Đối với công tác Tư pháp, trên cơ sở Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày03/01/2015 về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo, điều hành thực hiện kếhoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân
Trang 1giải pháp chủ yếu công tác 6 tháng cuối năm 2015
Sáu tháng đầu năm 2015, trong bối cảnh tình hình thế giới và ở BiểnĐông tiếp tục có những bất ổn, diễn biến phức tạp của thời tiết , nhưng với sựlãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, Chính phủ, sự nỗ lực của cả hệ thốngchính trị, hầu hết các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đốingoại đã đạt được những kết quả tích cực: kinh tế vĩ mô ổn định, tăng trưởng 6tháng đạt 6,28%, cao nhất trong 5 năm qua; lạm phát tiếp tục được kiểm soát ởmức thấp An sinh xã hội tiếp tục được bảo đảm; an ninh chính trị, trật tự xã hộiđược giữ vững; công tác cải cách hành chính, giải quyết khiếu nại, tố cáo và đấutranh phòng, chống tham nhũng được chú trọng; công tác đối ngoại được đẩymạnh Tuy nhiên, nền kinh tế vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức: nhập siêu có
xu hướng tăng; tiêu thụ một số mặt hàng nông sản gặp khó khăn Diễn biếnphức tạp của thời tiết, nhất là tình hình khô hạn kéo dài ở Duyên hải miềnTrung và Tây Nguyên đã ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và đời sống củanhân dân
Đối với công tác Tư pháp, trên cơ sở Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày03/01/2015 về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo, điều hành thực hiện kếhoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách Nhà nước năm 2015(Nghị quyết số 01/NQ-CP), ngay từ đầu năm, Bộ Tư pháp đã ban hành Chươngtrình hành động của Ngành Tư pháp (kèm theo Quyết định số 228/QĐ-BTPngày 30/01/2015 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp) và tổ chức triển khai thực hiện,trong đó tập trung chỉ đạo 10 nhóm nhiệm vụ chủ yếu, trong đó có 110 nhiệm vụcủa Bộ Tư pháp, 33 nhiệm vụ của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộcChính phủ và 57 nhiệm vụ của Uỷ ban nhân dân (UBND) các tