1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐỒNG QUẢN LÝ NGUỒN LỢI NGHÊU Meretrix lyrata (Sowerby, 1851) TỈNH BẾN TRE Nuôi trồng thủy sản LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

144 207 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 144
Dung lượng 3,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐỒNG QUẢN LÝ NGUỒN LỢI NGHÊU Meretrix lyrata (Sowerby, 1851) TỈNH BẾN TRE Nuôi trồng thủy sản LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC0 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HỒ CHÍ MINH LÊ ĐỨC LIÊM NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐỒNG QUẢN LÝ NGUỒN LỢI NGHÊU Meretrix lyrata (Sowerby, 1851) TỈNH BẾN TRE Chuyên ngành: Nuôi trồng thủy sản Mã số: LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC Hướng dẫn khoa học: 1. TS. VŨ CẨM LƯƠNG 2. TS. NGUYỄN THANH TÙNG Tp. Hồ Chí Minh, tháng 11 năm 2010 i TRANG CHUẨN Y NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐỒNG QUẢN LÝ NGUỒN LỢI NGHÊU Meretrix lyrata (Sowerby, 1851) TỈNH BẾN TRE LÊ ĐỨC LIÊM Hội đồng chấm luận văn: 1. Chủ tịch: PGS.TS. LÊ THANH HÙNG Đại học Nông Lâm TP.HCM 2. Thư ký: TS. NGUYỄN MINH ĐỨC Đại học Nông Lâm TP.HCM 3. Phản biện 1: TS. NGUYỄN VĂN TRAI Đại học Nông Lâm TP.HCM 4. Phản biện 2: PGS.TS. BÙI LAI Phân Viện KTTV MT Nam Bộ 5. Ủy viên: TS. NGUYỄN THANH TÙNG Phân Viện Quy hoạch Thủy sản Phía Nam ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HỒ CHÍ MINH HIỆU TRƯỞNG i i LÝ LỊCH CÁ NHÂN Tôi tên là Lê Đức Liêm, sinh ngày 17 tháng 3 năm 1973, tại huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên. Con Ông Lê Đức Xuân và Bà Lê Thị Hỷ. Tốt nghiệp Tú tài tại Trường Trung học phổ thông Lê Trung Kiên, tỉnh Phú Phú Yên, năm 1991. Tốt nghiệp Đại học ngành Nuôi trồng Thủy sản, hệ chính quy, tại Đại học Thủy Sản Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa, năm 1999. Quá trình công tác: Từ 1999 – 2002: Công tác tại Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 2 – TP.HCM. Từ 2002 – 2006: Công tác tại Công ty Asia Hawaii Phú Yên. Từ 2006 – đến nay: Công tác tại Phân Viện Quy hoạch Thủy sản Phía Nam, Chức vụ: Phó phụ trách Phòng Quy Hoạch. Tháng 9 năm 2008 theo học Cao học ngành Nuôi trồng Thủy sản, tại Đại học Nông Lâm, TP. Hồ Chí Minh. Tình trạng gia đình: Vợ: Nguyễn Thị Thu Thảo, năm kết hôn 2001. Con: Lê Đức Doãn Lệnh, sinh năm 2003. Địa chỉ liên lạc: 5410C Lâm Văn Bền – P. Tân Kiểng – Q.7 – TP.HCM Điện thoại: 0984 027779 Email: liemthaolenhyahoo.com ii i LỜI CAM ĐOAN Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Đề tài cấp nhà nước: “Nghiên cứu xây dựng mô hình bảo vệ và phát triển nguồn lợi Nghêu (Meretrix lyrata), Sò huyết (Andara granosa) ở vùng cửa sông, ven biển Tiền Giang, Bến Tre và Trà Vinh” được quyền sử dụng kết quả nghiên cứu của luận văn này. TP. Hồ Chí Minh, ngày 22 tháng 11 năm 2010 Tác giả Lê Đức Liêm iv LỜI CẢM TẠ Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu, Ban chủ nhiệm Khoa Thủy sản, Phòng Quản lý khoa học và Đào tạo Sau đại học Trường Đại học Nông Lâm TP.HCM đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học tập, nghiên cứu nâng cao trình độ và thực hiện đề tài trong thời gian qua. Tôi thành thật xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với TS.Vũ Cẩm Lương và TS. Nguyễn Thanh Tùng đã nhiệt tình động viên và hướng dẫn tôi trong suốt thời gian học tập cũng như trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp. Tôi xin cám ơn Bộ Khoa học và Công nghệ và TS. Nguyễn Thanh Tùng chủ nhiệm đề tài cấp nhà nước đã tạo điều kiện tốt cho tôi cùng tham gia nghiên cứu để hoàn thành luận văn này. Tôi cũng xin chân thành cảm ơn đến quý thầy cô đã giảng dạy và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học tập, tận tâm truyền đạt những kiến thức chuyên môn cho tôi trong suốt thời gian học tập tại Trường Đại học Nông Lâm TP.HCM. Xin gởi lời cảm ơn chân thành đến các thành viên hội đồng đã nhiệt tình giúp đỡ, đóng góp ý kiến quý báu để luận văn tốt nghiệp được hoàn chỉnh hơn. Cảm ơn tất cả các bạn lớp Cao học Nuôi Trồng Thủy Sản khóa 2008 đã đoàn kết, gắn bó cùng tôi vượt qua chặng đường dài học tập ở bậc Cao học. Có được sự thành công hôm nay, chính là nhờ vào sự động viên, giúp đỡ tận tình của gia đình tôi trong suốt quá trình học tập. Tôi luôn khắc ghi và xin cám ơn với tất cả người thân. TP. Hồ Chí Minh, ngày 22 tháng 11 năm 2010 Tác giả v TÓM TẮT Đề tài: “Nâng cao hiệu quả đồng quản lý nguồn lợi Nghêu Meretrix lyrata (Sowerby, 1851) tỉnh Bến Tre ” đã được thực hiện tại các huyện ven biển Bình Đại, Ba Tri và Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre. Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 4 – 2010 đến tháng 11 2010. Số liệu sơ cấp được thu thập từ điều tra, phỏng vấn trực tiếp các hộ xã viên tham gia đồng quản lý trên địa bàn vùng nghiên cứu (102 phiếu); điều tra, thu thập thông tin từ Ban quản lý các HTX (10 phiếu); biểu thu thập thông tin từ Phòng Nông nghiệp các huyện ven biển (3 biểu); phiếu đánh giá tính khả của các giải pháp đề xuất (95 phiếu). Số liệu thứ cấp được thu thập từ các văn bản về thể chế, chính sách, các bản đồ, các số liệu thống kê, các báo cáo hàng năm liên quan đến nguồn lợi Nghêu tỉnh Bến Tre. Các phương pháp đã được sử dụng như: Phương pháp đánh giá và cho điểm mô hình theo bộ tiêu chí, PRA đánh giá nông thôn có sự tham gia của cộng đồng xã viên, hội thảo, tham vấn chuyên gia và phân tích SWOT. Kết quả chính thu thập của đề tài như: Xác định các bên tham gia đồng quản lý nguồn lợi Nghêu của tỉnh Bến Tre bao gồm các các hộ xã viên trong HTX, chính quyền các cấp, ngành và các tổ chức bên ngoài. Phân phối thu nhập cho hộ xã viên HTX đối với đối với nguồn lợi Nghêu tự nhiên là 70 – 80%, Nghêu mua giống thả nuôi là 70 – 90%, tỷ lệ (%) còn lại trích lập các quỹ. Lợi nhuận bình quân chia cho các hộ xã viên năm 2009 trung bình là 6,99 triệu đồng. Trong đó, các hộ xã viên trên địa bàn huyện Bình Đại trung bình là 11,41 triệu đồng, huyện Ba Tri là 4,64 triệu đồng và huyện Thạnh Phú là 6,27 triệu đồng. Độ tuổi trung bình của các hộ xã viên tham gia ĐQL là 49±11 tuổi, nhóm tuổi tham gia ĐQL cao nhất là từ 40 – 49 tuổi. Tỷ lệ nữ chủ hộ chiếm 53% và nam là chủ hộ chiếm 47% trong vùng nghiên cứu. Trình độ văn hóa và trình độ chuyên môn của các hộ xã viên của HTX trong vùng còn thấp. Đối với trình độ văn hóa, tỷ lệ không biết chữ chiếm 3%, cấp 1 (39%), cấp 2 (32%). Đối với trình độ chuyên môn, chưa qua đào tạo chiếm 26%, dựa vào kinh nghiệm (46%), tập huấnsơ cấp (19%). Diện tích và sản lượng Nghêu v itrong vùng có xu hướng tăng chậm. Năm 2009, diện tích nguồn lợi Nghêu toàn vùng là 2.462 ha, với sản lượng 6.318 tấn. Kết quả đánh giá cho điểm mô hình các HTX được phân làm 3 nhóm. Nhóm mức độ ĐQL cao bao gồm HTX Rạng Đông với tổng số là 50 điểm và Đồng Tâm là 46 điểm; nhóm mức độ ĐQL trung bình bao gồm các HTX Tân Thủy tổng số là 39 điểm, Thạnh Phong 37 điểm, Thạnh Lợi 36,5 điểm, An Thủy 36 điểm và Bình Minh là 35,5 điểm; nhóm mức độ ĐQL thấp bao gồm HTX Hải Dương 31 điểm và Bảo Thuận 28 điểm. Đề tài đã đề xuất và đánh tính khả thi của các nhóm giải pháp như: (i) quản lý và vận hành mô hình, (ii) giải pháp khoa học công nghệ, (iii) giải pháp huy động vốn, (iv) giải pháp phát triển nguồn nhân lực và nâng cao nhận thức, (v) giải pháp nhân rộng mô hình. Từ khóa: đồng quản lý, hợp tác xã, Nghêu Bến Tre, mô hình, tổ chức, quản lý, giải pháp. vi i ABSTRACT The thesis “Improving comanagement effects of clam resources Meretrix lyrata (Sowerby, 1851) in Ben Tre Province” was carried out in Binh Dai, Ba Tri, Thanh Phu of Ben Tre Province during AprilNovember 2010. Primary data were collected by the questionnaires for 102 farmers, 10 cooperative managers, 3 Agricultural bureaus and 95 people for feasible solutions asessment. Methodology of PRA and SWOT analysis were also used in the study. Main results of the thesis are as follows: identfy of steakholders involved in comanagement including farmers in cooperative, local government and outside organization. Income distribution for households from wild clam resources is 70 80%, cultured clam is 7090%, while remaining for budget spending. The average profit was 6.99 million VND per household in 2009, in which Ba Tri and Thanh Phu were 4.64 and 6.27 million VND per household, respectively. The average age of investigated farmers was 49, in which the age group of 40 49 was highest. The hoseholders were women occupying for 53%, while men 47%. The learning level and skills of investigated farmers were rather low, in which 3% without learning, 39 and 32% were in primary and secondary schools, respectively. 26% of investigated farmers have not been trained in their works, while 46% based on their owned experience. There was 19% of investigated farmers have been trained. The increasing of clam’s area and production was rather slow. Until 2009, the total area of clam resources was 2,462 ha, with total production was 6,318 tons. The grading of cooperatives was divided into 3 groups. The higher comanagement group include Rang Dong and Dong Tam cooperatives, with grading of 50 and 46, respectively. The medium comanagement group include Tan Thuy, Thanh Phong, Thanh Loi, An Thuy and Binh Minh cooperatives, with grading of 39, 37, 36.5, 36, 35.5, respectively. The lower comanagement group include Hai Duong and Bao Thuan cooperatives, with grading of 31 and 28, respectively. The thesis suggested solutions and assessed its feasible: (i) manage and running the model; (ii) solution vi iiof science and technology; (iii) solution for capital; (iv) human resources development and awareness improvement; (v) model development. Key words: comanagement; cooperative; Ben Tre clam; model, organize, management, solution. ix MỤC LỤC CHƯƠNG TRANG TRANG CHUẨN Y .................................................................................................... i LÝ LỊCH CÁ NHÂN ................................................................................................. ii LỜI CAM ĐOAN ..................................................................................................... iii LỜI CẢM TẠ ............................................................................................................ iv TÓM TẮT ................................................................................................................... v MỤC LỤC ................................................................................................................. ix DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT ..................................................................... xii DANH SÁCH CÁC BẢNG .................................................................................... xiii DANH SÁCH CÁC HÌNH ....................................................................................... xv Chương 1 .................................................................................................................... 1 ĐẶT VẤN ĐỀ ............................................................................................................ 1 Chương 2 .................................................................................................................... 4 TỔNG QUAN ............................................................................................................ 4 2.1. Các khái niệm về đồng quản lý và quản lý dựa vào cộng đồng........................... 4 2.1.1. Khái niệm về đồng quản lý ............................................................................... 4 2.1.2. Khái niệm về quản lý dựa vào cộng đồng ......................................................... 6 2.2. Tình hình đồng quản lý trên thế giới.................................................................... 7 2.3. Tình hình đồng quản lý nghề cá quy mô nhỏ ở Việt Nam ................................. 11 2.3.1. Quá trình hình thành ....................................................................................... 11 2.3.2. Một số mô hình đồng quản lý nghề cá đã thực hiện ở Việt Nam ................... 12 2.4. Đặc điểm nguồn lợi Nghêu của Bến Tre ............................................................ 15 2.4.1. Đặc điểm sinh học ........................................................................................... 15 2.4.2. Sự biến động nguồn lợi nghêu Bến Tre .......................................................... 18 2.4.3. Tình hình quản lý, khai thác nguồn lợi Nghêu ............................................... 20 2.5. Một số thông tin kinh tế xã hội các huyện ven biển tỉnh Bến Tre ................... 21 2.5.1. Diện tích, dân số và đơn vị hành chánh .......................................................... 21 2.5.2. Giá trị sản xuất ................................................................................................ 22 2.5.3. Một số đề tài, dự án liên quan đến vùng đồng quản lý ................................... 24 Chương 3 .................................................................................................................. 25 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.............................................. 25 x 3.1. Nội dung và phạm vi nghiên cứu ....................................................................... 25 3.1.1. Nội dung nghiên cứu ....................................................................................... 25 3.1.2. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu .................................................................. 25 3.2. Phương pháp nghiên cứu.................................................................................... 27 3.2.1. Phương pháp thu thập số liệu .......................................................................... 27 3.2.2. Phương pháp đánh giá cho điểm theo bộ tiêu chí ........................................... 28 3.2.3. Phương pháp PRA ........................................................................................... 29 3.2.4. Phương pháp hội thảo, chuyên gia .................................................................. 30 3.2.5. Phương pháp phân tích SWOT ....................................................................... 31 3.2.6. Xử lý và phân tích số liệu ............................................................................... 31 Chương 4 .................................................................................................................. 33 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ................................................................................ 33 4.1. Kết quả đồng quản lý nguồn lợi Nghêu tỉnh Bến Tre ........................................ 33 4.1.1. Cơ cấu, tổ chức đồng quản lý .......................................................................... 33 4.1.2. Tình hình hoạt động của các hợp tác xã trong vùng đồng quản lý ................. 36 4.1.3. Thông tin chung về các hộ xã viên tham gia hợp tác xã ................................. 52 4.1.4. Ảnh hưởng của ĐQL lên biến động diện tích, sản lượng Nghêu.................... 60 4.2. Đánh giá mức độ thực hiện đồng quản lý nguồn lợi Nghêu tỉnh Bến Tre ........ 66 4.2.1. Đánh giá các tiêu chí về xây dựng và tổ chức thực hiện mô hình .................. 67 4.2.2. Đánh giá các tiêu chí về hiệu quả áp dụng mô hình ....................................... 72 4.2.3. Đánh giá các tiêu chí về tính bền vững và khả năng nhân rộng mô hình ....... 76 4.2.4. Tổng hợp kết quả đánh giá và cho điểm mức độ đồng quản lý ...................... 77 4.3. Phân tích SWOT trong đồng quản lý nguồn lợi Nghêu tỉnh Bến Tre ................ 78 4.3.1. Điểm mạnh thuận lợi (SStrength) ................................................................ 79 4.3.2. Cơ hội (OOpportunity) .................................................................................. 80 4.3.3. Khó khăn điểm yếu (WWeakness) .............................................................. 81 4.3.4. Đe dọa thách thức (TThreat) ....................................................................... 83 4.4. Đề xuất các giải pháp khả thi giúp nâng cao hiệu quả đồng quản lý nguồn lợi Nghêu của tỉnh Bến Tre ..................................................................................... 84 4.4.1. Nhóm giải pháp quản lý và vận hành mô hình ............................................... 84 4.4.2. Nhóm giải pháp khoa học công nghệ .............................................................. 88 4.4.3. Nhóm giải pháp về huy động vốn ................................................................... 89 x i 4.4.4. Nhóm giải pháp phát triển nguồn nhân lực và nâng cao nhận thức ................ 90 4.4.5. Nhóm giải pháp nhân rộng mô hình ................................................................ 91 4.5. Đánh giá tính khả thi của các giải pháp đề xuất................................................. 91 4.5.1. Đánh giá tính khả thi của nhóm giải pháp quản lý và vận hành mô hình ....... 91 4.5.2. Đánh giá tính khả thi của nhóm giải pháp khoa học công nghệ ..................... 96 4.5.3. Đánh giá tính khả thi của nhóm giải pháp về nguồn vốn................................ 98 4.5.4. Đánh giá tính khả thi của nhóm giải pháp phát triển nguồn nhân lực và nâng cao nhận thức cộng đồng ............................................................................... 99 4.5.5. Đánh giá tính khả thi của nhóm giải pháp nhân rộng mô hình ....................... 99 Chương 5 ................................................................................................................ 101 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ................................................................................... 101 TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................... 103 PHỤ LỤC ............................................................................................................... 108 xi i DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT ATVSTP: An toàn vệ sinh thực phẩm BTC Bán thâm canh CCHC: Cải cách hành chánh ĐBSCL: Đồng bằng sông Cửu Long ĐQL: Đồng quản lý FAO: Tổ chức nông – lương thế giới GP Giải pháp GTSX: Giá trị sản xuất HTX: Hợp tác xã MH: Mô hình MSC: Hội đồng quản lý biển quốc tế NK: Nhân khẩu NN và PTNT: Nông nghiệp và phát triển nông thôn NTHMV: Nhuyễn thể hai mảnh vỏ NTTS: Nuôi trồng thủy sản QLDVCD Quản lý dựa vào cộng đồng SX: Sản xuất TC Thâm canh TTBQ Tăng trưởng bình quân UBND: Ủy ban nhân dân VA: Giá trị tăng thêm Viện NCNTTS 2: Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản 2 WWF: Quỹ bảo tồn thiên nhiên thế giới xi ii DANH SÁCH CÁC BẢNG BẢNG TRANG Bảng 2.1: Dân số, mật độ dân số 3 huyện ven biển tỉnh Bến Tre có đến 12 – 2009 21 Bảng 2.2: Số đơn vị hành chính của 3 huyện ven biển tỉnh Bến Tre có đến 31122009 ............................................................................................. 22 Bảng 2. 3: GTSX khu vực I của 3 huyện ven biển tỉnh Bến Tre năm 2009 .......... 22 Bảng 2. 4: GTSX thủy sản 3 huyện ven biển tỉnh Bến Tre, 2009 (Đvt: triệu đồng) 23 Bảng 3.1: Số lượng mẫu điều tra, thu thập trong vùng nghiên cứu .......................... 28 Bảng 3. 2: Mức cho điểm theo đánh giá sự kiện thay đổi ........................................ 29 Bảng 4.1: Thông tin về HTX Thủy sản có đến 5 – 2010 trên địa bàn tỉnh Bến Tre 38 Bảng 4.2: Thông tin về nhân sự HTX có đến 5 – 2010 trên địa vùng nghiên cứu (Đvt: người) ........................................................................................... 42 Bảng 4.3: Lương bình quântháng của lao động trong HTX (Đvt: 1.000 đồng) ...... 48 Bảng 4.4: Hoạt động tài chính của HTX đối với nguồn lợi Nghêu tự nhiên ............ 49 Bảng 4.5: Hoạt động tài chính của HTX đối với mua giống nuôi Nghêu thịt......... 49 Bảng 4.6: Hạch toán kinh tế từ nguồn lợi Nghêu của các HTX năm 2009 .............. 51 Bảng 4.7: So sánh một số chỉ tiêu kinh tế của HTX tỉnh Bến Tre và HTX trong vùng nghiên cứu năm 2009 .................................................................... 52 Bảng 4.8: Kết quả điều tra nhân khẩu của các hộ xã viên (Đvt: người) ................... 53 Bảng 4.9: Tuổi của chủ hộ trong vùng nghiên cứu .................................................. 53 Bảng 4.10: Kết quả điều tra số lao động chính trong các hộ xã viên trong vùng (Đvt: người) ........................................................................................... 56 Bảng 4.11: Kết quả điều tra số lao động thu hoạch, san thưa Nghêu của hộ xã viên (Đvt: người) ........................................................................................... 57 Bảng 4.12: Diễn biến diện tích nuôi và khai thác Nghêu tỉnh Bến Tre (Đvt: Ha) ... 60 Bảng 4.13: Diện tích nguồn lợi Nghêu của tỉnh Bến Tre năm 2009 ........................ 62 Bảng 4.14: Diện tích loại hình nuôi và khai thác Nghêu tỉnh Bến Tre (Đvt: Ha) .... 63 Bảng 4.15: Diễn biến sản lượng Nghêu 3 huyện ven biển tỉnh Bến Tre (Đvt: tấn) . 64 Bảng 4.16: Sản lượng nguồn lợi Nghêu tỉnh Bến Tre năm 2009 (Đvt: tấn) ............ 64 Bảng 4.17: Năng suất Nghêu giống, thương phẩm của các HTX tỉnh Bến Tre, 2009 ............................................................................................................... 65 Bảng 4.18: Kết quả đánh giá và cho điểm nhóm tiêu chí về xây dựng và tổ chức thực hiện mô hình .................................................................................. 67 Bảng 4.19: Kết quả đánh giá, cho điểm nhóm tiêu chí về hiệu quả áp dụng mô hình ............................................................................................................... 72 xi v Bảng 4.20: Thu nhập từ chia nguồn lợi Nghêu của các HTX Bến Tre qua các năm (Đvt: triệu đồng) .................................................................................... 74 Bảng 4.21: Kết quả đánh giá và cho điểm nhóm tiêu chí về tính bền vững và khả năng nhân rộng mô hình ....................................................................... 76 Bảng 4.22: Tổng hợp kết quả đánh giá và cho điểm các mô hình HTX Nghêu ....... 78 Bảng 4.23: Tỷ lệ đánh giá tính khả thi của giải pháp cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý ............................................................................................................... 92 Bảng 4.24: Tỷ lệ đánh giá tính khả thi của các giải pháp thể chế, chính sách ......... 94 Bảng 4.25: Tỷ lệ đánh giá tính khả thi của giải pháp khoanh vùng ......................... 97 Bảng 4.26: Tỷ lệ đánh giá tính khả thi của các giải pháp về nguồn vốn .................. 99 xv DANH SÁCH CÁC HÌNH HÌNH TRANG Hình 2.1: Nghêu Bến Tre Meretrix lyrata (Sowerby, 1851) .................................... 16 Hình 2.2: Cơ cấu GTSX thủy sản năm 2009 của 3 huyện ven biển tỉnh Bến Tre ... 23 Hình 3.1: Vị trí vùng nghiên cứu nguồn lợi Nghêu tỉnh Bến Tre ............................ 26 Hình 3.2: Điều tra, thu thập thông tin từ Ban quản lý HTX ..................................... 27 Hình 3.3: Tọa đàm trao đổi, thu thập thông tin từ Phòng Nông Nghiệp .................. 27 Hình 3.4: Làm việc theo nhóm và điều tra phỏng vấn các hộ xã viên trong HTX .. 30 Hình 3.5: Hội thảo đồng quản lý nguồn lợi Nghêu tỉnh Bến Tre ............................. 31 Hình 4.1: Các bên tham gia đồng quản lý nguồn lợi Nghêu tỉnh Bến Tre ............... 34 Hình 4.2: Sơ đồ về hệ thống tổ chức, quản lý nguồn lợi Nghêu tỉnh Bến Tre ......... 36 Hình 4.3: Sơ đồ điển hình về tổ chức quản lý và hoạt động điều hành của HTX Rạng Đông ............................................................................................. 43 Hình 4.4: Hiện trạng các HTX trong vùng nghiên cứu, 052010 ............................. 44 Hình 4.5: Cơ cấu lợi nhuận chia cho hộ xã viên các HTX vùng nghiên cứu, 2009 . 51 Hình 4.6: Tỷ lệ độ tuổi của chủ hộ trong vùng nghiên cứu ..................................... 54 Hình 4.7: Tỷ lệ giới tính của chủ hộ theo độ tuổi trong vùng nghiên cứu ............... 55 Hình 4.8: Tỷ lệ trình độ văn hóa của các hộ xã viên trong vùng ............................. 55 Hình 4.9: Tỷ lệ trình độ chuyên môn của hộ xã viên trong vùng nghiên cứu .......... 58 Hình 4.10: Năm tham gia HTX của các hộ xã viên trong vùng nghiên cứu ............ 58 Hình 4.11: Tỷ lệ ngành SX chính của các hộ xã viên trong vùng nghiên cứu ......... 59 Hình 4.12: Diện tích NTTS và diện tích nguồn lợi Nghêu trong vùng nghiên cứu . 61 Hình 4.13: Cơ cấu diện tích nguồn lợi Nghêu tỉnh Bến Tre .................................... 63 Hình 4.14: Cơ cấu phân nhóm mức độ ĐQL nguồn lợi Nghêu tỉnh Bến Tre .......... 66 Hình 4.15: Kết quả đánh giá tiêu chí xuất phát ĐQL của các mô hình HTX .......... 68 Hình 4.16: Kết quả điều tra về tiêu chí tham gia quyết định ĐQL và xây dựng các văn bản pháp quy liên quan đến xây dựng mô hình .............................. 71 1 Chương 1 ĐẶT VẤN ĐỀ Loài Nghêu Bến Tre Meretrix lyrata (Sowerby, 1851) đã được xếp vào danh mục các loài thủy sản có giá trị kinh tế cao và có thị trường xuất khẩu ngày càng được mở rộng. Theo số liệu của Tổng cục Hải quan năm 2009, xuất khẩu Nghêu của cả nước đạt 17.624 tấn, trị giá trên 37,2 triệu USD. Trong đó, xuất khẩu sang thị trường EU chiếm 77,1% về khối lượng và 73,8% về giá trị. Tỉnh Bến Tre có trên 65 km bờ biển với 4 cửa sông lớn đổ ra biển Đông là cửa Đại, Ba Lai, Hàm Luông và Cổ Chiên. Với chế độ bán nhật triều, chính thủy triều ra vào từ 4 con sông lớn trên đã tạo thành hàng chục nghìn ha bãi bồi dọc theo bờ biển. Trong khu vực đa dạng sinh học quan trọng này, nguồn lợi Nghêu đóng góp đáng kể cho nền kinh tế của tỉnh và là nguồn lợi nổi tiếng, đứng hàng đầu của cả nước. Hoạt động sản xuất và quản lý khai thác Nghêu của tỉnh đã được Hội đồng Quản lý biển quốc tế MSC (Marine Stewardship Council) thuộc Quỹ Bảo tồn thiên nhiên thế giới (WWF) cấp chứng nhận đạt tiêu chuẩn thương hiệu MSC. Đây là ngành ngư nghiệp đầu tiên của Việt Nam và khu vực Đông Nam Á đạt chứng nhận này, góp phần nâng cao hình ảnh và vị thế con Nghêu Bến Tre nói riêng và ngành thủy sản Việt Nam nói chung trên thị trường quốc tế. Mục đích của MSC là khuyến khích phát triển mô hình sinh thái; đồng quản lý, khai thác bền vững; bảo vệ môi trường và bảo tồn đa dạng sinh học. Đồng quản lý hay quản lý nguồn lợi dựa vào cộng đồng là sự thể hiện chia sẻ vai trò trách nhiệm, quyền và nghĩa vụ giữa Nhà nước và người hưởng lợi thông qua các cơ chế và hình thức hợp tác thích hợp. Mặc dù hệ thống văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động đồng quản lý nghề cá chưa được hoàn chỉnh nhưng được thực tiễn chấp thuận và phù hợp với chủ trương cải cách hành chính. 2 Đồng quản lý là một trong các nội dung nằm trong 5 hợp phần của cải cách hành chánh (CCHC) đã được định hướng trong Nghị quyết TW 5 (khoá X) của Đảng, phù hợp với Luật Thuỷ sản, chương trình CCHC 2006 2010 của Chính phủ, Bộ NN và PTNT. Bởi vậy, đồng quản lý không chỉ là cách tiếp cận mới, quản lý khôn ngoan và có hiệu quả trong quản lý nghề cá quy mô nhỏ, mà còn góp phần quan trọng thực hiện CCHC trong lĩnh vực thuỷ sản ở Việt Nam. Đối với nguồn lợi Nghêu ở tỉnh Bến Tre, việc quản lý có sự tham gia của cộng đồng địa phương là tương đối toàn diện, từ các hoạt động quản lý, bảo vệ đến khai thác, bán sản phẩm kể cả việc bảo vệ nguồn lợi ven biển khác như bảo vệ rừng ngập mặn. Nhờ mô hình này, nguồn lợi Nghêu tại địa phương đã được phục hồi và cho sản lượng lớn hằng năm (dao động khoảng 3.000 – 10.000 tấn Nghêu giống và thương phẩm). Bên cạnh các thành tựu đạt được, song trong quá trình tổ chức, thực hiện đồng quản lý nguồn lợi Nghêu của tỉnh cũng gặp những khó khăn, hạn chế nhất định như: thể chế, chính sách chưa thật sự phù hợp; chưa có các văn bản, khung pháp lý hướng dẫn quy trình đồng quản lý trong ngành thủy sản. Mâu thuẫn còn xảy ra trong nội bộ ngành thủy sản, nhất là đối với vùng nguồn lợi thủy sản ven bờ, tuyến bờ khai thác thủy sản, hộ nuôi trồng thủy sản; mâu thuẫn giữa nghề thủy sản và các nghề kinh tế khác. Vấn đề biến đổi khí hậu toàn cầu và nước biển dâng đang diễn ra là những đe dọa, thách thức phải đối mặt,… trong khi đó đầu tư nguồn lực cho quản lý còn rất hạn chế cả về nhân lực và vật lực. Ngoài ra, còn phải kể đến như mức sống của người dân thấp, sinh kế phụ thuộc chính vào thủy sản. Trình độ quản lý và năng lực chuyên môn của Ban quản lý HTX còn hạn chế. Hình thức phân chia lợi ích chưa được người dân trong Hợp tác xã đồng thuận cao. Nhận thức của cộng đồng về bảo vệ môi trường, nguồn lợi và bảo tồn chưa cao cũng là một rào cản cho việc thực hiện thành công tác đồng quản lý. Xuất phát từ những yêu cầu bức bách từ thực tiễn, những đòi hỏi mang tính cấp thiết chúng tôi nghiên cứu đề tài: “Nâng cao hiệu quả đồng quản lý nguồn lợi 3 Nghêu Meretrix lyrata (Sowerby, 1851) tỉnh Bến Tre”, với mục đích là quản lý một cách có hiệu quả, đem lại những lợi ích thiết thực cho cộng đồng như: giảm xung đột, bảo tồn nguồn lợi Nghêu bố mẹ, bảo vệ và khai thác Nghêu giống hợp lý để đáp ứng nguồn giống cho nuôi thương phẩm nhằm tăng thu nhập; duy trì và tạo sinh kế bền vững; cung cấp thông tin và cải tiến kỹ năng ra quyết định hiệu quả hơn; tăng cường quyền hợp pháp, CCHC trong quản lý nghề cá. Đồng thời, làm cơ sở cho việc hoàn thiện và nhân rộng mô hình đồng quản lý nguồn lợi Nghêu cho các tỉnh trong vùng ĐBSCL. • Mục tiêu chung: Nâng cao hiệu quả đồng quản lý nguồn lợi Nghêu (Meretrix lyrata) tỉnh Bến Tre. • Mục tiêu cụ thể: Đánh giá thực trạng tình hình thực hiện đồng quản lý nguồn lợi Nghêu tỉnh Bến Tre thông qua thang đánh giá cho điểm mức độ đồng quản lý. Đề xuất và đánh giá tính khả thi của các giải pháp giúp nâng cao hiệu quả đồng quản lý. 4 Chương 2 TỔNG QUAN 2.1. Các khái niệm về đồng quản lý và quản lý dựa vào cộng đồng Khái niệm quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng có từ thế kỷ 19 trên thế giới, được qui định trong Luật nghề cá Lofoten năm 1897 của Nauy. Sau đó là Nhật Bản từ cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20, từ đó hình thành việc quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng. Năm 1992, FAO đã tổ chức hội thảo về phát triển hệ thống quản lý nghề cá ven bờ dựa vào cộng đồng ở các nước Châu Á tại Kobe, Nhật bản. Đến nay, hầu hết các nước trên thế giới từ những nước nghèo, đang phát triển như châu Phi, châu Á đến các nước mới nổi như Hàn Quốc, Ấn độ, Trung Quốc, đến các nước phát triển ở châu Âu như Anh, Đan Mạch, Na Uy và các nước Úc, Mỹ cũng đã và đang áp dụng phương thức quản lý này vào nghề cá của họ (Trần Lê Nguyên Hùng, 2009). Đã có rất nhiều khái niệm về đồng quản lý hay quản lý trên cơ sở cộng đồng được biết đến tại Việt Nam. 2.1.1. Khái niệm về đồng quản lý Đồng quản lý được định nghĩa như là sự chia sẻ trách nhiệm vàhoặc quyền hạn giữa Chính phủ và những người dâncộng đồng địa phương sử dụng nguồn lợi để quản lý nguồn lợi hay hoạt động nghề cá (Pomeroy Williams, 1994). Theo Hà Xuân Thông (2001), đồng quản lý được hiểu như là cách thức chia sẻ hoặc phân định quyền lực và trách nhiệm giữa chính quyền và những người sử dụng nguồn lợi nhằm quản lý một đối tượng nguồn lợi nào đó như nguồn lợi cá, vùng rạn san hô, vùng nuôi thuỷ sản, hồ chứa, một cánh rừng... Phạm vi và cách thức chia sẻ quyền lực và trách nhiệm không giống nhau ở các nước khác nhau và các địa phương khác nhau, do những điều kiện và nền văn hoá khác nhau. 5 Đồng quản lý nghề cá có thể được hiểu như là phương pháp tham gia, nơi mà Chính phủ và người sử dụng nguồn lợi thuỷ sản chia sẻ trách nhiệm và quyền hạn để quản lý nghề cá quốc gia hoặc nghề cá trong một vùng, dựa trên sự hợp tác giữa hai bên và với các bên liên quan khác (Uỷ hội nghề cá châu Á Thái Bình Dương, 2005). Đồng quản lý là một cách tiếp cận quản lý mà ở đó chính quyền chia sẻ một số quyền hạn, trách nhiệm và chức năng quản lý nhất định trong việc quản lý nghề cá với cộng đồng sử dụng nguồn lợi như là những đối tác (Trung tâm phát triển nghề cá khu vực Đông Nam Á SEAFDEC, 2006). Đồng quản lý là một quá trình chính thức nhằm chia sẻ trách nhiệm và quyền hạn giữa chính phủ và các tổ chức theo các tiếp cận phân quyền, để ra các quyết định có thể được lặp lại (Augustinus, 2002). Theo Rivera (1997), cho rằng cách tiếp cận quản lý nguồn lợi ven biển dựa vào cộng đồng (CBCRM) là thúc đẩy sự đồng thuận và hướng tới việc đạt được sự cân bằng về lợi ích. Tầm quan trọng là dựa vào cộng đồng và điều cốt lõi là cách tổ chức cộng đồng. CBCRM (communitybased resource management) là một quy trình quản lý và ra quyết định mang tính chính trị và hướng tới việc xây dựng cơ chế chia sẻ quyền lực và phối hợp quản lý. CBCRM là con đường dẫn đến đồng quản lý. Nó luôn đảm bảo các vấn đề quyền lực là trung tâm để xây dựng cơ chế đồng quản lý. Nếu không có đồng quản lý thì các quyết định quản lý sẽ chỉ mang tính áp đặt và lôi cuốn rất ít những người sử dụng tham gia vào quá trình quản lý. Kết quả là sẽ có một rào cản về mặt liên lạc. Những người sử dụng sẽ không cảm thấy là họ được làm chủ hoặc có trách nhiệm quản lý nguồn lợi ở nơi mà họ sinh sống. Dân số tăng và khai thác quá mức sẽ làm nguồn lợi thủy sản suy giảm nhanh chóng và chắc chắn sẽ có ảnh hưởng tiêu cực đến người dân. Mục đích của đồng quản lý nhằm tăng trách nhiệm, quyền hạn và vai trò của những bên tham gia để tăng cường quản lý nghề cá (Cẩm nang đồng quản lý nghề cá ở lưu vực sông Mê Kông Thái Lan, 2003). 6 2.1.2. Khái niệm về quản lý dựa vào cộng đồng Ở Việt Nam trong gần hai thập kỷ trở lại đây, có nhiều tranh luận xung quanh các khái niệm: đồng quản lý (ĐQL) và quản lý dựa vào cộng đồng (QLDVCĐ). Quản lý nguồn lợi ven biển trên cơ sở cộng đồng là nhận trách nhiệm tự quản lý phần diện tích nguồn lợi ven biển được giao trong việc giám sát và thực hiện các quy định quản lý không trái với pháp luật hiện hành (IFEP và ICLARM, 1999). Quản lý dựa vào cộng đồng là quá trình quản lý trong đó cộng đồng có quyền và trách nhiệm chính trong lập kế hoạch, đưa ra quyết định, quy định, giám sát và thực hiện việc sử dụng bền vững nguồn lợi (Nhóm công tác nghiên cứu Đồng quản lý Bộ thuỷ sản, 2004). Quản lý dựa vào cộng đồng là một khái niệm rất đơn giản, xuất phát từ thực tế ngư dân và những cộng đồng ven biển, là những người mà cuộc sống của họ phụ thuộc vào nguồn tài nguyên biển nên họ có vai trò trong việc quản lý những tài nguyên này. Khái niệm này phù hợp với quan điểm phổ biến là những quyết định quản lý tốt nhất, thường xuất phát trực tiếp từ chính cấp độ đó (Pomeroy, 2006). Nguyễn Thị Kim Anh và Nguyễn Văn Hiếu (2009), cũng cho rằng khi quản lý dựa vào cộng đồng được cân nhắc là một bộ phận cần thiết của đồng quản lý, nó có thể được gọi là đồng quản lý dựa vào cộng đồng. Đồng quản lý dựa vào cộng đồng gồm các đặc trưng của cả quản lý dựa vào cộng đồng và đồng quản lý. Đó là, nó lấy con người làm trung tâm, định hướng cộng đồng, dựa vào nguồn lợi và sự phối hợp. Vì vậy, đồng quản lý dựa vào cộng đồng coi cộng đồng là trọng tâm, đồng thời nhận thấy rằng để thực hiện được việc đó cần phải có mối liên kết ngang (xuyên suốt cộng đồng) và liên kết dọc (với bên ngoài các tổ chức và cơ quan cộng đồng như chính quyền). Đồng quản lý dựa vào cộng đồng thường phổ biến ở các nước đang phát triển do nhu cầu phát triển tổng thể kinh tế và cộng đồng, quyền lực xã hội và quản lý nguồn lợi. 7 Theo nhóm công tác nghiên cứu đồng quản lý Bộ thuỷ sản (2004), hai khái niệm ĐQL và QLDVCD có điểm tương đồng mấu chốt là có sự tham gia của người dâncộng đồng trong quá trình quản lý. Sự khác nhau chính ở đây là mức độ tham gia và thời gian tham gia của chính quyền và người dân vào quá trình quản lý. Phương pháp quản lý dựa vào cộng đồng tập trung vào người dân và cộng đồng. Đồng quản lý cũng tập trung vào người dân và cộng đồng nhưng đồng thời cũng tập trung vào sự tham gia của chính quyền và các bên liên quan khác trong quá trình quản lý. Chính quyền đóng vai trò thứ yếu trong quản lý dựa vào cộng đồng, trong khi đó, theo định nghĩa đồng quản lý, chính quyền đóng vai trò quan trọng và tích cực. 2.2. Tình hình đồng quản lý trên thế giới Tổ chức phi chính phủ của Philipin là CERD tiến hành chương trình quản lý nguồn lợi ven biển có sự tham gia của cộng đồng (CBCRM) tại Calatagan, tỉnh Batangas vào năm 1992. Nông dân, ngư dân, giáo viên, sinh viên và chính quyền địa phương đã tham dự cuộc họp và đã nhất trí rằng việc đánh bắt cá bất hợp pháp là nguyên nhân chính của nghèo đói tại Vịnh Pagaspas và họ đã nhất trí đồng quản lý để giải quyết vấn đề này (Aleroza và ctv, 2003). Dự án sinh kế khai thác Vẹm xanh Sokhulu ở Nam Phi năm 1998 đã xảy ra xung đột giữa các bên chia sẻ nguồn lợi. Các nhân viên quản lý cảm nhận rằng không nên để tình trạng tiếp diễn và cộng đồng Sokhulu nên được tiếp cận để tìm ra một giải pháp. Cuối cùng đưa ra giải pháp đồng quản lý, những nghi ngờ và xung đột ban đầu đã được giải quyết. Những thỏa thuận được hình thành để xây dựng một hệ thống thu hoạch bền vững và để tăng cường năng lực cho các thành viên của cộng đồng nghề cá tham gia vào quá trình ra quyết định quản lý. Việc ra quyết định trong một khu vực sinh kế là một sự cố gắng mang tính phối hợp, với việc những người thu lượm vẹm được tham gia vào các quyết định về các quy chế cũng như hạn ngạch thu lượm (Harris và ctv, 2003). Để lựa chọn một cộng đồng có tiềm năng nhằm thực hiện thành công đồng quản lý. Theo Ostrom (1990, 1992), Pomeroy và ctv (2001), McConney và ctv. 8 (2003b), SverdrupJensen và Nielsen (1998) và Sowman và ctv (2003), thì cộng đồng cần có những đặc điểm sau: Xác định ranh giới rõ ràng; tính đồng nhất cộng đồngnhóm; phụ thuộc cao vào nguồn lợi đang bị đe dọa; sự ràng buộc cao của cộng đồng vào biển và nguồn lợi; khuyến khích các cá nhân tham gia do sinh kế đang bị đe dọa; quyền hợp pháp để tổ chức; sự tồn tại của phân quyền; kiến thức địa phương về nguồn lợi; chính quyền khuyến khích khả năng lãnh đạo của cộng đồng; xác định quyền sở hữu nguồn lợi. Đảo San Salvador, với diện tích 380 ha, thuộc một phần của khu tự trị Masinloc tỉnh Zambales, về phía Tây bờ biển Luzon, cách thủ đô Manila khoảng 250 km. Một người tình nguyện của Tổ chức Hòa bình đã đến San Salvador vào năm 1987 đã đưa ra khái niệm Dự án Bảo tồn biển cho San Salvador, một dự án quản lý nguồn lợi ven biển dựa vào cộng đồng về tái tạo rạn san hô. Năm 1989, một tổ chức Phi chính phủ tại địa phương này đã có dự án thành lập Khu bảo tồn biển. Tổ chức này cũng trợ giúp về phát triển cách thức lãnh đạo, lập kế hoạch và giáo dục về môi trường (Katon và ctv, 1999). Tại xã Kampong Por, Pursat, các tổ chức phát triển hộ gia đình Campuchia (CFDS) đã giúp cải thiện các điều kiện sống của người nghèo và nỗ lực thực hiện quyền hợp pháp của mình. Pursat là một trong 6 tỉnh ven Hồ Tonle Sap. Chương trình CFDS là một cơ hội để họ và cộng đồng tốt hơn cùng với Cục Thủy sản Pursat và quan chức địa phương tìm kiếm hợp tác trong tương lai về hỗ trợ nghề cá cộng đồng có được kiến thức, kỹ năng và thái độ cần thiết đối với việc quản lý hiệu quả và bền vững các nguồn lực của cộng đồng (Rivera – Guieb, 2004). Theo IIRR (1998), việc lập bản đồ nguồn lợi là một phương pháp không thể thiếu giúp thành viên cộng đồng xác định, định vị và phân loại được tình trạng nguồn lợi hiện tại và trong quá khứ, phân bổ, sử dụng ngư cụ và để có thể tìm ra những yếu tố quan trọng. Điều đó cho phép thiết lập mối quan hệ giữa xây dựng thông tin và xác định vị trí không gian. 9 Thông thường, bản đồ nguồn lợi, các biểu đồ xu hướng, biểu đồ mặt cắt thường được tạo ra và coi như kết quả của sự đồng lòng giữa các đối tượng tham gia trong cộng đồng (Walters và ctv, 1998). Dự án đồng quản lý loài trai biển Sokhulu ở Nam Phi được triển khai vào năm 1995 nhằm giải quyết các vấn đề liên quan tới khai thác quá mức và bất hợp pháp. Mục đích của dự án là điều tra phạm vi và sự ảnh hưởng của việc đánh bắt ven bờ (Harris và ctv, 2003). Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA) nhấn mạnh tầm quan trọng của việc học nhanh và trực tiếp từ mọi người. RRA bao gồm cả việc lấy kiến thức địa phương và thu thập thông tin và cách nhận định thấu đáo của người dân địa phương sử dụng nhiều phương pháp và công cụ bổ trợ lẫn nhau (Jackson và Ingles, 1995). Phương pháp đánh giá vùng nông thôn có sự tham gia của cộng đồng (PRA) bao gồm các cán bộ khảo sát phối hợp với người dân địa phương nhằm nâng cao năng lực địa phương trong phân tích, lập kế hoạch, giải quyết xung đột, thực thi, kiểm soát và đánh giá theo một chương trình nghị sựcuộc họp địa phương (Jackson và Ingles, 1995; Maine và ctv, 1996). Đánh giá RRA và PRA tốt được thể hiện qua cách cư xử và thái độ xây dựng quan hệ với người dân địa phương, tránh đặt mọi người vào các tính huống không thuận lợi, học hỏi chứ không giảng giải mọi người, sáng tạo, kiểm tra và kiểm tra lại giá trị của thông tin thu được, lắng nghe và tìm tòi, kiên nhẫn, khéo léo trong giao tiếp, đáng tin cậy, cởi mở và thân thiện, tất cả những đặc điểm trên sẽ giúp trao đổi thông tin hai chiều (Jackson và Ingles, 1995). Chương trình quản lý nguồn lợi ven biển dựa vào cộng đồng ở Bolinao, Pangasinan, Philipin, do Viện Khoa học biển, Khoa lao động xã hội và phát triển cộng đồng (thuộc Đại học Philippin) và Hiệp hội bảo tồn nguồn lợi tự nhiên (Haribon) phối hợp thực hiện. Với mục tiêu chính là tạo điều kiện phát triển bền vững vùng ven bờ với các cộng đồng địa phương hoạt động như các nhà quản lý nguồn lợi ven bờ. Nội dung xuyên suốt của chương trình là tiến hành giáo dục môi 10 trường và giáo dục tổ chức cộng đồng. Chương trình được triển khai nhằm mục đích trao quyền cho các cộng đồng bằng cách phát triển kỹ năng và kiến thức cũng như chủ trương hướng sự tham gia cộng đồng vào công tác quản lý nguồn lợi ven biển (JuinioMenez và ctv, 2000). Quy trình Đồng quản lý ở Jamaica, Caribbean, trong cơ cấu đồng quản lý được đề xuất có thể là một hội đồng các bên tham gia gọi là Hội đồng Quản lý nghề cá. Thành viên của Hội đồng rất rộng, dựa vào các đại diện của tất cả các bên quan tâm đến nghề cá như các hợp tác xã, tổ chức, ngư dân kinh doanh, ngư dân kinh doanh giải trí, Vụ nghề cá, Bộ Môi trừơng, lực lượng bảo vệ ven biển, cảnh sát hàng hải, các tổ chức phi chính phủ và các cơ quan nghiên cứu về biển. Mỗi đại biểu phải được lựa chọn theo nhóm đại diện. Phải có một quá trình mà ở đó các đại biểu phải truyền đạt các quyết định của Hội đồng lại cho cơ quan của mình để thảo luận và thông qua. Hội đồng sẽ xem xét việc kiểm soát nguồn lợi, xây dựng và thi hành các điều lệ. Nhiệm vụ đầu tiên của Hội đồng là xác định khu vực quản lý và dự thảo điều lệ triển khai hoạt động nghề cá. Hội đồng cũng cần phải tìm kiếm tài trợ cho chương trình (Espeut, 2002). Theo Buckles và Rusnak (1999), xung đột về các nguồn lợi biển và nghề cá có thể xảy ra ở các mức độ khác nhau, từ nội bộ hộ gia đình tới cộng đồng, khu vực, xã hội và phạm vi toàn cầu. Mức độ xung đột có thể không giống nhau từ mất trật tự tới thất vọng về các cách thức quản lý nghề cá có thể gây nên những mâu thuẫn trầm trọng giữa các nhóm về trách nhiệm và quyền sở hữu nguồn lợi. Xung đột có thể do những khác biệt về quyền lực giữa các cá nhân hay nhóm hoặc qua các hành động đe doạ đối với sinh kế. Quản lý xung đột thường được sử dụng như một thuật ngữ bao hàm cho cả chống xung đột hoặc các biện pháp thống nhất quan điểm, và các phương pháp giải quyết xung đột. Các phương pháp sau này thường được nhắc đến là hoà giải mâu thuẫn chọn lựa (ADR). ADR bao hàm một loạt các biện pháp phối hợp, được triển khai ở Nam Phi, bao gồm cả hoà giải, đàm phán và dàn xếp (Pendzich và ctv, 1994; Moore, 1996). 11 Kế hoạch đồng quản lý sẽ được điều chỉnh dựa theo các kết quả kiểm định. Quá trình lặp đi lặp lại sẽ cần sử dụng những kết quả kiểm định để cải thiện dự án. Người ta nhận thấy rằng các hoạt động sẽ theo đúng kế hoạch và trong trường hợp cần thiết có thể thay đổi chút ít. Tuy nhiên, người ta cũng cho rằng những hoạt động không như sắp xếp và cần có những thay đổi đáng kể. Điều này sẽ đòi hỏi phải xem xét lại kế hoạch và các nội dung kế hoạch để đưa ra những điều chỉnh và tiếp tục triển khai kế hoạch (Margoluis và Salafsky, 1998). Theo Claridge (1998), cho rằng mỗi chương trình đồng quản lý đều có tiềm năng để khuyến khích khởi xướng một chương trình đồng quản lý tại các địa điểm khác. Đồng quản lý trong một cộng đồng có thể góp phần tái tạo một cách tiếp cận mới trong các cộng đồng khác theo một số cách nhất định. Công tác bảo vệ và phát triển nguồn lợi nhuyễn thể ven biển nói riêng không chỉ đơn giản là các công tác kỹ thuật và quản lý thông thường, mà thực chất là một chương trình được thiết kế bao gồm một loạt hoạt động khảo sát và nghiên cứu được tiến hành liên tục và lâu dài, được phối hợp bởi các cấp chính quyền, các nhà khoa học và cộng đồng dân cư ven biển (Caddy và Defeo, 2003). 2.3. Tình hình đồng quản lý nghề cá quy mô nhỏ ở Việt Nam 2.3.1. Quá trình hình thành Trước những thành công của phương thức QLDVCĐĐQL nguồn lợi ven biển nói chung, quản lý nghề cá nói riêng của thế giới, Bộ NN PTNT (Bộ Thuỷ sản cũ) đã rất quan tâm đến phương thức quản lý này và ngay từ những năm đầu của thập kỷ 1990, Bộ thuỷ sản đã cho phép Viện Kinh tế và Quy hoạch thuỷ sản hợp tác với các tổ chức quốc tế tiến hành nghiên cứu vấn đề này. Bằng nguồn tài trợ của các tổ chức quốc tế và trong nước, của các địa phương, đến nay đã có 34 mô hình ĐQLQLDVCĐ đã được triển khai và áp dụng tại Việt Nam bao gồm cả nuôi trồng và khai thác thuỷ sản tại 18 tỉnh, thành phố ở 7 vùng sinh thái (Trần Lê Nguyên Hùng, 2009). 12 2.3.2. Một số mô hình đồng quản lý nghề cá đã thực hiện ở Việt Nam Theo Trần Lê Nguyên Hùng (2009), sự phân loại các mô hình đồng quản lý trong lĩnh vực thủy sản chỉ mang tính chất tương đối, vì trên một diện tích mặt nước luôn có thể diễn ra rất nhiều hoạt động cho nhiều mục đích khác nhau. Có thể phân loại theo các lĩnh sản xuất thủy sản như: nhóm mô hình đồng quản lý trong khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản (1834 mô hình khảo sát); nhóm mô hình đồng quản lý trong NTTS (234 mô hình khảo sát). Phân loại theo hình thức tổ chức quản lý bao gồm: nhóm mô hình đồng quản lý trên cơ sở hình thành các Chi hộihiệp hội nghề nghiệp: 9 (chiếm 26%); nhóm mô hình đồng quản lý trên cơ sở hình thành các tổ nghề nghiệptổ cộng đồngcâu lạc bộ: 20 (chiếm 59%) và nhóm mô hình đồng quản lý trên cơ sở hình thành các hợp tác xã: 5 (chiếm 15%). Ở Việt Nam đã hình thành rất nhiều mô hình mang tính chất đồng quản lý nhưng chưa có một nghiên cứu đánh giá nào được thực hiện để đánh giá mức độ ĐQL một cách đầy đủ cũng như hiệu quả và tính bền vững của mô hình (Trần Lê Nguyên Hùng, 2009). Đồng quản lý nguồn lợi thủy sản khu vực Búng Bình Thiên nằm trong 3 xã Quốc Thái, Nhơn Hội, Khánh Bình thuộc huyện An Phú, tỉnh An Giang; diện tích 200 – 300 ha, dân số 6.800 người; hoạt động chính khai thác, nuôi trồng. Kết quả bước đầu đã tiến hành đào tạo tập huấn về đồng quản lý nghề cá; xây dựng và tổ chức các hoạt động về đồng quản lý nghề cá tại Búng Bình Thiên như: tổ chức hội thảo và họp nhóm cộng đồng đưa ra các vấn đề cần giải quyết, các vấn đề ưu tiên giải quyết và các quyết định của cộng đồng trong việc xây dựng mô hình đồng quản lý (Hứa Quang Lập, 2009). Theo Phan Đinh Phúc và ctv (2009), cho biết từ năm 1999 bắt đầu tiến hành xây dựng một số mô hình đồng quản lý nghề cá tại tỉnh Đắk Lắk. Hiện nay có mô hình đồng quản lý nghề cá ở hồ chứa Easoup (thiết lập năm 1999) và hồ tự nhiên Lak (thiết lập năm 2002) vẫn tồn tại và phát triển. Từ thời gian thành lập đến nay, với sự giúp đỡ của Dự án, mô hình đồng quản lý nghề cá ở hồ Easoup và Lắk, mà hạt nhân là Chi hội ngư nghiệp hồ Easoup và Hội nghề cá hồ Lak đã tiến hành nhiều 13 hoạt động như nâng cao trình độ nhận thức của cộng đồng và chính quyền địa phương thông qua tập huấn, hội thảo, cuộc họp, và tham quan; tuần tra bảo vệ nguồn lợi thủy sản; thu lệ phí đánh bắt để tạo nguồn thu cho Hội; thành lập các tổ tín dụng tiết kiệm để tạo nguồn vốn cho cộng đồng; thả cá để cải thiện nguồn lợi và nâng cao thu nhập cho cộng đồng nghề cá... Tuy nhiên, để đánh giá chính xác hiệu quả của mô hình Đồng quản lý nghề cá ở hồ Easoup và Lắk sau một thời gian hoạt động khá dài và rút ra bài học kinh nghiệm cho việc thiết lập các mô hình Đồng quản lý nghề cá khác ở Việt Nam, Dự án đã tiến hành hoạt động “Đánh giá mô hình Đồng quản lý nghề cá ở hồ Easoup và hồ Lắk, tỉnh Đắk Lắk”. Từ năm 2006 đến nay, trên địa bàn tỉnh Quảng Nam đã xây dựng được 41 tổ cộng đồng trong lĩnh vực nuôi tôm nước lợ với 1.000 hộ tham gia. Các tổ này đã phát huy hiệu quả rõ rệt trong việc tổ chức sản xuất, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng tôm nuôi cụ thể như: tổ cộng đồng vùng Hóc Rộ Cẩm Thanh (Hội An), Bản Long Tam Tiến (Núi Thành), các tổ ở Duy Vinh, Duy Thành (huyện Duy Xuyên),... Khi tham gia vào tổ nuôi tôm cộng đồng, người dân phối hợp với nhau trong việc kiểm tra, xét nghiệm con giống, cải tạo ao, hỗ trợ kỹ thuật trong sản xuất, giúp đỡ nhau trong sản xuất, liên kết nhau trong việc mua nguyên liệu đầu vào và bán sản phẩm...Bên cạnh đó, các hộ tham gia trong tổ cộng đồng có tính giác ngộ rất cao, khi có trường hợp tôm nuôi bị bệnh, chủ hộ đóng cống, giam nước và báo cho các hộ có nuôi tôm chung quanh để phòng ngừa đồng thời báo cho cơ quan chức năng để xử lý. Ngoài ra, các tổ nuôi tôm cộng đồng còn được Nhà nước hỗ trợ một số thiết bị đo môi trường, hướng dẫn các biện pháp kỹ thuật nuôi, giám sát môi trường nuôi (Trần Quang Kiến, 2009). Sau 03 năm (2006 – 2008) thực hiện việc xây dựng mô hình đồng quản lý nguồn lợi thủy sản tại đầm Trà Ổ, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định mang lại những kết quả như đã ngăn chặn và giảm thiểu việc sử dụng xung điện khoảng 50% so với ban đầu. Các hộ ngư dân làm nghề thủ công trong đầm Trà Ổ có thu nhập ổn định, 53 hộ làm nghề thủ công tự nguyện đóng góp tiền để khôi phục nguồn lợi thủy sản trên đầm Trà Ổ. Đại bộ phận ngư dân trong đầm đã được nâng cao nhận thức về bảo 14 vệ nguồn lợi thủy sản. Theo điều tra nhận thức lần 2 có 90,28% người dân cho rằng: Chình mun là đối tượng cấm khai thác, nguồn lợi thủy sản bị suy giảm và môi trường xấu đi do việc sử dụng xung điện, kích thước mắc lưới nhỏ; 87,50% ý kiến công tác bảo vệ nguồn lợi thủy sản đã được nhân rộng đến từng cộng đồng dân cư, sẵn sàng tố giác cho địa phương các hành vi sử dụng xung điện để khai thác thủy sản trên đầm Trà Ổ (Trần Văn Vinh, 2009). Theo Trương Văn Tuyển (2009), mô hình đồng quản lý thủy sản do Trường Đại học Nông lâm Huế thực hiện, được sự tài trợ của IDRC (Canada), đã hỗ trợ UBND huyện Phú Lộc thực hiện trao quyền khai thác thủy sản trên gần 1.000ha mặt nước cho Chi hội nghề cá (QĐ số 9422009 của UBND huyện Phú Lộc, TTHuế). Đây là mô hình đầu tiên thực hiện trao quyền khai thác thủy sản cho tổ chức của ngư dân, thiết lập cơ chế quyền tài sản tập thể (đầy đủ cơ sở pháp lý) đối với tài nguyên thủy sản. Việc trao quyền đã chính thức hóa thực hành đồng quản lý thủy sản giữa chính quyền địa phương và tổ chức ngư dân. Đến tháng 7 – 1997, Hợp tác xã kiểu mới Thới Thuận Bình Đại chính thức được thành lập lấy tên là Hợp tác xã Thủy sản Rạng Đông. Đặc trưng của Hợp tác xã Thủy sản Rạng Đông là huy động toàn thể các hộ dân trong xã tham gia vào Hợp tác xã với chức năng nhiệm vụ chủ yếu là quản lý khai thác và tiêu thụ nguồn lợi Nghêu tự nhiên trên diện tích 900 ha đất bãi bồi ven biển, do UBND tỉnh quyết định tạm cấp, nhằm giải quyết việc làm cho người lao động, phân phối lợi nhuận hợp lý và từng bước nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho các hộ xã viên, góp phần đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế xã hội của địa phương (Trần Thị Thu Nga, 2009). Theo Trần Thị Thu Nga (2009), cuối năm 2006 Bến Tre đã có tất cả 13 Hợp tác xã Thủy sản, trong đó có 10 HTX khai thác, quản lý nguồn lợi Nghêu được hình thành với 9.744 hộ xã viên đã đi vào hoạt động ổn định trên địa bàn các huyện Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú và Chợ Lách; với diện tích mặt đất được nhà nước giao cho là 7.800 ha, trong đó, 4.970 ha đã được các HTX đưa vào khai thác và thu hoạch. Diện tích còn lại do thiếu giống, thiếu vốn nên chưa được khai thác hết, hơn nữa một số 15 Hợp tác xã do yếu kém trong khâu quản lý, bảo vệ sân Nghêu hiệu quả chưa cao nên chưa dám gia tăng diện tích. Đồng quản lý theo hệ thống tổ chức quản lý HTX nuôi và khai thác Nghêu của Bến Tre đã mang lại những hiệu quả nhất định như: tài nguyên, nguồn lợi, hệ sinh thái,… được bảo tồn và phát triển bền vững; áp dụng qui trình kiểm soát thu hoạch sản phẩm và quan trắc cảnh báo môi trường đã mang lại hiệu quả trong sản xuất. Bộ máy tổ chức và cơ chế phân phối lợi nhuận được xây dựng hợp pháp, hợp lý, dân chủ; quyền lợi của cộng đồng được chia sẻ đảm bảo theo nguyên tắc minh bạch, công khai đã tạo được sự đồng thuận trong cộng đồng. Nguồn thu nhập của người dân ngày càng tăng, các vấn đề về bình đẳng giới và quyền trẻ em được HTX và chính quyền các cấp chú trọng. Thu hút nguồn vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng và mở rộng thị trường. Bên cạnh những kết quả đạt được, còn phải đối mặt với những thách thức như: cơ chế chính sách và hình thức quản lý chưa hiệu quả; nạn “nghêu tặc” còn diễn ra ở một vài Hợp tác xã quản lý yếu, gây tổn thất nguồn lợi thủy sản, ảnh hưởng đến chu kỳ phát triển của hệ đa dạng sinh học, mất cân bằng môi trường sinh thái, ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội và đời sống kinh tế, văn hóa

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HỒ CHÍ MINH

LÊ ĐỨC LIÊM

NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐỒNG QUẢN LÝ

NGUỒN LỢI NGHÊU Meretrix lyrata (Sowerby, 1851)

Trang 2

TRANG CHUẨN Y

NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐỒNG QUẢN LÝ NGUỒN LỢI NGHÊU

Meretrix lyrata (Sowerby, 1851) TỈNH BẾN TRE

LÊ ĐỨC LIÊM

Hội đồng chấm luận văn:

1 Chủ tịch: PGS.TS LÊ THANH HÙNG

Đại học Nông Lâm TP.HCM

2 Thư ký: TS NGUYỄN MINH ĐỨC

Đại học Nông Lâm TP.HCM

3 Phản biện 1: TS NGUYỄN VĂN TRAI

Đại học Nông Lâm TP.HCM

4 Phản biện 2: PGS.TS BÙI LAI

Phân Viện KTTV & MT Nam Bộ

5 Ủy viên: TS NGUYỄN THANH TÙNG

Phân Viện Quy hoạch Thủy sản Phía Nam

ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HỒ CHÍ MINH

HIỆU TRƯỞNG

Trang 3

Từ 1999 – 2002: Công tác tại Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 2 – TP.HCM

Từ 2002 – 2006: Công tác tại Công ty Asia Hawaii Phú Yên

Từ 2006 – đến nay: Công tác tại Phân Viện Quy hoạch Thủy sản Phía Nam,

Chức vụ: Phó phụ trách Phòng Quy Hoạch

Tháng 9 năm 2008 theo học Cao học ngành Nuôi trồng Thủy sản, tại Đại học Nông Lâm, TP Hồ Chí Minh

Tình trạng gia đình:

Vợ: Nguyễn Thị Thu Thảo, năm kết hôn 2001

Con: Lê Đức Doãn Lệnh, sinh năm 2003

Địa chỉ liên lạc: 54/10C Lâm Văn Bền – P Tân Kiểng – Q.7 – TP.HCM Điện thoại: 0984 027779

Email: liemthaolenh@yahoo.com

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác Đề tài cấp nhà nước: “Nghiên cứu

xây dựng mô hình bảo vệ và phát triển nguồn lợi Nghêu (Meretrix lyrata), Sò huyết (Andara granosa) ở vùng cửa sông, ven biển Tiền

Giang, Bến Tre và Trà Vinh” được quyền sử dụng kết quả nghiên cứu của luận văn này

TP Hồ Chí Minh, ngày 22 tháng 11 năm 2010

Tác giả

Lê Đức Liêm

Trang 5

LỜI CẢM TẠ

Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu, Ban chủ nhiệm Khoa Thủy sản, Phòng Quản lý khoa học và Đào tạo Sau đại học - Trường Đại học Nông Lâm TP.HCM đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học tập, nghiên cứu nâng cao trình

độ và thực hiện đề tài trong thời gian qua

Tôi thành thật xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với TS.Vũ Cẩm Lương và

TS Nguyễn Thanh Tùng đã nhiệt tình động viên và hướng dẫn tôi trong suốt thời gian học tập cũng như trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp

Tôi xin cám ơn Bộ Khoa học và Công nghệ và TS Nguyễn Thanh Tùng chủ nhiệm đề tài cấp nhà nước đã tạo điều kiện tốt cho tôi cùng tham gia nghiên cứu để hoàn thành luận văn này

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn đến quý thầy cô đã giảng dạy và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học tập, tận tâm truyền đạt những kiến thức chuyên môn cho tôi trong suốt thời gian học tập tại Trường Đại học Nông Lâm TP.HCM

Xin gởi lời cảm ơn chân thành đến các thành viên hội đồng đã nhiệt tình giúp

đỡ, đóng góp ý kiến quý báu để luận văn tốt nghiệp được hoàn chỉnh hơn

Cảm ơn tất cả các bạn lớp Cao học Nuôi Trồng Thủy Sản khóa 2008 đã đoàn kết, gắn bó cùng tôi vượt qua chặng đường dài học tập ở bậc Cao học

Có được sự thành công hôm nay, chính là nhờ vào sự động viên, giúp đỡ tận tình của gia đình tôi trong suốt quá trình học tập Tôi luôn khắc ghi và xin cám ơn với tất cả người thân

TP Hồ Chí Minh, ngày 22 tháng 11 năm 2010

Tác giả

Trang 6

TÓM TẮT

Đề tài: “Nâng cao hiệu quả đồng quản lý nguồn lợi Nghêu Meretrix lyrata

(Sowerby, 1851) tỉnh Bến Tre ” đã được thực hiện tại các huyện ven biển Bình Đại,

Ba Tri và Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 4 – 2010 đến tháng 11- 2010

Số liệu sơ cấp được thu thập từ điều tra, phỏng vấn trực tiếp các hộ xã viên tham gia đồng quản lý trên địa bàn vùng nghiên cứu (102 phiếu); điều tra, thu thập thông tin từ Ban quản lý các HTX (10 phiếu); biểu thu thập thông tin từ Phòng Nông nghiệp các huyện ven biển (3 biểu); phiếu đánh giá tính khả của các giải pháp

đề xuất (95 phiếu) Số liệu thứ cấp được thu thập từ các văn bản về thể chế, chính sách, các bản đồ, các số liệu thống kê, các báo cáo hàng năm liên quan đến nguồn lợi Nghêu tỉnh Bến Tre Các phương pháp đã được sử dụng như: Phương pháp đánh giá và cho điểm mô hình theo bộ tiêu chí, PRA đánh giá nông thôn có sự tham gia của cộng đồng xã viên, hội thảo, tham vấn chuyên gia và phân tích SWOT

Kết quả chính thu thập của đề tài như: Xác định các bên tham gia đồng quản

lý nguồn lợi Nghêu của tỉnh Bến Tre bao gồm các các hộ xã viên trong HTX, chính quyền các cấp, ngành và các tổ chức bên ngoài Phân phối thu nhập cho hộ xã viên HTX đối với đối với nguồn lợi Nghêu tự nhiên là 70 – 80%, Nghêu mua giống thả nuôi là 70 – 90%, tỷ lệ (%) còn lại trích lập các quỹ Lợi nhuận bình quân chia cho các hộ xã viên năm 2009 trung bình là 6,99 triệu đồng Trong đó, các hộ xã viên trên địa bàn huyện Bình Đại trung bình là 11,41 triệu đồng, huyện Ba Tri là 4,64 triệu đồng và huyện Thạnh Phú là 6,27 triệu đồng Độ tuổi trung bình của các hộ xã viên tham gia ĐQL là 49±11 tuổi, nhóm tuổi tham gia ĐQL cao nhất là từ 40 – 49 tuổi Tỷ lệ nữ chủ hộ chiếm 53% và nam là chủ hộ chiếm 47% trong vùng nghiên cứu Trình độ văn hóa và trình độ chuyên môn của các hộ xã viên của HTX trong vùng còn thấp Đối với trình độ văn hóa, tỷ lệ không biết chữ chiếm 3%, cấp 1 (39%), cấp 2 (32%) Đối với trình độ chuyên môn, chưa qua đào tạo chiếm 26%, dựa vào kinh nghiệm (46%), tập huấn/sơ cấp (19%) Diện tích và sản lượng Nghêu

Trang 7

trong vùng có xu hướng tăng chậm Năm 2009, diện tích nguồn lợi Nghêu toàn vùng là 2.462 ha, với sản lượng 6.318 tấn Kết quả đánh giá cho điểm mô hình các HTX được phân làm 3 nhóm Nhóm mức độ ĐQL cao bao gồm HTX Rạng Đông với tổng số là 50 điểm và Đồng Tâm là 46 điểm; nhóm mức độ ĐQL trung bình bao gồm các HTX Tân Thủy tổng số là 39 điểm, Thạnh Phong 37 điểm, Thạnh Lợi 36,5 điểm, An Thủy 36 điểm và Bình Minh là 35,5 điểm; nhóm mức độ ĐQL thấp bao gồm HTX Hải Dương 31 điểm và Bảo Thuận 28 điểm

Đề tài đã đề xuất và đánh tính khả thi của các nhóm giải pháp như: (i) quản

lý và vận hành mô hình, (ii) giải pháp khoa học công nghệ, (iii) giải pháp huy động vốn, (iv) giải pháp phát triển nguồn nhân lực và nâng cao nhận thức, (v) giải pháp nhân rộng mô hình

Từ khóa: đồng quản lý, hợp tác xã, Nghêu Bến Tre, mô hình, tổ chức, quản lý, giải pháp

Trang 8

The thesis “Improving co-management effects of clam resources Meretrix lyrata (Sowerby, 1851) in Ben Tre Province” was carried out in Binh Dai, Ba Tri,

Thanh Phu of Ben Tre Province during April-November 2010

Primary data were collected by the questionnaires for 102 farmers, 10 operative managers, 3 Agricultural bureaus and 95 people for feasible solutions asessment Methodology of PRA and SWOT analysis were also used in the study

co-Main results of the thesis are as follows: identfy of steakholders involved in co-management including farmers in co-operative, local government and outside organization Income distribution for households from wild clam resources is 70-80%, cultured clam is 70-90%, while remaining for budget spending The average profit was 6.99 million VND per household in 2009, in which Ba Tri and Thanh Phu were 4.64 and 6.27 million VND per household, respectively The average age

of investigated farmers was 49, in which the age group of 40 - 49 was highest The hoseholders were women occupying for 53%, while men 47% The learning level and skills of investigated farmers were rather low, in which 3% without learning, 39 and 32% were in primary and secondary schools, respectively 26% of investigated farmers have not been trained in their works, while 46% based on their owned experience There was 19% of investigated farmers have been trained

The increasing of clam’s area and production was rather slow Until 2009, the total area of clam resources was 2,462 ha, with total production was 6,318 tons The grading of co-operatives was divided into 3 groups The higher co-management group include Rang Dong and Dong Tam co-operatives, with grading of 50 and 46, respectively The medium co-management group include Tan Thuy, Thanh Phong, Thanh Loi, An Thuy and Binh Minh co-operatives, with grading of 39, 37, 36.5, 36, 35.5, respectively The lower co-management group include Hai Duong and Bao Thuan co-operatives, with grading of 31 and 28, respectively The thesis suggested solutions and assessed its feasible: (i) manage and running the model; (ii) solution

Trang 9

of science and technology; (iii) solution for capital; (iv) human resources development and awareness improvement; (v) model development

Key words: co-management; co-operative; Ben Tre clam; model, organize, management, solution

Trang 10

MỤC LỤC

TRANG CHUẨN Y i

LÝ LỊCH CÁ NHÂN ii

LỜI CAM ĐOAN iii

LỜI CẢM TẠ iv

TÓM TẮT v

MỤC LỤC ix

DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT xii

DANH SÁCH CÁC BẢNG xiii

DANH SÁCH CÁC HÌNH xv

Chương 1 1

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 2 4

TỔNG QUAN 4

2.1 Các khái niệm về đồng quản lý và quản lý dựa vào cộng đồng 4

2.1.1 Khái niệm về đồng quản lý 4

2.1.2 Khái niệm về quản lý dựa vào cộng đồng 6

2.2 Tình hình đồng quản lý trên thế giới 7

2.3 Tình hình đồng quản lý nghề cá quy mô nhỏ ở Việt Nam 11

2.3.1 Quá trình hình thành 11

2.3.2 Một số mô hình đồng quản lý nghề cá đã thực hiện ở Việt Nam 12

2.4 Đặc điểm nguồn lợi Nghêu của Bến Tre 15

2.4.1 Đặc điểm sinh học 15

2.4.2 Sự biến động nguồn lợi nghêu Bến Tre 18

2.4.3 Tình hình quản lý, khai thác nguồn lợi Nghêu 20

2.5 Một số thông tin kinh tế - xã hội các huyện ven biển tỉnh Bến Tre 21

2.5.1 Diện tích, dân số và đơn vị hành chánh 21

2.5.2 Giá trị sản xuất 22

2.5.3 Một số đề tài, dự án liên quan đến vùng đồng quản lý 24

Chương 3 25

NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25

Trang 11

3.1 Nội dung và phạm vi nghiên cứu 25

3.1.1 Nội dung nghiên cứu 25

3.1.2 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 25

3.2 Phương pháp nghiên cứu 27

3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 27

3.2.2 Phương pháp đánh giá cho điểm theo bộ tiêu chí 28

3.2.3 Phương pháp PRA 29

3.2.4 Phương pháp hội thảo, chuyên gia 30

3.2.5 Phương pháp phân tích SWOT 31

3.2.6 Xử lý và phân tích số liệu 31

Chương 4 33

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 33

4.1 Kết quả đồng quản lý nguồn lợi Nghêu tỉnh Bến Tre 33

4.1.1 Cơ cấu, tổ chức đồng quản lý 33

4.1.2 Tình hình hoạt động của các hợp tác xã trong vùng đồng quản lý 36

4.1.3 Thông tin chung về các hộ xã viên tham gia hợp tác xã 52

4.1.4 Ảnh hưởng của ĐQL lên biến động diện tích, sản lượng Nghêu 60

4.2 Đánh giá mức độ thực hiện đồng quản lý nguồn lợi Nghêu tỉnh Bến Tre 66

4.2.1 Đánh giá các tiêu chí về xây dựng và tổ chức thực hiện mô hình 67

4.2.2 Đánh giá các tiêu chí về hiệu quả áp dụng mô hình 72

4.2.3 Đánh giá các tiêu chí về tính bền vững và khả năng nhân rộng mô hình 76

4.2.4 Tổng hợp kết quả đánh giá và cho điểm mức độ đồng quản lý 77

4.3 Phân tích SWOT trong đồng quản lý nguồn lợi Nghêu tỉnh Bến Tre 78

4.3.1 Điểm mạnh - thuận lợi (S-Strength) 79

4.3.2 Cơ hội (O-Opportunity) 80

4.3.3 Khó khăn - điểm yếu (W-Weakness) 81

4.3.4 Đe dọa - thách thức (T-Threat) 83

4.4 Đề xuất các giải pháp khả thi giúp nâng cao hiệu quả đồng quản lý nguồn lợi Nghêu của tỉnh Bến Tre 84

4.4.1 Nhóm giải pháp quản lý và vận hành mô hình 84

4.4.2 Nhóm giải pháp khoa học công nghệ 88

4.4.3 Nhóm giải pháp về huy động vốn 89

Trang 12

4.4.4 Nhóm giải pháp phát triển nguồn nhân lực và nâng cao nhận thức 90

4.4.5 Nhóm giải pháp nhân rộng mô hình 91

4.5 Đánh giá tính khả thi của các giải pháp đề xuất 91

4.5.1 Đánh giá tính khả thi của nhóm giải pháp quản lý và vận hành mô hình 91

4.5.2 Đánh giá tính khả thi của nhóm giải pháp khoa học công nghệ 96

4.5.3.Đánh giá tính khả thi của nhóm giải pháp về nguồn vốn 98

4.5.4 Đánh giá tính khả thi của nhóm giải pháp phát triển nguồn nhân lực và nâng cao nhận thức cộng đồng 99

4.5.5 Đánh giá tính khả thi của nhóm giải pháp nhân rộng mô hình 99

Chương 5 101

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 101

TÀI LIỆU THAM KHẢO 103

PHỤ LỤC 108

Trang 13

TTBQ Tăng trưởng bình quân

UBND: Ủy ban nhân dân

VA: Giá trị tăng thêm

Viện NCNTTS 2: Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản 2 WWF: Quỹ bảo tồn thiên nhiên thế giới

Trang 14

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Dân số, mật độ dân số 3 huyện ven biển tỉnh Bến Tre có đến 12 – 2009 21 Bảng 2.2: Số đơn vị hành chính của 3 huyện ven biển tỉnh Bến Tre có đến

31/12/2009 22

Bảng 2 3: GTSX khu vực - I của 3 huyện ven biển tỉnh Bến Tre năm 2009 22

Bảng 2 4: GTSX thủy sản 3 huyện ven biển tỉnh Bến Tre, 2009 (Đvt: triệu đồng) 23 Bảng 3.1: Số lượng mẫu điều tra, thu thập trong vùng nghiên cứu 28

Bảng 3 2: Mức cho điểm theo đánh giá sự kiện thay đổi 29

Bảng 4.1: Thông tin về HTX Thủy sản có đến 5 – 2010 trên địa bàn tỉnh Bến Tre 38 Bảng 4.2: Thông tin về nhân sự HTX có đến 5 – 2010 trên địa vùng nghiên cứu (Đvt: người) 42

Bảng 4.3: Lương bình quân/tháng của lao động trong HTX (Đvt: 1.000 đồng) 48

Bảng 4.4: Hoạt động tài chính của HTX đối với nguồn lợi Nghêu tự nhiên 49

Bảng 4.5: Hoạt động tài chính của HTX đối với mua giống nuôi Nghêu thịt 49

Bảng 4.6: Hạch toán kinh tế từ nguồn lợi Nghêu của các HTX năm 2009 51

Bảng 4.7: So sánh một số chỉ tiêu kinh tế của HTX tỉnh Bến Tre và HTX trong vùng nghiên cứu năm 2009 52

Bảng 4.8: Kết quả điều tra nhân khẩu của các hộ xã viên (Đvt: người) 53

Bảng 4.9: Tuổi của chủ hộ trong vùng nghiên cứu 53

Bảng 4.10: Kết quả điều tra số lao động chính trong các hộ xã viên trong vùng (Đvt: người) 56

Bảng 4.11: Kết quả điều tra số lao động thu hoạch, san thưa Nghêu của hộ xã viên (Đvt: người) 57

Bảng 4.12: Diễn biến diện tích nuôi và khai thác Nghêu tỉnh Bến Tre (Đvt: Ha) 60

Bảng 4.13: Diện tích nguồn lợi Nghêu của tỉnh Bến Tre năm 2009 62

Bảng 4.14: Diện tích loại hình nuôi và khai thác Nghêu tỉnh Bến Tre (Đvt: Ha) 63

Bảng 4.15: Diễn biến sản lượng Nghêu 3 huyện ven biển tỉnh Bến Tre (Đvt: tấn) 64 Bảng 4.16: Sản lượng nguồn lợi Nghêu tỉnh Bến Tre năm 2009 (Đvt: tấn) 64

Bảng 4.17: Năng suất Nghêu giống, thương phẩm của các HTX tỉnh Bến Tre, 2009 65

Bảng 4.18: Kết quả đánh giá và cho điểm nhóm tiêu chí về xây dựng và tổ chức thực hiện mô hình 67

Bảng 4.19: Kết quả đánh giá, cho điểm nhóm tiêu chí về hiệu quả áp dụng mô hình 72

Trang 15

Bảng 4.20: Thu nhập từ chia nguồn lợi Nghêu của các HTX Bến Tre qua các năm

(Đvt: triệu đồng) 74

Bảng 4.21: Kết quả đánh giá và cho điểm nhóm tiêu chí về tính bền vững và khả năng nhân rộng mô hình 76

Bảng 4.22: Tổng hợp kết quả đánh giá và cho điểm các mô hình HTX Nghêu 78

Bảng 4.23: Tỷ lệ đánh giá tính khả thi của giải pháp cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý 92

Bảng 4.24: Tỷ lệ đánh giá tính khả thi của các giải pháp thể chế, chính sách 94

Bảng 4.25: Tỷ lệ đánh giá tính khả thi của giải pháp khoanh vùng 97

Bảng 4.26: Tỷ lệ đánh giá tính khả thi của các giải pháp về nguồn vốn 99

Trang 16

DANH SÁCH CÁC HÌNH

Hình 2.1: Nghêu Bến Tre Meretrix lyrata (Sowerby, 1851) 16

Hình 2.2: Cơ cấu GTSX thủy sản năm 2009 của 3 huyện ven biển tỉnh Bến Tre 23

Hình 3.1: Vị trí vùng nghiên cứu nguồn lợi Nghêu tỉnh Bến Tre 26

Hình 3.2: Điều tra, thu thập thông tin từ Ban quản lý HTX 27

Hình 3.3: Tọa đàm trao đổi, thu thập thông tin từ Phòng Nông Nghiệp 27

Hình 3.4: Làm việc theo nhóm và điều tra phỏng vấn các hộ xã viên trong HTX 30

Hình 3.5: Hội thảo đồng quản lý nguồn lợi Nghêu tỉnh Bến Tre 31

Hình 4.1: Các bên tham gia đồng quản lý nguồn lợi Nghêu tỉnh Bến Tre 34

Hình 4.2: Sơ đồ về hệ thống tổ chức, quản lý nguồn lợi Nghêu tỉnh Bến Tre 36

Hình 4.3: Sơ đồ điển hình về tổ chức quản lý và hoạt động điều hành của HTX Rạng Đông 43

Hình 4.4: Hiện trạng các HTX trong vùng nghiên cứu, 05-2010 44

Hình 4.5: Cơ cấu lợi nhuận chia cho hộ xã viên các HTX vùng nghiên cứu, 2009 51 Hình 4.6: Tỷ lệ độ tuổi của chủ hộ trong vùng nghiên cứu 54

Hình 4.7: Tỷ lệ giới tính của chủ hộ theo độ tuổi trong vùng nghiên cứu 55

Hình 4.8: Tỷ lệ trình độ văn hóa của các hộ xã viên trong vùng 55

Hình 4.9: Tỷ lệ trình độ chuyên môn của hộ xã viên trong vùng nghiên cứu 58

Hình 4.10: Năm tham gia HTX của các hộ xã viên trong vùng nghiên cứu 58

Hình 4.11: Tỷ lệ ngành SX chính của các hộ xã viên trong vùng nghiên cứu 59

Hình 4.12: Diện tích NTTS và diện tích nguồn lợi Nghêu trong vùng nghiên cứu 61 Hình 4.13: Cơ cấu diện tích nguồn lợi Nghêu tỉnh Bến Tre 63

Hình 4.14: Cơ cấu phân nhóm mức độ ĐQL nguồn lợi Nghêu tỉnh Bến Tre 66

Hình 4.15: Kết quả đánh giá tiêu chí xuất phát ĐQL của các mô hình HTX 68

Hình 4.16: Kết quả điều tra về tiêu chí tham gia quyết định ĐQL và xây dựng các văn bản pháp quy liên quan đến xây dựng mô hình 71

Trang 17

Chương 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Loài Nghêu Bến Tre Meretrix lyrata (Sowerby, 1851) đã được xếp vào danh

mục các loài thủy sản có giá trị kinh tế cao và có thị trường xuất khẩu ngày càng được mở rộng Theo số liệu của Tổng cục Hải quan năm 2009, xuất khẩu Nghêu của cả nước đạt 17.624 tấn, trị giá trên 37,2 triệu USD Trong đó, xuất khẩu sang thị trường EU chiếm 77,1% về khối lượng và 73,8% về giá trị

Tỉnh Bến Tre có trên 65 km bờ biển với 4 cửa sông lớn đổ ra biển Đông là cửa Đại, Ba Lai, Hàm Luông và Cổ Chiên Với chế độ bán nhật triều, chính thủy triều ra vào từ 4 con sông lớn trên đã tạo thành hàng chục nghìn ha bãi bồi dọc theo

bờ biển Trong khu vực đa dạng sinh học quan trọng này, nguồn lợi Nghêu đóng góp đáng kể cho nền kinh tế của tỉnh và là nguồn lợi nổi tiếng, đứng hàng đầu của

cả nước Hoạt động sản xuất và quản lý khai thác Nghêu của tỉnh đã được Hội đồng Quản lý biển quốc tế MSC (Marine Stewardship Council) thuộc Quỹ Bảo tồn thiên nhiên thế giới (WWF) cấp chứng nhận đạt tiêu chuẩn thương hiệu MSC Đây là ngành ngư nghiệp đầu tiên của Việt Nam và khu vực Đông Nam Á đạt chứng nhận này, góp phần nâng cao hình ảnh và vị thế con Nghêu Bến Tre nói riêng và ngành thủy sản Việt Nam nói chung trên thị trường quốc tế Mục đích của MSC là khuyến khích phát triển mô hình sinh thái; đồng quản lý, khai thác bền vững; bảo vệ môi trường và bảo tồn đa dạng sinh học

Đồng quản lý hay quản lý nguồn lợi dựa vào cộng đồng là sự thể hiện chia sẻ vai trò trách nhiệm, quyền và nghĩa vụ giữa Nhà nước và người hưởng lợi thông qua các cơ chế và hình thức hợp tác thích hợp Mặc dù hệ thống văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động đồng quản lý nghề cá chưa được hoàn chỉnh nhưng được thực tiễn chấp thuận và phù hợp với chủ trương cải cách hành chính

Trang 18

Đồng quản lý là một trong các nội dung nằm trong 5 hợp phần của cải cách hành chánh (CCHC) đã được định hướng trong Nghị quyết TW 5 (khoá X) của Đảng, phù hợp với Luật Thuỷ sản, chương trình CCHC 2006 - 2010 của Chính phủ,

Bộ NN và PTNT Bởi vậy, đồng quản lý không chỉ là cách tiếp cận mới, quản lý khôn ngoan và có hiệu quả trong quản lý nghề cá quy mô nhỏ, mà còn góp phần quan trọng thực hiện CCHC trong lĩnh vực thuỷ sản ở Việt Nam

Đối với nguồn lợi Nghêu ở tỉnh Bến Tre, việc quản lý có sự tham gia của cộng đồng địa phương là tương đối toàn diện, từ các hoạt động quản lý, bảo vệ đến khai thác, bán sản phẩm kể cả việc bảo vệ nguồn lợi ven biển khác như bảo vệ rừng ngập mặn Nhờ mô hình này, nguồn lợi Nghêu tại địa phương đã được phục hồi và cho sản lượng lớn hằng năm (dao động khoảng 3.000 – 10.000 tấn Nghêu giống và thương phẩm)

Bên cạnh các thành tựu đạt được, song trong quá trình tổ chức, thực hiện đồng quản lý nguồn lợi Nghêu của tỉnh cũng gặp những khó khăn, hạn chế nhất định như: thể chế, chính sách chưa thật sự phù hợp; chưa có các văn bản, khung pháp lý hướng dẫn quy trình đồng quản lý trong ngành thủy sản Mâu thuẫn còn xảy ra trong nội bộ ngành thủy sản, nhất là đối với vùng nguồn lợi thủy sản ven

bờ, tuyến bờ khai thác thủy sản, hộ nuôi trồng thủy sản; mâu thuẫn giữa nghề thủy sản và các nghề kinh tế khác Vấn đề biến đổi khí hậu toàn cầu và nước biển dâng đang diễn ra là những đe dọa, thách thức phải đối mặt,… trong khi đó đầu

tư nguồn lực cho quản lý còn rất hạn chế cả về nhân lực và vật lực

Ngoài ra, còn phải kể đến như mức sống của người dân thấp, sinh kế phụ thuộc chính vào thủy sản Trình độ quản lý và năng lực chuyên môn của Ban quản

lý HTX còn hạn chế Hình thức phân chia lợi ích chưa được người dân trong Hợp tác xã đồng thuận cao Nhận thức của cộng đồng về bảo vệ môi trường, nguồn lợi

và bảo tồn chưa cao cũng là một rào cản cho việc thực hiện thành công tác đồng quản lý

Xuất phát từ những yêu cầu bức bách từ thực tiễn, những đòi hỏi mang tính cấp thiết chúng tôi nghiên cứu đề tài: “Nâng cao hiệu quả đồng quản lý nguồn lợi

Trang 19

Nghêu Meretrix lyrata (Sowerby, 1851) tỉnh Bến Tre”, với mục đích là quản lý một

cách có hiệu quả, đem lại những lợi ích thiết thực cho cộng đồng như: giảm xung đột, bảo tồn nguồn lợi Nghêu bố mẹ, bảo vệ và khai thác Nghêu giống hợp lý để đáp ứng nguồn giống cho nuôi thương phẩm nhằm tăng thu nhập; duy trì và tạo sinh

kế bền vững; cung cấp thông tin và cải tiến kỹ năng ra quyết định hiệu quả hơn; tăng cường quyền hợp pháp, CCHC trong quản lý nghề cá Đồng thời, làm cơ sở cho việc hoàn thiện và nhân rộng mô hình đồng quản lý nguồn lợi Nghêu cho các tỉnh trong vùng ĐBSCL

• Mục tiêu chung: Nâng cao hiệu quả đồng quản lý nguồn lợi Nghêu

(Meretrix lyrata) tỉnh Bến Tre

• Mục tiêu cụ thể:

- Đánh giá thực trạng tình hình thực hiện đồng quản lý nguồn lợi Nghêu tỉnh

Bến Tre thông qua thang đánh giá cho điểm mức độ đồng quản lý

- Đề xuất và đánh giá tính khả thi của các giải pháp giúp nâng cao hiệu quả

đồng quản lý

Trang 20

Chương 2

TỔNG QUAN

2.1 Các khái niệm về đồng quản lý và quản lý dựa vào cộng đồng

Khái niệm quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng có từ thế kỷ 19 trên thế giới, được qui định trong Luật nghề cá Lofoten năm 1897 của Nauy Sau đó là Nhật Bản

từ cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20, từ đó hình thành việc quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng Năm 1992, FAO đã tổ chức hội thảo về phát triển hệ thống quản lý nghề

cá ven bờ dựa vào cộng đồng ở các nước Châu Á tại Kobe, Nhật bản Đến nay, hầu hết các nước trên thế giới từ những nước nghèo, đang phát triển như châu Phi, châu

Á đến các nước mới nổi như Hàn Quốc, Ấn độ, Trung Quốc, đến các nước phát triển ở châu Âu như Anh, Đan Mạch, Na Uy và các nước Úc, Mỹ cũng đã và đang

áp dụng phương thức quản lý này vào nghề cá của họ (Trần Lê Nguyên Hùng, 2009) Đã có rất nhiều khái niệm về đồng quản lý hay quản lý trên cơ sở cộng đồng được biết đến tại Việt Nam

2.1.1 Khái niệm về đồng quản lý

Đồng quản lý được định nghĩa như là sự chia sẻ trách nhiệm và/hoặc quyền hạn giữa Chính phủ và những người dân/cộng đồng địa phương sử dụng nguồn lợi

để quản lý nguồn lợi hay hoạt động nghề cá (Pomeroy & Williams, 1994)

Theo Hà Xuân Thông (2001), đồng quản lý được hiểu như là cách thức chia sẻ hoặc phân định quyền lực và trách nhiệm giữa chính quyền và những người sử dụng nguồn lợi nhằm quản lý một đối tượng nguồn lợi nào đó như nguồn lợi cá, vùng rạn san hô, vùng nuôi thuỷ sản, hồ chứa, một cánh rừng Phạm vi và cách thức chia sẻ quyền lực và trách nhiệm không giống nhau ở các nước khác nhau

và các địa phương khác nhau, do những điều kiện và nền văn hoá khác nhau

Trang 21

Đồng quản lý nghề cá có thể được hiểu như là phương pháp tham gia, nơi mà Chính phủ và người sử dụng nguồn lợi thuỷ sản chia sẻ trách nhiệm và quyền hạn để quản lý nghề cá quốc gia hoặc nghề cá trong một vùng, dựa trên sự hợp tác giữa hai bên và với các bên liên quan khác (Uỷ hội nghề

cá châu Á - Thái Bình Dương, 2005)

Đồng quản lý là một cách tiếp cận quản lý mà ở đó chính quyền chia sẻ một

số quyền hạn, trách nhiệm và chức năng quản lý nhất định trong việc quản lý nghề

cá với cộng đồng sử dụng nguồn lợi như là những đối tác (Trung tâm phát triển nghề cá khu vực Đông Nam Á - SEAFDEC, 2006) Đồng quản lý là một quá trình chính thức nhằm chia sẻ trách nhiệm và quyền hạn giữa chính phủ và các tổ chức theo các tiếp cận phân quyền, để ra các quyết định có thể được lặp lại (Augustinus, 2002)

Theo Rivera (1997), cho rằng cách tiếp cận quản lý nguồn lợi ven biển dựa vào cộng đồng (CBCRM) là thúc đẩy sự đồng thuận và hướng tới việc đạt được sự cân bằng về lợi ích Tầm quan trọng là dựa vào cộng đồng và điều cốt lõi là cách tổ chức cộng đồng CBCRM (community-based resource management) là một quy trình quản lý và ra quyết định mang tính chính trị

và hướng tới việc xây dựng cơ chế chia sẻ quyền lực và phối hợp quản lý CBCRM là con đường dẫn đến đồng quản lý Nó luôn đảm bảo các vấn đề quyền lực là trung tâm để xây dựng cơ chế đồng quản lý

Nếu không có đồng quản lý thì các quyết định quản lý sẽ chỉ mang tính áp đặt và lôi cuốn rất ít những người sử dụng tham gia vào quá trình quản lý Kết quả

là sẽ có một rào cản về mặt liên lạc Những người sử dụng sẽ không cảm thấy là họ được làm chủ hoặc có trách nhiệm quản lý nguồn lợi ở nơi mà họ sinh sống Dân số tăng và khai thác quá mức sẽ làm nguồn lợi thủy sản suy giảm nhanh chóng và chắc chắn sẽ có ảnh hưởng tiêu cực đến người dân Mục đích của đồng quản lý nhằm tăng trách nhiệm, quyền hạn và vai trò của những bên tham gia để tăng cường quản

lý nghề cá (Cẩm nang đồng quản lý nghề cá ở lưu vực sông Mê Kông Thái Lan, 2003)

Trang 22

2.1.2 Khái niệm về quản lý dựa vào cộng đồng

Ở Việt Nam trong gần hai thập kỷ trở lại đây, có nhiều tranh luận xung quanh các khái niệm: đồng quản lý (ĐQL) và quản lý dựa vào cộng đồng (QLDVCĐ)

Quản lý nguồn lợi ven biển trên cơ sở cộng đồng là nhận trách nhiệm tự quản lý phần diện tích nguồn lợi ven biển được giao trong việc giám sát và thực hiện các quy định quản lý không trái với pháp luật hiện hành (IFEP và

ICLARM, 1999)

Quản lý dựa vào cộng đồng là quá trình quản lý trong đó cộng đồng có quyền và trách nhiệm chính trong lập kế hoạch, đưa ra quyết định, quy định, giám sát và thực hiện việc sử dụng bền vững nguồn lợi (Nhóm công tác nghiên cứu Đồng quản lý - Bộ thuỷ sản, 2004)

Quản lý dựa vào cộng đồng là một khái niệm rất đơn giản, xuất phát từ thực

tế ngư dân và những cộng đồng ven biển, là những người mà cuộc sống của họ phụ thuộc vào nguồn tài nguyên biển nên họ có vai trò trong việc quản lý những tài nguyên này Khái niệm này phù hợp với quan điểm phổ biến là những quyết định

quản lý tốt nhất, thường xuất phát trực tiếp từ chính cấp độ đó (Pomeroy, 2006)

Nguyễn Thị Kim Anh và Nguyễn Văn Hiếu (2009), cũng cho rằng khi quản

lý dựa vào cộng đồng được cân nhắc là một bộ phận cần thiết của đồng quản lý, nó

có thể được gọi là đồng quản lý dựa vào cộng đồng Đồng quản lý dựa vào cộng đồng gồm các đặc trưng của cả quản lý dựa vào cộng đồng và đồng quản lý Đó là,

nó lấy con người làm trung tâm, định hướng cộng đồng, dựa vào nguồn lợi và sự phối hợp Vì vậy, đồng quản lý dựa vào cộng đồng coi cộng đồng là trọng tâm, đồng thời nhận thấy rằng để thực hiện được việc đó cần phải có mối liên kết ngang (xuyên suốt cộng đồng) và liên kết dọc (với bên ngoài các tổ chức và cơ quan cộng đồng như chính quyền) Đồng quản lý dựa vào cộng đồng thường phổ biến ở các nước đang phát triển do nhu cầu phát triển tổng thể kinh tế và cộng đồng, quyền lực

xã hội và quản lý nguồn lợi

Trang 23

Theo nhóm công tác nghiên cứu đồng quản lý - Bộ thuỷ sản (2004), hai khái niệm ĐQL và QLDVCD có điểm tương đồng mấu chốt là có sự tham gia của người dân/cộng đồng trong quá trình quản lý Sự khác nhau chính ở đây là mức độ tham gia và thời gian tham gia của chính quyền và người dân vào quá trình quản lý Phương pháp quản lý dựa vào cộng đồng tập trung vào người dân và cộng đồng Đồng quản lý cũng tập trung vào người dân và cộng đồng nhưng đồng thời cũng tập trung vào sự tham gia của chính quyền và các bên liên quan khác trong quá trình quản lý Chính quyền đóng vai trò thứ yếu trong quản lý dựa vào cộng đồng, trong khi đó, theo định nghĩa đồng quản lý, chính quyền đóng vai trò quan trọng và tích cực

2.2 Tình hình đồng quản lý trên thế giới

Tổ chức phi chính phủ của Philipin là CERD tiến hành chương trình quản lý nguồn lợi ven biển có sự tham gia của cộng đồng (CBCRM) tại Calatagan, tỉnh Batangas vào năm 1992 Nông dân, ngư dân, giáo viên, sinh viên và chính quyền địa phương đã tham dự cuộc họp và đã nhất trí rằng việc đánh bắt cá bất hợp pháp

là nguyên nhân chính của nghèo đói tại Vịnh Pagaspas và họ đã nhất trí đồng quản

lý để giải quyết vấn đề này (Aleroza và ctv, 2003)

Dự án sinh kế khai thác Vẹm xanh Sokhulu ở Nam Phi năm 1998 đã xảy ra xung đột giữa các bên chia sẻ nguồn lợi Các nhân viên quản lý cảm nhận rằng không nên để tình trạng tiếp diễn và cộng đồng Sokhulu nên được tiếp cận để tìm ra một giải pháp Cuối cùng đưa ra giải pháp đồng quản lý, những nghi ngờ và xung đột ban đầu đã được giải quyết Những thỏa thuận được hình thành để xây dựng một hệ thống thu hoạch bền vững và để tăng cường năng lực cho các thành viên của cộng đồng nghề cá tham gia vào quá trình ra quyết định quản lý Việc ra quyết định trong một khu vực sinh kế là một sự cố gắng mang tính phối hợp, với việc những người thu lượm vẹm được tham gia vào các quyết định về các quy chế cũng như hạn ngạch thu lượm (Harris và ctv, 2003)

Để lựa chọn một cộng đồng có tiềm năng nhằm thực hiện thành công đồng

quản lý Theo Ostrom (1990, 1992), Pomeroy và ctv (2001), McConney và ctv

Trang 24

(2003b), Sverdrup-Jensen và Nielsen (1998) và Sowman và ctv (2003), thì cộng đồng cần có những đặc điểm sau: Xác định ranh giới rõ ràng; tính đồng nhất cộng đồng/nhóm; phụ thuộc cao vào nguồn lợi đang bị đe dọa; sự ràng buộc cao của cộng đồng vào biển và nguồn lợi; khuyến khích các cá nhân tham gia do sinh kế đang bị

đe dọa; quyền hợp pháp để tổ chức; sự tồn tại của phân quyền; kiến thức địa phương về nguồn lợi; chính quyền khuyến khích khả năng lãnh đạo của cộng đồng; xác định quyền sở hữu nguồn lợi

Đảo San Salvador, với diện tích 380 ha, thuộc một phần của khu tự trị Masinloc tỉnh Zambales, về phía Tây bờ biển Luzon, cách thủ đô Manila khoảng

250 km Một người tình nguyện của Tổ chức Hòa bình đã đến San Salvador vào năm 1987 đã đưa ra khái niệm Dự án Bảo tồn biển cho San Salvador, một dự án quản lý nguồn lợi ven biển dựa vào cộng đồng về tái tạo rạn san hô Năm 1989, một

tổ chức Phi chính phủ tại địa phương này đã có dự án thành lập Khu bảo tồn biển

Tổ chức này cũng trợ giúp về phát triển cách thức lãnh đạo, lập kế hoạch và giáo dục về môi trường (Katon và ctv, 1999)

Tại xã Kampong Por, Pursat, các tổ chức phát triển hộ gia đình Campuchia (CFDS) đã giúp cải thiện các điều kiện sống của người nghèo và nỗ lực thực hiện quyền hợp pháp của mình Pursat là một trong 6 tỉnh ven Hồ Tonle Sap Chương trình CFDS là một cơ hội để họ và cộng đồng tốt hơn cùng với Cục Thủy sản Pursat

và quan chức địa phương tìm kiếm hợp tác trong tương lai về hỗ trợ nghề cá cộng đồng có được kiến thức, kỹ năng và thái độ cần thiết đối với việc quản lý hiệu quả

và bền vững các nguồn lực của cộng đồng (Rivera – Guieb, 2004)

Theo IIRR (1998), việc lập bản đồ nguồn lợi là một phương pháp không thể thiếu giúp thành viên cộng đồng xác định, định vị và phân loại được tình trạng nguồn lợi hiện tại và trong quá khứ, phân bổ, sử dụng ngư cụ và để có thể tìm ra những yếu tố quan trọng Điều đó cho phép thiết lập mối quan hệ giữa xây dựng thông tin và xác định vị trí không gian

Trang 25

Thông thường, bản đồ nguồn lợi, các biểu đồ xu hướng, biểu đồ mặt cắt thường được tạo ra và coi như kết quả của sự đồng lòng giữa các đối tượng tham gia trong cộng đồng (Walters và ctv, 1998)

Dự án đồng quản lý loài trai biển Sokhulu ở Nam Phi được triển khai vào năm 1995 nhằm giải quyết các vấn đề liên quan tới khai thác quá mức và bất hợp pháp Mục đích của dự án là điều tra phạm vi và sự ảnh hưởng của việc đánh bắt

ven bờ (Harris và ctv, 2003)

Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA) nhấn mạnh tầm quan trọng của việc học nhanh và trực tiếp từ mọi người RRA bao gồm cả việc lấy kiến thức địa phương và thu thập thông tin và cách nhận định thấu đáo của người dân địa phương sử dụng nhiều phương pháp và công cụ bổ trợ lẫn nhau (Jackson và Ingles, 1995)

Phương pháp đánh giá vùng nông thôn có sự tham gia của cộng đồng (PRA) bao gồm các cán bộ khảo sát phối hợp với người dân địa phương nhằm nâng cao năng lực địa phương trong phân tích, lập kế hoạch, giải quyết xung đột, thực thi, kiểm soát và đánh giá theo một chương trình nghị sự/cuộc họp địa phương (Jackson

và Ingles, 1995; Maine và ctv, 1996)

Đánh giá RRA và PRA tốt được thể hiện qua cách cư xử và thái độ xây dựng quan hệ với người dân địa phương, tránh đặt mọi người vào các tính huống không thuận lợi, học hỏi chứ không giảng giải mọi người, sáng tạo, kiểm tra và kiểm tra lại giá trị của thông tin thu được, lắng nghe và tìm tòi, kiên nhẫn, khéo léo trong giao tiếp, đáng tin cậy, cởi mở và thân thiện, tất cả những đặc điểm trên sẽ giúp trao đổi thông tin hai chiều (Jackson và Ingles, 1995)

Chương trình quản lý nguồn lợi ven biển dựa vào cộng đồng ở Bolinao, Pangasinan, Philipin, do Viện Khoa học biển, Khoa lao động xã hội và phát triển cộng đồng (thuộc Đại học Philippin) và Hiệp hội bảo tồn nguồn lợi tự nhiên (Haribon) phối hợp thực hiện Với mục tiêu chính là tạo điều kiện phát triển bền vững vùng ven bờ với các cộng đồng địa phương hoạt động như các nhà quản lý nguồn lợi ven bờ Nội dung xuyên suốt của chương trình là tiến hành giáo dục môi

Trang 26

trường và giáo dục tổ chức cộng đồng Chương trình được triển khai nhằm mục đích trao quyền cho các cộng đồng bằng cách phát triển kỹ năng và kiến thức cũng như chủ trương hướng sự tham gia cộng đồng vào công tác quản lý nguồn lợi ven biển (Juinio-Menez và ctv, 2000)

Quy trình Đồng quản lý ở Jamaica, Caribbean, trong cơ cấu đồng quản lý được đề xuất có thể là một hội đồng các bên tham gia gọi là Hội đồng Quản lý nghề

cá Thành viên của Hội đồng rất rộng, dựa vào các đại diện của tất cả các bên quan tâm đến nghề cá như các hợp tác xã, tổ chức, ngư dân kinh doanh, ngư dân kinh doanh giải trí, Vụ nghề cá, Bộ Môi trừơng, lực lượng bảo vệ ven biển, cảnh sát hàng hải, các tổ chức phi chính phủ và các cơ quan nghiên cứu về biển Mỗi đại biểu phải được lựa chọn theo nhóm đại diện Phải có một quá trình mà ở đó các đại biểu phải truyền đạt các quyết định của Hội đồng lại cho cơ quan của mình để thảo luận và thông qua Hội đồng sẽ xem xét việc kiểm soát nguồn lợi, xây dựng và thi hành các điều lệ Nhiệm vụ đầu tiên của Hội đồng là xác định khu vực quản lý và dự thảo điều lệ triển khai hoạt động nghề cá Hội đồng cũng cần phải tìm kiếm tài trợ cho chương trình (Espeut, 2002)

Theo Buckles và Rusnak (1999), xung đột về các nguồn lợi biển và nghề cá

có thể xảy ra ở các mức độ khác nhau, từ nội bộ hộ gia đình tới cộng đồng, khu vực,

xã hội và phạm vi toàn cầu Mức độ xung đột có thể không giống nhau từ mất trật

tự tới thất vọng về các cách thức quản lý nghề cá có thể gây nên những mâu thuẫn trầm trọng giữa các nhóm về trách nhiệm và quyền sở hữu nguồn lợi Xung đột có thể do những khác biệt về quyền lực giữa các cá nhân hay nhóm hoặc qua các hành động đe doạ đối với sinh kế

Quản lý xung đột thường được sử dụng như một thuật ngữ bao hàm cho cả chống xung đột hoặc các biện pháp thống nhất quan điểm, và các phương pháp giải quyết xung đột Các phương pháp sau này thường được nhắc đến là hoà giải mâu thuẫn chọn lựa (ADR) ADR bao hàm một loạt các biện pháp phối hợp, được triển khai ở Nam Phi, bao gồm cả hoà giải, đàm phán và dàn xếp (Pendzich và ctv, 1994; Moore, 1996)

Trang 27

Kế hoạch đồng quản lý sẽ được điều chỉnh dựa theo các kết quả kiểm định Quá trình lặp đi lặp lại sẽ cần sử dụng những kết quả kiểm định để cải thiện dự án Người ta nhận thấy rằng các hoạt động sẽ theo đúng kế hoạch và trong trường hợp cần thiết có thể thay đổi chút ít Tuy nhiên, người ta cũng cho rằng những hoạt động không như sắp xếp và cần có những thay đổi đáng kể Điều này sẽ đòi hỏi phải xem xét lại kế hoạch và các nội dung kế hoạch để đưa ra những điều chỉnh và tiếp tục triển khai kế hoạch (Margoluis và Salafsky, 1998)

Theo Claridge (1998), cho rằng mỗi chương trình đồng quản lý đều có tiềm năng để khuyến khích khởi xướng một chương trình đồng quản lý tại các địa điểm khác Đồng quản lý trong một cộng đồng có thể góp phần tái tạo một cách tiếp cận mới trong các cộng đồng khác theo một số cách nhất định

Công tác bảo vệ và phát triển nguồn lợi nhuyễn thể ven biển nói riêng không chỉ đơn giản là các công tác kỹ thuật và quản lý thông thường, mà thực chất là một chương trình được thiết kế bao gồm một loạt hoạt động khảo sát và nghiên cứu được tiến hành liên tục và lâu dài, được phối hợp bởi các cấp chính quyền, các nhà khoa học và cộng đồng dân cư ven biển (Caddy và Defeo, 2003)

2.3 Tình hình đồng quản lý nghề cá quy mô nhỏ ở Việt Nam

2.3.1 Quá trình hình thành

Trước những thành công của phương thức QLDVCĐ/ĐQL nguồn lợi ven biển nói chung, quản lý nghề cá nói riêng của thế giới, Bộ NN & PTNT (Bộ Thuỷ sản cũ) đã rất quan tâm đến phương thức quản lý này và ngay từ những năm đầu của thập kỷ 1990, Bộ thuỷ sản đã cho phép Viện Kinh tế và Quy hoạch thuỷ sản hợp tác với các tổ chức quốc tế tiến hành nghiên cứu vấn đề này

Bằng nguồn tài trợ của các tổ chức quốc tế và trong nước, của các địa phương, đến nay đã có 34 mô hình ĐQL/QLDVCĐ đã được triển khai và áp dụng tại Việt Nam bao gồm cả nuôi trồng và khai thác thuỷ sản tại 18 tỉnh, thành phố ở 7 vùng sinh thái (Trần Lê Nguyên Hùng, 2009)

Trang 28

2.3.2 Một số mô hình đồng quản lý nghề cá đã thực hiện ở Việt Nam

Theo Trần Lê Nguyên Hùng (2009), sự phân loại các mô hình đồng quản lý trong lĩnh vực thủy sản chỉ mang tính chất tương đối, vì trên một diện tích mặt nước luôn có thể diễn ra rất nhiều hoạt động cho nhiều mục đích khác nhau Có thể phân loại theo các lĩnh sản xuất thủy sản như: nhóm mô hình đồng quản lý trong khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản (18/34 mô hình khảo sát); nhóm mô hình đồng quản lý trong NTTS (2/34 mô hình khảo sát) Phân loại theo hình thức tổ chức quản

lý bao gồm: nhóm mô hình đồng quản lý trên cơ sở hình thành các Chi hội/hiệp hội nghề nghiệp: 9 (chiếm 26%); nhóm mô hình đồng quản lý trên cơ sở hình thành các

tổ nghề nghiệp/tổ cộng đồng/câu lạc bộ: 20 (chiếm 59%) và nhóm mô hình đồng quản lý trên cơ sở hình thành các hợp tác xã: 5 (chiếm 15%)

Ở Việt Nam đã hình thành rất nhiều mô hình mang tính chất đồng quản lý nhưng chưa có một nghiên cứu đánh giá nào được thực hiện để đánh giá mức độ ĐQL một cách đầy đủ cũng như hiệu quả và tính bền vững của mô hình (Trần Lê Nguyên Hùng, 2009)

Đồng quản lý nguồn lợi thủy sản khu vực Búng Bình Thiên nằm trong 3 xã Quốc Thái, Nhơn Hội, Khánh Bình thuộc huyện An Phú, tỉnh An Giang; diện tích

200 – 300 ha, dân số 6.800 người; hoạt động chính khai thác, nuôi trồng Kết quả bước đầu đã tiến hành đào tạo tập huấn về đồng quản lý nghề cá; xây dựng và tổ chức các hoạt động về đồng quản lý nghề cá tại Búng Bình Thiên như: tổ chức hội thảo và họp nhóm cộng đồng đưa ra các vấn đề cần giải quyết, các vấn đề ưu tiên giải quyết và các quyết định của cộng đồng trong việc xây dựng mô hình đồng quản lý (Hứa Quang Lập, 2009)

Theo Phan Đinh Phúc và ctv (2009), cho biết từ năm 1999 bắt đầu tiến hành xây dựng một số mô hình đồng quản lý nghề cá tại tỉnh Đắk Lắk Hiện nay có mô hình đồng quản lý nghề cá ở hồ chứa Easoup (thiết lập năm 1999) và hồ tự nhiên Lak (thiết lập năm 2002) vẫn tồn tại và phát triển Từ thời gian thành lập đến nay, với sự giúp đỡ của Dự án, mô hình đồng quản lý nghề cá ở hồ Easoup và Lắk, mà hạt nhân là Chi hội ngư nghiệp hồ Easoup và Hội nghề cá hồ Lak đã tiến hành nhiều

Trang 29

hoạt động như nâng cao trình độ nhận thức của cộng đồng và chính quyền địa phương thông qua tập huấn, hội thảo, cuộc họp, và tham quan; tuần tra bảo vệ nguồn lợi thủy sản; thu lệ phí đánh bắt để tạo nguồn thu cho Hội; thành lập các tổ tín dụng tiết kiệm để tạo nguồn vốn cho cộng đồng; thả cá để cải thiện nguồn lợi và nâng cao thu nhập cho cộng đồng nghề cá Tuy nhiên, để đánh giá chính xác hiệu quả của mô hình Đồng quản lý nghề cá ở hồ Easoup và Lắk sau một thời gian hoạt động khá dài và rút ra bài học kinh nghiệm cho việc thiết lập các mô hình Đồng quản lý nghề cá khác ở Việt Nam, Dự án đã tiến hành hoạt động “Đánh giá mô hình Đồng quản lý nghề cá ở hồ Easoup và hồ Lắk, tỉnh Đắk Lắk”

Từ năm 2006 đến nay, trên địa bàn tỉnh Quảng Nam đã xây dựng được 41 tổ cộng đồng trong lĩnh vực nuôi tôm nước lợ với 1.000 hộ tham gia Các tổ này đã phát huy hiệu quả rõ rệt trong việc tổ chức sản xuất, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng tôm nuôi cụ thể như: tổ cộng đồng vùng Hóc Rộ - Cẩm Thanh (Hội An), Bản Long - Tam Tiến (Núi Thành), các tổ ở Duy Vinh, Duy Thành (huyện Duy Xuyên), Khi tham gia vào tổ nuôi tôm cộng đồng, người dân phối hợp với nhau trong việc kiểm tra, xét nghiệm con giống, cải tạo ao, hỗ trợ kỹ thuật trong sản xuất, giúp đỡ nhau trong sản xuất, liên kết nhau trong việc mua nguyên liệu đầu vào và bán sản phẩm Bên cạnh đó, các hộ tham gia trong tổ cộng đồng có tính giác ngộ rất cao, khi có trường hợp tôm nuôi bị bệnh, chủ hộ đóng cống, giam nước và báo cho các hộ có nuôi tôm chung quanh để phòng ngừa đồng thời báo cho cơ quan chức năng để xử lý Ngoài ra, các tổ nuôi tôm cộng đồng còn được Nhà nước hỗ trợ một số thiết bị đo môi trường, hướng dẫn các biện pháp kỹ thuật nuôi, giám sát môi trường nuôi (Trần Quang Kiến, 2009)

Sau 03 năm (2006 – 2008) thực hiện việc xây dựng mô hình đồng quản lý nguồn lợi thủy sản tại đầm Trà Ổ, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định mang lại những kết quả như đã ngăn chặn và giảm thiểu việc sử dụng xung điện khoảng 50% so với ban đầu Các hộ ngư dân làm nghề thủ công trong đầm Trà Ổ có thu nhập ổn định,

53 hộ làm nghề thủ công tự nguyện đóng góp tiền để khôi phục nguồn lợi thủy sản trên đầm Trà Ổ Đại bộ phận ngư dân trong đầm đã được nâng cao nhận thức về bảo

Trang 30

vệ nguồn lợi thủy sản Theo điều tra nhận thức lần 2 có 90,28% người dân cho rằng: Chình mun là đối tượng cấm khai thác, nguồn lợi thủy sản bị suy giảm và môi trường xấu đi do việc sử dụng xung điện, kích thước mắc lưới nhỏ; 87,50% ý kiến công tác bảo vệ nguồn lợi thủy sản đã được nhân rộng đến từng cộng đồng dân cư, sẵn sàng tố giác cho địa phương các hành vi sử dụng xung điện để khai thác thủy sản trên đầm Trà Ổ (Trần Văn Vinh, 2009)

Theo Trương Văn Tuyển (2009), mô hình đồng quản lý thủy sản do Trường Đại học Nông lâm Huế thực hiện, được sự tài trợ của IDRC (Canada), đã hỗ trợ UBND huyện Phú Lộc thực hiện trao quyền khai thác thủy sản trên gần 1.000ha mặt nước cho Chi hội nghề cá (QĐ số 942/2009 của UBND huyện Phú Lộc, TT-Huế) Đây là mô hình đầu tiên thực hiện trao quyền khai thác thủy sản cho tổ chức của ngư dân, thiết lập cơ chế quyền tài sản tập thể (đầy đủ cơ sở pháp lý) đối với tài nguyên thủy sản Việc trao quyền đã chính thức hóa thực hành đồng quản lý thủy sản giữa chính quyền địa phương và tổ chức ngư dân

Đến tháng 7 – 1997, Hợp tác xã kiểu mới Thới Thuận - Bình Đại chính thức được thành lập lấy tên là Hợp tác xã Thủy sản Rạng Đông Đặc trưng của Hợp tác

xã Thủy sản Rạng Đông là huy động toàn thể các hộ dân trong xã tham gia vào Hợp tác xã với chức năng nhiệm vụ chủ yếu là quản lý khai thác và tiêu thụ nguồn lợi Nghêu tự nhiên trên diện tích 900 ha đất bãi bồi ven biển, do UBND tỉnh quyết định tạm cấp, nhằm giải quyết việc làm cho người lao động, phân phối lợi nhuận hợp lý

và từng bước nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho các hộ xã viên, góp phần đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế xã hội của địa phương (Trần Thị Thu Nga, 2009)

Theo Trần Thị Thu Nga (2009), cuối năm 2006 Bến Tre đã có tất cả 13 Hợp tác xã Thủy sản, trong đó có 10 HTX khai thác, quản lý nguồn lợi Nghêu được hình thành với 9.744 hộ xã viên đã đi vào hoạt động ổn định trên địa bàn các huyện Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú và Chợ Lách; với diện tích mặt đất được nhà nước giao cho là 7.800 ha, trong đó, 4.970 ha đã được các HTX đưa vào khai thác và thu hoạch Diện tích còn lại do thiếu giống, thiếu vốn nên chưa được khai thác hết, hơn nữa một số

Trang 31

Hợp tác xã do yếu kém trong khâu quản lý, bảo vệ sân Nghêu hiệu quả chưa cao nên chưa dám gia tăng diện tích

Đồng quản lý theo hệ thống tổ chức quản lý HTX nuôi và khai thác Nghêu của Bến Tre đã mang lại những hiệu quả nhất định như: tài nguyên, nguồn lợi, hệ sinh thái,… được bảo tồn và phát triển bền vững; áp dụng qui trình kiểm soát thu hoạch sản phẩm và quan trắc cảnh báo môi trường đã mang lại hiệu quả trong sản xuất Bộ máy tổ chức và cơ chế phân phối lợi nhuận được xây dựng hợp pháp, hợp lý, dân chủ; quyền lợi của cộng đồng được chia sẻ đảm bảo theo nguyên tắc minh bạch, công khai đã tạo được sự đồng thuận trong cộng đồng Nguồn thu nhập của người dân ngày càng tăng, các vấn đề về bình đẳng giới và quyền trẻ em được HTX và chính quyền các cấp chú trọng Thu hút nguồn vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng

và mở rộng thị trường Bên cạnh những kết quả đạt được, còn phải đối mặt với những thách thức như: cơ chế chính sách và hình thức quản lý chưa hiệu quả; nạn

“nghêu tặc” còn diễn ra ở một vài Hợp tác xã quản lý yếu, gây tổn thất nguồn lợi thủy sản, ảnh hưởng đến chu kỳ phát triển của hệ đa dạng sinh học, mất cân bằng môi trường sinh thái, ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội và đời sống kinh tế, văn hóa của cộng đồng (Trần Thị Thu Nga, 2009)

Nhìn chung tình hình đồng quản lý trên thế giới và trong nước tập trung nghiên cứu quy trình đồng quản lý ở các giai đoạn như: bắt đầu, thực hiện và sau thực hiện, đánh giá sơ bộ về hiệu quả mô hình Việc nghiên cứu đánh giá một cách đầy đủ thông qua bộ tiêu chí là hết sức cần thiết, sát với thực tiễn, từ đó đưa ra giải pháp khắc phục để nâng cao hiệu quả đồng quản lý và nhân rộng mô hình này

2.4 Đặc điểm nguồn lợi Nghêu của Bến Tre

Trang 32

Liên họ Ngao Veneracea

Họ Ngao Veneridae

Giống Ngao Meretrix

Loài Nghêu Meretrix lyrata (Sowerby, 1851)

- Tên địa phương: Nghêu Bến tre, Nghêu trắng

- Tên thường gọi tiếng Anh: White Clam, Hard shell Clam, Baby Clam,

Lyrate Asiatic Hard Clam

Hình 2 1: Nghêu Bến Tre Meretrix lyrata (Sowerby, 1851)

2.4.1.2 Đặc điểm phân bố

Theo Nguyễn Chính (1996), vùng phân bố của Nghêu là ở vùng biển ấm Tây Thái Bình Dương từ biển Đài Loan đến Việt Nam, trong đó vùng có sản lượng cao nhất là tỉnh Bến Tre

Cũng theo Nguyễn Chính (1996), ở Việt Nam hiện nay có khoảng 6 loài

thuộc họ Veneridae trong đó có hai loài thuộc giống Meretrix, 1 loài thuộc giống Cyclina, 2 loài thuộc giống Anomalocardia và 1 loài thuộc giống Ktelisia Ở đồng bằng sông Cửu Long, chỉ có loài Meretrix lyrata (Sowerby, 1851) là phân bố với mật độ cao, các loài khác như Meretrix meretrix phân bố với mật độ rất thấp

Cụ thể hơn, theo Nguyễn Hữu Phụng (1996), ở ĐBSCL, loài Nghêu Meretrix lyrata (Sowerby, 1851) phân bố ở Cần Giờ (TP.HCM), Gò Công Đông (Tiền

Giang), Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú (Bến Tre), Cầu Ngang, Duyên Hải (Trà Vinh), Vĩnh Châu (Sóc Trăng), Bạc Liêu, Vĩnh Lợi (Bạc Liêu), Ngọc Hiển (Cà Mau)

Theo Võ Sĩ Tuấn (1999), kết quả đo đạc vùng có Nghêu giống phân bố vào

năm 1998 trong khảo sát vùng phân bố Nghêu giống Meretrix lyrata ở Gò Công

Đông chúng tập trung ở độ cao từ khoảng 0,8 - 1,5 m so với số không hải đồ

Trang 33

Các đặc trưng phân bố của Nghêu cũng đã được một số tác giả nghiên cứu cho thấy nghêu phân bố ở vùng triều thấp, thời gian phơi bãi từ 2 - 8 giờ/ngày Điều kiện môi trường nghêu phân bố: độ mặn từ 7 - 25‰, nhiệt độ là 26 - 32oC Nghêu thích hợp sinh sống ở những vùng cát bùn có cấp hạt từ 0,062 - 0,25 mm, nơi có độ dốc tương đối bằng phẳng, ít dốc, cấu trúc nền đáy hơi xốp để thuận lợi cho việc vùi mình của Nghêu (Nguyễn Hữu Phụng, 1996)

2.4.1.3 Đặc điểm sinh sản

Sự phát triển tuyến sinh dục

Nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản của Nghêu, Nguyễn Văn Hảo và ctv (1999), nhận thấy có hiện tượng lưỡng tính ở Nghêu, trước khi có một kết luận cuối cùng cần có những nghiên cứu dài hạn tiếp theo, tuyến sinh dục với nhiều giai đoạn phát triển khác nhau Bên cạnh đó, chính vì sự phát triển tuyến sinh dục không đồng đều giữa các cá thể khác nhau sẽ góp phần giải thích sự xuất hiện giống quanh năm

Mùa vụ sinh sản

Theo Nguyễn Đinh Hùng (2000), nghiên cứu các điều kiện sinh thái môi trường ảnh hưởng đến quá trình nuôi Nghêu ở vùng ven biển Tiền Giang, Bến Tre cho rằng, mùa vụ chính xuất hiện Nghêu giống bắt đầu vào tháng 6 đến tháng 9 hàng năm với mật độ Nghêu giống khá cao Bên cạnh đó Nghêu giống còn xuất hiện trong mùa phụ vào các tháng 12 đến tháng 2 năm sau nhưng với mật độ thấp hơn nhiều so với vụ chính

2.4.1.4 Đặc điểm sinh trưởng

Vòng đời của Nghêu được mô tả như sau: sau khi thụ tinh, trứng nở ra ấu trùng phù du sống trôi nổi, theo dòng nước phân tán Sau đó, chúng biến thái thành

ấu trùng bám, chuyển sang sống đáy, phát triển chân và tuyến tơ để bám Sau khi bám vào các giá thể tuyến tơ sẽ biến mất Nghêu giai đoạn trưởng thành sống vùi trong cát bùn, chân phát triển đầy đủ thành dạng rìu Nghêu có thể thành thục sinh dục sau 14 -18 tháng (Nguyễn Đinh Hùng, 2000)

Trang 34

2.4.1.5 Đặc điểm dinh dưỡng

Khảo sát điều kiện môi trường, sinh thái và khả năng phát triển Nghêu ở vùng Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang, qua kết quả phân tích 112 mẫu nghêu, Võ Sĩ Tuấn (1999), nhận xét rằng thành phần thức ăn chủ yếu của Nghêu là mùn bã hữu

cơ, chiếm đến 90% lượng thức ăn Các thành phần sinh vật phù du bắt gặp trong ống tiêu hóa của Nghêu khoảng 10% và đã ghi nhận được 61 loài sinh vật phù du trong đó lớp tảo Silic chiếm đa số

Độ no của Nghêu cao hay thấp phụ thuộc vào các yếu tố như môi trường sống, lượng thức ăn trong môi trường, ngoài ra còn phụ thuộc vào tình trạng sức khỏe hay khả năng lọc thức ăn của Nghêu ở các nhóm kích thước khác nhau Theo Nguyễn Văn Hảo và ctv (1999), khả năng lọc thức ăn tốt nhất thuộc về nhóm Nghêu có kích thước nhỏ, Nghêu càng lớn thì khả năng lọc thức ăn càng kém

2.4.2 Sự biến động nguồn lợi nghêu Bến Tre

Nguyễn Đinh Hùng và ctv (2000), trong giai đoạn 1990 – 1999, Nghêu giống xuất hiện với sinh lượng rất cao ở Bến Tre vào các năm 1992, 1993 và 1998 trùng vào những thời điểm đỉnh nước lũ rất thấp Các năm khác (mức lũ > 4 m) thì nguồn Nghêu giống rất ít

Theo Nguyễn Văn Hảo và ctv (1999), kết quả thống kê trong những năm 1990s cho thấy Nghêu giống xuất hiện với mật độ cao ở những vùng ven biển Tiền Giang và Bến Tre vào các năm 1992 - 1993 và 1998 Đối chiếu với số liệu quan trắc môi trường tương ứng của trạm quan trắc lũ sông Tiền thì thấy rằng mức lũ ở những năm này là thấp nhất Điều này thể hiện mối quan hệ giữa sự tồn tại và phát triển của ấu trùng Nghêu với các yếu tố thủy văn và chế độ mưa lũ

Nguyễn Văn Hảo và ctv (1999), cho rằng, sự khác biệt về biến động chế độ nhiệt và nồng độ muối theo chu kỳ mùa mưa năm 1997 và mùa khô năm 1998 so với mùa mưa năm 1998 và mùa khô năm 1999 là một trong những nhân tố dẫn đến

sự khác biệt lớn về nguồn lợi Nghêu giống năm 1998 (nghêu giống rất nhiều) so với năm 1999 ( nghêu giống xuất hiện rất ít) Nhìn chung, ở từng giai đoạn trong năm

1998, các yếu tố môi trường có nhiều thuận lợi cho sự thành thục (nhiệt độ cao), sự

Trang 35

sinh sản của Nghêu (biên độ dao động nhiệt và dao động độ mặn lớn trong khoảng tháng 6 - tháng 8) và sự phát triển của Nghêu giống ở giai đoạn phù du cũng như giai đoạn sống đáy (nhiệt độ ổn định trong mùa mưa, độ mặn tương đối cao và mức

lũ thấp) hơn so với năm 1997 và năm 1999

Nguồn lợi Nghêu có xu hướng biến động rất lớn ở các vị trí khác nhau trên bãi triều và giữa các tháng, các mùa trong năm Chúng biến động dưới tác động trực tiếp và gián tiếp của thành phần cơ học chất đáy, nhiệt độ và độ mặn nước, hàm lượng thức ăn trong nước, thời gian phơi bãi và mức độ khai thác của con người Các hệ số tương tác này tương đối cao về giá trị tuyệt đối (0,43 - 0,68) Sự di chuyển và tập trung của các bãi Nghêu giống phụ thuộc khá rõ vào sự dịch chuyển của khu vực giáp nước, dòng chảy và hướng sóng vỗ vào thời kỳ gió mùa Đông Bắc (Nguyễn Văn Lục và ctv, 2001)

Theo Nguyễn Tác An và Nguyễn Văn Lục (2001), khu vực trung triều (có thời gian ngập bãi 16 - 20 giờ/ngày - đêm) Nghêu phân bố rất phong phú; khu vực

hạ triều (có thời gian ngập bãi 20 - 24 giờ/ngày - đêm) Nghêu phân bố chủ yếu là nhóm có kích thước lớn

Báo cáo của Nguyễn Đinh Hùng (2000) đề cập: theo ngư dân cho biết, ở những khu vực nước sâu khoảng 8 – 10 m tại bãi Thới Thuận, nguồn Nghêu bố mẹ phân bố khá dày, mặt khác nguồn Nghêu nuôi thương phẩm cũng góp phần bổ sung khá đáng kể Điều này chứng tỏ rằng nguồn lợi Nghêu bố mẹ trong tự nhiên không thiếu, vậy nhân tố còn lại ảnh hưởng đến sự hình thành Nghêu giống là các tác nhân môi trường (chế độ mưa lũ, độ mặn, dòng chảy…) và còn ảnh hưởng đến sự phát triển của ấu trùng Nghêu

Theo Quayle và Newkirk (1989), trong giai đoạn ấu trùng sống trôi nổi thì dòng nước ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của chúng, dù có khả năng bơi lội thì ấu trùng cũng không đủ sức cưỡng lại dòng nước, điều này có ảnh hưởng đến sự phân

bố của ấu trùng Một nghiên cứu trên ấu trùng của loài Hầu Ống Crassostrea gigas

cho thấy rằng ấu trùng có thể bị dòng nước đưa đi xa ít nhất 80 km tính từ nơi nó sinh ra trong suốt giai đoạn ấu trùng (25 ngày) Tuy nhiên, theo Quayle (1989),

Trang 36

quan sát thấy rằng ấu trùng Bivalvia có hiện tượng di chuyển lên xuống trong tầng nước theo chiều thẳng đứng và phụ thuộc vào chu kỳ thủy triều (khi triều lên ấu trùng di chuyển lên tầng mặt và khi triều xuống ấu trùng lại di chuyển xuống đáy), đây là căn cứ giải thích cho việc ấu trùng có thể tồn tại ở khu vực gần cửa sông mà không bị cuốn trôi ra biển

2.4.3 Tình hình quản lý, khai thác nguồn lợi Nghêu

Việc quản lý nguồn lợi giống Nghêu tự nhiên trong thời gian qua hết sức phức tạp, đặc biệt ở Tiền Giang và Trà Vinh, riêng tỉnh Bến Tre đã hình thành các HTX, một số HTX công tác quản lý rất tốt nhưng một số HTX do mới hình thành nên công tác quản lý nguồn lợi giống tự nhiên của Nghêu còn hết sức khó khăn Khi đến mùa giống người dân địa phương, kể cả dân nơi khác đến khai thác, phá hoại các bãi giống gây mất an ninh trật tự trong vùng (Nguyễn Thanh Tùng và ctv, 2007)

Theo Phan Thanh Lâm (2007), hình thức quản lý phân cấp nguồn lợi Nghêu các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long phụ thuộc vào mỗi địa phương, mỗi cấp sẽ đảm nhiệm một khâu quản lý: Sở Thủy Sản nay là Sở NN và PTNT, Phòng Nông Nghiệp - Thủy sản huyện, Phòng Kinh tế huyện, HTX và người dân Tuy nhiên, hình thức này còn mang nặng tính hình thức và hiệu quả cũng còn nhiều hạn chế Theo Nguyễn Thị Xuân Lan (2007), tình hình an ninh tại các bãi Nghêu, đặc biệt là Nghêu giống rất phức tạp Tình trạng người dân tập trung lực lượng đông để trộm cắp, dẫn đến tranh giành, xô xát, thậm chí chống trả cả người thi hành công vụ

đã diễn ra ngày càng phổ biến hơn Việc quản lý và khai thác nguồn lợi Nghêu ở các tỉnh ĐBSCL hiện đang gặp một số khó khăn, thách thức

Đến cuối năm 2005, tỉnh Bến Tre đã có 10 HTX thủy sản với hoạt động chủ yếu là nuôi Nghêu và khai thác Nghêu, nằm trên 3 huyện: Bình Đại (HTX Rạng Đông, HTX Đồng Tâm), Ba Tri (HTX Tân Thủy, HTX An Thủy, HTX Bảo Thuận), Thạnh Phú (HTX Đoàn Kết, HTX Thạnh Lợi, HTX Hải Dương, HTX Bình Minh, HTX Thạnh Lộc ), trong đó 2 HTX ở Bình Đại là Rạng Đông (Thới Thuận), Đồng Tâm (Thừa Đức) là nơi làm ăn có hiệu quả nhất Ở hai HTX này, các xã viên thể

Trang 37

hiện rõ quyền làm chủ tập thể; góp phần cùng chính quyền địa phương thực hiện tốt

các chính sách xã hội, đền ơn đáp nghĩa, giải quyết phần lớn việc làm cho người lao

động địa phương Hoạt động của HTX đã giúp cho việc quản lý bãi Nghêu trở nên

thuận lợi hơn, người dân yên tâm hơn, kinh tế địa phương phát triển dần lên

(Nguyễn Thị Xuân Lan, 2007)

Theo Nguyễn Nguyễn Du (2007), mô hình quản lý cộng đồng nguồn tài

nguyên thiên nhiên đang là xu hướng chung và cần được nhân rộng để bảo vệ và

khai thác hợp lý nguồn lợi tự nhiên này, điển hình như mô hình HTX Rạng Đông,

xã Thới Thuận, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre

2.5 Một số thông tin kinh tế - xã hội các huyện ven biển tỉnh Bến Tre

2.5.1 Diện tích, dân số và đơn vị hành chánh

Tổng diện tích đất tự nhiên của 3 huyện ven biển tỉnh Bến Tre là 1.203,9

km2, chiếm 51% so với diện tích của toàn tỉnh, trong đó, huyện Thạnh Phú có diện

tích lớn nhất là 443,5 km2 Dân số trung bình của 3 huyện năm 2009 là 447.500

người, chiếm 35,6% dân số toàn tỉnh, dân số cao nhất là huyện Ba Tri với 187.704

người Mật độ dân số 3 huyện thấp hơn nhiều so với của tỉnh Đây là những lợi thế

sẵn có của 3 huyện ven biển tỉnh Bến Tre về 2 nguồn lực quan trọng trong phát triển

kinh tế - xã hội, đặc biệt là thế mạnh phát triển ngành thủy sản ven biển

Bảng 2 1: Dân số, mật độ dân số 3 huyện ven biển tỉnh Bến Tre có đến 12 – 2009

Stt Huyện Diện tích (km 2 ) Dân số trung bình (người) Mật độ dân số (người/km 2 )

(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Bến Tre, 2009)

Tổng số đơn vị hành chánh của 3 huyện ven biển tỉnh Bến Tre bao gồm 320

ấp, 59 xã và 3 thị trấn Trong vùng quản lý khai thác, nuôi Nghêu của 3 huyện chỉ

có 7 xã, chiếm 11,8% so với tổng số xã của 3 huyện Song, giá trị mang lại từ nguồn

Trang 38

lợi Nghêu là rất lớn, đóng góp đáng kể cho nền kinh tế của tỉnh nói chung, góp phần

quan trọng cải thiện sinh kế người dân trong vùng thông qua cơ chế đồng quản lý

Bảng 2 2: Số đơn vị hành chính của 3 huyện ven biển tỉnh Bến Tre có đến

- Huyện Bình Đại: Cơ cấu giá trị sản xuất trong khu vực I (nông – lâm - ngư)

chủ yếu là thủy sản chiếm 63,4% và nông nghiệp chiếm 36,6%, huyện không có hộ

làm lâm nghiệp

- Huyện Ba Tri: Cơ cấu giá trị sản xuất trong khu vực I chủ yếu là nông

nghiệp chiếm 66,8% và thủy sản chiếm 33,2%, huyện không có hộ làm lâm nghiệp

- Huyện Thạnh Phú: Cơ cấu giá trị sản xuất trong khu vực I, với tỷ trọng

nông nghiệp chiếm 58,1% và thủy sản chiếm 41,9%, huyện không có hộ làm lâm

nghiệp

Nhìn chung, cơ cấu giá trị sản xuất trong khu vực I của 3 huyện ven biển tỉnh

Bến Tre hoàn toàn phụ thuộc vào ngành nông nghiệp và thủy sản, với tỷ lệ nông

(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Bến Tre, 2009)

Tổng giá trị sản xuất NTTS (theo giá thực tế) của 3 huyện là 2.322.061 triệu

đồng, chiếm 63,6% so với giá trị sản xuất NTTS của toản tỉnh Trong đó, huyện

Trang 39

Bình Đại chiếm 57,9% so với 3 huyện và 36,8% so với toàn tỉnh về giá trị này Tỷ

trọng giá trị sản xuất NTTS của huyện Ba Tri là thấp nhất (chiếm 18,3%) và huyện

Thạnh Phú là 23,8%

Trong cơ cấu về GTSX (giá thực tế) ngành thủy sản của 3 huyện thì Bình

Đại vẫn chiếm tỷ trọng cao nhất là 49%, trong khi đó huyện Thạnh Phú là 20,8% và

huyện Ba Tri là 30,2% Điều này chứng tỏ ngành thủy sản huyện Bình Đại phát

triển mạnh ở các lĩnh vực Đối với huyện Ba Tri và Thạnh Phú có thay đổi lớn trong

cơ cấu nội bộ ngành giữa KTTS và NTTS, huyện Ba Tri có thế mạnh về KTTS hơn

huyện Thạnh Phú và đối với lĩnh vực NTTS thì ngược lại (Hình 2.2)

Bảng 2 4: GTSX thủy sản 3 huyện ven biển tỉnh Bến Tre, 2009 (Đvt: triệu đồng)

Stt Danh mục Tổng Nuôi trồng Khai thác Dịch vụ

1 Gía trị sản xuất thủy sản (giá thực tế) 3.851.009 2.322.061 1.491.052 37.896

Ba Tri 30,2%

Thạnh Phú 20,8%

Hình 2 2: Cơ cấu GTSX thủy sản năm 2009 của 3 huyện ven biển tỉnh Bến Tre

Trang 40

2.5.3 Một số đề tài, dự án liên quan đến vùng đồng quản lý

Đề tài cấp địa phương: Luận chứng khoa học của một số giải pháp bảo vệ, phát triển nguồn lợi nghêu, sò huyết ở bãi triều ven biển tỉnh Bến Tre (Trần Thị Thu Nga và Nguyễn Tác An, 2001) Mục tiêu của đề tài là xác định luận chứng khoa học

về môi trường sinh học và điều kiện kinh tế - xã hội trong mối quan hệ với sự biến động số lượng Nghêu Đề xuất một số giải pháp môi trường, sinh học và kinh tế xã hội để bảo vệ và phát triển nguồn lợi Nghêu ở các bãi triều tỉnh Bến Tre

Đề tài cấp bộ: Nghiên cứu các giải pháp bảo vệ và phát triển nguồn lợi

Nghêu Bến Tre Meretix lyrata (Nguyễn Thanh Tùng và ctv, 2007) Mục tiêu của đề

tài là nghiên cứu đề xuất các giải pháp kỹ thuật, kinh tế – xã hội phù hợp để bảo vệ

và phát triển nguồn lợi Nghêu Meretrix lyrata (Sowerby, 1851) theo hướng bền

vững

Đề tài cấp nhà nước: Nghiên cứu xây dựng mô hình bảo vệ và phát triển

nguồn lợi Nghêu (Meretrix lyrata), Sò huyết (Andara granosa) ở vùng cửa sông,

ven biển Tiền Giang, Bến Tre và Trà Vinh (Nguyễn Thanh Tùng và ctv, 2010) Đề tài đã và đang triển khai thực hiện với mục tiêu: Cung cấp được các luận cứ khoa học để xây dựng các khu bảo vệ nguồn lợi và bảo tồn nguồn giống Nghêu, Sò huyết vùng cửa sông, ven biển 3 tỉnh Tiền Giang, Bến Tre và Trà Vinh; xây dựng được 4

mô hình bảo vệ nguồn lợi Nghêu, Sò huyết (các khu bảo tồn giống, khu đệm, khu nuôi,…) ở vùng cửa sông ven biển 3 tỉnh Tiền Giang, Bến Tre và Trà Vinh và chuyển giao cho địa phương sử dụng

Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh Bến Tre cũng đã triển khai thực hiện Chương trình hỗ trợ ngành thủy sản giai đoạn II (FSPS); các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng nuôi thủy sản trên địa bàn huyện Bình Đại, Ba Tri và Thạnh Phú

Ngày đăng: 10/12/2017, 20:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1.Nguyễn Tác An và Nguyễn Văn Lục, 2001. Đặc điểm môi trường thủy hoá và sức sản xuất sơ cấp ở các Nghêu/ Sò và thủy vực kế cận chúng ở tỉnh Bến Tre. Viện Hải Dương Học Nha Trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm môi trường thủy hoá và sức sản xuất sơ cấp ở các Nghêu/ Sò và thủy vực kế cận chúng ở tỉnh Bến Tre
2.Augustinus và Thomas, 2002. Công cụ bản đồ giới. Tài liệu tập huấn lần thứ 2 cấp Khu vực về đồng quản lý nghề cá nội địa. Chương trình nghề cá - Ủy hội sông Mê-kông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công cụ bản đồ giới
3.Nguyễn Chính, 1996. Một số loài động vật Nhuyễn thể (Mollusca) có giá trị kinh tế ở biển Việt Nam. NXB Khoa học và Kỹ thuật, trang 72 – 73 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số loài động vật Nhuyễn thể (Mollusca) có giá trị kinh tế ở biển Việt Nam
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
5.Nguyễn Văn Hảo, Nguyễn Đinh Hùng, Phạm Công Thành, Trần Quang Minh và Nguyễn Thanh Tùng, 1999. Nghiên cứu một số chỉ tiêu môi trường, đặc điểm sinh học và nguồn lợi của nghêu Meretrix lyrata (Sowerby) ở ĐBSCL. NXB Nông Nghiệp. Tuyển tập báo cáo khoa học Hội thảo động vật thân mềm toàn quốc (lần 1) 179-189 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số chỉ tiêu môi trường, đặc điểm sinh học và nguồn lợi của nghêu Meretrix lyrata (Sowerby) ở ĐBSCL
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp. Tuyển tập báo cáo khoa học Hội thảo động vật thân mềm toàn quốc (lần 1) 179-189 trang
6.Nguyễn Đinh Hùng, Phạm Công Thành, Trần Quang Minh và Nguyễn Thanh Tùng, 2000. Nghiên cứu một số chỉ tiêu môi trường, đặc điểm sinh học và nguồn lợi nghêu (Meretrix lyrata) ở đồng bằng sông Cửu Long. Báo cáo khoa học. Viện NCNTTS 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số chỉ tiêu môi trường, đặc điểm sinh học và nguồn lợi nghêu (Meretrix lyrata) ở đồng bằng sông Cửu Long
7.Nguyễn Đinh Hùng, 2000. Nghiên cứu các điều kiện sinh thái môi trường ảnh hưởng đến quy trình nuôi Nghêu Meretrix lyrata (Sowerby) ở vùng ven biển Tiền Giang, Bến Tre. Luận án cao học Trường Đại học Bách Khoa Tp.HCM, 106 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu các điều kiện sinh thái môi trường ảnh hưởng đến quy trình nuôi Nghêu Meretrix lyrata (Sowerby) ở vùng ven biển Tiền Giang, Bến Tre
8.Trần Lê Nguyên Hùng, 2009. Tổng quan mô hình quản lý nghề cá ở Việt Nam. Hội thảo khu vực về đồng quản lý nghề cá qui mô nhỏ tại Việt Nam, TP Đà Nẵng 26-27/10/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan mô hình quản lý nghề cá ở Việt Nam
9.Trần Quang Kiến, 2009. Quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng bước đầu tiếp cận đồng quản lý nghề cá tại vùng ven biển tỉnh Quảng Nam. Hội thảo khu vực về đồng quản lý nghề cá qui mô nhỏ tại Việt Nam, TP Đà Nẵng 26-27/10/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng bước đầu tiếp cận đồng quản lý nghề cá tại vùng ven biển tỉnh Quảng Nam
10.Phan Thanh Lâm, 2007. Đánh giá hiện trạng khai thác và xu thế biến động nguồn lợi Nghêu Meretrix lyrata (Sowerby, 1851) tại Tiền Giang, Bến Tre và Trà Vinh. Báo cáo khoa học. Viện Nghiên cứu NTTS 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiện trạng khai thác và xu thế biến động nguồn lợi Nghêu Meretrix lyrata (Sowerby, 1851) tại Tiền Giang, Bến Tre và Trà Vinh
11.Nguyễn Thị Xuân Lan, 2007. Nghiên cứu mô hình ứng dụng kỹ thuật và quản lý nhằm bảo vệ và phát triển nguồn lợi Nghêu theo hướng bền vững tại tỉnh Bến Tre. Báo cáo khoa học. Viện Nghiên cứu NTTS 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu mô hình ứng dụng kỹ thuật và quản lý nhằm bảo vệ và phát triển nguồn lợi Nghêu theo hướng bền vững tại tỉnh Bến Tre
12.Nguyễn Văn Lục, 2001. Đặc điểm địa hóa, địa mạo và dòng chảy ở các bãi Nghêu Meretrix lyrata (Sowerby, 1851) và Sò huyết Anadara granosa (Linnaeus) ở bãi triều ven biển tỉnh Bền Tre. Viện Hải dương học Nha Trang, 80 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm địa hóa, địa mạo và dòng chảy ở các bãi Nghêu Meretrix lyrata (Sowerby, 1851) và Sò huyết Anadara granosa (Linnaeus) ở bãi triều ven biển tỉnh Bền Tre
13.Trần Thị Thu Nga, 2009. Tổ chức tốt mô hình đồng quản lý khai thác phát triển bền vững nguồn tài nguyên ven biển tỉnh Bến Tre. Hội thảo khu vực về đồng quản lý nghề cá qui mô nhỏ tại Việt Nam, TP Đà Nẵng 26-27/10/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức tốt mô hình đồng quản lý khai thác phát triển bền vững nguồn tài nguyên ven biển tỉnh Bến Tre
14.Phan Đinh Phúc và CTV, 2009. Đánh giá mô hình Đồng quản lý nghề cá ở hồ Easoup và hồ Lắk, tỉnh Đắk Lắk. Hội thảo khu vực về đồng quản lý nghề cá qui mô nhỏ tại Việt Nam, TP Đà Nẵng 26-27/10/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá mô hình Đồng quản lý nghề cá ở hồ Easoup và hồ Lắk, tỉnh Đắk Lắk
15.Nguyễn Hữu Phụng, 1996. Đặc điểm sinh học và kỹ thuật ương nuôi nghêu Meretrix lyrata (Sowerby). Tạp chí Thông tin Khoa học và Thủy sản, số 7, trang 13- 21 và số 8, trang 14- 18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm sinh học và kỹ thuật ương nuôi nghêu Meretrix lyrata (Sowerby)
16.Hà Xuân Thông, 2001. Nghiên cứu đồng quản lý trong bối cảnh Việt Nam. Hội thảo về công tác đồng quản lý đối với sự phát triển nuôi trồng thủy sản ven biển 11/2001, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đồng quản lý trong bối cảnh Việt Nam
18.Võ Sĩ Tuấn, 1999. Khảo sát điều kiện môi trường, sinh thái và khả năng phát triển con Nghêu Meretrix lyrata ở Gò Công, tỉnh Tiền Giang. Viện Hải dương học Nha Trang. Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học,60 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát điều kiện môi trường, sinh thái và khả năng phát triển con Nghêu Meretrix lyrata ở Gò Công, tỉnh Tiền Giang
19.Nguyễn Thanh Tùng và CTV, 2007. Nghiên cứu các giải pháp bảo vệ và phát triển nguồn lợi Nghêu Bến Tre Meretrix lyrata (Sowerby, 1851). Báo cáo đề tài khoa học. Viện Nghiên cứu NTTS 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Meretrix lyrata (Sowerby, 1851)
20.Trương Văn Tuyển, 2009. Xây dựng mô hình đồng quản lý thông qua thực hành trao quyền khai thác thủy sản ở đầm phá Tam Giang – Cầu Hai. Hội thảo khu vực về đồng quản lý nghề cá qui mô nhỏ tại Việt Nam, TP Đà Nẵng 26- 27/10/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng mô hình đồng quản lý thông qua thực hành trao quyền khai thác thủy sản ở đầm phá Tam Giang – Cầu Hai
21.Trần Văn Vinh, 2009. Một số kết quả bước đầu trong việc xây dựng các mô hình đồng quản lý nghề cá tại Bình Định. Hội thảo khu vực về đồng quản lý nghề cá qui mô nhỏ tại Việt Nam, TP Đà Nẵng 26-27/10/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số kết quả bước đầu trong việc xây dựng các mô hình đồng quản lý nghề cá tại Bình Định
25.Aleroza R., Fraxedez O., Bautista A., and Barangas R.,. 2003. Session, Siesta at Socials: Paghahalaw ng Karanasan, Pananaw at mga Aral sa Pag-oorganisa sa CBCRM. A.M.M. Dasig (ed.) Quezon City: CBCRM Resource Center, UP Social Action and Research Development Foundation, Inc. and UP College of Social Work and Community Development, pp. 19–42 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Session, Siesta at Socials: Paghahalaw ng Karanasan, Pananaw at mga Aral sa Pag-oorganisa sa CBCRM

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w