gia Hà Nội T.XVIII, No 2, Hà Nội, 2002, tr 44-53

4 Vù Vàn P hái, Nguyễn Hoàn, Nguyễn Hiệu, N ghiên cứu mối tương tác đ ất - biển phục

vụ qu ản lý thống n h ấ t đới bò vịnh Bắc Bộ, Tạp chí Khoa học, Đại học Quốc gia Hà Nội,

T XVIII, No 4, Hà Nội, 2003, tr 36-43

5 Lê Bá Thảo, Thiên nhiên Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2001, 324 tr

6 H aruyam a Sh and Vu Van P hai, Landform s an d Environm ental change in th e Lower Red R iver Delta, In “Deltas: Their Dynamics, Faces and Sequences with special references to sea - level changes and human impacts", Geological Survey of Jap a n , Tokvo, 2000, 19pp

7 H aruyam a Sh., Le Quoc Doanh, Le Van Tiem, Le K hanh Phon, Vu Van Phai, Hori K.,

T anabe s an d S aito Y., Geomorphology of the Red R iver Delta an d th eir fluvial process of Géomorphologie developm ent, N orthern V ietnam , In “Long climate change and the environment change of the lower Red river delta", Agricul Publishing House, Hanoi, 2001, pp 71-92

8 Hori K., T anabe s a n d S aito Y., S edim entary facies, arch itectu re and evolution of the Song Hong (Red river) delta, V ietnam, In “Environmental change and evolution of natural environment in the Red river delta", Ed By H aruyam a Sh., U niversity of

Ngày đăng: 11/12/2017, 12:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm