NGHIÊN CỨU SỰ GÂY HẠI CỦA BỌ PHẤN (Bemisia tabaci Gennadius) VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU LỰC CỦA MỘT SỐ THUỐC TRỪ SÂU ĐỐI VỚI CHÚNG TRÊN CÂY THUỐC LÁ VÀNG SẤY TẠI TÂY NINH LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH ĐOÀN NGUYỄN KIẾN TRÚC NGHIÊN CỨU SỰ GÂY HẠI CỦA BỌ PHẤN (Bemisia tabaci Gennadius) VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU LỰC CỦA MỘT SỐ THUỐC TRỪ SÂU ĐỐI VỚI CHÚNG TRÊN CÂY THUỐC LÁ VÀNG SẤY TẠI TÂY NINH LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 102009 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH ĐOÀN NGUYỄN KIẾN TRÚC NGHIÊN CỨU SỰ GÂY HẠI CỦA BỌ PHẤN (Bemisia tabaci Gennadius) VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU LỰC CỦA MỘT SỐ THUỐC TRỪ SÂU ĐỐI VỚI CHÚNG TRÊN CÂY THUỐC LÁ VÀNG SẤY TẠI TÂY NINH Chuyên ngành: Bảo vệ thực vật Mã số: 60.62.10 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP Hướng dẫn Khoa học: TS. TRẦN TẤN VIỆT Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 102009 ii LÝ LỊCH CÁ NHÂN Tôi tên là Đoàn Nguyễn Kiến Trúc sinh ngày 26 tháng 4 năm 1974 tại tỉnh Bến Tre, con ông Đoàn Ngọc Xàng và bà Nguyễn Minh Thành. Tốt nghiệp tú tài tại Trường trung học phổ thông Cao Lãnh I, tỉnh Đồng Tháp, năm 1991. Tốt nghiệp Đại học ngành nông học tại Đại học Nông Lâm, thành phố Hồ Chí Minh, năm 1996. Sau đó làm việc tại Chi nhánh công ty TNHH một thành viên Viện KTKT thuốc lá TPHCM, chức vụ: từ tháng 81996 đến tháng 122008 là cán bộ kỹ thuật tại Trạm thực nghiệm thuốc lá Gò Dầu, từ tháng 12009 đến 102009 là nghiên cứu viên tại phòng sinh học. Tháng 9 năm 2007 theo học cao học ngành Bảo Vệ Thực Vật tại Đại học Nông Lâm, Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh. Tình trạng gia đình: có gia đình, vợ: Nguyễn Thị Giáng Kiều, năm kết hôn 2003, con Đoàn Nguyễn Nhã Nguyệt, sinh năm 2005. Địa chỉ liên lạc: Ấp 4 Bàu Đồn – Gò Dầu – Tây Ninh Điện thoại: 0663.857601 – 0937615193 Email: ktructlyahoo.com.vn iii LỜI CAM ĐOAN Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và Chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Đoàn Nguyễn Kiến Trúc iv CHÂN THÀNH CẢM TẠ Ba, mẹ đã sinh ra, nuôi nấng và dạy dỗ con cho đến ngày hôm nay. Cám ơn em, người vợ yêu quí của tôi, đã cực khổ nuôi nấng con tôi và động viên tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn tất luận văn tốt nghiệp này. Hai em tôi đã động viên và giúp đỡ tài chính cho tôi trong suốt quá trình học tập. Ban giám hiệu, phòng đào tạo Sau Đại Học, khoa Nông Học, quí thầy cô trường đại học Nông Lâm TPHCM. TS. Trần Tấn Việt, trưởng khoa Nông Học, trường Đại Học Nông Lâm TPHCM đã cung cấp tài liệu, giúp đỡ và tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này. Thầy Trần Quí Tuần, giám đốc chi nhánh Cty TNHH một thành viên Viện KTKT thuốc lá TPHCM đã tận tình giúp đở, động viên tôi trong suốt quá trình làm việc và học tập. Cô Nguyễn Thị Thu Cúc khoa sinh học trường ĐH Cần Thơ và cô Võ Thị Thu Oanh bộ môn BVTV khoa Nông Học trường Đại Học Nông Lâm TPHCM đã giúp đỡ định danh các mẫu côn trùng và nấm ký sinh bọ phấn. Bạn bè đã cung cấp tài liệu và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp này. Tây Ninh ngày tháng năm 2009 Đoàn Nguyễn Kiến Trúc v TÓM TẮT Đề tài: “Nghiên cứu sự gây hại của bọ phấn (Bemisia tabaci Gennadius) và đánh giá hiệu lực của một số thuốc trừ sâu đối với chúng trên cây thuốc lá vàng sấy tại Tây Ninh” được tiến hành tại tỉnh Tây Ninh từ tháng 112007 42009. Đề tài có 6 nội dung được nghiên cứu nhằm mục đích ngăn chặn bọ phấn là môi giới truyền bệnh virus trên cây thuốc lá vàng sấy tại tỉnh Tây Ninh. Qua điều tra 150 hộ nông dân, đa số người sản xuất (60 90 %) ít hiểu biết về bọ phấn. Nông dân sử dụng chủ yếu thuốc hóa học để phòng trừ bọ phấn (>90%), hoạt chất được sử dụng nhiều nhất là imidacloprid (70%) và đều sử dụng quá liều khuyến cáo (> 85%). Bọ phấn xuất hiện trên cây thuốc lá khoảng 7 ngày sau trồng và mật số đạt đỉnh cao lúc 35 ngày sau trồng. Bên cạnh đó, phổ ký chủ của bọ phấn được ghi nhận là 12 loài cỏ dại thuộc 9 họ và 16 loài cây trồng thuộc 8 họ. Trong đó, họ Cucurbitaceae và Solanaceae là loài ký chủ ưa thích nhất của bọ phấn. Thành phần thiên địch của bọ phấn được xác định là 4 loài săn mồi: Ruồi săn mồi (Họ: Sciomyzidae), chuồn chuồn cỏ (Suarius sp.), bọ xít thuốc lá (Macrolophus sp.), nhện (Argiope sp.); một loài ong ký sinh (Encasia bimaculata.) và một loài nấm ký sinh (Paecilomyces sp.). Khảo sát 5 giống thuốc lá nhằm tìm ra một giống tương đối ít mẫn cảm với bọ phấn và bệnh virus ne ngọn xoăn đọt. Kết quả cho thấy giống NC17 ít mẫn cảm với bọ phấn và bệnh virus ne ngọn xoăn đọt. 5 loại hoạt chất được đánh giá để phòng trừ bọ phấn là: thiamethoxam, emamectin benzoate, cypermetrin, abamectin, Bacillus thuringiensis. Tất cả các hoạt chất trên đều có hiệu lực phòng trừ bọ phấn với nhiều mức độ ý nghĩa khác nhau so với nghiệm thức đối chứng (không phun). Thiamethoxam cho hiệu quả phòng trừ bọ phấn cao nhất đạt 79,54% ở 1 ngày sau phun, sau đó hiệu lực của thuốc giảm dần còn 16,29% ở 10 ngày sau phun. vi SUMMARY Thesis were carried at Tay Ninh province, from November 2007 to April 2009, aiming at preventing virus transmitted by whitefly. 150 farm households were interviewed on their knowledge of whitefly pest. Result showed that 60 – 90 % of them didn’t know about whitefly. More 80% farmers used insecticides to control whitefly, with high dosage, in which imidaclopid was common used. Whitefly occurred at 7 days after planting and they reached the peak at 35 days after planting. Whitefly was found in 12 plant species which was growed in the area. Natural enemies of whitefly found in field were four predator species: fly (family: Sciomyzidae), lacewing (Suarius sp.), tobacco mirid (Macrolophus sp.), spider (Argiope sp.); one parasitoid wasp species Encasia bimaculata. and a parasitic fungus species (Paecilomyces sp.) Five tobacco verieties were screened to test for their resistance to whitefly and bud malformation disease. The result showed that NC17 variety was less sensitive to whitefly than other varieties do. Two synthetic insecticides (thiamethoxam and cypermetrin) and three bioinsecticides (emamectin benzoate, abamectin, Bacillus thuringiensis) were tested their efficacy to whitefly. All of these insecticides caused mortality of whitefly at various degrees of significance over the untreated control, except for Bacillus thuringiensis. Efficacy of thiamethoxam was 79,54% and 16,29% at 1 and 10 days after treatment. The efficacy of this insecticide was highest among insecticides tested. vii MỤC LỤC Trang Trang tựa i Trang chuẩn y ii Lý lịch cá nhân iii Lời cam đoan iv Lời cảm tạ v Tóm Tắt vi Summary vii Mục lục viii Danh sách các chử viết tắt xii Một số thuật ngữ xiii Danh sách các bảng xiv Danh sách các đồ thị xv Danh sách các hình xvi Chương 1. Mở dầu 1 1.1. Đặt vấn đề 1 1.3. Mục đích yêu cầu 2 1.3.1. Mục đích 2 1.2.3. Giới hạn nghiên cứu 2 Chương 2. Tổng quan tài liệu 3 2.1. Giới thiệu về cây thuốc lá 3 2.1.1. Nguồn gốc lịch sử 3 2.1.2. Phân loại 5 2.1.3. Giá trị kinh tế và sử dụng 5 viii 2.1.4. Giống 6 2.1.5. Thời vụ 7 2.1.6. Dịch hại chính trên cây thuốc lá 7 2.1.6.1. Bệnh hại 8 2.1.6.2. Côn trùng gây hại 8 2.2. Bọ phấn (Bemisia tabaci Gennadius) 9 2.2.1. Giới thiệu 9 2.2.2. Thiệt hại kinh tế 9 2.2.3. Đặc điểm hình thái và sinh học của bọ phấn 11 2.2.3.1. Trong nước 11 2.2.3.2. Ngoài nước 12 2.2.4. Phòng trừ 15 2.2.4.1. Trong nước 15 2.2.4.2. Ngoài nước 15 2.3. Tỉnh Tây Ninh 23 Chương 3. Nội dung và phương pháp nghiên cứu 26 3.1. Nội dung 26 3.2. Địa điểm và thời gian 26 3.2.1. Địa điểm 26 3.2.2. Thời gian thực hiện 26 3.3. Điều kiện tự nhiên vùng nghiên cứu 26 3.4. Phương tiện và Phương pháp nghiên cứu 28 3.4.1. Phương tiện nghiên cứu 28 3.4.2. Phương pháp nghiên cứu 29 3.4.2.1. Điều tra hiện trạng canh tác cây thuốc lá vàng sấy và tập quán phòng trừ bọ phấn của người nông dân tại Tây Ninh 29 3.4.2.2. Nghiên cứu diễn biến mật số của bọ phấn trên cây thuốc lá, thiên địch và ix ký chủ 29 3.4.2.3. Khảo sát tính chống chịu với bọ phấn của một số giống thuốc lá nhập nội và chọn tạo trong nước 32 3.4.2.4. Khảo sát hiệu lực của một số loại thuốc hóa học và sinh học phòng trừ bọ phấn 34 Chương 4. Kết quả thảo luận 37 4.1. Điều tra hiện trạng canh tác và tập quán phòng trừ bọ phấn của người nông dân 37 4.2. Diễn biến mật số của bọ phấn trên cây thuốc lá tại Tây Ninh, thiên địch và ký chủ 46 4.2.1. Đặc điểm hình thái của bọ phấn trên cây thuốc lá ở Tây Ninh 46 4.2.2. Diễn biến mật số bọ phấn trên cây thuốc lá 47 4.2.2.1. Vụ 20062007 47 4.2.2.2. Vụ 20072008 48 4.2.2.3. Vụ 20082009 52 4.2.3. Diễn biến bệnh virus ne ngọn xoăn đọt trên cây thuốc lá 54 4.2.4. Thiên địch của bọ phấn trên cây thuốc lá 58 4.2.4.1. Thành phần thiên địch 58 4.2.4.2. Diễn biến của thiên địch bọ phấn trên cây thuốc lá 63 4.2.5. Phổ ký chủ của bọ phấn gây hại cây thuốc lá tại Tây Ninh 65 4.3. Khảo sát tính chống chịu với bọ phấn của một số giống thuốc lá nhập nội và chọn tạo trong nước 70 4.4.Khảo nghiệm một số loại thuốc hóa học và sinh học phòng trừ bọ phấn 75 Chương 5: Kết luận và đề nghị 81 5.1.Kết luận 81 5.2.Đề nghị 82 Tài liệu tham khảo 83 x Phụ lục 95 xi DANH SÁCH CHỬ VIẾT TẮT ACMV: african cassava mosaic virus BGYV: bean golden yellow virus BGMV: bean golden mosaic virus BVTV: bảo vệ thực vật CBSD: cassava brown streak disease CLCuV, CoLCV: cotton leaf curl virus CMV: cucumber mosaic virus DTtb: diện tích trung bình ĐHNL: Đại học Nông Lâm IPM: integrated pest management KTKT: kinh tế kỹ thuật NST: ngày sau trồng NStb: năng suất trung bình RTPCR: reverse transcriptionpolymerase chain reaction RAPD: random amplified polymorphic DNA SLCV: squash leaf curl virus PVY: potato virus Y USDA: United State Development of Agriculture TNHH: trách nhiệm hữu hạn TbLCV, TLCV: tobacco leaf curl virus TYLCV: tomato yellow leaf curl virus TSWV: tobacco spotted wilt virus TBVTV: thuốc bảo vệ thực vật TP HCM: Thành Phố Hồ Chí Minh xii TMV: tomato mosaic virus WRSV: wheat rosette stunt virus WCSV: watermelon chlorotic stunt virus YVMV: yellow vein mosaic virus MỘT SỐ THUẬT NGỮ Lá gốc: là nhóm lá mọc ở vị trí thấp nhất của thân cây. Lá mỏng (0,03 – 0,035mm), mặt lá phẳng, đầu lá tù, cấu trúc lá xốp, gân lá nhỏ, gốc độ giữa gân phụ và gân chính rộng, dễ bị tổn thương do bệnh, dính đất cát do gần mặt đất. Màu sắc lá sau khi sấy thường có màu vàng nhạt, vàng chanh. Chiều dài lá từ 25 – 35 cm. Lá trung châu: là nhóm lá mọc giữa thân cây thuốc lá (khoảng 4 – 6 lá). Lá có độ dày trung bình (0,04 – 0,06mm). Những lá đã sấy ở vị trí này có xu hướng cuộn tròn và quăn đầu dưới của mép lá, gốc độ gân phụ với gân chính giữa lá trung bình. Phiến lá rộng, lá dài, ít bị tổn thương sâu bệnh. Màu sắc lá sau khi sấy: vàng cam, vàng cam sáng, vàng chanh; bề mặt lá mịn, độ dầu dẻo cao. Chiều dài lá > 40cm. Lá ngọn: là nhóm lá mọc trên cùng của thân cây (2 – 3 lá). Lá có độ dày cao nhất trên cây (0,065 – 0,075mm) . Những lá đã sấy ở vị trí này có xu hướng cuộn tròn vào phía trong lộ gân chính và lưng lá, gốc tạo bởi gân chính và gân phụ hẹp. Phiến lá hẹp thường bị tổn thương do sâu bệnh. Màu sắc lá sau khi sấy: vàng cam đỏ, vàng cam sậm, thường xuất hiện màu sắc pha tạp, bề mặt lá thô ráp, độ dầu dẻo kém, chiều dài lá từ 25 – 38cm. xiii DANH SÁCH CÁC BẢNG Trang Bảng 3.1: Khí hậu thời tiết trung bình của tỉnh Tây Ninh trong 3 vụ 2006 – 2007, 2007 – 2008 và 2008 – 2009 27 Bảng 4.1: Kết quả điều tra về nguồn lao động và canh tác 40 Bảng 4.2: Nhận thức của nông dân về thành phần côn trùng chích hút, bệnh virus ne ngọn xoăn đọt trên ruộng thuốc lá và tập quán phòng trừ bọ phấn 43 Bảng 4.3: Các loại thuốc thường được nông dân sử dụng để phòng trừ bọ phấn 44 Bảng 4.4: Thành phần côn trùng chích hút và thời điểm hiện diện trên ruộng thuốc lá ở huyện Bến Cầu, Châu Thành và Gò Dầu (vụ 2007 – 2008) 45 Bảng 4.5: Diễn tiến bệnh virus ne ngọn xoăn đọt (%) ở ba huyện Bến Cầu, Châu Thành và Gò Dầu (vụ 2007 – 2008) 55 Bảng 4.6: Thành phần thiên địch của bọ phấn trên ruộng thuốc lá 60 Bảng 4.7: Các loài cỏ dại là ký chủ của bọ phấn 67 Bảng 4.8: Các cây trồng là cây ký chủ của bọ phấn 68 Bảng 4.9: Diễn tiến mật số bọ phấn trên 6 giống thí nghiệm (conlá) 71 Bảng 4.10: Diễn tiến bệnh virus ne ngọn xoăn đọt trên 6 giống thí nghiệm (%) 74 Bảng 4.11: Hiệu lực của thuốc (%) đối với bọ phấn 76 Bảng 4.12: Diễn tiến bệnh virus ne ngọn xoăn đọt sau khi sử lý thuốc 79 Bảng 4.13: Ảnh hưởng của thuốc đến năng suất và hiệu quả kinh tế 80 xiv DANH SÁCH CÁC ĐỒ THỊ VÀ BIỂU ĐỒ Trang Đồ thị 4.1: Diễn biến mật số bọ phấn và bệnh virus ne ngọn xoăn đọt trên cây thuốc lá vụ 2006 – 2007. 48 Biểu đồ 4.1: Diễn biến mật số bọ phấn trên cây thuốc lá trong vườn ươm vụ 2007 – 2008. 49 Biểu đồ 4.2: Diễn biến mật số bọ phấn trên cây thuốc lá trong vườn bầu vụ 2007 – 2008 50 Đồ thị 4.3: Diễn biến mật số bọ phấn trên cây thuốc lá ngoài ruộng trồng 2007 – 2008 51 Biểu đồ 4.3: Diễn biến mật số bọ phấn trên cây thuốc lá trong vườn ươm vụ 2008 – 2009 52 Biểu đồ 4.4: Diễn biến mật số bọ phấn trên cây thuốc lá trong vườn bầu vụ 2008 – 2009 53 Đồ thị 4.4: Diễn biến mật số bọ phấn trên cây thuốc lá ngoài ruộng trồng 2008 – 2009 54 Đồ thị 4.5: Diễn biến bệnh virus ne ngọn xoăn đọt 20082009 56 Biểu đồ 4.5: Tổng hợp mật số bọ phấn (35 NST) qua 3 vụ theo dõi 57 Biểu đồ 4.6: Tổng hợp mật số bọ phấn (35 NST) qua 3 vụ theo dõi 57 Đồ thị 4.1: Sự liên quan giữa bọ phấn và bệnh virus ne ngọn xoăn đọt. 58 Đồ thị 4.6: Diễn biến thiên địch của bọ phấn ở ruộng trồng vụ 2008 – 2009. 63 Đồ thị 4.7: Mối liên quan giữa mật số lông tơ lá và mật số bọ phấn lá 72 xv DANH SÁCH CÁC HÌNH Trang Hình 2.1: Các pha phát triển khác nhau của bọ phấn (B. tabaci) (USDA, 2007). 13 Hình 2.2: Một số phương pháp canh tác khác nhau để quản lý bọ phấn (Charles và ctv, 2005; Graeme và ctv, 2003; Francisco và ctv, 2008). 16 Hình 2.3: Sử dụng giống kháng virus do môi giới là bọ phấn truyền (Francisco và ctv, 2008). 18 Hình 2. 4: Một số tác nhân phòng trừ sinh học (Susan và ctv 2001). 22 Hình 3.1: Một số vật liệu tham gia trong quá trình thực hiện đề tài. 28 Hình 3.2: Một số hình ảnh thí nghiệm khảo sát giống. 34 Hình 3.3: Một số hình ảnh thí nghiệm khảo sát hiệu lực của thuốc. 36 Hình 4.1: Các loại côn trùng chích hút trên ruộng thuốc lá vụ 2007 2008 39 Hình 4.2: Vòng đời bọ phấn thuốc lá (Bemisia tabaci) 46 Hình 4.3: Nấm Paecilomyces sp. ký sinh bọ phấn 59 Hình 4.4: Nhộng bọ phấn bị ong ký sinh 61 Hình 4.5: Vỏ nhộng bọ phấn còn lại sau khi ong vũ hóa 61 Hình 4.6: Ong ký sinh bọ phấn (Encasia bimaculata) 61 Hình 4.7: Thành trùng bọ xít thuốc lá (Macropholus sp.) 62 Hình 4.8: Cánh trước bọ xít thuốc lá 62 Hình 4.9: Trưởng thành ruồi săn mồi 62 Hình 4.10: Cánh trưởng thành ruồi săn mồi 62 Hình 4.11: Ấu trùng chuồng chuồng cỏ 62 Hình 4.12: Đầu ấu trùng chuồn chuồn cỏ 62 Hình 4.13: Nhện bắt mồi 63 xvi Hình 4.14: Một số hình ảnh cây ký chủ của bọ phấn (cây trồng) 66 Hình 4.15: Một số hình ảnh cây ký chủ của bọ phấn (cỏ dại) 69 Hình 4.16: Bọ phấn chết do thuốc 75 1 Chương 1 MỞ ĐẦU 1.1. Đặt vấn đề Trong những năm qua, cây thuốc lá là một trong những cây đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người nông dân. Vì thế các địa phương đã xem thuốc lá là cây xóa đói, giảm nghèo cho người nông dân, góp phần phát triển địa phương. Cùng với sự phát triển của cây thuốc lá, dịch hại do virus gây bệnh ne ngọn xoăn đọt đã tàn phá nặng nề các vùng trồng thuốc lá ở phía Nam, đặc biệt là Tây Ninh nơi mà một thời được xem là thủ đô của cây thuốc lá. Thiệt hại do bệnh này gây ra có thể lên đến 100%, thiệt hại này dẫn đến trong vụ mùa 2006 – 2007 diện tích gieo trồng thuốc lá tại Tây Ninh giảm đáng kể, toàn tỉnh diện tích đầu tư của các doanh nghiệp khoảng 2.500 ha, giảm gần 60% diện tích trồng (so với vụ 2000 – 2001). Mặc dù có nhiều cố gắng để cải thiện tình hình nhưng mức độ và diện tích bị gây hại vẫn không giảm (Nguyễn Ngọc Bích, 2007). Tổn thất được ước tính khoảng 10 tỉ đồngnăm, chỉ riêng tại Tây Ninh (Tổng Công Ty Thuốc Lá Việt Nam, 2006). Bệnh virus ne ngọn xoăn đọt do vector truyền bệnh chủ yếu là các loại côn trùng chích hút (Dodds và ctv, 1984; 1986), trong đó bọ phấn là một trong những vector quan trọng. Bọ phấn có phạm vi ký chủ rất rộng, là vector của 17 loại germinivirus khác nhau (Brown và ctv, 1995). Một khi cây thuốc lá đã bị nhiễm bệnh virus thì mọi biện pháp điều trị đều không có hiệu quả. Để ngăn chặn sự lây nhiễm của bệnh virus, việc kiểm soát bọ phấn môi giới là cần thiết (Lapidot và ctv, 2002). Đề tài “Nghiên cứu sự gây hại của bọ phấn (Bemisia tabaci Gennadius) và đánh giá hiệu lực của một số thuốc trừ sâu đối với chúng trên cây thuốc lá vàng sấy tại Tây Ninh” nhằm tìm kiếm các giải pháp khả thi để kiểm soát bọ phấn tại địa phương. 2 1.3. Mục đích yêu cầu 1.3.1. Mục đích Ngăn chặn bọ phấnmôi giới truyền bệnh virus trên cây thuốc lá vàng sấy của tỉnh Tây Ninh. 1.3.2. Yêu cầu ¾ Nắm bắt được hiện trạng canh tác và tập quán phòng trừ bọ phấn trên cây thuốc lá của người nông dân. ¾ Nắm được diễn biến của bọ phấn trên cây thuốc lá, thiên địch và ký chủ của chúng. ¾ Tìm ra được một giống thuốc lá tương đối kháng với bọ phấn. ¾ Xác định được loại thuốc hóa học hoặc sinh học thích hợp để phòng trừ bọ phấn. 1.2.3. Giới hạn nghiên cứu ¾ Địa điểm nghiên cứu: tại các vùng trồng thuốc lá Tây Ninh. ¾ Thời gian nghiên cứu: từ tháng 112006 42009. ¾ Đối tượng nghiên cứu: bọ phấn trên cây thuốc lá. 3 Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1. Giới thiệu về cây thuốc lá 2.1.1. Nguồn gốc lịch sử Cây thuốc lá hoang dại đã có cách đây khoảng 4000 năm, trùng với nền văn minh của người da đỏ vùng Trung và Nam Mỹ. Lịch sử chính thức của việc sản xuất thuốc lá được đánh dấu vào ngày 12101942 do chuyến thám hiểm tìm ra châu Mỹ của Christoph Columbus, ông đã phát hiện thấy người bản xứ ở quần đảo Antil vừa nhảy múa, vừa hút một loại lá cuộn tròn gọi là tobaccos (Vinataba, 2006). Sau đó các nhà thám hiểm đã phát hiện ra rằng việc sử dụng thuốc lá là hoàn toàn phổ biến ở thế giới mới này (Collins và ctv, 1993). Cây thuốc lá được trồng ở ít nhất 117 quốc gia và thu hút khoảng 33 triệu nông dân tham gia (Campell, 1995). Ngày nay thuốc lá được trồng rộng rãi ở các điều kiện tự nhiên khác nhau, khác hẳn nơi nguyên thủy của nó. Phạm vi phân bố của cây thuốc lá từ 30 vĩ độ Nam đến 45 vĩ độ Bắc (Steinberg và ctv 1958). Thuốc lá đem lại lợi ít kinh tế cho nhiều quốc gia. Nhiều tổ chức thuốc lá độc quyền, cũng như các hãng độc quyền sản xuất thuốc điếu, nguyên liệu chế biến, thương mại, dịch vụ …được hình thành, nhằm khai thác triệt để lợi ít của cây thuốc lá (Lê Đình Thụy và ctv, 1996). Tổng sản lượng các loại thuốc lá hàng năm trên thế giới khoảng 6,44 triệu tấn, chiếm diện tích khoảng 5,14 triệu ha (0,5% tổng diện tích trồng trọt trên thế giới), trong đó gần 5,39 triệu tấn (64%) là thuốc lá vàng sấy. Tập trung lớn ở những quốc gia sau: Thuốc lá vàng: Trung Quốc 2.800.000 tấn, Mỹ 575,389 tấn, Brazil 398.000 tấn, Zimbabwe 209.042 tấn, Ấn Độ 524.500 tấn, ngoài ra phải kể đến các quốc gia 4 khác có sản lượng thuốc lá cao là Indonesia 171.400 tấn, Greece 131.875, Malawi 130.686 tấn, Italy 130.400 tấn (Vinataba, 2006). Ở Việt Nam, một số tài liệu cho rằng cây thuốc lá được trồng từ thời vua Lê Thần Tông, do các thương nhân Tây ban Nha đem tới. Nghề trồng thuốc lá chính thức phát triển vào năm 1876 tại Gia định, 1899 tại Tuyên Quang và đã sản xuất thuốc điếu ở Hà nội. Thuốc Virginia được trồng ở nước ta tương đối muộn: năm 1935 trồng thử ở An Khê, năm 1940 trồng ở các tỉnh miền Bắc với giống ban đầu là Virginia Blond Cash (Phạm Kiến Nghiệp và ctv, 1996). • Trước năm 1954 việc sản xuất thuốc lá chỉ mang tính tự cấp tự túc (Phạm kiến Nghiệp, 1983). • Từ năm 19541975: Miền Bắc: sản lượng mỗi năm khoảng 10.00012.000 tấn chủ yếu tập trung ở một số vùng chuyên canh như Cao bằng, Lạng Sơn và giống là Virginia đã bị thoái hóa nghiêm trọng. Miền Nam: do không được quan tâm nên việc sản xuất thuốc lá chỉ mang tính tự cung, tự cấp trong nông thôn. Các nhà máy thuốc điếu như MIC (nay là nhà máy thuốc lá Sài Gòn ), BASTOS ( nay là nhà máy thuốc lá Vĩnh Hội) phải nhập 7.000 tấn thuốc lá nguyên liệu năm (trong đó có 3.500 tấn là thuốc Virginia từ Zimbabwe, Mỹ …(Lê Đình Thụy và ctv, 1996). • Sau năm 1975: Việc trồng và chế biến nguyên liệu được chú ý, vì thế sản lượng thu mua hàng năm được trên 20.000 tấn. Vụ 2004 2005, diện tích gieo trồng cả nước khoảng 11.941ha, trong đó thuốc lá vàng sấy là 11.681ha, sản lượng chế biến đạt 39.000 tấn. Theo số liệu của Hiệp hội Thuốc lá Việt Nam, hiện có khoảng 160.000 lao động tham gia vào ngành trồng thuốc lá, và hơn 20.000 người hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh các sản phẩm thuốc lá. Ngành công nghiệp thuốc lá tại Việt Nam chỉ đứng thứ hai sau dầu khí về thành tích đóng thuế hàng năm. Năm 2004, ngành thuốc lá nộp vào ngân sách 5 nhà nước khoảng 6.300 tỷ đồng tiền thuế. Kết thúc quí I2006 cả nước gieo trồng được khoảng 13.378ha, trong đó thuốc lá vàng sấy khoảng 11.0876ha (Tổng Cty Thuốc Lá VN, 2006). 2.1.2. Phân loại Theo Hawks (1993), Cây thuốc lá thuộc họ Solanacae L., giống Nicotiana. Người ta phát hiện khoảng 70 100 loài thuốc lá. Phần lớn là dạng cây cỏ, còn lại một số ít loại hình thân đứng, sống từ 1 2 năm. Tuy nhiên loài được trồng, sử dụng phổ biến và có giá trị kinh tế cao nhất là N. tabacum L. Việc phân loại dựa vào các đặc điểm hình thái, kiểu và chất lượng lá thuốc, nguồn gốc phát sinh…Viện giống cây trồng Vavilov căn cứ vào kiểu và chất lượng lá, giá trị kinh tế, và sinh thái của cây đã phân chia loài N. tabacum thành 5 loài phụ: Oriental, American, Southern, Island, Asian (Nguyễn Hữu Dũng, 1992). 2.1.3. Giá trị kinh tế và sử dụng Thuốc lá là cây công nghiệp ngắn ngày, sản phẩm thu được từ cây thuốc lá có giá trị kinh tế cao và là nguồn thu ngân sách đáng kể của nhiều quốc gia trên thế giới (Nguyễn Ngọc Bích, 2007) . Ở Bungari, lợi nhuận cho người trồng thuốc đạt từ 29 – 35%, Các nước cộng hòa thuộc Liên Xô củ cũng cho thấy lợi nhuận đạt từ 20 – 47% cho nghề trồng thuốc lá. So với một số cây trồng khác ở Zimbabwe, Malawi, và Brazil, tổng thu nhập của cây thuốc lá đạt ở mức độ rất cao (Lê Đình Thụy và ctv, 1996). Sản phẩm chính của cây thuốc lá là sản xuất ra các loại thuốc hút, nhai ngửi. Nhưng giá trị sử dụng của cây thuốc lá ngày nay không chỉ hạn trong việc hút thuốc mà còn được sử dụng ở một số lĩnh vực khác. Theo Hawks và ctv (1993), Loại hình thuốc lá thuộc nhóm giống N. rustica L thường có hàm lượng Nicotin rất cao (4 5%), hoặc là tận dụng các loại phế thải như thân cây thuốc lá để sản xuất ra Sulfat Nicotin, có tác dụng tốt trong việc phòng trừ sâu bệnh trên đồng ruộng. Từ thân và lá thuốc lá, giáo sư R.L.Wain (Anh) đã chiết xuất được sclareol và 13epi sclareol có tác dụng phòng trừ được bệnh rỉ sắt trên cây họ đậu (Lê Đình Thụy và ctv, 1996). 6 Kovsen (1971) cho rằng trong công nghiệp hóa, dược, thực phẩm cũng đã sử dụng nhiều hóa chất thu được từ cây thuốc lá: sản xuất nước hoa từ hoa thuốc lá, axit nicotinic, axit xitơric lấy từ cây thuốc lá nhiều hơn gấp 2 – 3 lần so với cam, chanh để sử dụng vào công nghiệp thực phẩm. Từ hạt thuốc lá người ta cũng chiết xuất được 35 – 40% dầu sử dụng trong công nghiệp (Trích dẫn bởi Lê Đình Thụy và ctv, 1996). Cũng Lê Đình Thụy và ctv (1996) ghi nhận ở Liên bang Nga, Modavi đã tận dụng thân cây thuốc lá để chế biến thành thức ăn gia súc có giá trị dinh dưỡng cao. Các nước thuộc khối Nam Tư củ, Hy Lạp thu được 12 – 15% protein cao cấp trong cây thuốc lá để sử dụng làm thực phẩm. Ngoài ra, các phế thải của cây thuốc lá, trong quá trình chế biến gồm có vụn, bụi đã được tận dụng làm thuốc lá Folio và còn chế biến được thành phân hữu cơ. Về mặt nghiên cứu, cây thuốc lá được coi là đối tượng để thể nghiệm các nghiên cứu sinh học. Các nghiên cứu về nuôi cấy mô (công nghệ sinh học ở cấp độ thấp), về sinh học phân tử đã thành công ở cây thuốc lá. Ngày nay ở các nước Mỹ, Pháp, Canada đã mở rộng việc cấy chuyển gen thuốc lá để thu hoạch năng suất cao và chống lại các độc hại của các loại hóa chất trừ cỏ, trừ sâu bệnh. Chắc chắn cây thuốc lá còn nhiều công dụng khác để phục vụ cho nhu cầu xã hội. 2.1.4. Giống Giống thuốc lá vàng sấy hiện có ở Việt Nam gồm rất nhiều giống: các giống địa phương, các giống nhập nội và các giống đã được khu vực hóa. Do có khá nhiều giống được sử dụng qua nhiều năm liên tục nên công tác chọn giống, phục tráng giống chưa tiến hành tốt, nhất là các giống địa phương. Điều này dẫn đến một số giống bị thoái hóa, mất đi các đặc tính tốt như: kháng bệnh, năng suất cao, phẩm chất tốt … Từ năm 1989 đến nay Tổng công ty thuốc lá Việt Nam đã nhập nội và trồng khảo nghiệm hàng trăm giống như: K51E, KE1, Coker 176, Coker 411, NC95, K326, K346, K399, RG8, MS1…. 7 Nhưng trong những năm gần đây các vùng trồng thuốc lá của Việt Nam chỉ trồng chủ yếu là 2 giống C176, và K326. Và hiện 2 giống này bị nhiễm bệnh virus ne ngọn xoăn đọt rất nặng. 2.1.5. Thời vụ Cây thuốc lá ở Tây Ninh chủ yếu được trồng trong vụ đông xuân, gieo từ tháng 10 đến tháng12, thu hoạch và sơ chế vào cuối tháng 12 đến tháng 5. Theo nguyên tắc là tranh thủ các tháng cuối mùa mưa, khi lượng mưa giảm dần, ẩm độ trong đất còn cao có thể đưa cây thuốc ra trồng. Từ vụ 2002 trở về trước, thời vụ này được chia làm ba đợt trồng: Đợt 1: Gieo cây con vào giữa đến cuối tháng 9, trồng từ đầu tháng 11 đến giữa tháng 11, chủ yếu trồng trên đất cao, thoát nước tốt, do còn những cơn mưa cuối mùa. Ưu điểm của đợt trồng này là tranh thủ được những cơn mưa cuối vụ, và tránh tình trạng động (dồn) lò sấy, nhưng rất khó khăn trong khâu chăm sóc. Đợt 2: Gieo cây con trong tháng 10 và trồng từ giữa tháng 11 đến giữa tháng 12. Đây là đợt trồng chính, tương đối thuận lợi trong việc gieo trồng và thu hoạch nên có diện tích khá lớn, phần lớn diện tích chủ yếu được trồng trên nền đất lúa (thấp). Đợt 3: Gieo cây con từ giữa đến cuối tháng 11 và trồng từ giữa đến cuối tháng 1, trồng trên đất tương đối cao dễ thoát nước để tránh những cơn mưa sớm đầu vụ năm sau. Tuy nhiên từ 2003 trở lại đây, cây thuốc lá ở Tây Ninh hầu như chỉ được trồng trong một đợt duy nhất đó là đợt trồng trong tháng 1 và thu hoạch – sơ chế vào khoảng tháng 35. Do cây thuốc lá bị dịch bệnh virus ne ngọn xoăn đọt nặng nề trong các đợt trồng trước. Nên chủ trương của Tổng công ty thuốc lá là né vụ. 2.1.6. Dịch hại chính trên cây thuốc lá Giống như các loại cây trồng khác, dịch hại luôn là yếu tố hạn chế năng suất, chất lượng của nguyên liệu thuốc lá từ lúc gieo ươm, trồng trên ruộng, trong lò sấy và trong quá trình bảo quản. Chỉ tính riêng trong giai đoạn trồng trọt, thiệt hại hàng năm do sâu, bệnh hại gây ra cho cây thuốc lá khoảng 20% (Shew và ctv, 2001). Theo Lucas (1975), bệnh thối đen thân (Phytopthora nicotinae) gây thiệt hại cho 8 ngành thuốc lá ở Mỹ năm 1973 khoảng 7 triệu USD, và trong những thập niên 1940 – 1950 bệnh sưng rễ gây thiệt hại cho ngành thuốc lá ở North Carolina hàng năm khoảng 5 triệu USD. Lê Đình Thụy và ctv (1996) cho rằng thiệt hại do bệnh và sâu gây ra cho cây thuốc lá hàng năm ở Việt Nam khoảng 23 – 30%. Tương đương khoảng 100 tỉ đồng (Nguyễn Văn Biếu, 2002). 2.1.6.1. Bệnh hại Theo Lucas (1975), trên cây thuốc lá có mấy nhóm bệnh chính như sau: 5 bệnh do tuyến trùng gây ra, 20 bệnh do nấm, 7 bệnh do vi khuẩn, và virus là 17 bệnh. Theo Nguyễn Văn Biếu (2002), bệnh trên cây thuốc lá thường gặp là: Bệnh do tuyến trùng: bệnh sưng rễ do tác nhân là giống tuyến trùng Meloidogyne sp.; Bệnh do nấm: bệnh chết rạp cây con do tập hợp nấm Rhizoctonia spp, Pythium spp gây ra; bệnh lở cổ rễ Rhizictonia solani, bệnh đóm mắt ếch Cercospora nicotianae Ellis et Everthart, bệnh đen thân Phytopthora parasitica Dastur var nicotinae (Breda de Hann), bệnh héo khô Sclerotium rolfsii Sacc., bệnh héo vàng Fusarium oxysporium Schlectend ex. Fr. F. sp. nicotianae (J. johnson) W. C Snyder H. N. Hans; Bệnh do vi khuẩn: Bệnh héo xanh Pseudomonas solanacearum E. F. Smith; Nguyễn Thơ (2002) ghi nhận trên cây thuốc lá ở Tây Ninh có các bệnh virus sau: TMV, CMV, TSWV, TLCV, PVY. 2.1.6.2. Côn trùng John và ctv (1999) ghi nhận trên cây thuốc lá ở Virginia có khoảng 10 loài gây hại: Myzus nicotianae, Agrotis ipsilon, Limax spp, Epitrix hirtipennis, Cotinis nitida, Heliothis virescens, Manduca sexta, Euschistus servus, Melanoplus spp. Ở phía BắcViệt Nam có khoảng 14 loài sâu hại cây thuốc lá: sâu xanh Helicoverpa assulta, sâu khoang Spodoptera litura, sâu xám Agrotis ypsilon, sâu đo Anomis flara, bọ phấn Bemisia tabaci, bọ trĩ Thrip tabaci, rệp đỏ Myzus nicotianae, rệp xanh Myzus persicae, bọ xít xanh Nevara viridula L., dế mèn Brachytrupes spp., dế trũi Gryllotalpa sp., bọ gạo Platymycletus sp., châu chấu Oxya spp., sâu đục thân (Nguyễn Văn Biếu và ctv, 2005). Còn theo Nguyễn Ngọc Bích (2005), thành phần 9 sâu hại chính ở các vùng trồng thuốc lá phía Nam gồm sâu xanh Helicoverpa assulta, sâu khoang Spodoptera litura, bọ cánh cứng, rệp Myzus sp., bọ trĩ Thips sp, bọ phấn Bemisia sp. 2.2. Bọ phấn Bemisia tabaci (Gennadius) 2.2.1. Giới thiệu Có trên 1400 loài bọ phấn được ghi nhận ở trên thế giới. Bọ phấn thuốc lá (tobacco whitefly) Bemisia tabaci (Gennadius) thuộc họ Aleyrodidae, bộ Homoptera, còn có tên khác là sweetpotato whitefly, cotton whitefly hay cassava whitefly. Bemisia tabaci được mô tả cách nay hơn 100 năm và từ khi nó trở thành một trong những loài dịch hại quan trọng nhất trên thế giới, ở những vùng nông nghiệp nhiệt đới và cận nhiệt đới cũng như trong những hệ thống sản xuất trong nhà kính. Nó dễ dàng thích nghi với những cây ký chủ mới, những vùng địa lý mới (Oliveira và ctv, 2001) và hiện nay nó được báo cáo là có mặt khắp mọi nơi trên thế giới ngoại trừ Nam Cực (Martin và ctv, 2000). Gennadius (1889) ghi nhận B. tabaci xuất hiện đầu tiên ở Greece vào năm 1889 trên cây thuốc lá và được đặt tên là Aleyrodes tabaci tên thông dụng tobacco whitefly. 2.2.2. Thiệt hại kinh tế Theo Quaintance (1900), Con B. tabaci đầu tiên bắt được ở Mỹ trên cây khoai lang được mô tả dưới tên là Aleyrodes inconspicua Quaintance và tên thông dụng là sweetpotato whitefly (trích dẫn bởi Oliveira và ctv, 2001). Vào năm 1928 nó được phát hiện ở Brazil trên cây Euphorbia hirtella và được mô tả dưới tên là B. costalimai Bondar (Mound và ctv, 1978). Năm 1933 loài này được mô tả ở Đài Loan với tên là B. hibisci (Mound và ctv, 1978). Bọ phấn được phát hiện ở Florida năm 1900. Là loài dịch hại phổ biến trên cây bông vải ở Mỹ, bộc phát vào cuối thập niên 1920 và đầu thập niên 1930 trên cây bông vải ở Ấn Độ và tiếp theo lần lược là Sudan và Iran vào thập niên 1950, El Salvador vào thập niên 1961, Mexico 1962, Brazil 1974, Turkey 1968, Israel 1976, Thailand 1978, Arizona, và California 1981 (Horowitz, 1986). Vào năm 19721973 ở Brazil B. tabaci gây hại nặng nề trên cây 10 đậu nành (Kogan và ctv, 1987), và bằng kỹ thuật phân tích RAPD đã xác định được hai loài bọ phấn gây hại chính là B. tabaci và B.argentifolii (Myrian và ctv , 2000), ở Indonesia 19811982 (Samudra and Naito, 1991). Trong nhà kính B. tabaci được ghi nhận là đã gây thiệt hại nghiêm trọng cho cây rau ở Thổ Nhĩ Kỳ vào năm 1974, trên cây hoa trạng nguyên ở Mỹ năm vào 1986 (Perring và ctv, 1993) và năm 1989 ở Nhật (Ohto 1990), có tính kháng cao với thuốc trừ sâu. Bọ phấn thuốc lá, là một loài côn trùng ăn tạp, có mặt trên khắp thế giới (Greathead, 1986; Mound và ctv, 1978), từ vùng nhiệt đới, bán nhiệt đới cho đến những vùng phía bắc và phía nam Châu Âu, Nhật Bản, và cả Nam Mỹ (Hill 1987). Có lẽ nó có nguồn gốc từ Phương Đông hoặc Đông Nam Á (Mound và ctv, 1978) vì có một số bằng chứng cho rằng B. tabaci có thể có xuất xứ từ Ấn Độ hay Pakistan vì đó là những nơi mà nhiều loài ký sinh B. tabaci được tìm thấy, đây là một tiêu chuẩn tốt nhất để để xác định trung tâm khởi nguồn của một giống (Brown và ctv, 1995). Ellsworth (1999) cho rằng thật khó ước tính được thiệt hại kinh tế do B. tabaci gây ra cho nền nông nghiệp thế giới, vì rất nhiều vùng bị ảnh hưởng, nhiều cây trồng có liên quan và nhiều hệ thống tiền tệ khác nhau. Trong mấy thập kỷ qua B. tabaci gây thiệt hại nghiêm trọng cho nhiều loại cây trồng làm giảm năng suất và chất lượng. Bên cạnh đó làm tăng chi phí phòng trừ, giá trị thương phẩm và lợi nhuận của sản phẩm giảm (trích dẫn bỡi Oliveira và ctv, 2001). Theo Fishpool và ctv (1994); Francisco (2008) B. tabaci là một loài dịch hại quan trọng, gây thiệt hại năng suất và kinh tế cho nhiều loại cây trồng, có phạm vi ký chủ rộng trên nhiều họ thực vật khác nhau. Mound và ctv (1978) đã liệt kê có khoảng 600 loài cây trồng thuộc 63 họ (Asteraceae, Brassicaceae, Convolvulaceae, Cucurbitaceae, Euphorbiaceae, Fabaceae, Malvaceae, Solanaceae, ….) bị B. tabaci tấn công. Nó không những gây hại trực tiếp bằng cách chích hút dịch cây, làm giảm chiều cao cây, kích thước lá, số lá, và năng suất khô của cây, mà còn gây hại gián tiếp cho cây bằng chất bài tiết, chất bài tiết này là môi trường thích hợp cho nấm bồ hóng phát triển (sooty mold fungus) như Cladosporium và Alternaria spp., làm giảm khả năng quang hợp của cây. Ngoài ra, bọ phấn thuốc lá cũng là một môi giới truyền bệnh virus quan trọng cho cây trồng 11 (Byrne và ctv, 1990). B. tabaci là môi giới cho trên 100 loài virus hại cây trồng thuộc các giống Begomovirus (Geminiviridae), Crinivirus (Closteroviridae), Carlavirus hoặc Ipomovirus (Potyviridae) (Jones, 2003), là một loại virus dạng hình roi (Markham và ctv, 1994). Trong đó Begomovirus là loài virus phổ biến nhất có thể gây thiệt hại cho năng suất từ 20100% (Brown và ctv, 1992). Khi cây bị bọ phấn tấn công sẽ gây ra một hoặc nhiều triệu chứng kết hợp như gây ra những đóm vàng trên lá, gân chính và gân phụ cũng bị vàng, lá xoăn, lá bị khảm vàng, lá nhăn lại, gân lá dầy lên, phiến lá gồ lên, và khum lại, thân cây vặn lại, gây rụng lá và cây kém phát triển. Những triệu chứng này thường gặp trên cây cà chua (TYLCV), bông vải (CoLCV), khoai mì (ACMV), thuốc lá (TLCV), dưa hấu (WCSV), bí (SLCV), đậu (BGMV) (CABI, 2007), hoặc gây bạc lá trên một số cây thuộc họ bầu bí (Morris, 2007). Ogbe và ctv (1997) cho rằng B. tabaci là môi giới truyền bệnh ACMV trên cây khoai mì ở Nigeria gây thiệt hại năng suất từ 32 – 69%. Phạm vi ảnh hưởng và khả năng gây hại của B. tabaci thay đổi theo loài cây trồng, mùa vụ và theo vùng. Một số loài cây trồng bị lây nhiễm nghiêm trọng ở vùng này nhưng có thể không bị gây hại ở vùng khác. Ví dụ: B. tabaci là đối tượng gây hại nghiêm trọng trên cây bông vải ở Sudan nhưng không phải là vấn đề nghiêm trọng trên cây bông vải ở Ai Cập. Cây khoai mì ở Châu Phi bị ảnh hưởng nghiêm trọng nhưng không bị gây hại ở Nam Mỹ (Oliveira và ctv, 2001). 2.2.3. Đặc điểm hình thái và sinh học của bọ phấn 2.2.3.1. Trong nước Hình thái Trần Quốc Kỳ (2007); Quang Hiển (2008) ghi nhận thành trùng bọ phấn: toàn thân và cánh được phủ bởi một lớp phấn màu trắng, mắt kép có một rãnh ngang chia thành hai phần gần giống hình số tám, râu đầu có sáu đốt, chân dài và mảnh, bụng có chín đốt, dạng hình ong do đốt thứ nhất hơi thót, ống đẻ trứng giống như một mũi khoan. Sâu non tuổi 1 màu vàng nhạt, khi mới nở có chân gồm 4 đốt, có rầu đầu 3 đốt, có mắt nhỏ và 2 đóm vàng. Ấu trùng tuổi 1, thường di chuyển vài cm dưới mặt lá, rồi ở cố định một chỗ dưới mặt lá. Sau khi lột xác chuyển sang tuổi 2, sâu non 12 không còn chân, có thể nhìn rõ mắt kép và râu đầu. Ấu trùng tạo tiết sáp xung quanh cơ thể, giúp chúng bám chặt vào bề mặt lá. Trứng: hình trứng thon dài, có cuống, màu trắng vàng trong suốt sau đục dần và nâu xám. Sinh học Vòng đời bọ phấn B. tabaci dao động trong khoảng 26 29 ngày, trung bình 23,8 ngày (Trần văn khải, 2006). Thời gian phát dục của bọ phấn ở các giai đoạn trước trưởng thành kéo dài 19,75 ngày. Khả năng sinh sản của bọ phấn trung bình 89,7 trứng. Thời gian đẻ trứng kéo dài trung bình là 6,7 ngày. Khả năng sống sót của giai đoạn trước trưởng thành là 81,25% (Trần Đình Phả và ctv, 2008). Theo Huỳnh Quan Huy (2005), ký chủ ưa thích của B. tabaci phần lớn là rau màu, đậu nành, bầu, bí, cà chua, cà phổi. Cả ấu trùng và thành trùng đều chích hút nhựa cây làm chết mô thực vật, và tiết nước bọt làm lan truyền mầm bệnh, đặc biệt là virus gây bệnh xoăn lá cà chua, gây thất thu 90% năng suất. Trần Đình Phả và ctv (2008) ghi nhận bọ phấn gây hại cà chua trong suốt vụ từ khi trồng cho đến khi thu hoạch. Mật số bọ phấn tăng dần từ khi trồng cho đến cuối vụ. Mật số thành trùng bọ phấn thay đổi theo từng vùng sinh thái khác nhau và chế độ xen canh khác nhau. 2.2.3.2. Ngoài nước Hình thái Theo CABI (2007) Trứng có chiều dài khoảng 0,2mm có hình dạng trái lê, đứng dính vuông gốc với mặt lá nhờ vào cuống ghim vào khe nhỏ trên mô lá. Khi mới đẻ có màu trắng nhạt sau đó sẽ chuyển sang màu nâu trước khi nở. Ấu trùng gồm 4 giai đoạn: lúc mới nở (tuổi 1): dẹp, hình ô van, hình dáng giống như cái vẩy; sau khi nở, ấu trùng bò trên mặt lá khoảng vài giờ và ở cố định lại một chổ để hút nhựa cây; sau khi lột xác lần đầu, ấu trùng không còn chân, rụng cuống, dùng vòi hút bám chặt vào lá, không di chuyển. 13 Nhộng (tuổi 4) có chiều dài khoảng 0,7mm. Trên những lá trơn láng nhộng không có gai lưng, nhưng trên lá có nhiều lông thì nhộng có từ 2 8 gai lưng dài. Có 2 đóm mắt màu đỏ mà sau này trở thành mắt của thành trùng Trứng Ấu trùng và nhộng Thành trùng Hình 2.1: Các pha phát triển khác nhau của bọ phấn B. tabaci. (USDA, 2007) Thành trùng nở ra thông qua ngấn lột xác hình chử T trên da nhộng và trải rộng cánh trong khoảng vài phút trước khi cánh được phủ phấn bằng chất sáp bài tiết từ tuyến đặc biệt trên bụng, cơ thể có màu vàng nhạt hoặc trắng nhạt. Thành trùng dài khoảng 0,8 1mm, là loại côn trùng nhỏ, mềm giống như con bướm, hai cặp cánh được phủ một lớp bột sáp màu trắng, khi nghĩ ngơi hai đôi cánh này xếp lại phía sau bụng như mái liều che cơ thể. Theo USDA (2009) cơ thể thành trùng có phủ nhiều gai nhỏ, râu dài 7 đốt, mắt kép chia thành 2 phần lưng và bụng hoặc hợp lại thành một. phần miệng kéo dài và phát triển thành kim chích hút nhựa cây (trích dẫn bởi Ebenezer, 2008). Tùy thuộc vào nhiệt độ, ẩm độ, cây ký chủ, sau 5 9 ngày trứng sẽ nở thành ấu trùng. Ba giai đoạn đầu, mỗi giai đoạn kéo dài khoảng 2 4 ngày tùy theo nhiệt độ. Giai đoạn thứ 4 (giai đoạn nhông) kéo dài khoảng 6 ngày và đây cũng là giai đoạn có thể phân biệt giữa các loài. Nhộng thường phân tán và mật số trên mỗi lá thường thấp, ngoại trừ trên những lá trơn láng (Malumphy, 2008). Sinh học Tất cả các giai đoạn sống của bọ phấn đều tìm thấy ở dưới mặt lá. Bọ phấn phá hại bằng cách hút nhựa cây (John, 2008). Con đực hơi nhỏ hơn con cái. Tuổi thọ 14 của thành trùng bọ phấn từ 2130 ngày, tùy thuộc vào nhiệt độ, cây ký chủ (Coudriet và ctv, 1985; Butler và ctv, 1983). Ở nhiệt độ cao >200C con cái sống khoảng 1015 ngày, Nhiệt độ thấp 70%, nhưng sau đó hiệu lực giảm dần. Ngoại trừ tamaon 60 SL, sau 10 ngày sử dụng tamaon 60 SL vẫn có có khả năng phòng trừ bọ phấn (49,39%). Muhammad và ctv (2003) trong một thí nghiệm sử dụng acetamiprid, imidacliprid, fenpropathrin và diafenthiuran phòng trừ bọ phấn trên cây bông vải. Kết quả là hai loại thuốc diafenthiuran và acetamiprid vẫn có hiệu lực giữ bọ phấn dưới ngưỡng kinh tế sau 7 ngày sử dụng. Theo Elfadil (2008), ngưỡng kinh tế củ của bọ phấn trên cây bông vải là 200 con thành trùng100 lá và ngưỡng mới là 600 con 100 lá. Còn theo Pedigo (1996), việc lạm dụng thuốc hoá học để phòng trừ bọ phấn của người nông dân đã gây ô nhiễm môi trường và gây nên những hiện tượng đột biến gen, ung thư và quái thai (trích dẫn bởi Muhammad và ctv, 2004). Nên Muhammad và ctv (2004) đã đưa vào thử nghiệm một số chất thân thiện với hệ sinh thái như: dầu mù tạc, bột giặt, tennery effluent và buprofezin để phòng trừ bọ phấn. Kết quả cho thấy dầu mù tạc có hiệu lực phòng trừ bọ phấn cao hơn cả so với các chất khác và hiệu lực kéo dài đến 7 ngày sau sử dụng. Tuy nhiên, thành trùng và ấu trùng bọ phấn thường nằm ở dưới 20 mặt lá nên thuốc hóa học khó có tác dụng đối với chúng. Do đó việc dùng thuốc hóa học để kiểm soát bọ phấn thì thường tốn chi phí và không mấy có hiệu quả đồng thời gây nên tính kháng thuốc ở bọ phấn. Các loại thuốc trừ sâu nhóm điều hòa sinh trưởng như buprofezin và pyriproxyfen được đưa vào sử dụng trên cây bông vải ở Arizona vào năm 1996 sau khi bọ phấn kháng mạnh với các loại thuốc trừ sâu thuộc nhóm cúc tổng hợp và các loại thông thường (Dennehy và ctv, 1996). Những nghiên cứu gần đây cho thấy rằng B. tabaci đã kháng với các loại thuốc trừ sâu nhóm lân hữu cơ và cúc tổng hợp (Prabhaker và ctv 1985). Gloria và ctv (2005) nhận thấy rằng khi dùng benzo1,2,3thiadiazole7carbothioic acidSmethyl ester (BTH hoặc acibenzolarSmethyl) phun trên cây cà chua để phòng trừ bọ phấn đã gây nên tính kháng cục bộ ở bọ phấn. Thuốc hóa học là một phát minh vĩ đại của loài người trong thế kỹ 21. Tuy nhiên cùng với lợi ít mang lại, cũng đã thể hiện những hậu quả xấu đối với con người và môi trường sinh thái, đi ngược lại nỗ lực nhằm xây dựng một nền nông nghiệp sạch và bền vững. Sử dụng thuốc BVTV là cần thiết nhưng phải dựa trên cơ sở khoa học và các nguyên tắc sinh thái, theo yêu cầu và nội dung của IPM (Phạm Văn Biên và ctv, 2000). Sinh học: việc quá lạm dụng thuốc hóa học để phòng trừ bọ phấn, đã dẫn đến sự kháng thuốc và tạo ra nhiều nòi sinh học mới. Nên nhiều nghiên cứu hướng vào việc dùng các loài thiên địch trong tự nhiên để phòng trừ bọ phấn (Gerling, 1990; Gerling và ctv, 2001; van Lenteren và ctv, 1999). Tuy nhiên sử dụng biện pháp sinh học để kiểm soát bọ phấn thì rất khó khăn, ngoại trừ phát hiện sớm sự xuất hiện của bọ phấn (Susan và ctv, 2001). Coudriet và ctv (1985) dùng chất trích hạt cây neem với nồng độ 0,2 2% có tác dụng làm hư trứng, giảm khả năng sinh sản, kéo dài giai đoạn ấu trùng, và diệt được ấu trùng bọ phấn. Dùng Biosoap là một sản phẩm từ chất trích cây thuốc lá có khả năng giết chết 78 94% bọ phấn mà không ảnh hưởng đến các loài thiên địch và ngăn chặn tính kháng với các loại thuốc trừ sâu (Chaudhry, 1993). 21 Meekes và ctv (2002) cho rằng các loài Aschersonia có thể sử dụng như những tác nhân sinh học để phòng trừ B. tabaci and T. vaporariorum. Fransen (1990) cho rằng có 4 loài nấm gây bệnh côn trùng được ghi nhận là có khả năng tấn công b
Trang 1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
************
ĐOÀN NGUYỄN KIẾN TRÚC
NGHIÊN CỨU SỰ GÂY HẠI CỦA BỌ PHẤN (Bemisia tabaci
Gennadius) VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU LỰC CỦA MỘT SỐ THUỐC
TRỪ SÂU ĐỐI VỚI CHÚNG TRÊN CÂY THUỐC LÁ VÀNG SẤY
TẠI TÂY NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 10/2009
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
************
ĐOÀN NGUYỄN KIẾN TRÚC
NGHIÊN CỨU SỰ GÂY HẠI CỦA BỌ PHẤN (Bemisia tabaci
Gennadius) VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU LỰC CỦA MỘT SỐ THUỐC
TRỪ SÂU ĐỐI VỚI CHÚNG TRÊN CÂY THUỐC LÁ VÀNG SẤY
TẠI TÂY NINH
Mã số: 60.62.10 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Hướng dẫn Khoa học:
TS TRẦN TẤN VIỆT
Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 10/2009
Trang 3Tháng 9 năm 2007 theo học cao học ngành Bảo Vệ Thực Vật tại Đại học Nông Lâm, Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh
Tình trạng gia đình: có gia đình, vợ: Nguyễn Thị Giáng Kiều, năm kết hôn 2003, con Đoàn Nguyễn Nhã Nguyệt, sinh năm 2005
Địa chỉ liên lạc: Ấp 4 - Bàu Đồn – Gò Dầu – Tây Ninh
Điện thoại: 0663.857601 – 0937615193
Email: ktructl@yahoo.com.vn
Trang 4
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và
Chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Đoàn Nguyễn Kiến Trúc
Trang 5
CHÂN THÀNH CẢM TẠ
- Ba, mẹ đã sinh ra, nuôi nấng và dạy dỗ con cho đến ngày hôm nay
- Cám ơn em, người vợ yêu quí của tôi, đã cực khổ nuôi nấng con tôi và động viên tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn tất luận văn tốt nghiệp này
- Hai em tôi đã động viên và giúp đỡ tài chính cho tôi trong suốt quá trình học tập
- Ban giám hiệu, phòng đào tạo Sau Đại Học, khoa Nông Học, quí thầy cô trường đại học Nông Lâm TPHCM
- TS Trần Tấn Việt, trưởng khoa Nông Học, trường Đại Học Nông Lâm TPHCM đã cung cấp tài liệu, giúp đỡ và tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
- Thầy Trần Quí Tuần, giám đốc chi nhánh Cty TNHH một thành viên Viện KTKT thuốc lá TPHCM đã tận tình giúp đở, động viên tôi trong suốt quá trình làm việc và học tập
- Cô Nguyễn Thị Thu Cúc khoa sinh học trường ĐH Cần Thơ và cô Võ Thị Thu Oanh bộ môn BVTV khoa Nông Học trường Đại Học Nông Lâm TPHCM đã giúp đỡ định danh các mẫu côn trùng và nấm ký sinh bọ phấn
- Bạn bè đã cung cấp tài liệu và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Tây Ninh ngày tháng năm 2009
Đoàn Nguyễn Kiến Trúc
Trang 6
TÓM TẮT
Đề tài: “Nghiên cứu sự gây hại của bọ phấn (Bemisia tabaci Gennadius) và đánh
giá hiệu lực của một số thuốc trừ sâu đối với chúng trên cây thuốc lá vàng sấy tại Tây Ninh” được tiến hành tại tỉnh Tây Ninh từ tháng 11/2007 - 4/2009 Đề tài có 6 nội dung được nghiên cứu nhằm mục đích ngăn chặn bọ phấn là môi giới truyền bệnh virus trên cây thuốc lá vàng sấy tại tỉnh Tây Ninh Qua điều tra 150 hộ nông dân, đa số người sản xuất (60 - 90 %) ít hiểu biết về bọ phấn Nông dân sử dụng chủ yếu thuốc hóa học để phòng trừ bọ phấn (>90%), hoạt chất được sử dụng nhiều nhất là imidacloprid (70%) và đều sử dụng quá liều khuyến cáo (> 85%) Bọ phấn xuất hiện trên cây thuốc lá khoảng 7 ngày sau trồng và mật số đạt đỉnh cao lúc 35 ngày sau trồng Bên cạnh đó, phổ ký chủ của bọ phấn được ghi nhận là 12 loài cỏ dại thuộc 9 họ và 16 loài cây trồng thuộc 8 họ Trong đó, họ Cucurbitaceae và Solanaceae là loài ký chủ ưa thích nhất của bọ phấn Thành phần thiên địch của bọ phấn được xác định là 4 loài săn mồi: Ruồi săn mồi (Họ:
Sciomyzidae), chuồn chuồn cỏ (Suarius sp.), bọ xít thuốc lá (Macrolophus sp.), nhện (Argiope sp.); một loài ong ký sinh (Encasia bimaculata.) và một loài nấm ký sinh (Paecilomyces sp.) Khảo sát 5 giống thuốc lá nhằm tìm ra một giống tương đối ít mẫn
cảm với bọ phấn và bệnh virus ne ngọn & xoăn đọt Kết quả cho thấy giống NC17 ít mẫn cảm với bọ phấn và bệnh virus ne ngọn & xoăn đọt 5 loại hoạt chất được đánh giá
để phòng trừ bọ phấn là: thiamethoxam, emamectin benzoate, cypermetrin, abamectin,
Bacillus thuringiensis Tất cả các hoạt chất trên đều có hiệu lực phòng trừ bọ phấn với
nhiều mức độ ý nghĩa khác nhau so với nghiệm thức đối chứng (không phun) Thiamethoxam cho hiệu quả phòng trừ bọ phấn cao nhất đạt 79,54% ở 1 ngày sau phun, sau đó hiệu lực của thuốc giảm dần còn 16,29% ở 10 ngày sau phun
Trang 7
SUMMARY
Thesis were carried at Tay Ninh province, from November 2007 to April 2009, aiming at preventing virus transmitted by whitefly 150 farm households were interviewed on their knowledge of whitefly pest Result showed that 60 – 90 % of them didn’t know about whitefly More 80% farmers used insecticides to control whitefly, with high dosage, in which imidaclopid was common used Whitefly occurred at 7 days after planting and they reached the peak at 35 days after planting Whitefly was found in
12 plant species which was growed in the area Natural enemies of whitefly found in
field were four predator species: fly (family: Sciomyzidae), lacewing (Suarius sp.), tobacco mirid (Macrolophus sp.), spider (Argiope sp.); one parasitoid wasp species
Encasia bimaculata and a parasitic fungus species (Paecilomyces sp.) Five tobacco
verieties were screened to test for their resistance to whitefly and bud malformation disease The result showed that NC17 variety was less sensitive to whitefly than other varieties do Two synthetic insecticides (thiamethoxam and cypermetrin) and three
bioinsecticides (emamectin benzoate, abamectin, Bacillus thuringiensis) were tested
their efficacy to whitefly All of these insecticides caused mortality of whitefly at
various degrees of significance over the untreated control, except for Bacillus
thuringiensis Efficacy of thiamethoxam was 79,54% and 16,29% at 1 and 10 days after
treatment The efficacy of this insecticide was highest among insecticides tested
Trang 8
MỤC LỤC Trang Trang tựa - i
Trang chuẩn y - ii
Lý lịch cá nhân - iii
Lời cam đoan - iv
Lời cảm tạ - v
Tóm Tắt - vi
Summary - vii
Mục lục - viii
Danh sách các chử viết tắt - xii
Một số thuật ngữ - xiii
Danh sách các bảng - xiv
Danh sách các đồ thị - xv
Danh sách các hình - xvi
Chương 1 Mở dầu - 1
1.1 Đặt vấn đề - 1
1.3 Mục đích yêu cầu - 2
1.3.1 Mục đích - 2
1.2.3 Giới hạn nghiên cứu - 2
Chương 2 Tổng quan tài liệu - 3
2.1 Giới thiệu về cây thuốc lá - 3
2.1.1 Nguồn gốc lịch sử - 3
2.1.2 Phân loại - 5
2.1.3 Giá trị kinh tế và sử dụng - 5
Trang 9
2.1.4 Giống - 6
2.1.5 Thời vụ - 7
2.1.6 Dịch hại chính trên cây thuốc lá - 7
2.1.6.1 Bệnh hại - 8
2.1.6.2 Côn trùng gây hại - 8
2.2 Bọ phấn (Bemisia tabaci Gennadius) - 9
2.2.1 Giới thiệu - 9
2.2.2 Thiệt hại kinh tế - 9
2.2.3 Đặc điểm hình thái và sinh học của bọ phấn - 11
2.2.3.1 Trong nước - 11
2.2.3.2 Ngoài nước - 12
2.2.4 Phòng trừ - 15
2.2.4.1 Trong nước - 15
2.2.4.2 Ngoài nước - 15
2.3 Tỉnh Tây Ninh - 23
Chương 3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu - 26
3.1 Nội dung - 26
3.2 Địa điểm và thời gian - 26
3.2.1 Địa điểm - 26
3.2.2 Thời gian thực hiện - 26
3.3 Điều kiện tự nhiên vùng nghiên cứu - 26
3.4 Phương tiện và Phương pháp nghiên cứu - 28
3.4.1 Phương tiện nghiên cứu - 28
3.4.2 Phương pháp nghiên cứu - 29
3.4.2.1 Điều tra hiện trạng canh tác cây thuốc lá vàng sấy và tập quán phòng trừ bọ phấn của người nông dân tại Tây Ninh - 29 3.4.2.2 Nghiên cứu diễn biến mật số của bọ phấn trên cây thuốc lá, thiên địch và
Trang 10
ký chủ - 29
3.4.2.3 Khảo sát tính chống chịu với bọ phấn của một số giống thuốc lá nhập nội và chọn tạo trong nước - 32
3.4.2.4 Khảo sát hiệu lực của một số loại thuốc hóa học và sinh học phòng trừ bọ phấn - 34
Chương 4 Kết quả thảo luận - 37
4.1 Điều tra hiện trạng canh tác và tập quán phòng trừ bọ phấn của người nông dân - 37
4.2 Diễn biến mật số của bọ phấn trên cây thuốc lá tại Tây Ninh, thiên địch và ký chủ - 46
4.2.1 Đặc điểm hình thái của bọ phấn trên cây thuốc lá ở Tây Ninh - 46
4.2.2 Diễn biến mật số bọ phấn trên cây thuốc lá - 47
4.2.2.1 Vụ 2006-2007 - 47
4.2.2.2 Vụ 2007-2008 - 48
4.2.2.3 Vụ 2008-2009 - 52
4.2.3 Diễn biến bệnh virus ne ngọn & xoăn đọt trên cây thuốc lá - 54
4.2.4 Thiên địch của bọ phấn trên cây thuốc lá - 58
4.2.4.1 Thành phần thiên địch - 58
4.2.4.2 Diễn biến của thiên địch bọ phấn trên cây thuốc lá - 63
4.2.5 Phổ ký chủ của bọ phấn gây hại cây thuốc lá tại Tây Ninh - 65
4.3 Khảo sát tính chống chịu với bọ phấn của một số giống thuốc lá nhập nội và chọn tạo trong nước - 70
4.4.Khảo nghiệm một số loại thuốc hóa học và sinh học phòng trừ bọ phấn - 75
Chương 5: Kết luận và đề nghị - 81
5.1.Kết luận - 81
5.2.Đề nghị - 82
Tài liệu tham khảo - 83
Trang 11
Phụ lục - 95
Trang 12
DANH SÁCH CHỬ VIẾT TẮT
ACMV: african cassava mosaic virus
BGYV: bean golden yellow virus
BGMV: bean golden mosaic virus
BVTV: bảo vệ thực vật
CBSD: cassava brown streak disease
CLCuV, CoLCV: cotton leaf curl virus
CMV: cucumber mosaic virus
DTtb: diện tích trung bình
ĐHNL: Đại học Nông Lâm
IPM: integrated pest management
KTKT: kinh tế kỹ thuật
NST: ngày sau trồng
NStb: năng suất trung bình
RT-PCR: reverse transcription-polymerase chain reaction
RAPD: random amplified polymorphic DNA
SLCV: squash leaf curl virus
PVY: potato virus Y
USDA: United State Development of Agriculture
TNHH: trách nhiệm hữu hạn
TbLCV, TLCV: tobacco leaf curl virus
TYLCV: tomato yellow leaf curl virus
TSWV: tobacco spotted wilt virus
TBVTV: thuốc bảo vệ thực vật
TP HCM: Thành Phố Hồ Chí Minh
Trang 13
TMV: tomato mosaic virus
WRSV: wheat rosette stunt virus
WCSV: watermelon chlorotic stunt virus
YVMV: yellow vein mosaic virus
MỘT SỐ THUẬT NGỮ
- Lá gốc: là nhóm lá mọc ở vị trí thấp nhất của thân cây Lá mỏng (0,03 – 0,035mm), mặt lá phẳng, đầu lá tù, cấu trúc lá xốp, gân lá nhỏ, gốc độ giữa gân phụ và gân chính rộng, dễ bị tổn thương do bệnh, dính đất cát do gần mặt đất Màu sắc lá sau khi sấy thường có màu vàng nhạt, vàng chanh Chiều dài lá từ 25 – 35 cm
- Lá trung châu: là nhóm lá mọc giữa thân cây thuốc lá (khoảng 4 – 6 lá) Lá có độ dày trung bình (0,04 – 0,06mm) Những lá đã sấy ở vị trí này có xu hướng cuộn tròn và quăn đầu dưới của mép lá, gốc độ gân phụ với gân chính giữa lá trung bình Phiến lá rộng, lá dài, ít bị tổn thương sâu bệnh Màu sắc lá sau khi sấy: vàng cam, vàng cam sáng, vàng chanh; bề mặt lá mịn, độ dầu dẻo cao Chiều dài lá > 40cm
- Lá ngọn: là nhóm lá mọc trên cùng của thân cây (2 – 3 lá) Lá có độ dày cao nhất trên cây (0,065 – 0,075mm) Những lá đã sấy ở vị trí này có xu hướng cuộn tròn vào phía trong lộ gân chính và lưng lá, gốc tạo bởi gân chính và gân phụ hẹp Phiến lá hẹp thường bị tổn thương do sâu bệnh Màu sắc lá sau khi sấy: vàng cam đỏ, vàng cam sậm, thường xuất hiện màu sắc pha tạp, bề mặt lá thô ráp, độ dầu dẻo kém, chiều dài lá từ 25 – 38cm
Trang 14
DANH SÁCH CÁC BẢNG
Trang Bảng 3.1: Khí hậu thời tiết trung bình của tỉnh Tây Ninh trong 3 vụ 2006 – 2007, 2007 – 2008 và 2008 – 2009 - 27
Bảng 4.1: Kết quả điều tra về nguồn lao động và canh tác - 40
Bảng 4.2: Nhận thức của nông dân về thành phần côn trùng chích hút, bệnh virus ne ngọn & xoăn đọt trên ruộng thuốc lá và tập quán phòng trừ bọ phấn - 43
Bảng 4.3: Các loại thuốc thường được nông dân sử dụng để phòng trừ bọ phấn 44
Bảng 4.4: Thành phần côn trùng chích hút và thời điểm hiện diện trên ruộng thuốc lá ở huyện Bến Cầu, Châu Thành và Gò Dầu (vụ 2007 – 2008) - 45
Bảng 4.5: Diễn tiến bệnh virus ne ngọn & xoăn đọt (%) ở ba huyện Bến Cầu, Châu Thành và Gò Dầu (vụ 2007 – 2008) - 55
Bảng 4.6: Thành phần thiên địch của bọ phấn trên ruộng thuốc lá - 60
Bảng 4.7: Các loài cỏ dại là ký chủ của bọ phấn - 67
Bảng 4.8: Các cây trồng là cây ký chủ của bọ phấn - 68
Bảng 4.9: Diễn tiến mật số bọ phấn trên 6 giống thí nghiệm (con/lá) - 71
Bảng 4.10: Diễn tiến bệnh virus ne ngọn & xoăn đọt trên 6 giống thí nghiệm (%) - 74 Bảng 4.11: Hiệu lực của thuốc (%) đối với bọ phấn - 76
Bảng 4.12: Diễn tiến bệnh virus ne ngọn & xoăn đọt sau khi sử lý thuốc - 79
Bảng 4.13: Ảnh hưởng của thuốc đến năng suất và hiệu quả kinh tế - 80
Trang 15
DANH SÁCH CÁC ĐỒ THỊ VÀ BIỂU ĐỒ Trang Đồ thị 4.1: Diễn biến mật số bọ phấn và bệnh virus ne ngọn & xoăn đọt trên cây
thuốc lá vụ 2006 – 2007 - 48
Biểu đồ 4.1: Diễn biến mật số bọ phấn trên cây thuốc lá trong vườn ươm vụ 2007 – 2008. - 49
Biểu đồ 4.2: Diễn biến mật số bọ phấn trên cây thuốc lá trong vườn bầu vụ 2007 – 2008 - 50
Đồ thị 4.3: Diễn biến mật số bọ phấn trên cây thuốc lá ngoài ruộng trồng 2007 – 2008 - 51
Biểu đồ 4.3: Diễn biến mật số bọ phấn trên cây thuốc lá trong vườn ươm vụ 2008 – 2009 - 52
Biểu đồ 4.4: Diễn biến mật số bọ phấn trên cây thuốc lá trong vườn bầu vụ 2008 – 2009 - 53
Đồ thị 4.4: Diễn biến mật số bọ phấn trên cây thuốc lá ngoài ruộng trồng 2008 – 2009 - 54
Đồ thị 4.5: Diễn biến bệnh virus ne ngọn & xoăn đọt 2008-2009 - 56
Biểu đồ 4.5: Tổng hợp mật số bọ phấn (35 NST) qua 3 vụ theo dõi - 57
Biểu đồ 4.6: Tổng hợp mật số bọ phấn (35 NST) qua 3 vụ theo dõi - 57
Đồ thị 4.1: Sự liên quan giữa bọ phấn và bệnh virus ne ngọn & xoăn đọt - 58
Đồ thị 4.6: Diễn biến thiên địch của bọ phấn ở ruộng trồng vụ 2008 – 2009 - 63
Đồ thị 4.7: Mối liên quan giữa mật số lông tơ / lá và mật số bọ phấn/ lá - 72
Trang 16
DANH SÁCH CÁC HÌNH Trang Hình 2.1: Các pha phát triển khác nhau của bọ phấn (B tabaci) (USDA, 2007) - 13 Hình 2.2: Một số phương pháp canh tác khác nhau để quản lý bọ phấn (Charles và ctv, 2005; Graeme và ctv, 2003; Francisco và ctv, 2008) - 16
Hình 2.3: Sử dụng giống kháng virus do môi giới là bọ phấn truyền (Francisco và ctv, 2008) - 18
Hình 2 4: Một số tác nhân phòng trừ sinh học (Susan và ctv 2001) - 22
Hình 3.1: Một số vật liệu tham gia trong quá trình thực hiện đề tài - 28
Hình 3.2: Một số hình ảnh thí nghiệm khảo sát giống - 34
Hình 3.3: Một số hình ảnh thí nghiệm khảo sát hiệu lực của thuốc - 36
Hình 4.1: Các loại côn trùng chích hút trên ruộng thuốc lá vụ 2007 - 2008 - 39
Hình 4.2: Vòng đời bọ phấn thuốc lá (Bemisia tabaci) - 46
Hình 4.3: Nấm Paecilomyces sp ký sinh bọ phấn - 59
Hình 4.4: Nhộng bọ phấn bị ong ký sinh - 61
Hình 4.5: Vỏ nhộng bọ phấn còn lại sau khi ong vũ hóa - 61
Hình 4.6: Ong ký sinh bọ phấn (Encasia bimaculata) - 61
Hình 4.7: Thành trùng bọ xít thuốc lá (Macropholus sp.) - 62
Hình 4.8: Cánh trước bọ xít thuốc lá - 62
Hình 4.9: Trưởng thành ruồi săn mồi - 62
Hình 4.10: Cánh trưởng thành ruồi săn mồi - 62
Hình 4.11: Ấu trùng chuồng chuồng cỏ - 62
Hình 4.12: Đầu ấu trùng chuồn chuồn cỏ - 62
Hình 4.13: Nhện bắt mồi - 63
Trang 17
Hình 4.14: Một số hình ảnh cây ký chủ của bọ phấn (cây trồng) - 66 Hình 4.15: Một số hình ảnh cây ký chủ của bọ phấn (cỏ dại) - 69 Hình 4.16: Bọ phấn chết do thuốc - 75
Trang 18Cùng với sự phát triển của cây thuốc lá, dịch hại do virus gây bệnh ne ngọn
& xoăn đọt đã tàn phá nặng nề các vùng trồng thuốc lá ở phía Nam, đặc biệt là Tây Ninh - nơi mà một thời được xem là thủ đô của cây thuốc lá Thiệt hại do bệnh này gây ra có thể lên đến 100%, thiệt hại này dẫn đến trong vụ mùa 2006 – 2007 diện tích gieo trồng thuốc lá tại Tây Ninh giảm đáng kể, toàn tỉnh diện tích đầu tư của các doanh nghiệp khoảng 2.500 ha, giảm gần 60% diện tích trồng (so với vụ 2000 – 2001) Mặc dù có nhiều cố gắng để cải thiện tình hình nhưng mức độ và diện tích bị gây hại vẫn không giảm (Nguyễn Ngọc Bích, 2007) Tổn thất được ước tính khoảng
10 tỉ đồng/năm, chỉ riêng tại Tây Ninh (Tổng Công Ty Thuốc Lá Việt Nam, 2006)
Bệnh virus ne ngọn & xoăn đọt do vector truyền bệnh chủ yếu là các loại côn trùng chích hút (Dodds và ctv, 1984; 1986), trong đó bọ phấn là một trong những vector quan trọng Bọ phấn có phạm vi ký chủ rất rộng, là vector của 17 loại germinivirus khác nhau (Brown và ctv, 1995) Một khi cây thuốc lá đã bị nhiễm bệnh virus thì mọi biện pháp điều trị đều không có hiệu quả
Để ngăn chặn sự lây nhiễm của bệnh virus, việc kiểm soát bọ phấn môi giới là
cần thiết (Lapidot và ctv, 2002) Đề tài “Nghiên cứu sự gây hại của bọ phấn
(Bemisia tabaci Gennadius) và đánh giá hiệu lực của một số thuốc trừ sâu đối
với chúng trên cây thuốc lá vàng sấy tại Tây Ninh” nhằm tìm kiếm các giải pháp
khả thi để kiểm soát bọ phấn tại địa phương
Trang 19¾ Tìm ra được một giống thuốc lá tương đối kháng với bọ phấn
¾ Xác định được loại thuốc hóa học hoặc sinh học thích hợp để phòng trừ bọ phấn
1.2.3 Giới hạn nghiên cứu
¾ Địa điểm nghiên cứu: tại các vùng trồng thuốc lá Tây Ninh
¾ Thời gian nghiên cứu: từ tháng 11/2006 - 4/2009
¾ Đối tượng nghiên cứu: bọ phấn trên cây thuốc lá
Trang 20
Chương 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Giới thiệu về cây thuốc lá
2.1.1 Nguồn gốc lịch sử
Cây thuốc lá hoang dại đã có cách đây khoảng 4000 năm, trùng với nền văn minh của người da đỏ vùng Trung và Nam Mỹ Lịch sử chính thức của việc sản xuất thuốc lá được đánh dấu vào ngày 12-10-1942 do chuyến thám hiểm tìm ra châu Mỹ của Christoph Columbus, ông đã phát hiện thấy người bản xứ ở quần đảo Antil vừa nhảy múa, vừa hút một loại lá cuộn tròn gọi là tobaccos (Vinataba, 2006) Sau đó các nhà thám hiểm đã phát hiện ra rằng việc sử dụng thuốc lá là hoàn toàn phổ biến ở thế giới mới này (Collins và ctv, 1993)
Cây thuốc lá được trồng ở ít nhất 117 quốc gia và thu hút khoảng 33 triệu nông dân tham gia (Campell, 1995) Ngày nay thuốc lá được trồng rộng rãi ở các điều kiện tự nhiên khác nhau, khác hẳn nơi nguyên thủy của nó Phạm vi phân bố của cây thuốc lá từ 30 vĩ độ Nam đến 45 vĩ độ Bắc (Steinberg và ctv 1958)
Thuốc lá đem lại lợi ít kinh tế cho nhiều quốc gia Nhiều tổ chức thuốc lá độc quyền, cũng như các hãng độc quyền sản xuất thuốc điếu, nguyên liệu chế biến, thương mại, dịch vụ …được hình thành, nhằm khai thác triệt để lợi ít của cây thuốc
lá (Lê Đình Thụy và ctv, 1996)
Tổng sản lượng các loại thuốc lá hàng năm trên thế giới khoảng 6,44 triệu tấn, chiếm diện tích khoảng 5,14 triệu ha (0,5% tổng diện tích trồng trọt trên thế giới), trong đó gần 5,39 triệu tấn (64%) là thuốc lá vàng sấy Tập trung lớn ở những quốc gia sau: Thuốc lá vàng: Trung Quốc 2.800.000 tấn, Mỹ 575,389 tấn, Brazil 398.000 tấn, Zimbabwe 209.042 tấn, Ấn Độ 524.500 tấn, ngoài ra phải kể đến các quốc gia
Trang 211935 trồng thử ở An Khê, năm 1940 trồng ở các tỉnh miền Bắc với giống ban đầu là Virginia Blond Cash (Phạm Kiến Nghiệp và ctv, 1996)
• Trước năm 1954 việc sản xuất thuốc lá chỉ mang tính tự cấp tự túc (Phạm kiến Nghiệp, 1983)
• Từ năm 1954-1975:
- Miền Bắc: sản lượng mỗi năm khoảng 10.000-12.000 tấn chủ yếu tập trung ở một số vùng chuyên canh như Cao bằng, Lạng Sơn và giống là Virginia đã bị thoái hóa nghiêm trọng
- Miền Nam: do không được quan tâm nên việc sản xuất thuốc lá chỉ mang tính tự cung, tự cấp trong nông thôn Các nhà máy thuốc điếu như MIC (nay là nhà máy thuốc lá Sài Gòn ), BASTOS ( nay là nhà máy thuốc lá Vĩnh Hội) phải nhập 7.000 tấn thuốc lá nguyên liệu /năm (trong đó có 3.500 tấn là thuốc Virginia từ Zimbabwe, Mỹ …(Lê Đình Thụy và ctv, 1996)
• Sau năm 1975: Việc trồng và chế biến nguyên liệu được chú ý, vì thế sản lượng thu mua hàng năm được trên 20.000 tấn Vụ 2004 - 2005, diện tích gieo trồng cả nước khoảng 11.941ha, trong đó thuốc lá vàng sấy là 11.681ha, sản lượng chế biến đạt 39.000 tấn Theo số liệu của Hiệp hội Thuốc lá Việt Nam, hiện có khoảng 160.000 lao động tham gia vào ngành trồng thuốc lá, và hơn 20.000 người hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh các sản phẩm thuốc lá Ngành công nghiệp thuốc lá tại Việt Nam chỉ đứng thứ hai sau dầu khí về thành tích đóng thuế hàng năm Năm 2004, ngành thuốc lá nộp vào ngân sách
Trang 22
nhà nước khoảng 6.300 tỷ đồng tiền thuế Kết thúc quí I/2006 cả nước gieo trồng được khoảng 13.378ha, trong đó thuốc lá vàng sấy khoảng 11.0876ha (Tổng Cty Thuốc Lá VN, 2006)
2.1.2 Phân loại
Theo Hawks (1993), Cây thuốc lá thuộc họ Solanacae L., giống Nicotiana
Người ta phát hiện khoảng 70 - 100 loài thuốc lá Phần lớn là dạng cây cỏ, còn lại một số ít loại hình thân đứng, sống từ 1 - 2 năm Tuy nhiên loài được trồng, sử dụng
phổ biến và có giá trị kinh tế cao nhất là N tabacum L
Việc phân loại dựa vào các đặc điểm hình thái, kiểu và chất lượng lá thuốc, nguồn gốc phát sinh…Viện giống cây trồng Vavilov căn cứ vào kiểu và chất lượng
lá, giá trị kinh tế, và sinh thái của cây đã phân chia loài N tabacum thành 5 loài phụ:
Oriental, American, Southern, Island, Asian (Nguyễn Hữu Dũng, 1992)
2.1.3 Giá trị kinh tế và sử dụng
Thuốc lá là cây công nghiệp ngắn ngày, sản phẩm thu được từ cây thuốc lá có giá trị kinh tế cao và là nguồn thu ngân sách đáng kể của nhiều quốc gia trên thế giới (Nguyễn Ngọc Bích, 2007) Ở Bungari, lợi nhuận cho người trồng thuốc đạt từ 29 – 35%, Các nước cộng hòa thuộc Liên Xô củ cũng cho thấy lợi nhuận đạt từ 20 – 47% cho nghề trồng thuốc lá So với một số cây trồng khác ở Zimbabwe, Malawi, và Brazil, tổng thu nhập của cây thuốc lá đạt ở mức độ rất cao (Lê Đình Thụy và ctv, 1996)
Sản phẩm chính của cây thuốc lá là sản xuất ra các loại thuốc hút, nhai ngửi Nhưng giá trị sử dụng của cây thuốc lá ngày nay không chỉ hạn trong việc hút thuốc
mà còn được sử dụng ở một số lĩnh vực khác
Theo Hawks và ctv (1993), Loại hình thuốc lá thuộc nhóm giống N rustica L
thường có hàm lượng Nicotin rất cao (4 - 5%), hoặc là tận dụng các loại phế thải như thân cây thuốc lá để sản xuất ra Sulfat Nicotin, có tác dụng tốt trong việc phòng trừ sâu bệnh trên đồng ruộng Từ thân và lá thuốc lá, giáo sư R.L.Wain (Anh) đã chiết xuất được sclareol và 13-epi sclareol có tác dụng phòng trừ được bệnh rỉ sắt trên cây
họ đậu (Lê Đình Thụy và ctv, 1996)
Trang 23
Kovsen (1971) cho rằng trong công nghiệp hóa, dược, thực phẩm cũng đã sử dụng nhiều hóa chất thu được từ cây thuốc lá: sản xuất nước hoa từ hoa thuốc lá, axit nicotinic, axit xitơric lấy từ cây thuốc lá nhiều hơn gấp 2 – 3 lần so với cam, chanh
để sử dụng vào công nghiệp thực phẩm Từ hạt thuốc lá người ta cũng chiết xuất được 35 – 40% dầu sử dụng trong công nghiệp (Trích dẫn bởi Lê Đình Thụy và ctv, 1996)
Cũng Lê Đình Thụy và ctv (1996) ghi nhận ở Liên bang Nga, Modavi đã tận dụng thân cây thuốc lá để chế biến thành thức ăn gia súc có giá trị dinh dưỡng cao Các nước thuộc khối Nam Tư củ, Hy Lạp thu được 12 – 15% protein cao cấp trong cây thuốc lá để sử dụng làm thực phẩm Ngoài ra, các phế thải của cây thuốc lá, trong quá trình chế biến gồm có vụn, bụi đã được tận dụng làm thuốc lá Folio và còn chế biến được thành phân hữu cơ
Về mặt nghiên cứu, cây thuốc lá được coi là đối tượng để thể nghiệm các nghiên cứu sinh học Các nghiên cứu về nuôi cấy mô (công nghệ sinh học ở cấp độ thấp), về sinh học phân tử đã thành công ở cây thuốc lá Ngày nay ở các nước Mỹ, Pháp, Canada đã mở rộng việc cấy chuyển gen thuốc lá để thu hoạch năng suất cao
và chống lại các độc hại của các loại hóa chất trừ cỏ, trừ sâu bệnh Chắc chắn cây thuốc lá còn nhiều công dụng khác để phục vụ cho nhu cầu xã hội
2.1.4 Giống
Giống thuốc lá vàng sấy hiện có ở Việt Nam gồm rất nhiều giống: các giống địa phương, các giống nhập nội và các giống đã được khu vực hóa Do có khá nhiều giống được sử dụng qua nhiều năm liên tục nên công tác chọn giống, phục tráng giống chưa tiến hành tốt, nhất là các giống địa phương Điều này dẫn đến một số giống bị thoái hóa, mất đi các đặc tính tốt như: kháng bệnh, năng suất cao, phẩm chất tốt …
Từ năm 1989 đến nay Tổng công ty thuốc lá Việt Nam đã nhập nội và trồng khảo nghiệm hàng trăm giống như: K51E, KE1, Coker 176, Coker 411, NC95, K326, K346, K399, RG8, MS1…
Trang 24
Nhưng trong những năm gần đây các vùng trồng thuốc lá của Việt Nam chỉ trồng chủ yếu là 2 giống C176, và K326 Và hiện 2 giống này bị nhiễm bệnh virus ne ngọn & xoăn đọt rất nặng
2.1.5 Thời vụ
Cây thuốc lá ở Tây Ninh chủ yếu được trồng trong vụ đông xuân, gieo từ tháng 10 đến tháng12, thu hoạch và sơ chế vào cuối tháng 12 đến tháng 5 Theo nguyên tắc là tranh thủ các tháng cuối mùa mưa, khi lượng mưa giảm dần, ẩm độ trong đất còn cao có thể đưa cây thuốc ra trồng Từ vụ 2002 trở về trước, thời vụ này được chia làm ba đợt trồng:
- Đợt 1: Gieo cây con vào giữa đến cuối tháng 9, trồng từ đầu tháng 11 đến giữa tháng 11, chủ yếu trồng trên đất cao, thoát nước tốt, do còn những cơn mưa cuối mùa Ưu điểm của đợt trồng này là tranh thủ được những cơn mưa cuối vụ, và tránh tình trạng động (dồn) lò sấy, nhưng rất khó khăn trong khâu chăm sóc
- Đợt 2: Gieo cây con trong tháng 10 và trồng từ giữa tháng 11 đến giữa tháng 12 Đây là đợt trồng chính, tương đối thuận lợi trong việc gieo trồng và thu hoạch nên có diện tích khá lớn, phần lớn diện tích chủ yếu được trồng trên nền đất lúa (thấp)
- Đợt 3: Gieo cây con từ giữa đến cuối tháng 11 và trồng từ giữa đến cuối tháng
1, trồng trên đất tương đối cao dễ thoát nước để tránh những cơn mưa sớm đầu vụ năm sau
Tuy nhiên từ 2003 trở lại đây, cây thuốc lá ở Tây Ninh hầu như chỉ được trồng trong một đợt duy nhất đó là đợt trồng trong tháng 1 và thu hoạch – sơ chế vào khoảng tháng 3-5 Do cây thuốc lá bị dịch bệnh virus ne ngọn & xoăn đọt nặng nề trong các đợt trồng trước Nên chủ trương của Tổng công ty thuốc lá là né vụ
2.1.6 Dịch hại chính trên cây thuốc lá
Giống như các loại cây trồng khác, dịch hại luôn là yếu tố hạn chế năng suất, chất lượng của nguyên liệu thuốc lá từ lúc gieo ươm, trồng trên ruộng, trong lò sấy
và trong quá trình bảo quản Chỉ tính riêng trong giai đoạn trồng trọt, thiệt hại hàng năm do sâu, bệnh hại gây ra cho cây thuốc lá khoảng 20% (Shew và ctv, 2001)
Theo Lucas (1975), bệnh thối đen thân (Phytopthora nicotinae) gây thiệt hại cho
Trang 25
ngành thuốc lá ở Mỹ năm 1973 khoảng 7 triệu USD, và trong những thập niên 1940 – 1950 bệnh sưng rễ gây thiệt hại cho ngành thuốc lá ở North Carolina hàng năm khoảng 5 triệu USD Lê Đình Thụy và ctv (1996) cho rằng thiệt hại do bệnh và sâu gây ra cho cây thuốc lá hàng năm ở Việt Nam khoảng 23 – 30% Tương đương khoảng 100 tỉ đồng (Nguyễn Văn Biếu, 2002)
2.1.6.1 Bệnh hại
Theo Lucas (1975), trên cây thuốc lá có mấy nhóm bệnh chính như sau: 5 bệnh do tuyến trùng gây ra, 20 bệnh do nấm, 7 bệnh do vi khuẩn, và virus là 17 bệnh
Theo Nguyễn Văn Biếu (2002), bệnh trên cây thuốc lá thường gặp là: Bệnh
do tuyến trùng: bệnh sưng rễ do tác nhân là giống tuyến trùng Meloidogyne sp.; Bệnh do nấm: bệnh chết rạp cây con do tập hợp nấm Rhizoctonia spp, Pythium spp gây ra; bệnh lở cổ rễ Rhizictonia solani, bệnh đóm mắt ếch Cercospora nicotianae Ellis et Everthart, bệnh đen thân Phytopthora parasitica Dastur var nicotinae (Breda
de Hann), bệnh héo khô Sclerotium rolfsii Sacc., bệnh héo vàng Fusarium
oxysporium Schlectend ex Fr F sp nicotianae (J johnson) W C Snyder & H N
Hans; Bệnh do vi khuẩn: Bệnh héo xanh Pseudomonas solanacearum E F Smith;
Nguyễn Thơ (2002) ghi nhận trên cây thuốc lá ở Tây Ninh có các bệnh virus sau: TMV, CMV, TSWV, TLCV, PVY
2.1.6.2 Côn trùng
John và ctv (1999) ghi nhận trên cây thuốc lá ở Virginia có khoảng 10 loài
gây hại: Myzus nicotianae, Agrotis ipsilon, Limax spp, Epitrix hirtipennis, Cotinis
nitida, Heliothis virescens, Manduca sexta, Euschistus servus, Melanoplus spp Ở
phía BắcViệt Nam có khoảng 14 loài sâu hại cây thuốc lá: sâu xanh Helicoverpa
assulta, sâu khoang Spodoptera litura, sâu xám Agrotis ypsilon, sâu đo Anomis flara,
bọ phấn Bemisia tabaci, bọ trĩ Thrip tabaci, rệp đỏ Myzus nicotianae, rệp xanh
Myzus persicae, bọ xít xanh Nevara viridula L., dế mèn Brachytrupes spp., dế trũi Gryllotalpa sp., bọ gạo Platymycletus sp., châu chấu Oxya spp., sâu đục thân
(Nguyễn Văn Biếu và ctv, 2005) Còn theo Nguyễn Ngọc Bích (2005), thành phần
Trang 26
sâu hại chính ở các vùng trồng thuốc lá phía Nam gồm sâu xanh Helicoverpa
assulta, sâu khoang Spodoptera litura, bọ cánh cứng, rệp Myzus sp., bọ trĩ Thips sp,
bọ phấn Bemisia sp
2.2 Bọ phấn Bemisia tabaci (Gennadius)
2.2.1 Giới thiệu
Có trên 1400 loài bọ phấn được ghi nhận ở trên thế giới Bọ phấn thuốc lá
(tobacco whitefly) Bemisia tabaci (Gennadius) thuộc họ Aleyrodidae, bộ
Homoptera, còn có tên khác là sweetpotato whitefly, cotton whitefly hay cassava
whitefly Bemisia tabaci được mô tả cách nay hơn 100 năm và từ khi nó trở thành
một trong những loài dịch hại quan trọng nhất trên thế giới, ở những vùng nông nghiệp nhiệt đới và cận nhiệt đới cũng như trong những hệ thống sản xuất trong nhà kính Nó dễ dàng thích nghi với những cây ký chủ mới, những vùng địa lý mới (Oliveira và ctv, 2001) và hiện nay nó được báo cáo là có mặt khắp mọi nơi trên thế
giới ngoại trừ Nam Cực (Martin và ctv, 2000) Gennadius (1889) ghi nhận B tabaci
xuất hiện đầu tiên ở Greece vào năm 1889 trên cây thuốc lá và được đặt tên là
Aleyrodes tabaci tên thông dụng tobacco whitefly
2.2.2 Thiệt hại kinh tế
Theo Quaintance (1900), ConB tabaci đầu tiên bắt được ở Mỹ trên cây khoai
lang được mô tả dưới tên là Aleyrodes inconspicua Quaintance và tên thông dụng là
sweetpotato whitefly (trích dẫn bởi Oliveira và ctv, 2001) Vào năm 1928 nó được
phát hiện ở Brazil trên cây Euphorbia hirtella và được mô tả dưới tên là B
costalimai Bondar (Mound và ctv, 1978) Năm 1933 loài này được mô tả ở Đài Loan
với tên là B hibisci (Mound và ctv, 1978) Bọ phấn được phát hiện ở Florida năm
1900 Là loài dịch hại phổ biến trên cây bông vải ở Mỹ, bộc phát vào cuối thập niên
1920 và đầu thập niên 1930 trên cây bông vải ở Ấn Độ và tiếp theo lần lược là Sudan
và Iran vào thập niên 1950, El Salvador vào thập niên 1961, Mexico 1962, Brazil
1974, Turkey 1968, Israel 1976, Thailand 1978, Arizona, và California 1981
(Horowitz, 1986) Vào năm 1972-1973 ở Brazil B tabaci gây hại nặng nề trên cây
Trang 27
đậu nành (Kogan và ctv, 1987), và bằng kỹ thuật phân tích RAPD đã xác định được
hai loài bọ phấn gây hại chính là B tabaci và B.argentifolii (Myrian và ctv , 2000), ở Indonesia 1981-1982 (Samudra and Naito, 1991) Trong nhà kính B tabaci được ghi
nhận là đã gây thiệt hại nghiêm trọng cho cây rau ở Thổ Nhĩ Kỳ vào năm 1974, trên cây hoa trạng nguyên ở Mỹ năm vào 1986 (Perring và ctv, 1993) và năm 1989 ở Nhật (Ohto 1990), có tính kháng cao với thuốc trừ sâu Bọ phấn thuốc lá, là một loài côn trùng ăn tạp, có mặt trên khắp thế giới (Greathead, 1986; Mound và ctv, 1978),
từ vùng nhiệt đới, bán nhiệt đới cho đến những vùng phía bắc và phía nam Châu Âu, Nhật Bản, và cả Nam Mỹ (Hill 1987) Có lẽ nó có nguồn gốc từ Phương Đông hoặc
Đông Nam Á (Mound và ctv, 1978) vì có một số bằng chứng cho rằng B tabaci có thể có xuất xứ từ Ấn Độ hay Pakistan vì đó là những nơi mà nhiều loài ký sinh B
tabaci được tìm thấy, đây là một tiêu chuẩn tốt nhất để để xác định trung tâm khởi
nguồn của một giống (Brown và ctv, 1995)
Ellsworth (1999) cho rằng thật khó ước tính được thiệt hại kinh tế do B
tabaci gây ra cho nền nông nghiệp thế giới, vì rất nhiều vùng bị ảnh hưởng, nhiều
cây trồng có liên quan và nhiều hệ thống tiền tệ khác nhau Trong mấy thập kỷ qua
B tabaci gây thiệt hại nghiêm trọng cho nhiều loại cây trồng làm giảm năng suất và
chất lượng Bên cạnh đó làm tăng chi phí phòng trừ, giá trị thương phẩm và lợi nhuận của sản phẩm giảm (trích dẫn bỡi Oliveira và ctv, 2001) Theo Fishpool và ctv (1994); Francisco (2008)B tabaci là một loài dịch hại quan trọng, gây thiệt hại năng
suất và kinh tế cho nhiều loại cây trồng, có phạm vi ký chủ rộng trên nhiều họ thực vật khác nhau Mound và ctv (1978) đã liệt kê có khoảng 600 loài cây trồng thuộc 63
họ (Asteraceae, Brassicaceae, Convolvulaceae, Cucurbitaceae, Euphorbiaceae,
Fabaceae, Malvaceae, Solanaceae, ….) bị B tabaci tấn công Nó không những gây
hại trực tiếp bằng cách chích hút dịch cây, làm giảm chiều cao cây, kích thước lá, số
lá, và năng suất khô của cây, mà còn gây hại gián tiếp cho cây bằng chất bài tiết, chất bài tiết này là môi trường thích hợp cho nấm bồ hóng phát triển (sooty mold fungus)
như Cladosporium và Alternaria spp., làm giảm khả năng quang hợp của cây Ngoài
ra, bọ phấn thuốc lá cũng là một môi giới truyền bệnh virus quan trọng cho cây trồng
Trang 28
(Byrne và ctv, 1990) B tabaci là môi giới cho trên 100 loài virus hại cây trồng thuộc các giống Begomovirus (Geminiviridae), Crinivirus (Closteroviridae), Carlavirus hoặc Ipomovirus (Potyviridae) (Jones, 2003), là một loại virus dạng hình
roi (Markham và ctv, 1994). Trong đó Begomovirus là loài virus phổ biến nhất có thể
gây thiệt hại cho năng suất từ 20-100% (Brown và ctv, 1992) Khi cây bị bọ phấn tấn công sẽ gây ra một hoặc nhiều triệu chứng kết hợp như gây ra những đóm vàng trên
lá, gân chính và gân phụ cũng bị vàng, lá xoăn, lá bị khảm vàng, lá nhăn lại, gân lá dầy lên, phiến lá gồ lên, và khum lại, thân cây vặn lại, gây rụng lá và cây kém phát triển Những triệu chứng này thường gặp trên cây cà chua (TYLCV), bông vải (CoLCV), khoai mì (ACMV), thuốc lá (TLCV), dưa hấu (WCSV), bí (SLCV), đậu (BGMV) (CABI, 2007), hoặc gây bạc lá trên một số cây thuộc họ bầu bí (Morris,
2007) Ogbe và ctv (1997) cho rằng B tabaci là môi giới truyền bệnh ACMV trên
cây khoai mì ở Nigeria gây thiệt hại năng suất từ 32 – 69%
Phạm vi ảnh hưởng và khả năng gây hại của B tabaci thay đổi theo loài cây
trồng, mùa vụ và theo vùng Một số loài cây trồng bị lây nhiễm nghiêm trọng ở vùng
này nhưng có thể không bị gây hại ở vùng khác Ví dụ: B tabaci là đối tượng gây hại
nghiêm trọng trên cây bông vải ở Sudan nhưng không phải là vấn đề nghiêm trọng trên cây bông vải ở Ai Cập Cây khoai mì ở Châu Phi bị ảnh hưởng nghiêm trọng nhưng không bị gây hại ở Nam Mỹ (Oliveira và ctv, 2001)
2.2.3 Đặc điểm hình thái và sinh học của bọ phấn
2.2.3.1 Trong nước
Hình thái
Trần Quốc Kỳ (2007); Quang Hiển (2008)ghi nhậnthành trùng bọ phấn: toàn thân và cánh được phủ bởi một lớp phấn màu trắng, mắt kép có một rãnh ngang chia thành hai phần gần giống hình số tám, râu đầu có sáu đốt, chân dài và mảnh, bụng có chín đốt, dạng hình ong do đốt thứ nhất hơi thót, ống đẻ trứng giống như một mũi khoan Sâu non tuổi 1 màu vàng nhạt, khi mới nở có chân gồm 4 đốt, có rầu đầu 3 đốt, có mắt nhỏ và 2 đóm vàng Ấu trùng tuổi 1, thường di chuyển vài cm dưới mặt
lá, rồi ở cố định một chỗ dưới mặt lá Sau khi lột xác chuyển sang tuổi 2, sâu non
Trang 29
không còn chân, có thể nhìn rõ mắt kép và râu đầu Ấu trùng tạo tiết sáp xung quanh
cơ thể, giúp chúng bám chặt vào bề mặt lá Trứng: hình trứng thon dài, có cuống, màu trắng vàng trong suốt sau đục dần và nâu xám
Sinh học
Vòng đời bọ phấn B tabaci dao động trong khoảng 26 - 29 ngày, trung bình
23,8 ngày (Trần văn khải, 2006)
Thời gian phát dục của bọ phấn ở các giai đoạn trước trưởng thành kéo dài 19,75 ngày Khả năng sinh sản của bọ phấn trung bình 89,7 trứng Thời gian đẻ trứng kéo dài trung bình là 6,7 ngày Khả năng sống sót của giai đoạn trước trưởng thành
là 81,25% (Trần Đình Phả và ctv, 2008)
Theo Huỳnh Quan Huy (2005), ký chủ ưa thích của B tabaci phần lớn là rau
màu, đậu nành, bầu, bí, cà chua, cà phổi
Cả ấu trùng và thành trùng đều chích hút nhựa cây làm chết mô thực vật, và tiết nước bọt làm lan truyền mầm bệnh, đặc biệt là virus gây bệnh xoăn lá cà chua, gây thất thu 90% năng suất
Trần Đình Phả và ctv (2008) ghi nhận bọ phấn gây hại cà chua trong suốt vụ
từ khi trồng cho đến khi thu hoạch Mật số bọ phấn tăng dần từ khi trồng cho đến cuối vụ
Mật số thành trùng bọ phấn thay đổi theo từng vùng sinh thái khác nhau và chế độ xen canh khác nhau
2.2.3.2 Ngoài nước
Hình thái
Theo CABI (2007) Trứng có chiều dài khoảng 0,2mm có hình dạng trái lê, đứng dính vuông gốc với mặt lá nhờ vào cuống ghim vào khe nhỏ trên mô lá Khi mới đẻ có màu trắng nhạt sau đó sẽ chuyển sang màu nâu trước khi nở
Ấu trùng gồm 4 giai đoạn: lúc mới nở (tuổi 1): dẹp, hình ô van, hình dáng giống như cái vẩy; sau khi nở, ấu trùng bò trên mặt lá khoảng vài giờ và ở cố định lại một chổ để hút nhựa cây; sau khi lột xác lần đầu, ấu trùng không còn chân, rụng cuống, dùng vòi hút bám chặt vào lá, không di chuyển
Trang 30Hình 2.1: Các pha phát triển khác nhau của bọ phấn B tabaci (USDA, 2007)
Thành trùng nở ra thông qua ngấn lột xác hình chử T trên da nhộng và trải rộng cánh trong khoảng vài phút trước khi cánh được phủ phấn bằng chất sáp bài tiết
từ tuyến đặc biệt trên bụng, cơ thể có màu vàng nhạt hoặc trắng nhạt Thành trùng dài khoảng 0,8 - 1mm, là loại côn trùng nhỏ, mềm giống như con bướm, hai cặp cánh được phủ một lớp bột sáp màu trắng, khi nghĩ ngơi hai đôi cánh này xếp lại phía sau bụng như mái liều che cơ thể Theo USDA (2009) cơ thể thành trùng có phủ nhiều gai nhỏ, râu dài 7 đốt, mắt kép chia thành 2 phần lưng và bụng hoặc hợp lại thành một phần miệng kéo dài và phát triển thành kim chích hút nhựa cây (trích dẫn bởi Ebenezer, 2008)
Tùy thuộc vào nhiệt độ, ẩm độ, cây ký chủ, sau 5 - 9 ngày trứng sẽ nở thành
ấu trùng Ba giai đoạn đầu, mỗi giai đoạn kéo dài khoảng 2 - 4 ngày tùy theo nhiệt
độ Giai đoạn thứ 4 (giai đoạn nhông) kéo dài khoảng 6 ngày và đây cũng là giai đoạn có thể phân biệt giữa các loài Nhộng thường phân tán và mật số trên mỗi lá thường thấp, ngoại trừ trên những lá trơn láng (Malumphy, 2008)
Sinh học
Tất cả các giai đoạn sống của bọ phấn đều tìm thấy ở dưới mặt lá Bọ phấn phá hại bằng cách hút nhựa cây (John, 2008) Con đực hơi nhỏ hơn con cái Tuổi thọ
Trang 31
của thành trùng bọ phấn từ 21-30 ngày, tùy thuộc vào nhiệt độ, cây ký chủ (Coudriet
và ctv, 1985; Butler và ctv, 1983) Ở nhiệt độ cao >200C con cái sống khoảng 10-15 ngày, Nhiệt độ thấp <140C chúng có thể sống được 30 - 60 ngày (Gerling và ctv, 1986), con đực có chu kỳ sống ngắn hơn chỉ kéo dài khoảng 9 - 17 ngày Thành trùng có thể sống ở môi trường không có cây ký chủ hoặc trong nhà kính trống, tuy nhiên chúng không thể sống sót ở nhiệt độ đóng băng Sau khi bắt cặp khoảng 8 ngày thì con cái đẻ Con cái đẻ khoảng 160 - 200 trứng rải rác hoặc từng nhóm nhỏ ở mặt dưới lá Trên những lá có mặt lá trơn láng con cái có thể đẻ theo hình nữa vòng tròn (Malumphy, 2008) Ở nhiệt độ 25oC và ẩm độ tương đối 65%, khả năng sống sót của trứng là 86,5%, tỉ lệ đực/cái là 1:2,7 Con cái có hai hình thức sinh sản: đơn tính và hữu tính, con cái đẻ kéo dài trong khoảng 13 - 19 ngày (Gorge, 1995)
Theo Martin và ctv (1992), thành trùng hoạt động vào buổi sáng sớm, chiều mát, chúng không thích ánh sáng mạnh Chúng hoạt động rất linh hoạt, ban ngày đậu
ở dưới mặt lá, có động nhẹ chúng bay lên cao chừng 2 - 3 m Trong điều kiện nắng
to hoặc mưa, con trưởng thành ít bay mà nấp ở những lá sát mặt đất, bụi cây rậm Trưởng thành đẻ trứng thành từng ổ từ 4 - 6 trứng hoặc rải rác ở mặt dưới lá, chúng thường tập trung ở các lá bánh tẻ (Trích dẫn bỡi Nguyễn Đỗ Hoàng Việt, 2009)
Kohji và ctv (1993) cho rằng yếu tố chính ảnh hưởng mật số quần thể B
tabaci dường như là sự biến động về không gian, thời gian và chất lượng cây ký chủ
trong vùng Nếu các cây ký chủ được canh tác liên tục trong nhiều vụ và trong cùng một nơi, thì sẽ có nhiều nguy cơ bị thiệt hại nghiêm trọng
Leite và ctv (2004) trong một nghiên cứu về các yếu tố tự nhiên ảnh hưởng
đến sự phân bố mật số quần thể của bọ phấn trên cây cà chua Lycopersicon
esculentum, ông đã ghi nhận mật số ấu trùng và thành trùng bọ phấn tập trung nhiều
ở phần gốc cây hơn là ở phần ngọn cây
Trang 32Vệ sinh đồng ruộng, tỉa bỏ các lá ở gốc để vườn cây thông thoáng hạn chế nơi
ẩn nấp của chúng Có thể sử dụng các loại thuốc hoá học để diệt bọ phấn như: applaud 10WP, baythroid 5SL, trebon 10EC, pegasus 500SC,… kết hợp với dầu khoáng (Quan Hiển, 2008)
Theo trường ĐHNL (2005) cho rằng trong vụ thuốc lá 2005 - 2006 bọ phấn chỉ xuất hiện ở mức ít phổ biến nên không phải là đối tượng dịch hại nguy hiểm cần phòng trừ Tuy nhiên có thể dùng thiamethoxam xử lý 3 - 4 lần cho hiệu quả phòng trừ bọ phấn tốt nhất
Biện pháp canh tác: đóng vai trò quan trọng trong hệ thống IPM, tuy nhiên
rất khó áp dụng vì làm thay đổi tập quán canh tác của người dân (Hilje và ctv, 2001) Theo Sastry và ctv (1962), khi tăng đạm và giảm lân thì cây trồng dể mẫn cảm với bệnh TLCV, nhưng khi tăng lượng kali thì cây ít mẫn cảm với bệnh TLCV Nariani (1963) thông báo rằng sử dụng giberellic acid tạm thời có thể ngăn chặn bệnh TLCV trên cây con Liburd và ctv (2008) cho rằng, việc kiểm tra là một phần không thể thiếu được trong chương trình quản lý bọ phấn Bẫy dính vàng có tác dụng kiểm tra
bọ phấn di chuyển vào trong ruộng Tengkano và ctv (1991) đã sử dụng bẫy dính
vàng để quản lý mật số B tabaci trên ruộng đậu phọng ở Indonesia Nhưng Simmons
(2003) lại cho rằng, một số bẫy dính màu ngoài tác dụng thu hút thành trùng bọ phấn thì cũng có tác dụng thu hút các loài thiên địch của bọ phấn Salas (2004) nhận thấy
Trang 33
khi trồng xen cà chua với dưa leo hoặc dùng cây bắp làm hàng rào và dùng trấu phủ
mặt đất có tác dụng làm giảm số lượng trứng, ấu trùng B tabaci, và tăng năng suất
so với chỉ trồng riêng một mình cà chua Hugh và ctv (2000) trong một thí nghiệm sử
dụng cây cà tím Solanum melongena L., như là một loại bẫy cây trồng, có tác dụng làm giảm mật số bọ phấn trên cây đậu Phaseolus vulgaris L Charles và ctv (2005)
cũng ghi nhận rằng khi sử dụng màng phủ phản chiếu ánh sáng và rơm có tác dụng làm giảm mật số bọ phấn trên cây dưa bở rất đáng kể so với không phủ, đồng thời làm tăng kích thước trái và năng suất trái
Francisco và ctv (2008) trong dự án IPM bọ phấn nhiệt đới đã sử dụng nhà kính để sản xuất cây con và dùng lưới để phủ cây con sau trồng có tác dụng ngăn chăn bọ phấn truyền bệnh virus
Màng phủ
nylon
Màng phủ rơm
Bẫy dính vàng
Nhà kính sản xuất cây con
Lưới phủ cây con sau trồng
Hình 2.2: Một số phương pháp canh tác khác nhau để quản lý bọ phấn (Charles và
ctv, 2005; Graeme và ctv, 2003; Francisco và ctv, 2008)
Giống kháng: hiếm có tính kháng với bọ phấn trong các loài cây trồng, tuy
nhiên một số giống đang được chọn lọc và thử nghiệm ngoài đồng và trong nhà kính cho thấy có tính kháng với bọ phấn (Bellotti và ctv, 2001)
Stansly (2000) ghi nhận rằng trong quá trình chon tạo giống cà chua ở Florida
vụ mùa 1999 - 2000 đã phát hiện một giống kháng với TYLCV và cho năng suất vượt trội hơn các giống mẫn cảm gấp 6 lần Lê Thị Liễu (2000) đã khảo sát 27 giống
cà chua được cho rằng là kháng với TLCV Sau thời gian thí nghiệm đã kết luận rằng
Trang 34kháng L hirsutum nhằm chuyển gen kháng từ cây L hirsutum sang giống Marglobe
Ở thế hệ F1 và F2 cho thấy tính kháng cao với bọ phấn Đặc điểm hình thái của những cây này có mật số lông nhiều trên lá và thân nhiều hơn giống khác
Theo Heather và ctv (1996), trong 4 giống bầu được khảo sát, có 2 dòng bầu
