Du thao Bao cao tong ket nam 2012 tài liệu, giáo án, bài giảng , luận văn, luận án, đồ án, bài tập lớn về tất cả các lĩn...
Trang 1BỘ TƯ PHÁP CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
DỰ THẢO Hà Nội, ngày tháng 12 năm 2012
BÁO CÁO Tổng kết công tác tư pháp năm 2012
và phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp công tác năm 2013
Năm 2012, trong điều kiện phải đối mặt với nhiều khó khăn thách thức,công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Chính phủ về triển kinh tế - xã hộinăm 2012 đã bám sát mục tiêu, nhiệm vụ đề ra trong các nghị quyết của Đảng vàQuốc hội, đạt và vượt 10 trên 15 chỉ tiêu kế hoạch; lạm phát được kiềm chế,kinh tế vĩ mô ổn định hơn, an sinh và phúc lợi xã hội được bảo đảm Tuy nhiên,nền kinh tế nước ta vẫn đứng trước nhiều khó khăn, thách thức Kinh tế vĩ môchưa thật ổn định; kết quả kiềm chế lạm phát chưa vững chắc Doanh nghiệpgặp nhiều khó khăn, nhất là khó tiếp cận vốn tín dụng, hàng tồn kho cao; nợ xấucao và có xu hướng tăng; thị trường bất động sản, tài chính tiềm ẩn nhiều rủi ro.Đời sống của một bộ phận nhân dân còn nhiều khó khăn Tai nạn giao thông còncao; tình trạng tội phạm, tệ nạn xã hội còn diễn biến phức tạp
Trong khó khăn chung của tình hình kinh tế đất nước, trên cơ sở bám sátNghị quyết số 01/NQ-CP ngày 3/1/2012 của Chính phủ về những giải pháp chủyếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toánngân sách Nhà nước năm 2012, công tác tư pháp, pháp chế, thi hành án dân sự
(sau đây gọi chung là công tác tư pháp) đã được Chính phủ, Bộ Tư pháp và các
Bộ, ngành, địa phương quan tâm chỉ đạo, triển khai đồng bộ, có trọng tâm, trọngđiểm, giải quyết nhiều "điểm nghẽn" trong công tác của Ngành, qua đó cónhững đóng góp quan trọng cho sự phát triển kinh tế, xã hội, củng cố quốcphòng - an ninh ở địa phương và cả nước Báo cáo tổng kết này đánh giá toàndiện kết quả công tác tư pháp năm 2012 trên phạm vi toàn quốc, làm rõ nhữnghạn chế, tồn tại và nguyên nhân cơ bản để từ đó đề xuất các nhiệm vụ, giải phápcần triển khai trong năm 2013 và những năm tiếp theo
Trang 2cơ bản của công dân; cơ chế xử lý vi phạm Hiến pháp Với việc tham mưu giúpChính phủ, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trựcthuộc Trung ương hoàn thành việc tổng kết thi hành Hiến pháp năm 1992, tíchcực tham gia ý kiến đối với dự thảo Hiến pháp sửa đổi, ngành Tư pháp đã bướcthêm một bước vững chắc trong việc khẳng định vị trí, vai trò của mình trongtrong đời sống chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước.
b) Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) được thực
hiện có hiệu quả, chất lượng ngày càng được nâng cao Thực hiện Chương trìnhxây dựng luật, pháp lệnh năm 2012, 2013 của Quốc hội, Bộ Tư pháp xây dựng,trình Thủ tướng Chính phủ ban hành các Quyết định phân công cơ quan chủ trìsoạn thảo các dự án luật, pháp lệnh và tích cực đôn đốc việc thực hiện Kết quả,các đơn vị thuộc Bộ, các tổ chức pháp chế đã tham mưu cho Chính phủ, các Bộ,ngành chỉ đạo xây dựng, xây dựng và trình Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốchội 31 dự án luật, pháp lệnh, góp phần quan trọng trong việc thực hiện bước đầu 1trong 3 khâu đột phá chiến lược đã được xác định trong Chiến lược phát triểnkinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2020 Trong đó, các đơn vị thuộc Bộ Tư pháp đãhoàn thành việc xây dựng, trình Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội thôngqua 05 luật và 02 pháp lệnh với nhiều nội dung mới, mang tính đột phá như Luật
Xử lý vi phạm hành chính, Luật Phổ biến giáo dục pháp luật, Luật giám định tư
Trang 3pháp, Pháp lệnh pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật Vụ Pháp chế các Bộ, cơquan ngang Bộ cũng đã chủ trì xây dựng, trình Quốc hội, Uỷ ban Thường vụQuốc hội thông qua 08 luật, pháp lệnh, nâng tổng số luật, pháp lệnh do Ngànhchủ trì xây dựng được Quốc hội thông qua là 15/31 luật, pháp lệnh Các dự ánluật, pháp lệnh đã được xây dựng, thẩm định ngày càng chặt chẽ, đúng quytrình, được Quốc hội đánh giá cao Đặc biệt, Luật Thủ đô do Bộ Tư pháp chủ trìsoạn thảo sau một lần lỗi hẹn với cử tri cả nước và Thủ đô, đã được Quốc hộithông qua sẽ tạo cơ sở pháp lý vững chắc, lâu dài cho việc xây dựng, phát triển,quản lý Thủ đô với tư cách là trung tâm chính trị, văn hoá của cả nước.
Việc xây dựng các VBQPPL thuộc thẩm quyền của Chính phủ, Thủ tướngChính phủ, nhất là các VBQPPL quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành cácluật, pháp lệnh ngày càng được chú trọng, Bộ đã xây dựng trình Chính phủ, Thủtướng Chính phủ 42/54 văn bản, đạt tỷ lệ 77,78%; tình trạng nợ đọng các nghịđịnh quy định quy định chi tiết luật, pháp lệnh trong nhiều năm qua đã cơ bản
khắc phục (trong 6 tháng đầu năm 2012 Chính phủ đã quy định chi tiết 32/61 luật, pháp lệnh, đạt 53% Tính đến ngày 15/10/2012, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ đã ban hành 168 thông tư, thông tư liên tịch quy định chi tiết thi hành các luật, pháp lệnh, còn 24 văn bản quy định chi tiết với 42 nội dung thuộc
15 luật, pháp lệnh đã có hiệu lực pháp luật chưa được ban hành, chiếm 10% số văn bản phải ban hành - đây là số văn bản nợ đọng thấp nhất trong 10 năm trở lại đây) Bộ Tư pháp cũng đã phối hợp với Văn phòng Chính phủ, các Bộ,
Ngành chuẩn bị tốt cho phiên điều trần của Ủy ban pháp luật của Quốc hội vềcông tác này
Công tác đàm phán các điều ước quốc tế, hiệp định song phương, đaphương được các bộ, ngành quan tâm triển khai, bảo đảm đúng định hướng củaĐảng và Nhà nước về hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực pháp luật về pháp
luật và tư pháp (Bộ Tư pháp đã thẩm định 78 điều ước quốc tế, cấp ý kiến pháp
lý cho 61 Hiệp định vay và các khoản vay thương mại được Chính phủ bảo lãnh).
