1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Sáng kiến kinh nghiệm, Giúp học sinh làm tốt các bài toán chuyển động đều ở lớp 5

35 308 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 268,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đơn vị công tác hiện nay : Trường Tiểu học Thị trấn Hương Sơn- Phú Bình -Thái Nguyên.3.Tên sáng kiến kinh nghiệm : Giúp học sinh làm tốt các bài toán chuyển động đều ở lớp 5.. Trong cô

Trang 1

b Thực trạng việc học toán chuyển động đều của học sinh lớp 5 6

I-SƠ L Ư ỢC LÍ LỊCH

1 Họ và tên : Nguyễn Thị Vân Anh

Sinh ngày 01 tháng 12 năm 1976 Nữ

Trình độ chuyên môn nghiệp vụ : Đại học tiểu học

Trang 2

2 Đơn vị công tác hiện nay :

Trường Tiểu học Thị trấn Hương Sơn- Phú Bình -Thái Nguyên.3.Tên sáng kiến kinh nghiệm :

Giúp học sinh làm tốt các bài toán chuyển động đều ở lớp 5.

vụ của mình và nỗ lực phấn đấu về mọi mặt

Bản thân tôi luôn có tư tưởng chính trị đúng đắn ,lập trường vững vàngtrong công tác ,bình tĩnh xử lí các công việc để đạt kết quả tốt nhất Tôi luôn tựgiác và có tinh thần kỷ luật cao,có lối sống lành mạnh,quan hệ với mọi ngườiđúng mực ,chan hòa cởi mở với mọi người ,chân thành giúp đỡ đồng chí đồngnghiệp ,trung thực thật thà.Tôi luôn giữ mối đoàn kết trong tập thể nhà trường vàbạn bè đồng nghiệp cũng như làng xóm nơi cư trú

Trong công tác tôi luôn thực hiện tốt các nội qui,qui định của nhà trường,thực hiện đầy đủ ngày giờ công theo qui định,lên lớp đúng theo sự phân côngcủa lãnh đạo nhà trường,không đi muộn về sớm, không bỏ lớp bỏ giờ.Thực hiệnsoạn và dạy theo đúng chương trình ,thời khóa biểu Bài soạn bám sát chuẩn kiếnthức kĩ năng, theo hướng đổi mới Tôi luôn có đầy đủ hồ sơ ,sổ sách theo quiđịnh ,ghi chép đầy đủ và trình bày khoa học.Đánh giá xếp loại học sinh theođúng hướng dẫn.Qua các đợt kiểm tra đều được xếp loại hồ sơ tốt

Trong giảng dạy,tôi luôn thực hiện tốt mọi nội qui, qui định của chuyênmôn, tích cực tìm tòi, vận dụng phương pháp và hình thức tổ chức dạy học phùhợp với các đối tượng học sinh theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động sáng

Trang 3

tạo của học sinh.Sử dụng triệt để đồ dùng dạy học để gây hứng thú học tập chohọc sinh.

Bản thân tôi luôn có ý thức phấn đấu về chuyên môn ,tích cực dự giờthăm lớp tự nghiên cứu tài liệu,học hỏi bạn bè đồng nghiệp ,tham gia đầy đủ cácbuổi chuyên đề ,sinh hoạt để nâng cao trình độ chuyên môn ,nghiệp vụ cho bảnthân Trong năm học tôi tham gia 2 đợt thao diễn giảng dạy đều đạt loại tốt vàđược công nhận là giáo viên dạy giỏi cấp huyện năm học 2012- 2013

Trong công tác chủ nhiệm tôi luôn sát sao dìu dắt ,chỉ đạo tập thể lớp dotôi chủ nhiệm thực hiện tốt mọi nội qui,qui định của nhà trường đề ra Thườngxuyên quan tâm đến tất cả các em học sinh trong lớp.Trao đổi với phụhuynh ,đồng thời phối hợp với các tổ chức đoàn thể khác để giáo dục dạy dỗ cácem.Khuyến khích động viên kịp thời đối với những học sinh có thành tích ,độngviên giúp đỡ học sinh có hoàn cảnh khó khăn để các em phấn khởi tự tin tronghọc tập và rèn luyện Kết quả lớp do tôi chủ nhiệm đạt lớp xuất sắc

Bên cạnh đó tôi luôn có ý thức tham gia nhiệt tình các phong trào của nhàtrường,công đoàn và cấp trên phát động ,tham gia đầy đủ các cuộc ủng hộ củatrường của ngành

* Kết quả giáo dục cuối năm :

-Tổng số học sinh : 32 em

*) Xếp loại hạnh kiểm : Thực hiện đầy đủ : 32 em = 100%

*) Xếp loại học lực :

-Các môn đánh giá bằng điểm số :

Trang 4

Các môn đánh giá bằng nhận xét 100% đạt A và A+

- Học sinh đạt giải toán trên mạng cấp trường : 5 em

- Học sinh đạt giải toán trên mạng cấp huyện : 1 em

- Học sinh đạt giải toán trên mạng cấp tỉnh : 1 em

- Học sinh đạt giải viết chữ đẹp cấp trường : 8 em

- Học sinh đạt giải viết chữ đẹp cấp huyện : 7 em

- Học sinh đạt giải viết chữ đẹp cấp tỉnh : 5 em

- Học sinh giỏi cấp trường:7 em

- Học sinh giỏi cấp huyện:4 em

1 Lý do chọn sáng kiến kinh nghiệm.

Môn Toán ở tiểu học có một tầm quan trọng đặc biệt.Toán học là mộtmảng kiến thức xuyên suốt quá trình học tập của học sinh , trang bị cho học sinhnhững kiến thức cơ bản về toán ; rèn cho học sinh kĩ năng tính toán, kĩ năng đổiđơn vị, kĩ năng giải toán có lời văn… Đồng thời qua dạy toán giáo viên hìnhthành cho học sinh phương pháp học tập; khả năng phân tích tổng hợp, óc quansát, trí tưởng tượng tạo điều kiện phát triển óc sáng tạo, tư duy

Giaỉ toán là một mạch kiến thức cơ bản của toán học,nó không chỉ giúphọc sinh thực hành vận dụng những kiến thức đã học mà còn rèn cho học sinhkhả năng diễn đạt ngôn ngữ (Qua việc trình bày lời giải một cách rõ ràng , chính

Trang 5

sác ,khoa học) thông qua việc giải các bài toán học sinh được giáo dục nhiều mặttrong đó có giáo dục ý thức đạo đức

Trong chương trình Toán lớp 5, những bài toán về "Chuyển động đều

chiếm một số lượng tương đối lớn Đây là một dạng toán tương đối khó, rất phứctạp, phong phú đa dạng và có rất nhiều kiến thức áp dụng vào thực tế cuộc sống.Học tốt dạng toán này giúp học sinh có vốn kĩ năng đổi đơn vị đo thời gian, kĩnăng tính toán, kĩ năng giải toán có lời văn Đồng thời là cơ sở tiền đề giúp họcsinh học tốt chương trình toán và chương trình vật lí ở các lớp trên

Vậy làm thế nào để nâng cao chất lượng dạy học môn toán ở trường tiểuhọc ? Làm thế nào để tạo cho các em có hứng thú học tập?Làm thế nào để giúphọc sinh học tốt dạng toán chuyển động đều? Hàng loạt câu hỏi đặt ra và nó đãlàm cho bao thế hệ thầy cô phải trăn trở suy nghĩ Là một giáo viên đã trực tiếpgiảng dạy ở lớp 5 tôi nhận thấy mình phải có trách nhiệm trong việc giúp họcsinh có được kết quả học tập tốt

Xuất phát từ yêu cầu quan trọng của môn học và từ tình hình thực tế dạy

và học Tôi đã suy nghĩ và lựa chọn nghiên cứu tìm hiểu những phương pháp để

“Giúp học sinh làm tốt các bài toán chuyển động đều ở lớp 5 ".

2-Mục đích nghiên cứu sáng kiến kinh nghiệm.

- Giúp học sinh thấy được vị trí quan trọng của phân môn toán từ đó có ý hứchọc tập

- Rèn kỹ năng giải toán cho học sinh

- Góp phần nâng cao chất lượng dạy và học môn toán ở tiểu học đặc biệt là cácbài toán về chuyển động đều

- Tập dượt bồi dưỡng nghiên cứu khoa học cho bản thân

3- Đối tượng nghiên cứu.

Trang 6

- Đối với sáng kiến kinh nghiệm này tôi hướng tới khách thể là 4 giáo viên dạylớp 5 và 126 học sinh lớp 5 Trường tiểu học Thị trấn Hương Sơn - Phú Bình -Thái Nguyên

4- Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu.

* Nhiệm vụ

- Nghiên cứu tìn hiểu nội dung chương trình phân môn toán lớp 5

- Tìm hiểu nội dung kiến thức kỹ năng về các bài toán chuyển động đều lớp 5

- Điều tra thực trạng việc học các bài toán chuyển động đều

- Đề xuất các biện pháp khắc phục

* Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lý luận.

- Phương pháp điều tra quan sát

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm

- Phương pháp thống kê tổng hợp

- Phương pháp tổng kết kinh nghiện và một số phương pháp khác

5 Phạm vi nghiên cứu.

- Vì điều kiện thời gian có hạn nên tôi chỉ tiến hành nghiên cứu về nội dung kiếnthức dạy và học các bài toán chuyển động đều lớp 5

6- Thời gian nghiên cứu.

- Thời gian để tôi thực hiện sáng kiến kinh nghiệm này là từ tháng 9/2012 đếntháng 5/2013

PHẦN II NỘI DUNG

I-Cơ sở lý luận của vấn đề

Trang 7

Tôi đã tìm hiểu về việc dạy và học dạng toán chuyển động đều ở lớp 5 tạitrường Tiểu học TT Hương Sơn để thấy những sai lầm mà học sinh thường mắc.

Từ đó đưa ra các giải pháp giúp học sinh học tốt dạng toán này

- Lựa chọn, tập hợp, thống kê các dạng bài tập về chuyển động đều, đưa ví

dụ minh hoạ và phương pháp giải cho mỗi dạng đó

- Dạy thực nghiệm và khảo sát, đối chứng kết quả thực nghiệm

- Việc nghiên cứu, lựa chọn, phân loại và hướng dẫn giảng dạy các bài tập

về chuyển động đều tôi đã và đang thực hiện ở lớp 5 Trường Tiểu học TT HươngSơn

Để thực hiện sáng kiến này, tôi đã đi nghiên cứu tìm hiểu các vấn đề sau:

1 Nghiên cứu tài liệu:

- Đọc các tài liệu sách, báo, tạp chí giáo dục có liên quan đến nội dungsáng kiến

- Đọc sách giáo khoa, sách giáo viên, các loại sách tham khảo: Thực hànhgiải toán ở Tiểu học, Toán tuổi thơ, Toán bồi dưỡng học sinh năng khiếu 5,Phương pháp dạy Toán bậc Tiểu học,

- Tổng kết rút kinh nghiệm trong quá trình dạy học

- Tổ chức và tiến hành thực nghiệm sư phạm

Đã có những cuốn sách viết về loại toán chuyển động đều, song nhữngcuốn sách này mới chỉ dừng lại ở mức độ hệ thống hoá các bài tập (chủ yếu làbài tập khó) cho nên sách mới chỉ được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các

em học sinh giỏi Còn lại các tài liệu khác, toán chuyển động đều có được đề cập

Trang 8

đến nhưng rất ít, chưa phân tích một phương pháp cụ thể nào trong việc dạy giảicác bài toán loại nàỳ.

II Thực trạng của việc học toán chuyển động đều ở lớp 5:

Tôi đã tiến hành khảo sát trên đối tượng giáo viên và học sinh dạy - họclớp 5 ở Trường Tiểu học TT Hương Sơn Nội dung và kết quả như sau:

a) Đối với giáo viên:

Tôi đưa ra một số câu hỏi đối với giáo viên trực tiếp dạy lớp 5 và thu đượckết quả như sau:

Câu hỏi 1: Cô (thầy) chia những bài toán chuyển động đều về những dạngnào? Dựa vào đâu để chia như vậy?

Trả lời: Chia làm hai loại, loại đơn giản có 1 động tử chuyển động, loại

nâng cao có 2 động tử hay nhiều động tử

Câu hỏi 2: Khi giải bài toán chuyển động đều, học sinh thường mắc nhữngsai lầm gì?

Trả lời: Không biết cách trình bày lời giải, đôi khi tính toán sai, vận dụng

công thức lẫn lộn, kỹ năng giải bài toán nâng cao yếu

Câu hỏi 3: Để dạy tốt dạng toán chuyển động đều, ta cần lưu ý gì vềphương pháp?

Trả lời: Phải tăng cường số lượng, chất lượng các bài tập; các bài tập đó

phải có hệ thống, được phân loại rõ ràng Phải nghiên cứu và cung cấp cho họcsinh một số phương pháp giải thích hợp

b) Đối với học sinh:

* Tìm hiểu chất lượng giải các bài toán chuyển động đều ở học sinh

Tôi đã tiến hành kiểm tra vở của học sinh lớp 5A trường Tiểu học TTHương Sơn.Việc kiểm tra vở học sinh được tiến hành sau khi các em học xongphần lí thuyết toán chuyển động đều và một số tiết luyện tập

Trang 9

Qua kiểm tra, tôi nhận thấy nhìn chung chất lượng về dạy giải toán chuyểnđộng đều ở lớp 5A đã đạt yêu cầu Tuy nhiên các bài tập các em làm trong vởhầu hết là những bài toán đơn giản Một số bài toán có tính chất nâng cao, họcsinh làm không trọn vẹn Điều đó phản ánh phần nào việc dạy và học còn chưatận dụng triệt để những khả năng sẵn có trong học sinh Điều đáng chú ý là kếtquả đó lại không đồng đều Các em làm đúng gần hết các bài tập, có em làm sai

có Chính vì vậy học sinh không thể tránh khỏi những khó khăn, sai lầm Quathực tế giảng dạy và khảo sát học sinh ở một số lớp, tôi thấy sai lầm của học sinhkhi giải toán chuyển động đều là do những nguyên nhân cơ bản sau :

Nguyên nhân thứ nhất : Học sinh không đọc kĩ đề bài, thiếu sự suy nghĩ cặn kẽ dữ kiện và điều kiện đưa ra trong bài toán.

Ví dụ : Bài 3/SGK.140

Quãng đường AB dài 25 km Trên đường đi từ A đến B, Một người đi bộ5km rồi tiếp tục đi ô tô trong nửa giờ thì đến B Tính vận tốc của ô tô

Có 10 học sinh lớp 5B đó giải như sau :

Thời gian người đó đi bằng ô tô là : 0,5 giờ

Vận tốc của ô tô là :

25 : 0,5 = 50 (km/giờ)

Trang 10

Đáp số : 50km/giờCòn hầu hết học sinh làm đúng bài toán với lời giải như sau:

Quãng đường người đó đi bằng ô tô là:

25 – 5 = 20 (km)Thời gian người đó đi bằng ô tô là: 0,5 giờ

Vận tốc của ô tô là:

20 : 0,5 = 40 (km/h) Đáp số: 40 km/h

Cả 10 học sinh mắc sai lầm trên đều do các em chưa đọc kĩ đề bài, bỏ sót

một dữ kiện quan trọng của bài toán: Người đó đi bộ 5km rồi mới đi ô tô.

Trên đây chỉ là một trong những ví dụ học sinh mắc sai lầm loại này

Nguyên nhân thứ hai : Khi giải bài toán học sinh còn nặng về trí nhớ máy móc, tư duy chưa linh hoạt.

Ví dụ: Bài 1 (SGK trang 144):

Quãng đường AB dài 180km Một ô tô đi từ A đến B với vận tốc 54km/giờ, cùng lúc đó một xe máy đi từ B đến A với vận tốc 36 km/giờ Hỏi kể từlúc bắt đầu đi, sau mấy giờ ô tô gặp xe máy ?

Khi gặp bài toán trên học sinh rất lúng túng, không biết vận dụng côngthức gì để tính Chỉ có một số ít em làm được bài toán theo cách giải sau :

Cứ sau mỗi giờ ô tô và xe máy đi được số km là :

54 + 36 = 90 (km)

Thời gian để ô tô và xe máy gặp nhau là :

180 : 90 = 2 (giờ) Đáp số : 2 giờ

Một số học sinh khác do quen cách tính chỉ có một động tử nên không viếtđược trọn vẹn lời giải Một số học sinh lại do nhầm lẫn giữa chuyển động ngược

Trang 11

chiều và chuyển động cùng chiều nên áp dụng sai công thức, dẫn đến giải sai bàitoán.

Nguyên nhân thứ ba : Học sinh không nắm vững kiến thức cơ bản :

Ví dụ : Một xe máy đi từ A đến B hết 42 phút Tính quãng đường AB, biếtvận tốc của xe máy là 36 km/giờ

Tôi tiến hành khảo sát trên lớp 5B, đây là bài toán cơ bản nhưng có những

em giải sai một cách trầm trọng như sau :

Quãng đường AB là :

36  42 = 1512 (km) Đáp số: 1512 kmVới bài toán trên học sinh rất dễ lúng túng khi thấy đơn vị đo vận tốc của

xe máy là km/giờ, mà thời gian xe máy đi hết quãng đường lại đo bằng đơn vịphút Nên trong quá trình giải các em đó không đổi đơn vị đo mà cứ để nguyên

dữ kiện của bài toán như vậy lắp vào công thức: S = v  t để tính

Đây là một trong những sai lầm rất đặc trưng và phổ biến của học sinh khigiải các bài toán chuyển động đều do không nắm chắc được việc sử dụng đơn vịđo

Nguyên nhân thứ tư : Vốn ngôn ngữ của học sinh còn nhiều hạn chế:

Ví dụ: Lúc 6 giờ một ô tô đi từ A đến B với vận tốc 50 km/giờ Lúc 7 giờ

30 phút một xe ô tô du lịch đi từ B đến A với vận tốc 65 km/giờ Hỏi hai xe gặpnhau lúc mấy giờ? Biết quãng đường AB dài 420km

Khi tiến hành điều tra trên lớp 5A tôi thấy có 22 em đi đúng hướng giảinhưng 10 em trong đó có lời giải không khớp với phép tính giải Hơn nữa bàitoán hỏi lúc mấy giờ hai xe gặp nhau (tức là tìm thời điểm hai xe gặp nhau) họcsinh không hiểu và chỉ tìm thời gian hai xe gặp nhau

* Kết quả của thực trạng trên:

Trang 12

Sau đây là kết quả khảo sát trên lớp 5A và 5B trường Tiểu học TT Hương Sơn

Tôi chọn lớp 5A là lớp tiến hành dạy thực nghiệm, lớp 5B là lớp đối chứng

Nội dung khảo sát : Học sinh làm những bài tập trong phiếu học tập

như sau :

PHIẾU HỌC TẬP

Họ và tên :

Lớp :

Trường :

Bài 1: 4 điểm Một người đi xe đạp trong 15 phút với vận tốc 12, 6 km/giờ Tính quãng đường đi được của người đó

Bài 2 : 6 điểm Quãng đường AB dài 240km ô tô thứ nhất đi từ A đến B với vận tốc là 65 km/giờ, ô tô thứ hai đi từ B đến A với vận tốc là 55 km/giờ Nếu khởi hành cùng một lúc thì sau mấy giờ hai ô tô đó sẽ gặp nhau?

Trang 13

Kết quả cụ thể của 2 lớp như sau: Lớp Sĩ số Giỏi Khá Trung bình Yếu SL % SL % SL % SL % 5A 32 9 28,1 9 28,1 10 31,3 4 12,5 5B 33 8 24,2 9 27,3 11 33,3 5 12,5

Tôi nhận thấy bài làm của học sinh đạt kết quả không cao, số lượng học sinh đạt điểm khá giỏi chiếm tỉ lệ thấp còn nhiều học sinh bị điểm kém Đa số học sinh chưa nắm vững cách giải của bài 2

Học sinh lúng túng chưa nhận ra dạng điển hình của toán chuyển động đều Ở Bài 1, một số em còn sai lầm không biết đổi 15 phút ra đơn vị giờ để tính

quãng đường, nên đã tính ngay : Độ dài quãng đường là: 15 12,6 = 189 (km )

trong khi cần phải đổi 15 phut = 0,25 giờ rồi mới tính.

Độ dài quãng đường là :

12,6 0,25 = 3,15 (km)

III Các biện pháp đã tiến hành giải quyết vấn đề

Từ thực tế trên tôi nhận thấy vấn đề đặt ra là giáo viên phải tìm cách khắc phục yếu kém cho học sinh, kiên trì rèn kĩ năng cho các em từ đơn giản đến phức tạp

Cần chú trọng thực hiện một số yêu cầu cơ bản sau:

+ Rèn kĩ năng đổi đơn vị đo thời gian cho học sinh

Trang 14

+ Giúp học sinh nắm vững kiến thức cơ bản về dạng toán chuyển độngđều, hệ thống các công thức cần ghi nhớ.

+ Giúp các em vận dụng các kiến thức cơ bản để giải tốt các bài toánchuyển động đều theo từng dạng bài

Để giải quyết vấn đề đã nêu ra ở trên trước tiên tôi quan tâm đến việc tạotâm thế hứng khởi cho các em khi tham gia học toán, giúp các em tích cực thamgia vào quá trình học tập, tạo điều kiện cho các em phát triển tư duy óc sáng tạo,khả năng phân tích, tổng hợp Sau đó tôi tiến hành theo các bước sau:

1 Rèn kĩ năng đổi đơn vị đo cho học sinh.

Tôi nhận thấy một sai lầm mà nhiều học sinh mắc phải khi giải toánchuyển động đều đó là các em chưa nắm vững cách đổi đơn vị đo thời gian Vìquan hệ giữa các đơn vị của chúng không đồng nhất, khi đổi đơn vị thời gian chỉ

có cách duy nhất là thuộc các quan hệ của các đơn vị đo thời gian rồi đổi lần lượttừng đơn vị đo bằng cách suy luận và tính toán Đổi đơn vị đo thời gian là

sự kết hợp tổng hoà các kiến thức về số tự nhiên, phân số, số thập phân và kỹnăng tính toán

Rất nhiều các bài toán chuyển động đều yêu cầu phải đổi đơn vị đo trướckhi tính toán Tôi chủ động cung cấp cho học sinh cách đổi như sau:

* Gíúp học sinh nắm vững bảng đơn vị đo thời gian, mối liên hệ giữa các

đơn vị đo cơ bản.

- Hướng dẫn học sinh tìm " tỉ số giữa 2 đơn vị " Ta quy ước " Tỉ số của 2

đơn vị " là giá trị của đơn vị lớn chia cho đơn vị nhỏ.

Trang 15

Ở ví dụ trên, tỉ số của 2 đơn vị là: 1 giờ : 1 phút = 60.

- Ta chia số phải đổi cho tỉ số của 2 đơn vị

Ở ví dụ trên ta thực hiện 30 : 60 =

Ở ví dụ này, tỉ số của 2 đơn vị là: 1 giờ : 1 phút = 60

- Ta nhân số phải đổi với tỉ số của 2 đơn vị.

Ở ví dụ trên ta thực hiện như sau:

Hoặc đổi 2 ngày = …… giờ

Tỉ số của 2 đơn vị là: 1 ngày : 1 giờ = 24

Ta thực hiện: 2  24 = 48

Vậy 2 ngày = 48 giờ.

* Cách đổi từ km/giờ sang km/phút sang m/phút.

VD: 120 km/ giờ = … km/ phút = ……m/ phút.

Bước 1: Thực hiện đổi từ km/giờ sang km/phút.

- Thực hiện đổi 120 km/giờ = …….km/phút.

- Tỉ số 2 đơn vị giờ và phút là 60.

120 : 60 = 2

* Vậy 120 km/giờ = 2 km/phút.

Trang 16

Ghi nhớ cách đổi: Muốn đổi từ km/giờ sang km/phút ta lấy số phải đổi chia cho 60.

Bước 2: Thực hiện đổi từ km/phút sang m/phút.

* Cách đổi từ m/phút sang km/phút, sang km/giờ.

Ta tiến hành ngược với cách đổi trên

2 Cung cấp cho học sinh nắm vững các hệ thống công thức.

Trong phần này tôi khắc sâu cho học sinh một số cách tính và công thức sau:

* Muốn tính vận tốc ta lấy quãng đường chia cho thời gian.

Công thức: v = S t

- v: Vận tốc.

- S: Quãng đường.

Trang 17

* Khi vận dụng các quy tắc này, cần chú ý:

- Nếu số đo thời gian là một danh số đơn (số có một đơn vị) thì chỉ việclàm tính một cách bình thường

- Nếu số đo thời gian là một danh số phức hợp (số có từ hai đơn vị trở lên,

ví dụ: 2 giờ 30 phút) thì cần lưu ý học sinh đổi ra danh sô đơn rồi mới làm tính

- Riêng với bài toán tính thời gian, cần lưu ý khi chia còn dư thì cần đổi

số dư ra đơn vị thích hợp để tiếp tục chia

* Đồng thời tôi giúp học sinh nắm vững mối quan hệ giữa các đại lượng vận tốc, quãng đường, thời gian.

- Khi vận tốc không đổi thì quãng đường tỉ lệ thuận với thời gian

( Quãng đường càng dài thì thời gian đi càng lâu )

- Khi thời gian không đổi thì quãng đường tỉ lệ thuận với vận tốc

( Quãng đường càng dài thì vận tốc càng lớn )

- Khi quãng đường không đổi thì thời gian tỉ lệ nghịch với vận tốc

Ngày đăng: 11/12/2017, 00:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w