1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

DSpace at VNU: Vấn đề bố trí các điểm quần cư ở xã Mường Vi (Huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai) trên quan điểm phòng chống tai biến thiên nhiên

9 175 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 1,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để góp phần giải quyết bài toán này, chúng tôi đà tiến hành nghiên cửu vấn để bô trí các điểm dân CƯ trên địa bàn xà Mường Vi huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai trên quan điểm phòng chống tai b

Trang 1

TAP CHl KHOA HOC ĐHQGHN KHTN & CN T XIX s ổ 4 2003

V Ấ N ĐỂ BỐ TR Í CÁC Đ IỂ M Q U A N c ư

ở XẢ MƯỜNG VI (HUYỆN BÁT XÁT, TỈNH LÀO CAI)

T R Ê N Q U A N Đ lỂ M p h ò n g c h o n g t a i b i ê n t h i ê n n h i ê n

Đ à o Đ ì n h B ắ c , N g u y ể n C a o H u ầ n ,

P h ạ m Q u a n g A n h , D ỗ T h ị P h ư ợ n g

K ho a Đ ịa /ý, T rư ờ n g Đ ọi học K hoa học T ự n h iê n , Đ H Q G H à N ộ i

1 M ở đ ầ u

Dù ỏ đâu thì ngoài nhửng tiêu chí "cận thị, cận giang", mỗi diểm dản cư đểu cần

có mặt bầng xây dựng an toàn và th u ậ n lợi Ở miền núi, n h ấ t là miền núi bị chia cắt mạnh như Tây Bác, điều kiện vê m ặt bằng hết sức khó kh ăn bởi vì ở đây r ấ t hiếm những dạng địa hình bằng phẳng có diện tích rộng, m ặ t khác độ an toàn lại r ấ t thấp vì luôn phải đối m ặt với những quá trình tai biến nguy hiểm n h ư trượt lở các loại, lù quét,

lù bùn - đá và động đất Trong hoàn cảnh đó, con người buộc phải chung sống với tai biến và diều quan trọng là phải biết chung sống như thê nào cho được dễ chịu và an toàn tối đa Trên th ế giới không ít quốc gia có địa hình đồi núi nhò làm tốt việc này mà

đả dạt được mức sông r ấ t cao

Để góp phần giải quyết bài toán này, chúng tôi đà tiến hành nghiên cửu vấn để bô trí các điểm dân CƯ trên địa bàn xà Mường Vi (huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai) trên quan điểm phòng chống tai biến

Cách tiếp cận của chúng tôi là phán tích hiện trạng tai biến ở địa phương, xác định bản chất động lực của chúng đê đưa ra những nhận định về độ an toàn của lãnh thô tuy thuộc vào bức tranh phân bố của nhừng tai biến ấy

Qua nghiên cứu bản chất của những tai biến thường gặp ỏ Mường Vi các tác giả thấy ràng chúng đểu mang bản chất địạ mạo, vì vậy đà đặc biệt chú trọng vào việc thành lặp bản đồ địa mạo theo nguồn gốc p hát sinh rồi đem tích hợp với bản đồ hiện trạng phân bô các điểm quần cư, qua đó đánh giá dược những rủi ro có thể xảy đến với dân cư dịa phương trên từng địa hàn cụ thể Mặt khác, bản đồ địa mạo nguồn gốc củng bao phủ cả những bế

mặt địa hình có thể sử dụng bố trí các điểm quần cư, do đó nó có tác dụng như những điểu

cánh bảo cho các nhà quy hoạch sau này

Cách làm này đồng thời cho thấy logic vận dụng công nghệ GIS vào nghiên cứu độ

an toàn của các diêm dân cư ỏ miền núi

2 H iệ n t r ạ n g b ô t r í c á c đ i ể m d ã n c ư t r ê n đ ị a b à n x à M ư ờ n g Vi

Dân cư xà Mường Vi có 2036 người sống trong 5 thôn - bản (bảng 1 ) phân bỏ trôn Hiện tích gần 28 k n r trê n sườn và đáy thung lùng dạng bồn địa cùng tên