Ở địa phương, UBND các cấp đã ban hành chương trình xây dựngVBQPPL hàng năm, giao cho cơ quan Tư pháp làm đầu mối đôn đốc, góp ý,thẩm định văn bản, qua đó cơ bản bảo đảm đúng quy trình xây dựng, thẩm địnhtrước khi trình UBND ban hành Kết quả năm 2012, UBND cấp tỉnh đã banhành 3.852 VBQPPL góp phần thể chế hoá quy định pháp luật từ Trung ươngđến địa phương, nâng cao hiệu quả quản lý kinh tế - xã hội, nâng cao năng lựccạnh tranh cấp tỉnh
Công tác thẩm định VBQPPL đã đi vào nề nếp, cơ bản được bảo đảm tiến
độ, chất lượng theo đúng quy định pháp luật, qua đó góp phần thể hiện rõ hơnvai trò "người gác cổng" trong xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật củaTrung ương và địa phương Toàn Ngành đã thẩm định được 10.142 văn bản, đềán/ văn bản, đề án đã đăng ký xây dựng, trình ban hành trong năm 2012
Trang 4Việc thẩm định các VBQPPL nhằm thực hiện nhiệm vụ tái cơ cấu đầu tư, tái cơcấu hệ thống tài chính, ngân hàng, tái cơ cấu doanh nghiệp và các VBQPPL đểthực hiện Nghị quyết số 13/NQ-CP ngày 10/5/2012 của Chính phủ về các giảipháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường được chútrọng
Công tác kiểm tra, xử lý, rà soát, hệ thống hóa VBQPPL được các bộ,
ngành và địa phương thực hiện thường xuyên, định kỳ công bố các VBQPPL hếthiệu lực, góp phần bảo đảm tính thống nhất, hiệu lực của hệ thống pháp luật.Toàn Ngành Tư pháp đã hoàn thành việc kiểm tra theo thẩm quyền văn bảncủa các Bộ, ngành và 554.078 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (giảm 10%
so với cùng kỳ năm 2011), phát hiện 8.528 văn bản có dấu hiệu chưa đảm bảotính hợp pháp theo quy định tại Điều 3 Nghị định số 40/2010/NĐ-CP, trong đó
có 1.140 văn bản có dấu hiệu vi phạm pháp luật về nội dung (chiếm tỷ lệ13,4%) Có /63 UBND cấp tỉnh đã ban hành Quy chế về kiểm tra và xử lýVBQPPL; một số địa phương đã ban hành Quy định mức chi đặc thù đảm bảocho công tác kiểm tra, xử lý, rà soát, hệ thống hoá VBQPPL (Tiền Giang, HậuGiang, Kon Tum )
Công tác rà soát, hệ thống hoá văn bản tiếp tục được thực hiện thường
xuyên, tập trung các lĩnh vực như: rà soát các quy định pháp luật về đất đaitrong phạm vi ở Trung ương và địa phương thuộc lĩnh vực quản lý của Ngành
Tư pháp (như công chứng, bán đáu giá tài sản, đăng ký giao dịch bảo đảm, cácquy định của pháp luật dân sự ) phục vụ tổng kết thi hành và đề xuất xây dựng
dự án Luật Đất đai; rà soát pháp luật Việt Nam theo yêu cầu của Tổ chứcThương mại thế giới, ASEAN; xây dựng cơ sở dữ liệu VBQPPL chung phục vụcông tác kiểm tra văn bản
Công tác theo dõi thi hành pháp luật được hoàn thiện một bước về thể chế
với việc Chính phủ ban hành Nghị định số 59/2012/NĐ-CP về theo dõi tình hìnhthi hành pháp luật, tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động quản lý nhà nước về theo dõitình hình thi hành pháp luật trong toàn quốc Các bộ, ngành và địa phương đãban hành Kế hoạch theo dõi tình hình thi hành pháp luật năm 2012 và cơ bản tổchức trên quy mô toàn quốc trong lĩnh vực và địa bàn quản lý, trong đó đã tậptrung vào 05 lĩnh vực pháp luật đang thu hút nhiều sự chú ý của dư luận, nhưcác lĩnh vực đất đai, bảo vệ môi trường, xử lý vi phạm hành chính, tư pháp bướcđầu đạt kết quả tích cực
Cùng với việc thực hiện các nhiệm vụ trong công tác xây dựng, thẩm định,
rà soát, hệ thống hóa VBQPPL, theo dõi thi hành pháp luật, các cơ quan Tưpháp từ Trung ương đến địa phương, các tổ chức pháp chế cũng đã tích cựctham mưu cho Chính phủ, chính quyền địa phương giải quyết những vấn đề vềpháp lý trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội ỞTrung ương, Bộ Tư pháp đã tích cực tham gia giải quyết các tranh chấp vềthương mại quốc tế mà Chính phủ Việt Nam là một bên tranh chấp, cấp ý kiến
Trang 5cho các khoản vay phục vụ việc đầu tư, phát triển các dự án lớn, giải quyết cácvấn đề liên quan đến tái cơ cấu Vinashin Ở địa phương, công tác tham mưucho cấp ủy, chính quyền địa phương về những vấn đề pháp lý liên quan đến đấtđai, giải phóng mặt bằng, hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, giải quyết những vấn
đề xã hội phát sinh trong quá trình thực hiện các dự án lớn đã mang lại hiệuquả rõ rệt, được đánh giá cao
1.2 Hạn chế, tồn tại và nguyên nhân
a) Hạn chế, tồn tại
- Việc thực hiện Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội vẫncòn tình trạng chưa bảo đảm tiến độ, một số dự án còn phải xin lùi, xin rút nhiềulần, chất lượng chưa cao Tình trạng chậm ban hành văn bản quy định chi tiết,hướng dẫn thi hành luật, pháp lệnh còn chưa được khắc phục triệt để (ví dụ nhưLuật Phổ biến, giáo dục pháp luật); nội dung quy định chi tiết chưa bám sát quyđịnh của luật, pháp lệnh hoặc có quy định còn thiếu tính khả thi, hợp lý dẫn đếnnhiều vướng mắc, kém hiệu lực trong triển khai thực hiện (quy định về xử phạthành vi không chuyển quyền sở hữu phương tiện tại Nghị định số 71/2012/NĐ-CP; quy định về thịt và phụ phẩm bảo quản ở nhiệt độ thường chỉ được bày bántrong thời gian nhất định tại Thông tư số 03/TT/2012/TT-BNNPTNT ) Việcban hành các thông tư, thông tư liên tịch hướng dẫn thi hành các Luật, Nghị địnhcòn rất chậm, chưa bảo đảm thi hành đầy đủ chính sách đã được quy định (ví dụcác thông tư liên tịch trong lĩnh vực bồi thường nhà nước, thi hành án dân sự,bán đấu giá tài sản) Công tác xây dựng VBQPPL của địa phương vẫn còn hạnchế về chất lượng, nhất là cấp huyện, cấp xã Số lượng văn bản có dấu hiệu viphạm pháp luật theo quy định của Điều 3 Nghị định số 40/2010/NĐ-CP có chiều
hướng gia tăng (xin xem Biểu đồ 1)
Trang 6- Chất lượng góp ý, thẩm định văn bản còn bất cập, mang tính pháp lýthuần tuý; tiến độ thẩm định cơ bản được bảo đảm song vẫn còn tình trạng đểchậm, bỏ sót Việc xử lý văn bản có dấu hiệu vi phạm pháp luật đạt hiệu quảchưa cao Công tác rà soát, hệ thống hoá VBQPPL còn được triển khai mangtính tự phát, cắt khúc ở từng địa phương mà chưa có hệ thống cơ sở dữ liệu phápluật chung trong toàn quốc nên chưa hỗ trợ hiệu quả cho công tác xây dựng,kiểm tra và thi hành pháp luật
- Công tác theo dõi thi hành pháp luật chưa tạo được chuyển biến mạnh,mang tính đột phá Việc triển khai Nghị định số 55/2011/NĐ-CP còn chưa đượcthực hiện nghiêm Tổ chức pháp chế ở các cơ quan chuyên môn thuộc UBNDcòn chưa được kiện toàn
b) Nguyên nhân
- Chất lượng chuẩn bị Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh chưa cao; sựphối - kết hợp giữa Bộ Tư pháp với một số Bộ, ngành; của Tư pháp địa phươngvới cơ quan chuyên môn thuộc UBND các cấp chưa thật sự nhịp nhàng; một số
Bộ, cơ quan ngang Bộ chưa thực hiện tốt việc chuẩn bị hồ sơ theo quy định củaLuật Ban hành VBQPPL năm 2008, đặc biệt là chuẩn bị báo cáo đánh giá tácđộng sơ bộ còn sơ sài Lãnh đạo một số cơ quan là thành viên Ban soạn thảo vănbản, đề án chưa tham dự đầy đủ các cuộc họp Ban soạn thảo
- Công tác thẩm định còn gặp khó khăn khi cơ quan chủ trì soạn thảo chưagửi đầy đủ hồ sơ thẩm định theo quy định của các Luật Ban hành VBQPPL;chưa có quy định về thẩm định các thông tư, thông tư liên tịch nên còn để xảy ratrường hợp các văn bản này có sai sót, vi phạm pháp luật
- Một số cơ quan, đơn vị chưa nhận thức đầy đủ về mục đích, ý nghĩa, tráchnhiệm và phương pháp thực hiện việc kiểm tra, rà soát, theo dõi thi hành phápluật; chưa chú trọng giải quyết nhanh những bất cập, vi phạm pháp luật của cácVBQPPL đã được ban hành mà qua kiểm tra có phát hiện ra vi phạm Việc thựchiện kết luận thông báo kiểm tra VBQPPL của Bộ Tư pháp chưa nghiêm Việckiểm tra VBQPPL ở cấp huyện, cấp xã còn nhiều bất cập, chưa kiểm soát chặtchẽ việc ban hành văn bản ở cấp huyện, xã
- Công tác chỉ đạo công tác pháp chế của nhiều bộ, ngành, địa phương cònchưa được quan tâm đúng mức Việc ban hành Thông tư hướng dẫn nghiệp vụcho các tổ chức pháp chế còn chậm, chưa bảo đảm sự thống nhất thực hiện cácchức năng, nhiệm vụ trong toàn Ngành
- Nguồn lực và ngân sách phục vụ công tác xây dựng, thẩm định, kiểm travăn bản, đề án chưa tương xứng, làm hạn chế khả năng nghiên cứu, phân tíchchính sách trước khi ban hành văn bản
2 Quản lý nhà nước về hành chính tư pháp
2.1 Kết quả đạt được
Trang 7Công tác quản lý nhà nước đối với các lĩnh vực hộ tịch, chứng thực đượctăng cường Việc triển khai các luật mới trong các lĩnh vực quốc tịch, lý lịch tưpháp và bồi thường nhà nước được chú trọng triển khai và đạt nhiều kết quả tíchcực Bộ Tư pháp cũng đã quan tâm hướng dẫn và phối hợp với các địa phương,
cơ quan liên quan tháo gỡ khó khăn trong thực tiễn cũng như tạo điều kiện thuậnlợi cho công dân trong việc giải quyết yêu cầu về đăng ký hộ tịch, quốc tịch,nuôi con nuôi
- Công tác hoàn thiện thể chế trong lĩnh vực đăng ký và quản lý hộ tịch đượcchú trọng Bộ Tư pháp và các địa phương đã tập trung chỉ đạo hoàn thành việctổng kết công tác đăng ký và quản lý hộ tịch, xây dựng dự án Luật Hộ tịch trìnhChính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội với nhiều điểm đổi mới căn bản trongcông tác này Việc giải quyết các yêu cầu của người dân về đăng ký các sự kiện
sinh, tử, kết hôn được thực hiện tốt (năm 2012, các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã thực hiện đăng ký khai sinh cho 1.794.446 trường hợp (tăng 13%
so với năm 2011), khai tử cho 410.844 trường hợp (tăng 4% so với năm 2011), đăng ký kết hôn cho 769.011 cặp) Công tác đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài
có nhiều chuyển biến tích cực, mặc dù giải quyết một số lượng tương đối lớn
(năm 2012 đã đăng ký được 12.213 trường hợp, tăng 1% so với năm 2011) nhưng
không để xảy ra sai sót, bức xúc lớn; nhiều địa phương đã có biện pháp xác minhchặt chẽ hơn đối với trường hợp chuyển khẩu từ nới này sang nơi khác để thựchiện kết hôn có yếu tố nước ngoài Công tác cải cách hành chính trong lĩnh vực
hộ tịch được nhiều địa phương quan tâm, đặc biệt Thành phố Hồ Chí Minh đangtiến hành xây dựng Đề án “một cửa” liên thông trong lĩnh vực hộ tịch, hộ khẩu vàbảo hiểm y tế cho trẻ em sơ sinh Công tác quản lý và lưu trữ dữ liệu hộ tịch bướcđầu được một số địa phương quan tâm thực hiện, nhất là việc tin học hoá công tácđăng ký và quản lý hộ tịch, góp phần phục vụ ngày càng tốt hơn cho công tácquản lý dân cư, quản lý xã hội Bộ Tư pháp cũng đã triển khai việc in 5.640.000
tờ biểu mẫu, 42.700 cuốn sổ hộ tịch, bảo đảm đủ số lượng theo yêu cầu của cácđịa phương
- Công tác chứng thực bản sao, chữ ký đã từng bước đi vào nền nếp sau khiChính phủ ban hành Nghị định số 04/2012/NĐ-CP ngày 25/01/2012 sửa đổi, bổsung Điều 5 Nghị định số 79/2007/NĐ-CP về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thựcbản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký có hiệu lực, tạo thuận lợi cho người dântrong việc yêu cầu chứng thực Trong năm 2012, các cơ quan tư pháp cấp huyện,cấp xã đã thực hiện chứng thực 71.883.412 bản sao, 2.974.971 chữ ký Việc hoànthiện thể chế đối với công tác này cũng đang được tập trung thực hiện với việcnghiên cứu xây dựng dự án Luật chứng thực và Nghị định về dịch thuật
- Kết quả giải quyết hồ sơ về quốc tịch được bảo đảm đúng quy định phápluật nên không có tình trạng khiếu nại, tố cáo liên quan đến việc giải quyết hồ sơquốc tịch Biểu đồ 2 cho thấy kết quả nhập quốc tịch và trở lại quốc tịch ViệtNam có chiều hướng gia tăng và giảm số lượng người xin thôi quốc tịch ViệtNam Năm 2012, Ngành Tư pháp đã giúp UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc
Trang 8Trung ương rà soát, khẩn trương hoàn thành hồ sơ và trình Chủ tịch nước đã ký
Quyết định cho nhập Quốc tịch Việt Nam đối với 2.767 trường hợp tại 16 tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương theo Điều 22 của Luật Quốc tịch Việt Nam(tăng 971 trường hợp so với năm 2011), qua đó đáp ứng mong mỏi của ngườidân và giúp họ được thực hiện đầy đủ quyền công dân Bộ Tư pháp đã hoànthiện cơ bản Phần mềm quản lý cơ sở dữ liệu quốc tịch và bắt đầu tiến hànhnhập liệu kết quả giải quyết việc cho nhập, cho thôi, cho trở lại quốc tịch ViệtNam
Quản lý nhà nước về nuôi con nuôi đã có bước chuyển biến quan trọng với
một cơ chế pháp lý cao trong việc bảo vệ quyền và lợi ích tốt nhất của trẻ, cha
mẹ nuôi và các quy trình giải quyết hồ sơ, chế độ tài chính chặt chẽ, minh bạchbảo đảm quyền công dân, quyền con người và giải quyết căn bản yêu cầu vềchính trị, quan hệ quốc tế trong lĩnh vực mang tính nhân đạo sâu sắc này Ngày07/9/2012, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1233/QĐ-TTg phêduyệt Đề án triển khai thực hiện Công ước Lahay số 33 về bảo vệ trẻ em và hợptác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế giai đoạn 2012 - 2015; Bộ Tư pháp đãtăng cường hợp tác, ký kết các hiệp định hợp tác song phương, biên bản ghi nhớvới một số quốc gia nhằm xây dựng cơ chế bảo vệ quyền và lợi ích chính đángcủa trẻ em khi được giải quyết làm con nuôi người nước ngoài Trong năm
2012, cả nước ta đã giải quyết được 1.980 trường hợp cho nhận con nuôi trong nước và 231 trường hợp con nuôi người nước ngoài (tỷ lệ nam - nữ gần bằng
nhau), đặc biệt đáng chú ý ở đây là những trẻ em mắc bệnh hiểm nghèo, vốn rất
ít cơ hội được nhận nuôi trong nước đã có thể tìm được mái ấm gia đình ngaytrên quê hương mình Điều này đã chứng tỏ sự thay đổi nhận thức của người dân
về việc nhận nuôi con nuôi, khẳng định tinh thần nhân đạo của hoạt động nàynói chung và của người dân Việt Nam nói riêng
Sau 01 năm thực hiện Chương trình thí điểm tìm gia đình thay thế cho trẻ em
có nhu cầu đặc biệt, đã có 67 trẻ em được nhận làm con nuôi người nước ngoài,thay đổi cách nhìn nhận của các cơ quan có thẩm quyền trong quá trình giải quyếtnuôi con nuôi, kêu gọi sự quan tâm tích cực của cộng đồng và tìm gia đình thay
Trang 9thế đối với những trẻ em không may, tạo điều kiện tăng cường năng lực giải quyếtnuôi con nuôi nước ngoài theo thủ tục mới… Hiện Bộ Tư pháp đang nghiên cứu
mở rộng ra những tỉnh, thành phố khác trên cả nước trong những năm tiếp theo
Công tác lý lịch tư pháp được triển khai khá đồng bộ ở địa phương; nhiều
địa phương có đã tập trung cải tiến quy trình, rút ngắn thời gian giải quyết hồ sơ,qua đó đáp ứng kịp thời yêu cầu cấp phiếu lý lịch tư pháp cho công dân (tại cáctỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương) và từng bước thiết lập hệ cơ sở dữ liệuphục vụ quản lý, điều hành (thành phố Hồ Chí Minh) Đơn vị quản lý lý lịch tưpháp đã được thành lập ở các Sở Tư pháp; 05 Sở Tư pháp thành phố trực thuộcTrung ương đã thành lập Phòng Lý lịch tư pháp, qua đó bảo đảm cung cấp phiếu
lý lịch tư pháp cho công dân, nhất là ở các thành phố trực thuộc Trung ương thờigian cấp phiếu đã được rút ngắn Bộ Tư pháp cũng đã hoàn thành việc xây dựngPhần mềm quản lý lý lịch tư pháp và triển khai thực hiện trên toàn quốc Các địaphương đã tiếp nhận và cấp 146.864 phiếu lý lịch tư pháp cho công dân ViệtNam; Bộ Tư pháp tiếp nhận 73 hồ sơ yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp củangười nước ngoài có thời gian cư trú tại Việt Nam
Công tác bồi thường nhà nước được các bộ, ngành và địa phương triển khaitốt, bảo đảm quyền lợi của người dân, tổ chức Bộ đã phối hợp với Bộ Nội vụban hành Thông tư liên tịch hướng dẫn nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức và biênchế của Sở Tư pháp thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Phòng
Tư pháp thuộc UBND huyện, quận thị xã, thành phố thuộc tỉnh về trách nhiệmbồi thường của Nhà nước Các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cũng đãtiến hành triển khai công tác bồi thường trong toàn tỉnh, thành phố Từ01/10/2011 đến 30/9/2012, các Bộ, ngành, địa phương đã giải quyết được 30/39
vụ việc (đạt tỷ lệ 77%) Tổng số tiền đã chi trả bồi thường là 17.362.567 nghìnđồng/17.518.095 nghìn đồng phải bồi thường (đạt tỷ lệ 99%) Trong đó, hoạtđộng phát sinh nhiều yêu cầu bồi thường nhất là quản lý hành chính và tố tụng.Phần lớn các yêu cầu bồi thường được thực hiện tại cơ quan có trách nhiệm bồithường Chỉ một số lượng nhất định người bị thiệt hại không đồng ý với quyếtđịnh giải quyết bồi thường và khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bồi thường.Trong lĩnh vực THADS, năm 2012, toàn Ngành đã thụ lý 24 vụ việc thihành án dân sự tại 15 địa phương phải tiến hành thụ lý giải quyết theo thủ tụcbồi thường Nhà nước; giải quyết xong 06 việc, với số tiền đã bồi thường là 1 tỷ
518 triệu 379 nghìn đồng; còn 18 việc đang tiếp tục giải quyết
Công tác đăng ký giao dịch bảo đảm ngày càng đáp ứng tốt hơn yêu cầu
của người dân và doanh nghiệp; phương thức đăng ký đã được cải tiến mạnh mẽthông qua việc đưa hệ thống đăng ký trực tuyến đi vào hoạt động ổn định, bảođảm đơn giản hoá, minh bạch thủ tục dăng ký và hạn chế tiêu cực Năm 2012,
các Trung tâm Đăng ký giao dịch bảo đảm đã giải quyết 154.979 đơn yêu cầu
đăng ký (giảm 76,9% so với cùng kỳ năm 2011); tổng số phí, lệ phí dự kiến thu
Trang 10là 10.410.215 nghìn đồng, giảm 8,95% so với cùng kỳ năm 2011 (trích nộp
Tư pháp và một số Sở Tư pháp chưa chặt chẽ dẫn đến có thời điểm địa phươngthiếu biểu mẫu hộ tịch
- Công tác quản lý chứng thực vẫn còn lúng túng, nhất là trong việc phânđịnh và chuyển giao thẩm quyền chứng thực các hợp đồng, giao dịch của UBNDcấp huyện, cấp xã cho các tổ chức hành nghề công chứng; trong việc giải quyếtmối quan hệ giữa thủ tục chứng thực với việc thực hiện cơ chế một cửa
- Công tác lý lịch tư pháp, bồi thường nhà nước là những nhiệm vụ mới tạiđịa phương song chưa được sự quan tâm chỉ đạo và thực hiện đầy đủ; việc triểnkhai còn chưa thực chất, hiệu quả Tiến độ giải quyết yêu cầu cấp phiếu lý lịch
tư pháp còn chậm
- Việc hướng dẫn triển khai thực hiện quy định của Luật Nuôi con nuôi vềvấn đề đăng ký con nuôi thực tế chưa kịp thời theo quy định của Luật nên chưađược quan tâm triển khai đúng mức, đồng bộ trong toàn quốc Tại môt số tỉnhvẫn tồn tại hiện tượng nhà chùa đăng ký con nuôi như Cà Mau (3 trường hợp),Hưng Yên, Sóc Trăng (45 trường hợp)… hoặc lạm dụng chính sách con nuôi đểhưởng lợi như ở Quảng Nam (đã hủy bỏ 3 trường hợp)
- Các Phần mềm tra cứu quốc tịch, quản lý lý lịch tư pháp chưa được hoànthiện, quy trình báo cáo bằng văn bản điện tử chưa được thực hiện nghiêm chỉnh
ở Cơ quan đại diện Việt Nam tại nước ngoài khiến cho việc tra cứu, giải quyết
hồ sơ quốc tịch còn thủ công làm chậm tiến độ giải quyết
b) Nguyên nhân
- Thể chế lĩnh vực hộ tịch, chứng thực còn nhiều bất cập Quy định phápluật về chứng thực và các quy định khác liên quan còn chưa phù hợp, mâuthuẫn
- Sự phối hợp giữa các Bộ, ngành có liên quan trong cung cấp thông tin vềlịch tư pháp chưa chặt chẽ Một số Sở Tư pháp chưa chủ động trong việc tổ chứctriển khai thực hiện Luật Lý lịch tư pháp, chưa chủ động gửi thông tin LLTP đãnhận được cho Bộ Tư pháp
Trang 11- Nhận thức về ý nghĩa, vai trò cũng như các nội dung cơ bản về tráchnhiệm bồi thường của Nhà nước trong đông đảo cán bộ, công chức và nhân dânchưa đầy đủ; văn bản hướng dẫn thi hành về nghiệp vụ cũng như về tổ chức,biên chế còn chưa đầy đủ.
- Đội ngũ cán bộ làm công tác hộ tịch, chứng thực, lý lịch tư pháp, bồithường nhà nước còn bất cập; công tác ứng dụng công nghệ thông tin trong cáclĩnh vực hộ tịch, quốc tịch, lý lịch tư pháp chưa được thực hiện đồng bộ
3 Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý
3.1 Kết quả đạt được
a) Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) đã được các Bộ,
ngành và UBND cấp tỉnh quan tâm, chỉ đạo triển khai khá đồng bộ, đổi mới vềnội dung và phương thức tuyên truyền với nhiều hình thức và mô hình đa dạng,gắn kết chặt chẽ với lĩnh vực quản lý của Bộ, ngành, địa phương (như lĩnh vựcgiao thông vận tải, môi trường ), đặc biệt có đơn vị đã gắn PBGDPL với giáodục chính trị, tư tưởng, tổ chức “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức hồ ChíMinh” (Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh) Mô hình “Ngày pháp luật”cũng được quan tâm triển khai thực hiện tại các sở, ngành, đoàn thể ở nhiều địaphương Công tác tuyên truyền, phổ biến các Luật vừa được Quốc hội thôngqua, sắp có hiệu lực được thực hiện rộng rãi trên các phương tiện thông tin đạichúng, qua đó cơ bản thông tin cho người dân nắm bắt những nội dung cơ bảncủa luật Đội ngũ cán bộ làm công tác PBGDPL ở các địa phương được kiệntoàn Một số địa phương có cách làm mới, hiệu quả như tuyên truyền pháp luậttại các “phiên tòa lưu động” (tỉnh Đồng Tháp)
Công tác tham mưu cho các đồng chí Bộ trưởng tham gia buổi đối thoạitrực tuyến với nhân dân do Cổng thông tin điện tử Chính phủ tổ chức và Chươngtrình dân hỏi - Bộ trưởng trả lời trên Đài truyền hình VTV; trực tiếp trả lời cáckiến nghị của nhân dân, qua đó đã góp phần định hướng dư luận xã hội nóichung, giải đáp những thắc mắc, nâng cao nhận thức pháp luật của người dân,đồng thời chỉ đạo công tác xây dựng và thi hành pháp luật bám sát thực tiễn, nhucầu xã hội
Công tác báo chí của Ngành Tư pháp cũng được tăng cường đổi mới về nộidung, hình thức, cung cấp khá đầy đủ, kịp thời các thông tin về tư pháp, phápluật, góp phần nâng cao nhận thức pháp luật, thực tiễn của công chức Tư pháp
và người dân Chất lượng, tính thời sự và hàm lượng khoa học của các tin, bài,
ấn phẩm phát hành ngày càng nâng cao, đi sâu vào các lĩnh vực trọng tâm, ưutiên của Ngành (như tổng kết Hiến pháp, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật,giám định tư pháp, xử lý vi phạm hành chính, luật sư, công chứng ), gắn liềnvới các sự kiện chính trị, kinh tế, xã hội Việc thành lập Truyền thông của Báopháp luật Việt Nam sẽ góp phần hỗ trợ, nâng cao nhận thức pháp luật cho nhândân, đồng thời góp phần tích cực trong việc hoàn thành các nhiệm vụ quan trọng
mà Đảng và Nhà nước đã giao cho Bộ, Ngành Tư pháp
Trang 12Công tác hoà giải ở cơ sở tiếp tục được thực hiện hiệu quả, góp phần tíchcực vào việc xây dựng sự đoàn kết trong cộng đồng dân cư, bảo đảm trật tự xãhội Kết quả hoà giải trong toàn quốc đạt 77%, trong đó một số địa phương có tỷ
lệ hoà giải thành cao trên 90% như: Cao Bằng (93%), Hà Giang (99%)
b) Công tác trợ giúp pháp lý (TGPL) được nâng cao về số lượng và chất
lượng, từng bước thu hút được sự tham gia của các ngành, các cấp đảm bảothông tin pháp luật và thông tin chung của Đảng, nhà nước được kịp thời, chínhxác đến với người dân; công tác phối hợp TGPL trong hoạt động tố tụng tại cácđịa phương tiếp tục được duy trì ổn định và từng bước nâng cao hiệu quả phốihợp, góp phần bảo đảm trên thực tế quyền của đối tượng được TGPL khi thamgia tố tụng Năm 2012, các Trung tâm TGPL đã thực hiện TGPL được vụviệc cho lượt người (tăng/ giảm % vụ việc và % về số người so với năm2011) Kết quả hoạt động TGPL đã góp phần bảo đảm chế độ, chính sách chongười dân, bảo đảm mục tiêu ổn định trật tự xã hội, giảm thiểu khiếu nại, tố cáo.Tiếp tục triển khai thực hiện Quyết định số 52/2010/QĐ-TTg ngày18/8/2010 của Thủ tướng Chính phủ “về chính sách hỗ trợ pháp lý nhằm nângcao nhận thức, hiểu biết pháp luật cho người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu sốtại các huyện nghèo giai đoạn 2011-2020”, các Trung tâm TGPL nhà nước tại
21 tỉnh có huyện nghèo đã thực hiện 535 đợt TGPL lưu động tại 560 xã nghèo,qua đó TGPL cho 8.874 vụ việc; phổ biến pháp luật cho 38.067 lượt người; tổchức 5.087 đợt sinh hoạt Câu lạc bộ TGPL với 131.274 người tham dự, tư vấnpháp luật tại các buổi sinh hoạt được 4.488 vụ việc; phát hành 8.455 cuốn kỹnăng hòa giải cơ sở để cấp cho 8.432 Tổ hòa giải ở các huyện nghèo , bảo đảm
an sinh xã hội theo Nghị quyết số 80/NQ-CP của Chính phủ về định hướng giảmnghèo bền vững thời kỳ từ năm 2011 đến năm 2020
3.2 Những hạn chế, tồn tại và nguyên nhân
a) Hạn chế, tồn tại
- Công tác tuyên truyền PBGDPL còn hình thức, chưa thiết thực, hiệu quảnên chưa tạo được sự chuyển biến về ý thức pháp luật của cán bộ, nhân dân,chưa tạo được sự gắn kết giữa tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật với thựchiện pháp luật Khả năng tiếp cận pháp luật của nhân dân ở vùng xa, vùng sâuvẫn còn hạn chế nhất định Vai trò của Hội đồng phối hợp công tác PBGDPL ởmột số địa phương chưa được phát huy, thiếu chặt chẽ và thường xuyên tronghành động Các Bộ, ngành Trung ương còn chậm triển khai triển khai mô hình
“Ngày Pháp luật”
- Tủ sách pháp luật chủ yếu phục vụ cho công tác của cán bộ, công chức
xã, phường, thị trấn và người đứng đầu các các thôn, ấp
- Việc ban hành và triển khai Kế hoạch tổng thể và Kế hoạch năm 2012triển khai Chiến lược phát triển TGPL ở Việt Nam đến năm 2020, định hướngđến năm 2030 ở một số địa phương còn chậm
Trang 13- Số lượng và chất lượng vụ việc tham gia tố tụng ở một số Trung tâmTGPL còn chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra; công tác phối hợp TGPL trong tố tụngtuy đã có những chuyển biến cơ bản nhưng ở một số địa phương sự phối hợpcòn mang tính hình thức; nhận thức của một số cơ quan tiến hành tố tụng vềTGPL chưa sâu sắc, toàn diện.
b) Nguyên nhân
- Cán bộ, công chức chuyên môn pháp lý làm công tác PBGDPL còn thiếu
và chưa đủ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, nhất là ở cơ sở
- Kinh phí phục vụ hoạt động PBGDPL của các địa phương còn thiếu, chưabảo đảm tốt cho công tác chuyên môn, thực hiện các chính sách hỗ trợ cho cáctỉnh, huyện xã vùng sâu, vùng xa theo các chính sách hỗ trợ của Chính phủ Cácđịa phương chưa phân định rõ về định mức hỗ trợ kinh phí và định mức chi tiêu
- Kinh phí TGPL ở đa số các Câu lạc bộ TGPL trên toàn quốc gặp nhiềukhó khăn do nguồn viện trợ nước ngoài giảm, chính sách TGPL trong cácChương trình mục tiêu quốc gia đã kết thúc, trong khi đó ngân sách địa phương
hỗ trợ còn quá ít nên các Câu lạc bộ hoạt động cầm chừng, kém hiệu quả, ảnhhưởng đến tính bền vững của việc tổ chức thực hiện công tác này
- Quy trình lập, thẩm định, quản lý, sử dụng thanh quyết toán kinh phí hỗtrợ thực hiện chính sách TGPL cho người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số tạicác địa bàn khó khăn theo Nghị quyết 80/NQ-CP phải trải qua nhiều cấp, trongkhi Kế hoạch hỗ trợ kinh phí hàng năm lại được phê duyệt muộn hơn so với nămngân sách nên việc phân bổ kinh phí để triển khai thực hiện các hoạt động ở địaphương thường chậm, dẫn đến khó khăn cho địa phương khi triển khai hoạtđộng, đặc biệt là các địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện đặc biệt khókhăn Cơ chế điều tiết nguồn hỗ trợ chưa hợp lý phần nào làm ảnh hưởng đếncác hoạt động trong Chương trình giảm nghèo nói chung cũng như hoạt độngcủa các địa phương nói riêng
4 Công tác Thi hành án dân sự
4.1 Kết quả đạt được
Công tác thi hành án dân sự năm 2012 tiếp tục đạt được những kết quả tíchcực, nâng cao hiệu quả và chất lượng thi hành án, góp phần bảo đảm sự phát triểnbền vững của Ngành Biểu đồ 3 cho thấy, kết quả thi hành án dân sự từ khi LuậtThi hành án dân sự năm 2008 có hiệu lực đến nay luôn ổn định, tăng liên tục vềviệc; từ khi Luật Thi hành án dân sự có hiệu lực năm 2009 đến nay, mặc dù tổng
số việc và tiền phải thi hành liên tục tăng song kết quả thi hành xong (về việc và
về tổng số tiền được thi hành) năm sau tăng cao hơn năm trước, vượt chỉ tiêu vềviệc và tiền đề ra
Trang 14Công tác chỉ đạo, điều hành hoạt động THADS được quan tâm từ việc giaochỉ tiêu thi hành án, phê duyệt kế hoạch công tác của cấp dưới trực tiếp, phát độngcác đợt thi đua, tổ chức các đợt cao điểm về thi hành án Tỉnh uỷ, HĐND, UBNDcác tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cũng đã quan tâm sâu hơn công tác chỉđạo thi hành án, phối hợp giữa các sở, ngành trong cưỡng chế thi hành án, nhất lànhững vụ việc phức tạp Qua đó, kết quả thi hành án tiếp tục hoàn thành chỉ tiêuQuốc hội, Chính phủ đề ra, cao hơn năm 2011 Có tỉnh, thành phố trực thuộcTrung ương đã ban hành Quy chế phối hợp giữa Sở Tư pháp và Cục THADStrong công tác THADS góp phần thống nhất quản lý và nâng cao hiệu quả thihành án Công tác phân loại án được quan tâm chỉ đạo quyết liệt, kết quả phânloại phân loại về việc có tiến bộ hơn so với năm trước; công tác hướng dẫn, chỉđạo nghiệp vụ và giải quyết khiếu nại, tố cáo tiếp tục được coi trọng, một số vụ ánlớn, phức tạp đã được tập trung giải quyết dứt điểm; chất lượng giải quyết khiếunại, tố cáo ngày càng được nâng cao.
Năm 2012, các Đoàn đại biểu Quốc hội và các cơ quan có thẩm quyền đãthực hiện 321 cuộc giám sát; Viện Kiểm sát nhân dân các cấp đã thực hiện 884cuộc kiểm sát đối với hoạt động thi hành án dân sự Kết quả giám sát, kiểm sát,các cơ quan có thẩm quyền đã ra kết luận, kháng nghị đối với 669 cuộc Các kiếnnghị, kháng nghị của các cơ quan có thẩm quyền đã được xem xét tiếp thu vàkhắc phục cơ bản kịp thời
Về xét miễn, giảm thi hành án, các cơ quan THADS đã phối hợp với Viện
Kiểm sát nhân dân rà soát và lập hồ sơ đề nghị Toà án nhân dân miễn, giảm
11.131 việc, với số tiền là gần 36 tỷ đồng Đã thực hiện miễn, giảm được 9.924 việc, với số tiền gần 30 tỷ đồng Bộ Tư pháp cũng đã xây dựng và hoàn thiện Đề
án “Miễn thi hành đối một số khoản thu cho Ngân sách nhà nước không có điềukiện thi hành” và dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về miễn thi hành đối với các
Trang 15khoản thu này, trình Chính phủ, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến, dự kiếntrình Quốc hội thảo luận, thông qua vào kỳ họp thứ 5 Quốc hội khoá XIII.