lai A21-7 và Sunseed 3 kháng tố với triệu chứng gây bạc lá do bọ B argentifolii, mặc dù mật số ấu trùng B argentifolii không thấp hơn các giống tham gia thí nghiệm
Hillocks và ctv (2005) trong một dự án phát triển địa phương và an ninh lương thực ở các quốc gia châu phi đã phát hiện giống khoai mì Nal 34 có năng suất cao, có tính chất chế biến tốt và chịu được bệnh CBSD
Srabani và ctv (2008) trong một nghiên cứu ở Ấn Độ, nhằm tìm ra một biện pháp chống lại bọ phấn gây hại trên cây đậu bắp mà an toàn cho môi trường, đã kết luận giống đậu bắp AM 4-5 kháng với bệnh YVMV và 2 giống Punjab seven, Arka abhoy chịu được bệnh YVMV và cho năng suất vượt trội so với các giống khác từ 10
- 40%
Imtiaz và ctv (2002) phát hiện giống bông vải Red okra có tính kháng cao với
bọ phấn Tuy nhiên Bhatnagar và ctv (1991) lại cho rằng các giống chín muộn ít bị
bọ phấn tấn công (trích dẫn bởi Imtiaz và ctv, 2002) Sự trái ngược này có lẽ là do điều kiện sinh thái thay đổi và và đặc điểm hình thái của các giống bông vải Amiad
và ctv (2007) tiếp tục khảo sát tính kháng với côn trùng chích hút của 8 giống bông vải Đã kết luận rằng giống CIM-707 có mật số bọ phấn trên lá thấp nhất 1,99 con/lá
so với giống cao nhất là 7,55 con lá Nhưng theo Berlinger (1986) cho rằng thành trùng bọ phấn trắng thường bị ảnh hưởng chủ yếu bởi các đặc điểm vật lý và hình
Trang 35
dạng của bề mặt lá cây ký chủ như lông tơ, hình dạng lá, độ dính và các đặc tính hóa
học bên trong lá như pH của những chất dịch trong lá Đối với bông vải loài B
tabaci thích các giống bông vải lá có lông hơn là các giống lá trơn (Trích dẫn bỡi
Nguyễn đỗ Hoàng Việt, 2009)
Giống đậu kháng với BGIMV Giống cà chua kháng với ToLCV
Hình 2.3: Sử dụng giống kháng virus do môi giới là bọ phấn truyền
(Francisco và ctv, 2008)
Francisco và ctv (2008) trong dự án IPM bọ phấn nhiệt đới đã sử dụng nhà kính để sản xuất cây con và dùng lưới để phủ cây con sau trồng có tác dụng ngăn chăn bọ phấn truyền bệnh virus
Nhưng Moshe và ctv (2002), Anupam và ctv (2006) cho rằng để kiểm soát bệnh do virus gây ra thì chỉ có một cách là hạn chế mật số của môi giới truyền bệnh bằng cách dùng hóa chất hoặc các rào cản tự nhiên Tuy nhiên, khi mật số môi giới tăng cao, thì những phương pháp này không thể khống chế được bệnh virus lây lan
Vì vậy cách tốt để giảm sự thiệt hại do virus gây ra là tạo ra giống kháng hoặc chịu được virus, có thể chọn tạo giống theo phương pháp truyền thống hoặc bằng kỹ thuật gen
Tính kháng của giống nên được khai thác để giảm thiểu tác hại cho môi trường và hạn chế được tính kháng thuốc của dịch hại
Thuốc hóa học: theo Palumbo và ctv (2001), thuốc hóa học giữ vai trò then
chốt trong việc kiểm soát các loài côn trùng gây hại cây trồng Ellsworth và ctv (2001), Kerns và ctv (1995), Denhlm và ctv (1998) cho rằng, các loại thuốc trừ sâu
Trang 36
nhóm neonicotinoid (admire®/provado®), và nhóm điều hòa sinh trưởng (courier®/applaud® và pyriproxyfen (Knack®)) đóng vai trò then chốt trong việc phòng trừ bọ phấn trong các vùng nông nghiệp sa mạc thấp ở Arizona, cũng như ở các vùng khô hạn trên thế giới (Trích dẫn bởi Timothy và ctv, 2008) Palumbo và ctv (2001) cũng ghi nhận imidacloprid đã thành công trong việc phòng trừ bọ phấn trong một thời gian dài trên các vụ rau ở Arizona từ năm 1993 và đã được sử dụng với số lượng lớn từ khi loại thuốc này được đưa vào sử dụng ở đây Khi sử dụng dầu khoáng với nồng độ 2% có tác dụng làm giảm mật số bọ phấn và bệnh xoăn lá (leaf curl) trên cây cà chua rất đáng kể (Butter và ctv, 1973) Nếu kết hợp giữa milbermectin và dầu khoáng thì sẽ nâng cao hiệu lực phòng trừ ấu trùng và thành trùng bọ phấn (Pluschkell và ctv, 1999) Lara và ctv (2001) thì khuyến cáo rằng nên
sử dụng thiamethoxam trong chương trình quản lý bọ phấn trên cây cà tím Còn Masood và ctv (2004) thì cho rằng Mospilan 20SP, Polo 500EC, tamaon 60 SL, confidor 200SL đều có hiệu lực phòng trừ bọ phấn cao sau 2 ngày sử dụng > 70%, nhưng sau đó hiệu lực giảm dần Ngoại trừ tamaon 60 SL, sau 10 ngày sử dụng tamaon 60 SL vẫn có có khả năng phòng trừ bọ phấn (49,39%) Muhammad và ctv (2003) trong một thí nghiệm sử dụng acetamiprid, imidacliprid, fenpropathrin và diafenthiuran phòng trừ bọ phấn trên cây bông vải Kết quả là hai loại thuốc diafenthiuran và acetamiprid vẫn có hiệu lực giữ bọ phấn dưới ngưỡng kinh tế sau 7 ngày sử dụng
Theo Elfadil (2008), ngưỡng kinh tế củ của bọ phấn trên cây bông vải là 200 con thành trùng/100 lá và ngưỡng mới là 600 con/ 100 lá Còn theo Pedigo (1996), việc lạm dụng thuốc hoá học để phòng trừ bọ phấn của người nông dân đã gây ô nhiễm môi trường và gây nên những hiện tượng đột biến gen, ung thư và quái thai (trích dẫn bởi Muhammad và ctv, 2004) Nên Muhammad và ctv (2004) đã đưa vào thử nghiệm một số chất thân thiện với hệ sinh thái như: dầu mù tạc, bột giặt, tennery effluent và buprofezin để phòng trừ bọ phấn Kết quả cho thấy dầu mù tạc có hiệu lực phòng trừ bọ phấn cao hơn cả so với các chất khác và hiệu lực kéo dài đến 7 ngày sau sử dụng Tuy nhiên, thành trùng và ấu trùng bọ phấn thường nằm ở dưới
Trang 37
mặt lá nên thuốc hóa học khó có tác dụng đối với chúng Do đó việc dùng thuốc hóa học để kiểm soát bọ phấn thì thường tốn chi phí và không mấy có hiệu quả đồng thời gây nên tính kháng thuốc ở bọ phấn Các loại thuốc trừ sâu nhóm điều hòa sinh trưởng như buprofezin và pyriproxyfen được đưa vào sử dụng trên cây bông vải ở Arizona vào năm 1996 sau khi bọ phấn kháng mạnh với các loại thuốc trừ sâu thuộc nhóm cúc tổng hợp và các loại thông thường (Dennehy và ctv, 1996) Những nghiên
cứu gần đây cho thấy rằng B tabaci đã kháng với các loại thuốc trừ sâu nhóm lân
hữu cơ và cúc tổng hợp (Prabhaker và ctv 1985) Gloria và ctv (2005) nhận thấy rằng
khi dùng benzo[1,2,3]thiadiazole-7-carbothioic acid-S-methyl ester (BTH hoặc acibenzolar-S-methyl) phun trên cây cà chua để phòng trừ bọ phấn đã gây nên tính
và ctv, 2000)
Sinh học: việc quá lạm dụng thuốc hóa học để phòng trừ bọ phấn, đã dẫn đến
sự kháng thuốc và tạo ra nhiều nòi sinh học mới Nên nhiều nghiên cứu hướng vào việc dùng các loài thiên địch trong tự nhiên để phòng trừ bọ phấn (Gerling, 1990; Gerling và ctv, 2001; van Lenteren và ctv, 1999) Tuy nhiên sử dụng biện pháp sinh học để kiểm soát bọ phấn thì rất khó khăn, ngoại trừ phát hiện sớm sự xuất hiện của
bọ phấn (Susan và ctv, 2001)
Coudriet và ctv (1985) dùng chất trích hạt cây neem với nồng độ 0,2 - 2% có tác dụng làm hư trứng, giảm khả năng sinh sản, kéo dài giai đoạn ấu trùng, và diệt được ấu trùng bọ phấn
Dùng Biosoap là một sản phẩm từ chất trích cây thuốc lá có khả năng giết chết 78 - 94% bọ phấn mà không ảnh hưởng đến các loài thiên địch và ngăn chặn tính kháng với các loại thuốc trừ sâu (Chaudhry, 1993)
Trang 38
Meekes và ctv (2002) cho rằng các loài Aschersonia có thể sử dụng như những tác nhân sinh học để phòng trừ B tabaci and T vaporariorum Fransen
(1990) cho rằng có 4 loài nấm gây bệnh côn trùng được ghi nhận là có khả năng tấn
công bọ phấn B tabaci Đó là Paecilomyces fumosoroseus, P farinosus, Erynia
radicans, và Aschersonia aleyrodis Trong phòng thí nghiệm, P farinosus có thể giết
chết 90% thành trùng B tabaci Xiao (2002); Zhang (2003, 2004) ghi nhận
Paecilomyces fumosoroseus Wize và Verticillium lecanii Zimmermann (Moniliales:
Moniliaceae) là những loài có khả năng phòng trừ bọ phấn cao Gindin và ctv (2000)
kết luận Verticillium lecanii có thể kiểm soát đến 95-98% ấu trùng B argentifolii đang nở Còn t heo Poprawski và ctv (2001), Beauveria bassiana và Paecilomyces
fumosoroseus có khả năng phòng trừ tốt ấu trùng của bọ phấn gây hại trên các cây
trồng thuộc họ bầu bí Ngoài ra ấu trùng tuổi 1 của B tabaci cũng bị vi khuẩn
Bacillus thuringiensis (Bt) tấn công, ở nồng độ 500μg/ml thì (Bt) có thể kiểm giết
chết 60 - 68% ấu trùng tuổi 1 (Al-Shayji và ctv, 2006) Tuy nhiên do chúng không phải là tác nhân di động nên phải sử dụng nhiều lần mới có hiệu quả vì vậy tốn chi phí cao, ngoài ra các điều kiện khí hậu cũng ảnh hưởng đến hiệu quả phòng trừ như
ẩm độ phải cao
Theo Gerling (1990), có 18 loài ký sinh B tabaci được ghi nhận đó là: Aphelinidae (Aphelosoma: 1 loài, Encarsia: 20 loài, Eretmocerus: 6 loài), và Platygasteridae (Amitus: 1 loài) Còn theo Zhang và ctv (2003, 2004) ở Trung quốc
có 19 loài ong ký sinh bọ phấn: Encarsia formosa Gahan, Encarsia pergandiella Howard và Eretmocerus mundus Mercet (Hymenoptera: Aphelinidae) Trong đó
Encarsia formosa là loài ký sinh được sử dụng rộng rãi trên thế giới để phòng trừ bọ
phấn trên các loại cây rau và cây cảnh trồng trong nhà kính (Hoddle M S., và ctv 1998)
Cũng theo Gerling và ctv (2001), có nhiều nghiên cứu về các loài bắt mồi bọ phấn Theo Lopez-Avila (1986), Gerling (1990), có 19 loài côn trùng thuộc 4 họ
(Chrysopidae, Miridae, Anthocoridae và Coccinellidae) và 11 loài nhện thuộc 2 họ (Phytoseiidae và Stigmaeidae) là những loài thiên địch của bọ phấn B tabaci dạng
Trang 39
bắt mồi Amblyseius swirskii có khả năng ăn trứng và ấu trùng tuổi 1 bọ phấn và có
khả năng thiết lập quần thể tốt trên cây ớt ngọt ngay cả khi không có con mồi (Karel
và ctv, 2008) Zhang và ctv (2003, 2004) ghi nhận ở Trung quốc có xấp xỉ 114 loài côn trùng bắt mồi tấn công bọ phấn (thuộc 9 bộ, 13 họ), Lygus pratensis L (Hemiptera: Miridae), Chrysoperla sinica Tjeder (Neuroptera: Chrysopidae) là một
số loài quan trọng nhất. Delphastus pusillus LeConte (Coleoptera: Coccinellidae) là
loài bọ rùa có thể tấn công tất cả các giai đoạn sống của bọ phấn (Heinz và ctv,
1996) Cyrtopeltis, Dicyphus, Macrolophus và Deraeocoris là những loài mirid bắt
mồi có khả năng tấn công bọ phấn (Kapadia và ctv, 1991), tuy nhiên các loài này không có khả năng kéo bọ phấn xuống ngưỡng cần thiết (Heinz, 1996) Gần đây hai
loài Euseius scutalis (Athias-Henriot) và Typhlodromips swirskii (Athias-Henriot) được ghi nhận là thiên địch của B tabaci Chúng không chỉ ăn các loài côn trùng gây
hại cây trồng mà còn ăn được phấn hoa và mật hoa Do đó chúng có thể sống sót khi mật số côn trùng thấp Và chính vì vậy chúng cũng có thể là tác nhân gây hại cho cây
trồng (Nomikou và ctv, 2003)
O insidiosus D pusillu E formosa P fumosoroseus
Hình 2.4: Một số tác nhân phòng trừ sinh học (Susan và ctv 2001)
Dùng biện pháp sinh học để bảo vệ các sản phẩm nông nghiệp mang lại hiệu quả kinh tế cao và giảm thiểu được việc sử dụng các loại thuốc hóa học, an toàn cho môi trường
Trang 40
2.3.Tỉnh Tây Ninh
Tỉnh Tây Ninh (hình 2 6) thuộc miền Đông Nam bộ Nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tọa độ từ 10057'08'' đến 11046'36'' vĩ độ Bắc và từ 105048'43” đến 106022'48'' kinh độ Đông Phía Tây và Tây Bắc giáp Vương quốc Campuchia, phía Đông giáp tỉnh Bình Dương, Bình Phước, phía Nam giáp TP Hồ Chí Minh và tỉnh Long An Dân số khoảng 1.047.101 người, mật độ bình quân 259,48 người/km2 Tổng số nhân khẩu từ 15 tuổi trở lên là 827.671 người, trong đó khả năng lao động là 608.843 người chiếm 58,15% dân số của tỉnh Diện tích tự nhiên 403.545
ha trong đó diện tích nông nghiệp chiếm 69,08% diện tích tự nhiên Địa hình tương đối bằng phẳng, giao thông khá thuận lợi Hơn 86% là đất xám rất thích hợp cho các cây công nghiệp dài ngày và ngắn ngày như: cao su, sắn, lạc, mía, thuốc lá,….Trong năm 2006 diện tích trồng thuốc lá khoảng 6564 ha (cục thống kê tỉnh Tây Ninh, 2006)
Vùng đất được sử dụng cho cây thuốc lá gồm hai nhóm:
Nhóm đất cao (đất đồng): có thành phần cơ giới chủ yếu là cát, độ phì thấp, hàm lượng mùn từ 0,5 - 1%, đất chua Tầng canh tác từ mỏng (20 -25cm) đến dày (>30cm), thoát nước trung bình đến khá Nhóm đất này quanh năm trồng cây màu là chủ yếu và thuốc lá…
Nhóm đất thấp (đất ruộng): có thành phần cơ giới là cát và cát pha thịt nhẹ, độ phì thấp đến trung bình, có hàm lượng mùn khá hơn từ 1,0 - 1,5%, đất chua, tầng canh tác thường mỏng (20 - 25cm) thoát nước chậm đến trung bình Mùa mưa trồng lúa, mùa khô trồng màu, thuốc lá…
Khí hậu Tây Ninh tương đối ôn hòa, chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa mưa và mùa khô Mùa khô từ tháng 12 năm trước đến tháng 4 năm sau và tương phản rất rõ với