Tại điều 2 của Hiến pháp năm 2013 khẳng định “Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lục nhà nước thuộc về Nhân dân...” đã thể hiện nhất quán qu
Trang 1BÀI DỰ THI:
“TÌM HIỂU HIẾN PHÁP NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM”
Trải qua mấy nghìn năm lịch sử, Nhân dân Việt Nam lao động cần cù, sáng tạo, đấu tranh anh dũng để dựng nước và giữ nước, đã hun đúc nên truyền thống yêu nước, đoàn kết, nhân nghĩa, kiên cường, bất khuất và xây dựng nên nền văn hiến Việt Nam
Từ năm 1930, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, Nhân dân ta tiến hành cuộc đấu tranh lâu dài, đầy gian khổ,
hy sinh vì độc lập, tự do của dân tộc, vì hạnh phúc của Nhân dân Cách mạng tháng Tám thành công, ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Bằng ý chí và sức mạnh của toàn dân tộc, được sự giúp đỡ của bạn bè trên thế giới, Nhân dân ta đã giành chiến thắng vĩ đại trong các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế, đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong công cuộc đổi mới, đưa đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội
Thể chế hóa Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, kế thừa Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992, Nhân dân Việt Nam xây dựng, thi hành và bảo vệ Hiến pháp này vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
Câu1: Từ năm 1945 khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) đến nay nước ta có mấy bản Hiến pháp? Các bản Hiến pháp đó được Quốc hội thông qua ngày tháng năm nào?
Trả lời:
Kể từ 1945 đến nay nước ta đã có 05 bản Hiến pháp, cụ thể là:
- Hiến pháp 1946(QH khóa I thông qua ngày 09/11/1946)
- Hiến pháp 1959 (QH khóa I thông qua ngày 31/12/1959)
- Hiến pháp 1980 (QH khoá VI thông qua ngày 18/12/1980)
- Hiến pháp 1992 (QH khoá VIII thông qua ngày 15/4/1992)
- Hiến pháp 2013 (QH khóa XIII thông qua ngày 28/11/2013)
Câu 2: Bản Hiến pháp năm 2013 có hiệu thi hành từ ngày, tháng, năm nào? So với
bản Hiến pháp năm 1992(sửa đổi bổ sung năm 2001) có bao nhiêu điều được giữ nguyên, có bao nhiêu điều được sửa đổi, bổ sung? Điều sửa đổi bổ sung nào bạn tâm đắc nhất? vì sao?
Trả lời:
Hiến pháp năm 2013 được Quốc hội khóa XIII kỳ họp thứ 6, thông qua ngày 28/11/2013, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2014
So với Hiến pháp năm 1992(sửa đổi bổ sung năm 2001) thì Hiến pháp năm 2013
Trang 2có 07 điều giữ nguyên; sửa đổi bổ sung 101 điều; xây dựng mới 12 điều.
Điều sửa đổi, bổ sung tâm đắc nhất đối với bản thân tôi là:
+Điều 2 khoản 3: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”, trong đó kiểm soát quyền lực là điểm mới, là nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền…
+ Điều 4 bổ sung khoản 2 “ Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình”, đây là điểm mới thể hiện trách nhiệm của Đảng với Nhân dân
+ Điều 6: “Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước”, trong đó dân chủ trực tiếp là điểm mới của Hiến pháp
+ Điều 9 khoản 2 “Công đoàn Việt Nam, Hội nông dân Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội cựu chiến binh Việt Nam là các tổ chức chính trị – xã hội được thành lập trên cơ sở tự nguyện, đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của thành viên, hội viên tổ chức mình; cùng các tổ chức thành viên khác của Mặt trận phối hợp và thống nhất hành động trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam”, đây là điểm mới bổ sung của Hiến pháp về vai trò trách nhiệm của một số tổ chức chính trị xã hội như Hội phụ nữ, Hội nông dân, Đoàn thanh niên, Hội cựu chiến binh(lần đầu Hiến pháp quy định)
Câu 3: Điều 2 Hiến pháp năm 2013 khẳng định “ Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lục nhà nước thuộc về Nhân dân ”
Trả lời:
Tại kì họp thứ 6, Quốc hội khóa XIII, đã thông qua Hiến pháp năm 2013, đậy là
sự kiện chính tri –pháp lý quan trọng của đất nước Hiến pháp thể hiện những nội dung mới quan trọng nhằm thể chế hóa Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội; quy định đầy đủ, rõ nét về chủ thể là Nhân dân trong Hiến pháp,
về quyền lực của Nhà nước thuộc về Nhân dân
Thứ nhất, ngay Lời nói đầu Hiến pháp năm 2013 thể hiện: “ Nhân dân Việt Nam xây dựng, thi hành và bảo vệ Hiến pháp này vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” đã thể hiện rõ trách nhiệm của nhân dân trong việc xây dựng, thi hành và bảo vệ Hiến pháp Tại điều 2 của Hiến pháp năm 2013 khẳng định
“Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lục nhà nước thuộc về Nhân dân ” đã thể hiện nhất quán quan điểm của Đảng và Nhà nước
ta về đề cao quyền làm chủ của nhân dân trong Hiến pháp là nhà nước của dân, do dân
và vì dân, đồng thời thể hiện đất nước Việt Nam là do chính nhân dân làm chủ, nhân dân là chủ thể quan trọng trong xây dựng và bảo vệ đất nước Lần đầu tiên Hiến pháp năm 2013 từ Nhân dân đây không phải đơn thuần là cách thể hiện từ ngữ mà là diễn đạt ý nghĩa của một chủ thể quan trọng của đất nước theo tử tưởng của Bác Hồ Người viết:
Trang 3“ Nước ta là nước dân chủ, Bao nhiêu lợi ích đều là vì dân, Công việc đổi mới và xây dựng là trách nhiệm của dân, Chính quyền từ xã đến Chính phủ do dân cử ra,
Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên, Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân.”
Chính vì lẽ đó mà từ Nhân dân được viết hoa là thể hiện đầy đủ và sâu sắc tư tưởng của Bác Hồ về vai trò của Nhân dân
Câu 4: Những quy định nào của Hiến pháp năm 2013 thể hiện tư tưởng đại đoàn kết dân tộc?
Trả lời:
Những quy định của Hiến pháp năm 2013 thể hiện tư tưởng đại đoàn kết dân tộc.Trên nền tảng lý luận Chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên CNXH về dân chủ và quyền làm chủ của nhân dân trong mối quan hệ giữa nhân dân với nhà nước, Hiến pháp sửa đổi 2013 quy định tại Điều 2: Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân
mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các
cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp Cũng theo tư tưởng Hồ Chí Minh, dân chủ XHCN là một hình thức chính trị - nhà nước của
xã hội Trong đó, con người là thành viên trong xã hội được tập hợp và phát huy thành khối đại đoàn kết toàn dân tộc có đầy đủ tư cách công dân - tư cách làm chủ xã hội và như thế mọi công dân có quyền làm chủ nhà nước mà mình cử ra
Vị trí, vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong chế độ chính trị tiếp tục được
kế thừa, bổ sung, khẳng định và phát triển trong Hiến pháp 2013 tại Điều 9: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, dân tộc, tôn giáo và người Việt Nam định cư ở nước ngoài Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Cùng với đó, Hiến pháp quy định, các tổ chức thành viên của MTTQ như Công đoàn Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam là các tổ chức chính trị
-xã hội được thành lập trên cơ sở tự nguyện, đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của thành viên, hội viên tổ chức mình; cùng các tổ chức thành viên khác của
Trang 4Mặt trận phối hợp và thống nhất hành động trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Khẳng định MTTQ là chỗ dựa vững chắc của nhà nước, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp để thống nhất Quyền lực nhà nước
Bổ sung và phát triển vị trí, vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong chế độ chính trị là điều kiện để nâng cao vị thế của Mặt trận trong phát huy truyền thống đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân, tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân, giáo dục và động viên nhân dân đề cao ý thức làm chủ tập thể, ra sức thi đua xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời, cùng với nhà nước chăm lo và bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân, động viên nhân dân thực hiện quyền làm chủ, nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp và pháp luật, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ, viên chức nhà nước Các nội dung sửa đổi đảm bảo sự phù hợp với nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong thời kỳ mới, trong đó có nội dung về giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân theo tinh thần Nghị quyết Đại hội X của Đảng và Thông báo kết luận của Bộ Chính trị về giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị xã hội và nhân dân ngày 3-4-2009; Tiếp tục khẳng định và nâng cao vai trò, vị thế to lớn của Mặt trận
và Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân trong việc tạo dựng và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay
Một trong tám phương hướng cơ bản trong Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội (năm 2011) là “Xây dựng nền dân chủ Xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết dân tộc, tăng cường và mở rộng Mặt trận thống nhất” Trong một chế độ chính trị “xã hội, quốc gia, dân tộc”, Đảng ta xác định dân chủ XHCN là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước Dân chủ gắn liền với kỷ luật, kỷ cương và phải được thể chế hóa bằng pháp luật, được pháp luật bảo đảm” Trong chế độ dân chủ đó, “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc, xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc” Cương lĩnh chỉ rõ: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, các dân tộc, tôn giáo và người Việt Nam định cư ở nước ngoài Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là một bộ phận của hệ thống chính trị, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân Đảng Cộng sản Việt Nam vừa là thành viên vừa là người lãnh đạo Mặt trận” Với vị thế của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nên trên, Mặt trận cùng với Nhà nước là chủ thể đại diện của nhân dân đối với mọi quyền lực trong nước Cộng hòa XHCN Việt Nam
Theo Hiến pháp, sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước (trong đó có MMTQ) trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp để thống nhất Quyền lực nhà nước bao hàm cả giám sát và phản biện xã hội, tham gia vào
Trang 5quản lý nhà nước nhằm xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hạn chế quyền lực nhà nước Phản biện xã hội là xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước; tham gia vào việc hoạch định đường lối, chủ trương chính sách, quyết định lớn của Đảng; phản biện các dự án sửa đổi bổ sung Hiến pháp, luật và pháp lệnh cũng như các văn bản quy phạm pháp luật khác Giám sát hoạt động của Đảng, hoạt động của Nhà nước, của cán
bộ công chức trong việc thực hiện chủ trương, đường lối, Nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước Thực chất, giám sát là chống các bệnh quan liêu, cửa quyền, lạm quyền, mất dân chủ và tham nhũng của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, hậu quả của những hành vi vi phạm Hiến pháp và pháp luật Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” của Hồ Chủ tịch vào tháng 10-1947, Người dạy cán bộ, đảng viên cách lãnh đạo và kiểm soát: “Muốn chống bệnh quan liêu; bệnh bàn giấy; muốn biết các nghị quyết có được thi hành không; thi hành có đúng không; muốn biết ai ra sức làm; ai làm qua chuyện, chỉ có một cách là khéo kiểm soát Kiểm soát khéo, bao nhiêu khuyết điểm lòi ra hết, hơn nữa kiểm tra khéo, về sau khuyết điểm nhất định bớt đi”
Với vị trí và thành phần của Mặt trận cho thấy Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội có vai trò hết sức quan trọng trong thực hiện kiểm soát một cách
hệ thống thường xuyên và bằng pháp luật đối với quyền lực nhà nước; là cơ sở để nhân dân giám sát và phản biện; nhằm nâng cao hiệu lực giám sát và chất lượng hiệu quả phản biện của nhân dân, vừa nâng cao nhận thức và ý thức pháp luật của nhân dân vừa tạo sự đồng thuận cao trong xã hội, trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc
Câu 5 Những điểm mới của Hiến pháp năm 2013 so với Hiến pháp 1992 (sửa đổi
bổ sung năm 2001) về quyền con người, quyền nghĩa vụ cơ bản của công dân? Điểm mới nào bạn tâm đắc nhất ? vì sao?
Trả lời:
Một trong những mục tiêu, quan điểm chỉ đạo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 là để đảm bảo tốt hơn quyền con người, quyền nghĩa vụ cơ bản của công dân, chính vì vậy Hiến pháp năm 2013 đã có nhiều điểm mới so với Hiến pháp năm 1992 về quyền con người, quyền nghĩa vụ cơ bản của công dân, quyền công dân không tách rời nghĩa vụ của công dân
Trước hết đó là sự thay đổi về bố cục, thứ tự sắp sếp của chương trong Hiến pháp, ở Hiến pháp năm 1992 thì chương “Quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân” là chương V, Hiến pháp 2013 thì chương này được bố cục lại và sếp vào vị trí chương II, đây là một điểm mới của Hiến pháp năm 2013, thể hiện vị trí, tầm quan trọng của quyền con người Mặt khác về tên chương cũng có sự thay đổi, nếu như ở Hiến pháp năm
1992 tên chương là “Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân”, đến Hiến pháp năm
2013 chương này được đổi thành “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” Qua đó để khẳng định quyền con người được Nhà nước thừa nhận, tôn trọng
và cam kết bảo vệ theo công ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia
Nếu như Hiến pháp năm 1992, quyền con người được quy định tại Điều 50 “Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự,
Trang 6kinh tế, văn hoá và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật”, thì tại điều 14 Hiến pháp năm 2013 quy định “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ đảm bảo theo Hiến pháp và pháp luật; Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của pháp luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật
tự an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng” Như vậy so với Hiến pháp năm 1992 thì Hiến pháp năm 2013 quy định rõ quyền con người, bổ sung quyền công dân, các quyền này trước hết là được công nhận sau đó là được tôn trọng và bảo vệ, các quyền đó chỉ có thể bị hạn chế trong một số trường hợp nhất định, tránh tình trạng xâm phạm quyền con người, quyền công dân Hiến pháp năm 2013 đã thay cụm từ “mọi công dân” trong Hiến pháp năm 1992 thành cụm từ “ mọi người”, cụ thể tại Điều 16 quy định: “ Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội” Đồng thời Hiến pháp năm
2013 còn bổ sung thêm quy định tại Điều 19: “ Mọi người có quyền sống Tính mạng con người được pháp luật bảo hộ không ai bị tước đoạt tính mạng trái pháp luật” Tại khoản 3 Điều 20 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Mọi người có quyền hiến mô, bộ phận
cơ thể người và hiến xác theo quy định của luật Việc thử nghiệm y học, dược học, khoa học hay bất kỳ hình thức thử nghiệm nào khác trên cơ thể người phải có sự đồng ý của người được thử nghiệm” đây là điểm mới so với Hiến pháp năm 1992, việc quy định được quyền hiến mô, bộ phận cơ thể người và hiến xác của mọi người nhằm tạo thuận lợi để chữa bệnh cho người thân, mục đích nhân đạo, cũng như đề cao vai trò bộ phận
cơ thể người phục vụ cho nghiên cứu và chữa bệnh trong y học hiện nay
Về quyền tự do kinh doanh, tại Điều 57 Hiến pháp 1992 quy định: “Công dân
có quyền tự do kinh doanh” thì tại Điều 33 Hiến pháp năm 2013 quy định “ Mọi người
có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm”, như vậy Hiến pháp đã mở rộng hơn đối tượng kinh doanh và ngành nghề được kinh doanh, không chỉ công dân Việt Nam mà kể cả người nước ngoài cũng được tạo điều kiện thuận lợi để kinh doanh làm giàu chính đáng, tạo động lực phát triển kinh tế xã hội Ngoài một số nội dung cơ bản nêu trên, Hiến pháp năm 2013 còn quy định về quyền con người, quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân một cách rõ ràng, cụ thể, bổ sung đầy đủ hơn so với Hiến pháp năm 1992, như gộp các Điều 65,66,67 của Hiến pháp
1992 và bổ sung một số nội dung thành Điều 37 Hiến pháp 2013; tách Điều 53 Hiến pháp năm 1992 quy định về công dân có quyền biểu quyết khi Nhà nước trưng cầu ý dân thành Điều 29 Hiến pháp 2013: “Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân”…
Về cách thức, bố cục, Hiến pháp năm 2013 có sự đổi mới quan trọng theo hướng ghi nhận mọi người có quyền, công dân có quyền và quyền con người là quyền tự
nhiên, bất cứ ai cũng có quyền đó, quyền công dân là quyền của người có quốc tịch Việt Nam Để tạo thuận lợi cho mọi người thực hiện quyền của mình, Hiến pháp năm 2013 quy định trách nhiệm của Nhà nước là phải ban hành các văn bản pháp luật để tạo điều
Trang 7kiện thuận lợi nhất cho mọi người và công dân thực hiện đầy đủ các quyền của mình.
Có thể khẳng định Hiến pháp năm 2013 quy định về quyền con người, quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân là sự kế thừa tinh hoa tư tưởng của chủ tịch Hồ Chí Minh trong Hiến pháp năm 1946, đồng thời đã thể chế hóa chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về quyền con người, coi con người là chủ thể, là động lực quan trọng của sự phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhằm hướng đến mục tiêu “ Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn
minh”
Câu 6: Những điểm mới quan trọng về vị trí, chức năng của Quốc hội, Chính
phủ, Tòa án nhân dân trong Hiến pháp năm 2013 phân tích điểm mới về mối quan
hệ giữa các cơ quan đó trong thực hiện quyền lực nhà nước?
Trả lời:
Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng định Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Theo đó, "Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn
đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà
nước" Một số điểm mới quan trọng về vị trí, chức năng của QH trong Hiến pháp năm
2013 đó là:
Thứ nhất, về quyền lập hiến, Hiến pháp năm 2013 quy định QH thực hiện quyền lập hiến (Ðiều 69), so với Hiến pháp năm 1992, đã bỏ cụm từ "là cơ quan duy nhất" Tại khoản 4 Ðiều 120 đã bổ sung quy định: "Hiến pháp được thông qua khi có ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu QH biểu quyết tán thành Việc trưng cầu ý dân về Hiến pháp
do QH quyết định"; quy định này nhằm thể chế hóa chủ trương của Ðảng về phát huy dân chủ XHCN; QH với vị trí là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan
quyền lực nhà nước cao nhất của nước CHXHCN Việt Nam được trao thẩm quyền quyết định việc trưng cầu ý dân về Hiến pháp phù hợp với điều kiện, tình hình thực tiễn
cụ thể của đất nước
Thứ hai Hiến pháp năm 2013 đã có các điều chỉnh tương ứng liên quan đến thẩm quyền của QH, như: trong việc thực hiện quyền giám sát tối cao, đã bổ sung quy định QH thực hiện việc "xét báo cáo công tác của Hội đồng bầu cử quốc gia, Kiểm toán Nhà nước và các cơ quan khác do QH thành lập"; trong việc bầu, miễn nhiệm, bãi
nhiệm Chủ tịch Hội đồng bầu cử quốc gia, Tổng Kiểm toán Nhà nước, người đứng đầu
cơ quan khác do QH thành lập; phê chuẩn danh sách thành viên Hội đồng quốc phòng
và an ninh, Hội đồng bầu cử quốc gia; QH bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức
vụ do QH bầu hoặc phê chuẩn
Ngoài ra Hiến pháp năm 2013 cũng quy định bổ sung theo hướng đầy đủ, chặt chẽ hơn về thẩm quyền của QH không chỉ giới hạn ở việc thành lập, giải thể đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt, mà còn bổ sung cả việc nhập, chia, điều chỉnh địa giới hành chính của đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt; bổ sung quy định việc QH có thẩm quyền thành lập, bãi bỏ cơ quan khác theo quy định của Hiến pháp và luật (điểm 9 Ðiều 70)
Trang 8Bên cạnh đó, Hiến pháp năm 2013 còn bổ sung quy định về thẩm quyền của
QH trong việc phê chuẩn đề nghị bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (điểm 7 Ðiều 70) Có thể nói, quy định này thể hiện vị trí, vai trò quan trọng ngày càng tăng của chức danh Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao trong mối tương quan với các chức danh khác trong bộ máy nhà nước Hiến pháp năm 2013 đã quy định rõ Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước CHXHCN Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp (Ðiều 102); và Tòa án nhân dân tối cao là cơ quan xét xử cao nhất của nước CHXHCNViệt Nam(Ðiều 104)
Thứ ba, quy định theo hướng rõ và hợp lý hơn về trách nhiệm, thẩm quyền của
QH trong việc quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước QH có thẩm quyền
"quyết định chính sách cơ bản về tài chính, tiền tệ quốc gia; quy định, sửa đổi hoặc bãi
bỏ các loại thuế; quyết định phân chia các khoản thu và nhiệm vụ chi giữa ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương; quyết định mức giới hạn an toàn nợ quốc gia, nợ công, nợ Chính phủ; quyết định dự toán ngân sách Nhà nước và phân bổ ngân sách Trung ương, phê chuẩn quyết toán ngân sách Nhà nước"
Thứ tư, thẩm quyền của QH trong các vấn đề liên quan đến đối ngoại, chủ quyền quốc gia cũng đã được điều chỉnh lại theo hướng rõ hơn, chặt chẽ hơn Bên cạnh việc tiếp tục quy định thẩm quyền của QH trong việc quyết định chính sách cơ bản về đối ngoại, đã có sự điều chỉnh cụ thể, hợp lý hơn thông qua việc quy định thẩm quyền của QH trong việc phê chuẩn, quyết định gia nhập hoặc chấm dứt hiệu lực của điều ước quốc tế liên quan đến chiến tranh, hòa bình, chủ quyền quốc gia, tư cách thành viên của CHXHCN Việt Nam tại các tổ chức quốc tế và khu vực quan trọng, điều ước quốc tế về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân và điều ước quốc tế khác trái với luật, nghị quyết của QH
Về vị trí, chức năng của chính phủ, đã được quy định trong Điều 109 Hiến pháp năm 1992 ( sửa đổi, bổ sung năm 2001), theo đó: “Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam” Như vậy Hiến pháp năm 1992 mới chỉ đề cập đến Chính phủ với tư cách là
cơ quan chấp hành, cơ quan hành chính Nhà nước còn Chính phủ với tư cách là cơ quan thực hiện quyền hành pháp chưa được làm rõ Hiến pháp năm 2013 kế thừa đồng thời
bổ sung để thể hiện một cách toàn diện tính chất, vị trí, chức năng của Chính phủ Điều
109 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội”
Như vậy, lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến VN, Hiến pháp chính thức khẳng định Chính phủ là cơ quan thực hiện quyền hành pháp Đây là cơ sở pháp lý quan trọng giúp xác định cụ thể, rõ ràng, đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, vai trò của Chính phủ trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam
Bằng việc quy định "TAND là cơ quan xét xử của nước CHXHCN Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp" (khoản 1 Điều 102), Hiến pháp năm 2013 xác định rõ ràng, cụ
Trang 9thể vị trí, vai trò của TAND trong bộ máy cơ quan nhà nước Theo đó TAND là cơ quan duy nhất thực hiện quyền tư pháp, thực hiện chức năng xét xử; TAND là cơ quan duy nhất có quyền ra phán quyết về các vi phạm pháp luật, các tranh chấp theo quy định của pháp luật và về các vấn đề pháp lý liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân Xử lý các vi phạm pháp luật bằng chế tài nhà nước, giải quyết các tranh chấp bằng quyền lực nhà nước đều thuộc thẩm quyền của Tòa án Vì vậy, quy định của Hiến pháp 2013 là cơ sở hiến định cho việc mở rộng thẩm quyền của Tòa án trong xét xử các loại án, thể hiện xu thế tất yếu của nhà nước pháp quyền
Hiến pháp 2013 khẳng định vị trí trung tâm của Tòa án trong hệ thống tư pháp,
vị trí trọng tâm của hoạt động xét xử trong các hoạt động tư pháp
Cũng lần đầu thay cho thể hiện một cách chung chung, Hiến pháp 2013 quy định
rõ ràng, cụ thể nhiệm vụ của TAND, đó là bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân Nhiệm vụ này được xác định xuất phát từ vị trí, vai trò
và chức năng của TAND đã được xác định Là cơ quan có chức năng ra phán quyết về các vi phạm pháp luật, các tranh chấp pháp lý, TAND có vai trò rất quan trọng trong bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân Khi quyền, lợi ích của mình bị xâm phạm hoặc bị tranh chấp, người dân tìm đến Tòa án như là tìm đến công lý Vì vậy, có thể nói, theo Hiến pháp
2013, Tòa án là biểu tượng của công lý và có nhiệm vụ bảo vệ công lý
Theo Hiến pháp 2013, vị thế của TAND được nâng lên rõ rệt Ngoài việc xác định là cơ quan duy nhất thực hiện quyền tư pháp; quy định nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân thể hiện vị trí trung tâm trong hệ thống tư pháp , Hiến pháp 2013 có những quy định mới thể hiện vị thế quan trọng của Tòa án nhân dân trong bộ máy nhà nước ta Bên cạnh quy định Chánh án TAND tối cao
do QH bầu, Hiến pháp quy định Thẩm phán TAND tối cao do QH phê chuẩn tương xứng với các cán bộ cao cấp khác của cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp Nguyên tắc độc lập xét xử của Tòa án được nhấn mạnh và ở tầm hiến định nghiêm cấm mọi tổ chức,
cá nhân can thiệp vào hoạt động xét xử của Tòa án; quy định mở về hệ thống Tòa án mở đường cho việc tổ chức Tòa án theo cấp xét xử, không theo đơn vị hành chính là những quy định mới, không chỉ khẳng định vị thế của TAND trong Nhà nước pháp quyền mà còn là các cơ sở hiến định quan trọng để TAND thực hiện có hiệu quả chức năng, nhiệm
vụ của mình
TAND là cơ quan xét xử, thực hiện quyền tư pháp, xử lý các vi phạm pháp luật, giải quyết các tranh chấp pháp lý Để hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ đó, TAND được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc mang tính đặc thù Và một điều đặc biệt, khác với QH, Chính phủ và chính quyền địa phương, các nguyên tắc cơ bản trong
tổ chức, hoạt động của TAND được hiến định cụ thể tại Điều 103 Hiến pháp Các
nguyên tắc như xét xử có hội thẩm tham gia, nguyên tắc thẩm phán và Hội thẩm xét xử
Trang 10độc lập, nguyên tắc xét xử công khai, xét xử tập thể, nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo, quyền bảo vệ lợi ích hợp pháp của đương sự được tiếp tục ghi nhận và phát triển ở mức cao hơn, chính xác hơn Quan trọng nhất, việc Hiến pháp quy định nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm là một bảo đảm hiến định quan trọng cho việc thực hiện nguyên tắc độc lập xét xử
Đồng thời, Hiến pháp 2013 bổ sung một số nguyên tắc mới thể hiện tinh thần đổi mới trong Cải cách tư pháp ở nước ta, phù hợp với các công ước quốc tế mà Việt Nam tham gia Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử là một bảo đảm quan trọng giúp cho việc xét xử toàn diện, khách quan, bảo đảm quyền con người, quyền tố tụng của những người tham gia tố tụng, hạn chế thấp nhất các trường hợp oan sai trong hoạt động tố tụng tư pháp nói chung, trong xét xử của Tòa án nói riêng Nguyên tắc thực hiện chế
độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được quy định trong Hiến pháp 2013 là việc nâng lên tầm hiến định nguyên tắc đã được quy định trong Luật Tổ chức TAND và các luật tố tụng tư pháp trước đây nhằm bảo đảm cho việc xét xử đúng đắn, khách quan, bảo vệ quyền con người, bảo vệ công lý
Việc Hiến pháp 2013 quy định giao cho TAND tối cao thẩm quyền bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật (Điều 104) cũng là bảo đảm quan trọng trong hoạt động của Tòa án, phù hợp chức năng áp dụng pháp luật của cơ quan tư pháp Điều này có nghĩa là ngoài tổng kết thực tiễn xét xử, hướng dẫn áp dụng pháp luật, TAND tối cao còn có thể bằng các hình thức khác nhau bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử như thực hiện giám đốc xét xử, ban hành án lệ
Câu7 Cấp chính quyền địa phương quy định trong Hiến pháp năm 2013 gồm những
cơ quan nào? Bạn hãy nêu nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của chính quyền địa phương đối với Nhân dân.
Trảlời:
Chương chính quyền địa phương của Hiến pháp năm 2013, được xây dựng trên
cơ sở sửa đổi chương Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân của Hiến pháp năm 1992 Theo quy định tại Điều 110 của Hiến pháp 2013, thì các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được phân định như sau:
Nước chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
Tỉnh chia thành huyện, thị xã và thành phố thuộc tỉnh; thành phố trực thuộc trung ương chia thành quận, huyện, thị xã và đơn vị hành chính tương đương;
Huyện chia thành xã, thị trấn; thị xã và thành phố thuộc tỉnh chia thành phường
và xã; quận chia thành phường
Đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt do Quốc hội thành lập
Theo quy định tại Điều 110 của Hiến pháp 2013,chính quyền địa phương được tổ chức ở các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam
Cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân được tổ chức phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính – kinh