X

Trang 2

Y r i đó b õ III C.K iliõin lỊii.tn l ư u \.ì MiriTiiL! \ I

B áng 1 T h à n h p h á n d à n tộc tính theo các thôn bàn

D â n tộ c

N a R in N a A n T h ô n

D a o

L â m

T i ế n

L à n g

M ới T o à n x ã

i

H - sỏ hò, K - sỏ nhũn khau Ngiiủtì UlìND xã Mường 17

Với mật độ d ã n sỏ" 73 ngưòi/ktĩr thuộc loại cao đối với miên núi trong dó tập tru n g chù yếu dưới đ áy th u n g lùng, tì lệ lả n g 2.2- 2,5%/nãm vấn dê d ấ t ò của Mường

Vi đà khá cảng thẳng Các thôn bản (lếu nằm trên những diện tích không bằng phang

và chật hẹp, phần lỏn có nguồn gốc dòng chảy tạm thòi và trọng lực nhanh, số rất ít có nguồn gốc bóc mòn tông hợp (bảng 2) Cản cứ vào vị trí địa mạo của rác điểm quần CƯ

có thế kỏt luận rằng dân cư ò đây đã phai chấp nhận nhửng địa diêm không an toàn, thậm chí nguv hiểm làm !Níi ỏ của mình

Như vậv, ỏ miền núi Tây Bắc, tuy m ật dộ dân sô tru n g bình cỏn thưa thỏt song tại những dịa bàn ít nhiều th u ậ n lọi như dáy các bồn địa hoặc th u n g lùng dạn g bồn địa,

m ật độ này đà khá cao, có thế tới xấp xỉ 100 ngưừi/km2 Trong điêu kiện địa hình đang

hiõm, chi có những m ành bồ mật san bang nhỏ hẹp trẽn đỉnh và vai núi rát ít các bậc thểm sông vốn có trác lượng - hình thái th u ậ n lợi cho việc bố trí điểm qu ần cư ngay rả các bải bồi Holocen rủ n g thường nhỏ hẹp, người dan buộc phải tận dụng những mảnh

bề mặt voi n ù i và các nón p h o n g vật - lũ tích làm nơi xây dựng làng bản.

B ảng 2 N guồn gốc địa /linh nơi đ ậ t các điếm quẩ n cư

S T T D ạ n g đ ị a h ì n h T h ô n , b ả n

1

Nón phó n g v ậ t - lù tích Na Rin, C h âu Tà, L à n g Mỏi, N a Án 1 ,

Lảm Tiến 1 , Lâm T iến 2

2 Dãy th u n g lủ n g cô Đỏng Cảm, xóm d ạt t r ụ sở ƯBND xà

4 Vạt sườn tích Na Ấn

5 Bài bồi và v ạt coluvi chân

vách đá vôi Lâm Tiến 2, Pà Càm

Tt t n /// K 1 ) 0(1 I tm n U D C Ỉ Ỉ I X K ỉ r r \ Á ( \ T A7V xô 4 V )M

Trang 3

10 Đào Đình Bác, Nguyổn Cao Huán Phạm Quang Anh, Đ(S Thị Hillựng

3 C á c n g u y c ơ t a i b i ế n l i ê n q u a n đ ế n đ ị a đ i ể m đ ặ t k h u d â n c ư

Kết quả khảo s á t thực địa đà xác định được dấu vết của các d ạ n g tai biến thiên nhiên chủ yếu là lũ lủ quét, trượt đất, đổ lò, và chúng đểu có khả nàng ảnh hưởng trực tiếp đến các điểm dân cư trong xã, bỏi vi những khu vực được chọn làm đ ấ t ở đều có nguồn gốc liên qu an với những quá trình này

3 1 T a i b iế n tr ư ơ t đ á t và d ỏ lơ

Các quá trình trượt đ ấ t và đ ổ lở là nhửng tai biến tiêm ẩn dối với nhiều điểm dân

dịa động lực ngoại sinh ở đây đểu th u ận lợi cho sự p h át sinh của chúng

Hiện tượng trượt đ ấ t xảy ra mạnh trên diện tích phản b ố các đá phiến cổ có lớp vỏ

phong hóa dày, giàu sét và lượng ẩm phong phú Trong các dải trũ n g kiến tạo ỏ miền núi Tây Bắc như Mường Vi, Mường Hoa, Sa Pả - Tà Phin , n h ữ n g diện tích này thường nằm ỏ ph ần th ấ p của sườn và trên đáy thung lùng, nơi quần cư ưa thích của đồng bào các dân tộc thiểu số như Dao, Giáy, Tày,

Trường hựp tai biến trượt đ ấ t ở thôn Na Rin của xã Mưòng Vi là một ví dụ điển hình Toàn bộ quả đồi lớn nằm trên sườn trái suối Na Rin đang "chuyển minh", trượt chòm lên nón phóng v ật - lũ tích, nơi đ ặt 2 bản lớn n h ấ t xâ là Na Rin và C hâu Tà (hình

1 ) Chúng tôi đã phân tích ve bản chất của khối trượt này trong một bài báo mói đây [1J Nét độc dáo của nó là kích thước r ấ t lớn, góm nhiều khối trượt nhỏ với dấu hiệu điển hình là những vết n ứt vuông góc với hướng dốc phân bố trên diện tích gần Ikm 2, ngoài ra còn có 3 vết nứt (chứ không phải là rành xói mòn) dài xấp xỉ lOOm định hướng tỏa tia theo chiều dốc và không có biểu hiện chuyển dịch th ả n g đứng (!) khiến ta nghĩ

đến khả năng có n ứ t đ ấ t hiện đ ạ i (?) Dòng suối Na Rin dưới chân đồi có dâu hiệu xâm

thực sâu, chửng tỏ hiện tượng đào lòng đà gây ra sự hẫng h ụ t về trọng lực, (lẳn đến trượt đất M ặt khác, nó còn được kích thích trực tiếp bởi hoạt động canh tác lúa nước trên hệ thống ruộng bậc th an g được xây dựng đày dặc trên sườn (ỉồi đá phiên làm tăng

lượng nước ngầm, tạo ra các đới có độ liên kết yếu [ 1 ].

Khi thấy nước từ mương phai dẫn vào ruộng bậc th a n g bị hút theo khe nứt xuống sâu rồi rỉ ra dưới chân sưòn, người ta đà nghĩ đến một tai họa và Nhà nước cià phải hỗ trợ hàng tỉ dồng để di dời toàn bộ bản Na Rin ra khòi vị trí đ a n g bị de dọa hòi khối trượt

đ ất khổng lồ này

Hiện tượng trượt đ ấ t còn gặp ỏ một số nơi khác, như tại thôn Làng Mới, song chủ yếu là do việc làm ta luy (lường ô tô gây nên, không trực tiếp uy hiếp các công trình nhà

ỏ Tại khu vực Thôn Dao trên vai núi phía sườn trái suôi Na Rin củng có dấu hiệu của nhiều khối trượt đ ất nhỏ, tuy không đe dọa các khuôn viên đ ấ t ở nhưng lại có thể gây tắc nghèn dòng chảy của suối Na Rin làm phát sinh lù quét

Tạp i hi Khoa họt DHQGHN KHTN & CN T XIX só 4 2MA

Trang 4

Vãn đẽ bo M C.H tliõin lịu.m ur t» x.'i \1ư«»!iị! V| I 1

ỉ I l j * m i i V i a t - Í C Ị c ó i

1 2 BluU: í*0*r»ieãrò

[2 I 3- B í Ir t lt d ty ttJu3 j iâOậ cổ

G E 1 «1 Vâ! ueb ta d£ lc

L U ] > íìr liU i ooa (jtc c < V3t ) & V ịt Viiữo ucb co dc* cky < ì

L_) 1 7- rnit hli bói

< < u».l • II V

< J» r •>

r / 21 ^ 0<* lồ

3 5 2 ỉ I s«fc»a đổ ld »rf 0 J j ạ/ao.1 đ,érr dlo cơ

d t v ô ,

111] ì 2' *ẳm Ibat:

ỉ y SiíCiQ r ia trồ i b í Miit

£ £ 2 2 J S<ftJc tíCb tu dứ 'r t a

ố* vfti

• I K K ỉ*7 > M- ' - n t o g chấ> lim ĩbcii

— ** u > a g c h ầ y í b ư ơ O Ị i x v y ta

- Dướeạ I ss

loo C M J ctc

ĩdễa

<10 bo

• 10-20 hô

20-30 bô

9 >30 no

Đe 10 I.1C cũ i CẫC

đ É m ổtz cư

A a :aao

T ư c o g đOi<0 io»c

K h ổ n g 10 tcaa

N g ty bi A n

H ì n h 1 Bcin đ ổ đ ộ cin toàn của các đ iế m (lỏn c ư trên cơ s à đ ịa mạo.

H iện tượng đó lở đã và dang diễn ra ỏ đây một cách nguy hiểm l)Àng chửng là sự hiện diện của vô sô tảng lăn đôi khi kíc h thước rất lớn trên sườn dồi núi trên bể mặt các nón phóng vật - lũ tích và trôn lề (lường ô tô sô 155 Người dân ỏ dãy còn nhớ trường hợp đá Uí trôn đỉnh Pò Son gãy ra tiêng dộng như một vụ nô lỏn kèm theo khói bụi mủ mịt hoặc những trư ờ n " hợp (lá lãn làm chết súc vật chản thà trôn sườn clổc

/ , / / » / > / K l u u i h ỉh D H Q C I Ỉ \ K i n \ l í ( \ I \ J \ W J 2 0 0 *

Trang 5

12 Dào Dinh Bác Nguyén Cao Huán Phạm Quang Anh Đổ Thi Phương

Trong khu vực có hai loại đá có khả năng gây đổ lở, dó là đá g ran it và đá vôi ỉ)ô

lỏ trôn đá vôi ỏ Mường Vi không đến mức gây tai hiến, do đây là loại đá vôi phân lớp tru n g hình và nhiều tạp chất Tuy nhiên, những ngỏi nhà nép mình dưới vách dốc dửng

ỏ Pà Căm củng cần phải cảnh giác mỗi khi có dộng đ ấ t hoặc những chấn động lớn

Các tả n g lăn đáng lo ngại đểu có th àn h phần là g ran it và granitognai, trong đó granitognai lộ ra nhiều trên sườn Pò Sen ỏ phía bắc xả, còn đá g ran it ph ân bỏ trên dãy

Pa Cheo ở phía nam, khá xa khu dân cư Nguyên n h ã n chủ yếu ỉà clo dá bị biến chất ở mức độ cao và bị nứt nẻ mạnh bỏi hộ thông đứt gây và kho nửt dày đặc, tạo ra những vách dốc với năn g lượng địa hình r ấ t lớn Tại khu vực Làng Mới, ngoài những tảng lân lớn trên dưới 1 m 3 còn quan sá t dược những khối đá lăn có kích thước* tới trên lOm * nằm

ở ta luy cả dương lần âm của đường 155 Chúng thực sự là mối đe ciọa cho dân cư địa phương, đặc biệt là khi xảy ra dộng đất, hoặc giông tố, mưa gió dài ngày

3.2 Tai biến lủ

L ù ch in h vụ năm nào cùng xảy ra vài lần trên suối Mường Vi, tuy nhiên chỉ làm

ngập phần bãi bồi hiện đại, còn lủ q u é t có tầ n s u ấ t x uất hiộn r ấ t thấp Lủ lên nhanh,

r ú t củng n h a n h (từ 3 đèn 5 giò) và do đó dề gáy ra tai biến chết người Nãm 1998, một

tr ậ n lủ quét chớp nhoáng xảy ra trước khi trời tối đã cuốn trôi 3 người tại khu vực hàn

Na Rin, tà n phá khoảng 1 ha lúa và để lại một bãi đá cuội tảng rộng ỏ dầu xà

I)o th u n g lùng dạng bồn địa Mưòng Vi định hướng theo chiểu gió gây mưa (lượng mưa 1800-2000mm/năm) nên sườn tây nam của nó nhận dược nhiều mưa nhất và tương ứng là thượng nguồn các suối Mường Vi và Na Rin hay gây ra lù nguy hiểm Vì vậy, tại nơi hội lưu, chúng dà tạo ra hai nón phóng vật - lủ tích khổng lồ (kích thưốc theo thử tự là 500x300m và 300x250m) trước khi đổ vào cánh đổng Mưòng Vi Đáng chú ý là v ật liệu tạo nón hết sức hỗn độn, trên bề m ặt còn ngổn ngang nhiều tảng có đường kính tới 3-5m là những vật làm chứng về n h ừ n g tr ậ n lù quét, lủ bùn - đá hoặc những tr ậ n lỏ núi trong quá khử Sườn tây bắc bồn địa phía đỉnh Pò Sen cao nhất vùng

cũng đón nhiều gió mưa nên nước lũ cũng tạo ra 2 nón phóng vật rộng lớn tại khu vực

Làng Mới trên đó bên cạnh những tàng lủ tích to lớn còn cỏ cả những tảng lăn trọng lực khổng lồ Nếu chúng là những tai hiến có tần suất thập kỉ hoặc thê kỉ thì đó là mối

đe dọa tiềm ẩn đôi với các làng bản gán đó

Điều kiện th u ận lợi dể xảy ra lù quét, lũ bùn - đá trước hết dược gộp trôn thung lũng suôi Na Hin, bởi vì ỏ đây hội đù những điều kiện cần thiết như lưu vực họp độ dốc dầu nguồn lớn, rừng trên sườn bị khai thác trụi gảy xói mòn trượt lỏ mạnh trẽn tầng sườn tích và tà n tích dày hình th àn h trong đá phiến Hiện nay, trôn ca hai sườn thung

lủng từ Thôn Dao đến Na Rin đều nham nhỏ những vết trượt cổ Một khi bị sùng nước

do mưa kéo dài, khối vật liệu sườn tích và tà n tích này có thể trườn vào lòng suối, tạo ra đập chắn tạm thòi, rồi khi bị chọc thùng sè tạo ra kì bùn - đá

Tạp * hi Khoa họi DHQCỈHN KHTN ã CN ĩ XIX sô'4 u m

Trang 6

Vàn -\ù bõ I ri các iliô n i quán cư ờ xiì Mường V

4 D ỏ a n t o à n c ủ a c á c d i ê m q u ầ n <*ư ở M ư ờ n g Vi v à m ộ t s ô k h u y ế n n g h ị

Trong sô các tai hiến nêu trên, trượt đất và đổ lỏ cỏ nhiều nguv cơ hơn ca Trượt (lất đà và đang de dọa nghiêm trọng các thôn bản nằm ỏ phán phía tây của xã cụ thể là

Na Kin Châu Tà; đá lỏ đá lãn gảy nhiều lo ngại cho Làng Mới và Đông Căm Quá trình

lù chính vụ vã lũ bùn - dá có mức dộ nguy hiểm không cao nhưng nếu tính đên tẩn

s u ấ t thập ki hoặc th ế kì thì nguy cơ tai biến này vản là hiện thực

Các tai biến được liệt kê ỏ đây đều cỏ tác dụng làm biến đổi địa hình, nghĩa là có

chức nâng tao h ìn h th á i theo cách nói kinh cỉiển, do đó clều là tai biến m ang bản chất

địa mạo Vì vậy, có th ể dựa trên bản đồ địa mạo th à n h lập theo nguyên tắc nguồn gỗc

đ ể s u y x é t về đ ộ a n t o à n c ủ a c á c đ i ể m d â n CƯ: n ế u đ ịa b à n n à o đ ó là s ả n p h ẩ m c ủ a q u á

trìn h tai biến thì do quá trình ấy cỏ thể lập lại mà nó không an toàn Tuy nhiên, mức

độ n g u y hiểm còn t ù y th u ộ c vào vị tri c ủ a mỗi đ iể m d â n CIÍ t r o n g c ấ u tr ú c đ ịa m ạo

chung của địa phương

Kốt quà đánh giá theo logic này dã cho phép rút ra một sô kết luận có th ể dùng làm cơ sở cho việc quy hoạch các điểm quần cư như sau:

1 Quá trìn h trượt đ ả t có nguy cớ lớn dôi với các thôn bản nằm trên diộn phân bỏ

đá phiến kết tinh, bị chia cát bài những suôi có bồn thu nước ở phía euôi bồn địa theo hướng đón gió ẩm, dòng lủ chảy m ạnh và có biểu hiện khoét sâu đáy Nguy cơ này càng lớn hơn khi có nhiều ruộng bậc th an g trồng lúa nưỏc, n h ấ t là khi có những khe nứt dọc hướng dốc của sườn (dạng nửt đ ất hiện dại) Theo nhừng tiêu chí này, cảc thỏn Na Rin

và Châu Tà có nguy cơ tai biến lớn nhất, trong khi các thôn Lâm Tiến, Na Ấn mặc dù

c ủ n g n ằ m tr ò n n ó n p h ó n g v ậ t n h ò n h ư n g lại k h á a n t o à n do c á c lư u vực SUÔI n h á n h ỏ

đ â y đ ề u nhỏ, n g ắ n v à k h ô n g ở vị t r í đ ó n gió ẩm

2 Quá trìn h đó /ớ có nguy cơ lớn (lôi với các thôn bản nằm dưới chân các vách (lốc

trên diện phân bô của đá g ran it và granitognai bị dập vỡ mạnh, thảm rừng bị tà n phá sâu sắc Theo tiêu chí này các thôn Làng Mới và Đông Căm nằm dưới chân núi Pò Sen

có nguy cd lớn nhất, xóm Pà Căm dưới chân vách đá vôi có nguy cớ vừa, còn các diểm quần cư khác khá an toàn

3 Tai biến lủ các loại có tiền để địa mạo gần trù n g với tai biến trượt đất nêu trên,

theo đó các điều kiện th ủ y ván lưu vực quy định cường s u ấ t lủ và cường độ tai biến, còn các quá trình trượt đất từ hai sườn thung lùng suối có tác dụng gây tắc nghẽn cỉòng chảy lù dể sau đó gâv ra lù quét và lù bùn - đá Với những tiêu chí này, các thón Na Rin

và Châu Tà ỏ vào tình trạ n g nguy hiểm nhất, k ế đến là thôn Làng Mới Bằng chứng là

các thôn bản được liệt ké ờ đây đểu nầm trén những nón phóng vật - lũ tích lớn, trên đó

có nhiều tảng lù tích kích thước trên dưới lm, chứng tỏ đả từng xảy ra những đợt lù hùn - dá lớn trong quá khử

lịtp i hi Khoii họ, DHQGHN KHTN & CN T XIX sò 4, 200*

Trang 7

14 Đào Đình Bác Nguyổn Cao Huấn l-*hạtn Quang Anh Đổ Thị Phượng

Cản cứ vào những kết quả đánh giá này, chúng tôi phân biệt 1 cấp độ nguy cơ tai

biến dôi với các thôn bản ỏ Mường Vi là an toàn, tương đối an toàn, kh ô n g a n toàn và

nguy hiếm (xem hình 1 )

Những kết luận trên dây là cơ sở để đưa ra một số khuyến nghị vừa cụ thổ cho địa phương, vừa cỏ ý nghía phổ q u át ('ho miên núi nói chung:

1 Trong điểu kiện miền núi, việc cư trú trền nón phóng vật là không th ể trán h được, nghía là phải chấp nhận nguy cơ tai biến Tuy nhiên, mức (lộ tai biến có khác nhau, do đó ta phải biết cách chung sống với chúng, c ỏ th ể chấp nhặn định cư trên những nón phóng vật nhỏ và ít nguy hiểm, còn trên những nón phóng vật lón và nguy hiểm thì phải rất th ậ n trọng Cụ thể là ở đó vẫn cỏ thể sử dụng những diện tích ít nguy hiểm hơn ví dụ những dải phân thủv nổi cao giữa các lòng dẫn, hoặc khoàng không gian chuyển tiếp giữa hai nón phóng vật; tuyệt dối trán h những diện tích nằm trong và ven lòng dẫn, bởi vi đó là những trục động lực của dòng lũ (hình 2) Vận dụng cụ thể cho Mưòng Vi, hiện nay bản Châu Tà tuy nằm ỏ rìa nón phóng vật nhưng lại kề cạnh một dải trùng thứ sinh (máng xói trên nón phóng vật cổ) và ngay hên cạnh dòng chảy hiện nay của suôi Na Rin, do dó được coi là một vị trí nguy hiểm một khi lù q uét xảy ra Làng Mới cũng là một địa điểm nguy hiểm cả vói lù đá lẵn với dô lở

2 Cần thận trọng đối với những nơi có nguy cơ trượt đất C hú n g chỉ có th ể được dùng làm nơi ỏ nếu việc phòng trán h bằng những biện pháp công trình thông dụng cho phép Tuyệt đối tr á n h những nơi vừa có trượt dất thông thường, vừa có dâu hiệu nửt dất hiện đại trong lớp vỏ phong hóa dày như trường hợp thôn Na Rin, bời vì kinh nghiệm cho thấy với những điều kiện địa chất công trinh như vậy quá trìn h trượt - lỏ đảt hầu như không thể khắc phục được

3 Đôi vói nhừng nơi có bề m ặt san bằng cổ, có th ể sử dụng các vai núi làm nơi

cư trú an toàn cho đồng bào Dao hoặc H’Mỏng, như trường hợp thôn Dao ở Mưòng Vi và nhiều nơi khác Riêng dôi với bậc san bằng thấp nhất, ngày nay thường là mực đáy

thung lủng cô, do có m ật bầng th u ậ n lợi nằm cao hơn mực nước lù ờ địa phương, giống

như những bậc thềm sông suôi, nên cần Ưu tiên sử dụng làm nơi q u ầ n cư vói độ an toàn cao Đó là trường hợp xóm Đông Căm thuộc thôn Lâm Tiến và điểm dạt tr ụ sỏ ƯBND xả Mường Vi Trong đáy bồn địa hiện còn một quả dồi tương tự đ a n g được trồng rừng phong cành, theo c h ú n g tôi nên cải dụng làm th ổ cư

4 Bể m ật tích tụ đáy th u n g lủng hầu hết là bãi bồi nên không th ể d ù n g làm

điểm quần cư vì thường xuyên bị lủ đe dọa.

5 Các vạt sườn tích, nới có loại đất dốc tụ, có th ể dùng clịnh CƯ khá an toàn cho những nhóm nhò dân cư, như trường hợp xóm Chầu Ná của người Cìiáy ở Mường Vi

Tưp ( In Khoa ho< U H Q G H N K ỈỈT N & c.v T XIX sỏ 4 2 0 0 !