Công tác tuyển dụng cán bộ thi hành án dân sự đã có bước đổi mới với việclần đầu tiên tổ chức thi tuyển vào Ngạch Chấp hành viên sơ cấp theo nguyên tắccạnh tranh và đã bổ nhiệm được 652 người vào ngạch Chấp hành viên sơ cấp,góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Ngành Thi hành án dân sự theoQuyết định số 358/QĐ-BTP về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển nguồn nhânlực ngành Tư pháp giai đoạn 2011 - 2020
Về triển khai Luật Tố tụng hành chính, Thủ tướng Chính phủ đã ban hànhChỉ thị số 17/CT-TTg ngày 25/5/2012 về việc triển khai công tác thi hành ánhành chính, trong đó chỉ đạo các bộ, ngành và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thànhphố trực thuộc Trung ương triển khai thực hiện nhiệm vụ này Bộ Tư pháp đãphối hợp với Bộ Nội vụ bố trí bổ sung cho mỗi cơ quan Thi hành án dân sự địaphương thêm 01 biên chế chuyên trách công tác này; đã xây dựng Kế hoạchtriển khai công tác thi hành án hành chính; kết hợp tập huấn, bồi dưỡng nghiệp
vụ thi hành án dân sự với thi hành án hành chính
Về việc thí điểm chế định Thừa phát lại, Bộ Tư pháp đã tiếp tục phối hợp
với Toà án nhân dân tối cao và các Bộ, ngành có liên quan, đặc biệt là Thành
uỷ, Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh tập trungchỉ đạo thực hiện tốt việc thí điểm chế định này; cho phép thành lập thêm 03văn phòng, nâng tổng số lên 08 Văn phòng Thừa phát lại Các văn phòng này
đã hoạt động ổn định và thu được kết quả rất khả quan, bổ trợ tích cực cho một
số hoạt động tư pháp, trong đó có hoạt động THADS và được người dân đónnhận tích cực1 Sau tổng kết việc thí điểm chế định này, Bộ trưởng Bộ Tư pháp
đã thừa uỷ quyền của Thủ tướng Chính phủ ký Báo cáo tổng kết thực hiện thíđiểm chế định Thừa phát lại, trình Quốc hội khoá XIII thông qua Nghị quyết
về việc tiếp tục thực hiện thí điểm chế định này đến năm 2015, góp phần đẩymạnh hơn nữa tiến trình xã hội hóa hoạt động tư pháp
4.2 Những hạn chế, tồn tại và nguyên nhân
a) Hạn chế, tồn tại
- Số việc và tiền chuyển kỳ sau vẫn còn nhiều, nhất là về tiền (229.714 việc
và trên 28 nghìn tỷ đồng, tăng gần 7 nghìn tỷ so với số năm 2011 chuyển sangnăm 2012); kết quả phân loại án về giá trị có điều kiện thi hành còn chiếm tỷ lệthấp so với tổng số phải thi hành (31,09%); chưa hoàn thành chỉ tiêu giảm việcthi hành án chuyển kỳ sau
- Khiếu nại, tố cáo, phản ánh, kiến nghị về thi hành án dân sự tiếp tục tăng
so với năm 2011; một số vụ việc khiếu nại phức tạp, kéo dài chưa được xử lýdứt điểm
1 Năm 2012, các Văn phòng Thừa phát lại đã thực hiện tống đạt được 103.218 văn bản, đã lập và đăng ký tại Sở
Tư pháp 5.020 vi bằng, thực hiện được 147 vụ việc xác minh điều kiện thi hành án và trực tiếp tổ chức thi hành được 26 vụ việc.
Trang 16- Công tác tổ chức, cán bộ vẫn còn những hạn chế; trình độ năng lực củamột bộ phận công chức, kể cả công chức lãnh đạo quản lý còn chưa đồng đều,chưa theo kịp yêu cầu nhiệm vụ, thậm chí là còn yếu kém trong chỉ đạo, điềuhành; số công chức trong Ngành vi phạm, bị xử lý kỷ luật, nhất là các trườnghợp vi phạm, bị khởi tố hình sự tăng so với năm 2011.
- Công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành đối với công tác thi hành án dân sưmặc dù đã có tiến bộ, nhưng có lúc, có nơi còn thiếu kịp thời, chưa quyết liệt,nhất là việc khắc phục những tồn tại hạn chế về nghiệp vụ thi hành án; công tácphối hợp liên ngành trong giải quyết một số công việc liên quan đến thi hành ándân sự hiệu quả còn chưa cao
- Cơ sở vật chất, kho vật chứng một số đơn vị còn chật hẹp, chưa được đầu
tư xây dựng nên phải đi thuê, trong khi đó kinh phí bố trí cho đầu tư xây dựngtrụ sở, kho vật chứng và mua sắm phương tiện làm việc theo các Đề án đã đượcThủ tướng Chính phủ phê duyệt chưa đáp ứng yêu cầu triển khai công việc
b) Nguyên nhân
- Việc xây dựng đề án, văn bản về thi hành án dân sự, nhất là các văn bảnliên tịch vẫn còn chậm so với yêu cầu, có văn bản triển khai xây dựng từ năm
2009 nhưng đến nay vẫn chưa được ban hành
- Tổng số việc và tiền phải thi hành đều tăng so với năm 2011, trong khi
đó, tăng trưởng kinh tế đạt thấp, nhiều lĩnh vực kinh doanh gặp khó khăn, trong
đó nhiều doanh nghiệp phải giải thể, hoạt động cầm chừng; các lĩnh vực về đấtđai, tín dụng ngân hàng gặp khó khăn nên có đương sự phải thi hành án không
có điều kiện thi hành; vẫn còn nhiều vụ án hình sự với số tiền phạt lớn, ngườiphải thi hành án đang chấp hành hình phạt tù, không có điều kiện thi hành án
- Quá trình tổ chức thi hành án đòi hỏi phải tuân thủ nghiêm trình tự, thủtục theo quy định pháp luật; nhiều vụ việc phải thi hành theo định kỳ, kéo dàitrong nhiều năm hoặc do phải áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án mà theoquy định của pháp luật phải kéo dài thời gian; việc bán đấu giá nhà ở, quyền sửdụng đất gặp khó khăn; một số quy định của pháp luật có liên quan (về chuyểnnhượng nhà đất, tài sản, công chứng, đấu giá tài sản, thẩm định giá ) còn bấtcập; cơ chế quản lý tài sản, thu nhập của tổ chức, cá nhân chưa được kiể soátchặt chẽ, gây khó khăn cho việc xác minh, xử lý tài sản thi hành án
- Vẫn còn tồn tại các vụ việc án tuyên không rõ, có sai sót, khó thi hành;một số bản án, quyết định đã thi hành xong nhưng sau đó bị án giám đốc thẩm
xử lý huỷ bỏ, gây khó khăn cho việc xử lý hậu quả; bản án, quyết định của Toà
án đã có hiệu lực thi hành nhưng một số cơ quan, đơn vị có liên quan khôngđồng tình, dẫn đến cơ quan thi hành án dân sự gặp khó khăn trong quá trình tổchức thi hành; ngày càng có nhiều trường hợp đương sự lợi dụng quyền côngdân, khiếu nại nhiều lần, khiếu nại vượt cấp nhằm gây khó khăn và kéo dài việcthi hành án dân sự
Trang 17- Đội ngũ công chức THADS còn thiếu về số lượng, yếu về chuyên môn,nhất là ở các địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đội ngũ lãnhđạo một số cơ quan THADS địa phương còn hạn chế về năng lực quản lý, chỉđạo, điều hành và chưa thực sự quyết liệt trong điều hành Kỷ cương, kỷ luậtcông vụ của một bộ phận công chức sa sút dẫn đến vi phạm đạo đức công vụ, viphạm pháp luật.
- Vẫn còn một số ít cấp uỷ, chính quyền địa phương chưa thực sự quan tâmđến công tác thi hành án dân sự; chưa tích cực, chủ động nghe cơ quan THADSbáo cáo những khó khăn, vướng mắc để kịp thời chỉ đạo giải quyết
- Công tác phối hợp liên ngành để xử lý những vấn đề còn có ý kiến khácnhau phải qua nhiều khâu, nhiều đầu mối, phải trao đổi, bàn bạc và chỉnh lýnhiều lần, dẫn đến chưa bảo đảm tiến độ, cá biệt có việc chưa nhận được sựđồng thuận cao nên trong thời gian khá dài chưa được giải quyết dứt điểm
5 Quản lý nhà nước về bổ trợ tư pháp
5.1 Kết quả đạt được
Công tác quản lý nhà nước về bổ trợ tư pháp được tập trung vào 02 hoạtđộng quan trọng và đẩy mạnh việc xây dựng hoàn thiện thể chế và tăng cườngquản lý nhà nước trong các lĩnh vực luật sư, công chứng, giám định và bán đấugiá tài sản Việc hoàn thiện thể chế đạt được kết quả quan trọng với việc Quốchội (khóa XIII) đã thông qua Luật Giám định tư pháp có hiệu lực từ ngày01/01/2013, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Luật sư có hiệu lực từngày 01/07/2013 và một loạt các văn bản hướng dẫn đã góp phần tạo hành langpháp lý thông thoáng để phát triển các tổ chức và hoạt động nghề bổ trợ tư pháp;đồng thời, tiếp tục hướng trọng tâm vào việc xây dựng, triển khai các chính sách
để đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động bổ trợ tư pháp, nhất là công chứng, bán đấugiá tài sản Bên cạnh đó, công tác quản lý nhà nước về hoạt động bổ trợ tưpháp cũng được nhiều địa phương quan tâm hơn
Về phát triển đội ngũ luật sư, năm 2012, toàn Ngành Tư pháp đã tập trungvào việc triển khai thực hiện Chỉ thị 33 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnhđạo của Đảng đối với tổ chức và hoạt động luật sư, Chiến lược phát triển nghềluật sư đến năm 2020 và Đề án 123 về phát triển đội ngũ luật sư phục vụ hộinhập để từng bước nâng cao chất lượng đội ngũ luật sư, tính chuyên nghiệp củacác tổ chức hành nghề luật sư và khẳng định vị trí, vai trò của luật sư trong côngcuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền, cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế vàgóp phần thu hút đầu tư nước ngoài, góp phần đáng kể cho sự phát triển kinh tế -
xã hội của đất nước và của mỗi địa phương Biểu đồ 4 cho thấy, công tác pháttriển đội ngũ luật sư trong những năm qua đã được quan tâm phát triển; số tổchức hành nghề luật sư nước ngoài cũng được nâng cao hàng năm Sự phát triển
về luật sư, tổ chức hành nghề luật sư đang đi đúng theo định hướng và chỉ tiêu
mà Chiến lược phát triển nghề luật sư đã đề ra Cũng trong năm 2012, UBNDtỉnh Lai Châu đã quan tâm chỉ đạo sát sao việc thành lập và ban hành Quyết
Trang 18định thành lập Đoàn luật sư tỉnh Lai Châu - Đoàn luật sư cuối cùng trong cảnước được thành lập, đánh dấu bước phát triển mới của nghề luật sư ở ViệtNam.
Năm 2012, việc xã hội hóa hoạt động công chứng đã ghi được nhiều kết quảđáng kể; bổ nhiệm gần 400 công chứng viên, miễn nhiệm 09 công chứng viên đưa
số lượng công chứng viên đạt 1.133, tăng 25% so với năm 2011 (xem Biểu đồ 5).
Số lượng tổ chức hành nghề công chứng phát triển nhanh (628 tổ chức, tăng 20 %
so với năm 2011), trong đó số lượng văn phòng công chứng chiếm 78%) Việcnhân rộng hội công chứng địa phương (từ 01 hội công chứng tại Hà Nội năm
2011 đã nâng lên 05 hội công chứng thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ ChíMinh, Hải Dương, Đà Nẵng và sắp tới là Hải Phòng) đã chứng tỏ việc phát triển
ổn định, bền vững của hoạt động công chứng và nhận thức của người dân về vai tròcủa công chứng Trong năm 2012, với mục tiêu bảo đảm an toàn pháp lý và phòngngừa rủi ro cho các hợp đồng, giao dịch, hoạt động công chứng trong cả nước đãthực hiện được 1.960.648 giao dịch, đóng góp cho ngân sách nhà nước31.964.987.104 nghìn đồng, đặc biệt Bộ phận thông tin công chứng của Sở Tưpháp thành phố Hải Phòng đã tiếp nhận và trả lời hơn 40 nghìn phiếu tra cứu thôngtin công chứng bất động sản của các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bànthành phố Cũng trong năm 2012, Bộ Tư pháp đã chỉ đạo một số địa phương như
Hà Nội, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh xây dựng và phát triển hệ thốngthông tin công chứng, cơ sở dữ liệu về giao dịch ngăn chặn Những kết quả trên
cho thấy công tác quản lý hoạt động công chứng đã được quan tâm và đẩy mạnh.
Bộ Tư pháp và nhiều Sở Tư pháp đã quan tâm hơn đến công tác quản lý nhà nước
trong lĩnh vực công chứng, kịp thời nắm bắt và có văn bản chấn chỉnh những biểu hiện lệch lạc trong hoạt động công chứng ở một số địa phương; giúp các tổ chức hành nghề công chứng giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện Luật công chứng và các văn bản hướng dẫn thi hành Bên
cạnh đó, việc hoàn thiện, trình Thủ tướng Chính phủ dự thảo Quy hoạch tổng thểphát triển tổ chức hành nghề công chứng ở Việt Nam đến năm 2020 sẽ tạo bước
Trang 19đột phá mới về quy hoạch và phát triển các tổ chức hành nghề công chứng trong
cả nước theo hướng khoa học, hiệu quả hơn
Về hoạt động bán đấu giá tài sản, toàn Ngành Tư pháp đã tập trung vàotriển khai thi hành Nghị định số 17/2010/NĐ-CP về bán đấu giá tài sản (tổ chứcbán đấu giá chuyên nghiệp: có 63 Trung tâm, trên 170 doanh nghiệp với trên
900 đấu giá viên), trọng tâm của năm 2012 là tập trung chỉ đạo giao việc bánđấu giá quyền sử dụng đất cho các tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp (đã có60/63 tỉnh, thành phố đã thực hiện nhiệm vụ này, còn 03 địa phương chưachuyển giao là ) Bộ Tư pháp đã phối hợp với các cơ quan có liên quan
tổ chức các đoàn kiểm tra đánh giá tại một số địa phương; đồng thời các địaphương đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra theo định kỳ Do đó, công tác bánđấu giá tài sản có chuyển biến tích cực do nhận được sự quan tâm của cácngành, địa phương, tạo chuyển biến tích cực trong việc bán đấu giá tài sản công,quyền sử dụng đất, góp tăng thu đáng kể cho ngân sách nhà nước, giảm bội chingân sách, thiết thực góp phần tiết kiệm, chống lãng phí theo các Nghị quyết củaChính phủ
Thể chế công tác giám định tư pháp đã được hoàn thiện một bước, khắcphục điểm nghẽn lâu này trong hoạt động của Ngành Việc triển khải Đề án 258với với nhiều pháp cụ thể đã góp phần đẩy mạnh công tác việc kiện toàn các tổchức giám định (61/63 có tổ chức giám định pháp y); rà soát, bổ sung đội ngũngười giám định tư pháp, đầu tư về cơ sở vật chất, trang thiết bị cho công tácgiám định Về hoạt động trọng tài thương mại, năm 2012 đã thành lập mới Trung tâm trọng tài đưa số Trung tâm trọng tài trong cả nước lên trung tâm.Các Trung tâm trọng tài nhìn chung đã được phê duyệt lại Điều lệ theo đúng quyđịnh của Luật Trọng tài để làm cơ sở cho tổ chức và hoạt động của Trung tâm
5.2 Những hạn chế, tồn tại và nguyên nhân
Trang 20- Công tác phát triển luật sư còn chưa đáp ứng kịp yêu cầu phát triển kinh
tế - xã hội của đất nước; chất lượng đội ngũ luật sư chưa cao, chưa đáp ứng yêucầu cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế
- Hoạt động công chứng ở một số địa phương vẫ còn sai sót; tình trạng làmgiả hồ sơ hoặc giả người để làm thủ tục công chứng mua bán, thế chấp nhà đấtdiễn ra ngày càng nhiều, nhưng một số địa phương chưa có chỉ đạo để có sự kịpthời phối hợp giữa các ngành liên quan như Công an, Tài nguyên Môi trường,
Tư pháp để hạn chế tối đa các rủi ro cho công chứng viên cũng như người dân
Đa số các địa phương chưa có hệ thống kết thông tin giữa các tổ chức hành nghềcông chứng với nhau và giữa tổ chức hành nghề công chứng với các đơn vị quản
lý về chuyển nhượng đất đai, giao dịch bảo đảm Việc phát triển các tổ chứchành nghề công chứng ở một số các huyện còn chậm
- Trong lĩnh vực bán đấu giá tài sản vẫn còn tình trạng các Hội đồng bánđấu giá cấp huyện hoặc tự thành lập Hội đồng bán đấu giá tài sản hoặc mời cácdoanh nghiệp không có chức năng bán đấu giá đứng ra tổ chức bán đấu giá dẫn
đến xuất hiện hiện tượng tiêu cực trong bán đấu giá đã được báo chí phản ánh.
- Công tác giám định tư pháp chưa có chuyển biến rõ rệt và còn gặp nhiềukhó khăn, vướng mắc trong quá trình tổ chức, hoạt động, đặc biệt là kinh phí và
cơ sở vật chất cho việc thực hiện Đề án; đội ngũ giám định viên còn thiếu về sốlượng, chưa có đội ngũ chuyên gia giỏi
b) Nguyên nhân
- Bộ phận làm công tác quản lý nhà nước về bổ trợ tư pháp ở địa phươngcòn mỏng, chưa chuyên sâu về nghiệp vụ và phải kiêm nhiệm nhiều việc khácnhau
- Điều kiện kinh tế, xã hội ở một số tỉnh còn quá khó khăn nên khó có thể
phát triển đội ngũ luật sư, công chứng, đấu giá viên và một số lĩnh vực bổ trợ tư
pháp khác
- Công tác giám định tư pháp chưa có được phương thức phối hợp hiệu quảgiữa các Bộ, ngành hữu quan; chưa có cơ chế thu hút đội ngũ chuyên gia giỏitham gia hoạt động giám định tư pháp
- Các giao dịch kinh tế, dân sự liên quan đến công tác bổ trợ tư pháp rấtphức tạp, đa dạng và do bản thân một số người làm công tác bổ trợ tư pháp (luật
Trang 21sư, công chứng viên, đấu giá viên) có đạo đức nghề nghiệp thấp nên dẫn đến cácsai phạm trong hành nghề.
6 Hợp tác quốc tế về tư pháp và pháp luật
6.1 Kết quả đạt được
Hoạt động nghiên cứu, hợp tác quốc tế về tư pháp và pháp luật ở khuônkhổ đa phương có những kết quả đáng ghi nhận, góp phần trực tiếp vào việcnâng cao vị thế, vai trò của Việt Nam trong hợp tác khu vực cũng như ở tầm đaphương Ở tầm đa phương, với việc Bộ Tư pháp đã chủ trì hoàn thành Đề ánnghiên cứu khả năng gia nhập Hội nghị La Hay về tư pháp quốc tế; hoàn tất cácthủ tục chính thức xin gia nhập Hội nghị đã góp phần trực tiếp thực hiện chủtrương đường lối của Đảng về đẩy mạnh hội nhập quốc tế trên mọi lĩnh vực.Việc Việt Nam chính thức xin gia nhập Hội nghị La Hay đánh dấu sự hội nhậpsâu rộng của Việt Nam vào đời sống pháp lý quốc tế, là minh chứng thể hiện sựsẵn sàng hợp tác của Việt Nam với các nước trong khu vực nói riêng và trên thếgiới nói chung trong việc cùng hỗ trợ nhau giải quyết những yêu cầu pháp lý về
tư pháp quốc tế Chính phủ đã chính thức giao Bộ Tư pháp là Cơ quan quốc giatrong khuôn khổ hợp tác tại Hội nghị
Bộ Tư pháp đã chuẩn bị tốt cho đoàn cán bộ cao cấp của Chính phủ khảosát về kinh nghiệm xây dựng, sửa đổi hiến pháp tại Nhật Bản; đồng thời mở raphương hướng hợp tác mới với Srilanka để bước đầu gắn kết hơn trong công tácđấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo của đất nước; hoàn thành việc ký kết 06thoả thuận, biên bản ghi nhớ về hợp tác pháp luật và tư pháp2, đang đàm phán 10thoả thuận, biên bản ghi nhớ với các Bộ, ngành liên quan của các nước, các tổchức quốc tế; tổ chức thành công Lễ Kỷ niệm 30 năm hợp tác tư pháp Việt -Lào, qua đó vun đắp, ngày càng trở nên hiệu quả, thiết thực, qua đó tiếp tục làm
cơ sở phát triển quan hệ giữa hai Bộ Tư pháp lên tầm cao mới
Việc ban hành Thông tư liên tịch số 15/2011/TTLT-BTP-BNG-TANDTCngày 15/9/2011 của Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, Tòa án nhân dân tối cao hướngdẫn một số quy định về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự của Luật Tươngtrợ tư pháp đã đưa hoạt động thực hiện ủy thác tư pháp về dân sự ngày càng đivào nề nếp, tiến độ thực hiện ủy thác cũng đã được nâng lên một bước so vớinăm 2011 Việc triển khai thực hiện Thỏa thuận với Đài Loan thực sự đạt hiệuquả Các Bộ, ngành cũng đã xác định trách nhiệm của mình nâng cao hiệu quảcủa hoạt động này
Thực hiện Luật Tương trợ tư pháp, từ ngày 01/10/2011 đến ngày30/9/2012, Bộ Tư pháp đã thực hiện việc tiếp nhận, chuyển giao, theo dõi, đônđốc 2.690 hồ sơ ủy thác tư pháp trong lĩnh vực dân sự, thương mại Bộ cũng đãphối hợp với các Bộ, ngành liên quan xây dựng Kế hoạch dài hạn về đàm phán,
2 Chương trình hợp tác ba năm về Đối thoại Nhà nước pháp quyền giai đoạn 2012 - 2014 giữa Bộ Tư pháp Việt Nam và Bộ Tư pháp Liên bang Đức, Bản ghi nhớ về hợp tác pháp luật và tư pháp với Văn phòng Tổng chưởng
lý Ô-xtrây-lia, ký kết Thỏa thuận hợp tác với Bộ Lập pháp Chính phủ Đại hàn Dân quốc…
Trang 22ký kết, gia nhập điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp, tiến hành tổng rà soát hệthống các quy định pháp luật trong nước về tương trợ tư pháp Bên cạnh đó,nhằm thực hiện sáng kiến của Việt Nam về tăng cường công tác tương trợ tưpháp trong lĩnh vực dân sự, thương mại giữa các nước ASEAN, Bộ Tư phápđang tích cực phối hợp với các Bộ, ngành triển khai xây dựng Hiệp địnhASEAN về miễn hợp pháp hóa giấy tờ công vụ nước ngoài Thừa uỷ quyền củaThủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ký Báo cáo tình hình thi hànhLuật Tương trợ tư pháp trình Quốc hội khoá XIII cho ý kiến tại kỳ họp thứ 4 Bộđang hoàn chỉnh Kế hoạch ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế vềtương trợ tư pháp giai đoạn 2012 - 2016.
Tham gia vào quá trình giải quyết các tranh chấp quốc tế, Bộ đang xâydựng cơ chế để Bộ Tư pháp giúp Chính phủ thực hiện hiệu quả vai trò giải quyếtcác tranh chấp thương mại, đầu tư quốc tế mà Chính phủ là một bên trong vụkiện và Đề án tiếp cận, gia nhập các thiết chế quốc tế đa phương về giải quyếttranh chấp; tích cực tham gia giải quyết các tranh chấp quốc tế về thương mại vàđầu tư như tham gia vào việc giải quyết các tranh chấp kinh tế quốc tế và đầu tư(như vụ Southfork, Vụ bệnh viện thận và lọc thận quốc tế tại Thành phố Hồ ChíMinh, Vụ Vinashin, vụ Bianfishco, VTI bị kiện tại USA ); phối hợp với các
Bộ, ngành có liên quan rà soát pháp luật của Việt Nam với các cam kết trongkhuôn khổ ASEAN
6.2 Những hạn chế, tồn tại và nguyên nhân
a) Hạn chế, tồn tại
Việc hoàn thiện Kế hoạch dài hạn về đàm phán, ký kết và thực hiện ĐUQT
về TTTP còn chậm, chưa đảm bảo tiến độ Việc góp ý, thẩm định các điều ướcquốc tế đôi lúc chưa đáp ứng được yêu cầu gấp về thời gian
- Hợp tác quốc tế về pháp luật còn thiếu tính toàn diện, chủ yếu tập trungvào lĩnh vực hỗ trợ xây dựng thể chế và đào tạo cán bộ; sự tham gia trực tiếp củacác cơ quan tư pháp địa phương vào hợp tác quốc tế còn hạn chế, chưa tranh thủđược sự hỗ trợ của một số đối tác có nhiều tiềm năng như các định chế tài chính
- tiền tệ quốc tế (WB, ADB, IMF)
- Việc nắm bắt tình hình thực hiện các hoạt động hợp tác quốc tế trong lĩnhvực pháp luật chủ yếu được thực hiện thông qua hoạt động kiểm tra, tổng hợpbáo cáo; (riêng năm 2012 không tiến hành kiểm tra do giai đoạn này Bộ Tư phápđang chuẩn bị sửa đổi Nghị định 78/2008/NĐ-CP); công tác báo cáo cũng chưađược thực hiện thường xuyên, liên tục; chưa có cơ chế xử lý trong trường hợpcác cơ quan, tổ chức không tuân thủ nghiêm túc các quy định của Nghị định78/2008/NĐ-CP
- Công tác tương trợ tư pháp vẫn chưa đáp ứng được đầy đủ nhu cầu thực
tế, sự phối kết hợp giữa các cơ quan vẫn chưa mang tính chủ động cao khiếnnhiều hoạt động bị chậm chễ, kết quả ủy thác tư pháp tuy có chuyển biến nhưng