Trang 8

Vàn ‘li* ỈM c.u (Jiôm quân UM) \Ã Mườni: Vi

a Trên tììộĩ nón ph ó n g vụt - lù tich IỚỈI

h Trên hai nón p h ó n g yậĩ - lủ tích k é nhau

H ì n h 2 Độ an toàn trên đ ịa h ỉn h nón p h ỏ n g v ậ t - lù tích

5 K ế t l u ậ n

Mường Vi là một điểm dân cư điển hình cho các địa bàn có cấu trúc dạng bồn địa rất phổ biến ỏ miền núi Tây Bắc, do dó, những kết quả nghiên cứu này có thê có ý nghĩa phổ quát

Do điểu kiện địa hình, phần lốn các điểm quần cư ở miền núi Tây Bắc dểu có

nguy cơ tai biến thiên nhiên, như lù quét, lủ bùn - đá, trượt đất và đổ lở, bởi vì các dạng

địa hình có mặt bằng th u ậ n lợi đểu liên quan về nguồn gỗc với chúng Muôn bô tri các điểni qu ần cư được an toàn thì nhất thiết phải nám được bản chất, tửc là nguồn gốc phát sinh của các dạn g địa hình Chỉ có như vậy chúng ta mới trá n h được tình trạn g tự đặt ngôi nhà của mình vào những nơi "cấm kị"

Công t r i n h n ày cỉược hoàn t h à n h t r o n g khuôn kh ổ Chương trinh nghiên cứu khoa hoc

cơ bàn giai đoạn 2001 - 2003, đẻ tời má sô 74.01.02.

Tưp « hi Khoa họt DHQGHS KỈTTS Si c s T XIX sỏ 4 2003

Trang 9

16 Dào Đình Bác, Nguyỗn Cao Huán Phạm Quang Anh Đỏ Thị f*hượng

TÀI LIỆU THAM K H Ả O

1 Đào Dinh Bác và nnk “Ruộng bậc thang ỏ vùng cao tỉnh Lào Cai nhìn từ góc độ địa lý”,

Tạp chi Khoa học, ĐHQG Hà Nội Chuyên san KHTN & CN T XVIII N° 2 2002 tr 10-16

2 Đỗ Thị Phượng, N g h i ê n c ứ u t a i b i ế n t h i ê n n h i ê n p h ụ c v ụ c h o v i ệ c b ò t r i c á c đ i ể m c ỉá n c ư

trên địa bàn xả Mường Vi, huyện Bát Xát, tinh Lào Cai, Báo cáo HNKH Sinh viên Khoa Địa Ly ĐHQG Hà Nội 2002

3 Lê S ỹ G iá o " H ệ th ố n g RBC t r o n g m ô i trư ờ n g m iề n n ú i p h ía Bác V iệ t N a m " Tạp chìDàn tộc học \ s ố 3 /1 9 9 7 , Hà N ộ i, t r 43 - 48.

VNU JOURNAL OF SCIENCE, Nat Sc» ■ & Tech T XIX Nọ4 2003

PROBLEM OF SETTLEMENT IN THE HIGH AND MIDDLE

MOUNTAINOUS REGION IN NORTH - VVEST VIETNAM

FROM THE VIEVVTOINT OF NATURAL HAZARD PREVENTION

D ao D inh Bac, N guyen Cao Huan, Pham Q uang Anh, Do Thi Phuong

Faculty o f Geography, College o f Science, VNƯ

In the high and middle m ountainous region in N orth-W est Vietnam particularl>

in Lao Cai province the suitable areas to settlem en t are insuữlcient, thereíore local inhabitants ha ve to build their villages and ham lets on tho dangerous te rra in s from viewpoint of n atu ral hazards In fact, these te rra in s are exposod by hazardous processes, such as alluvial fans (product of mudflow), flood - plain (product of high water), etc Moreover, thoy usually run the risk of landslide, rock fall and earthquake

In order to adapt the areas of habitation to these circumstances, tho most importance is to know the n a tu re of this landform by surveying a geomorphological map and than combining it with the h a b ita n t - settlem ent map By this way, the

authors have classified the n atu ral hazards risk in the study area into for levels: safe,

ra th er safe, risk v and verỵ dangerous The au th o rs also suggested m easures for

resolving tho problem of settlem ent in the high and middle m ountainous region from the viowpoint of n atu ral hazard prevention

Tạp i h i Khoa hiH D HQ G HN K i r r \ á C N T XIX số 4 2< m

Ngày đăng: 11/12/2017, 11:23

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w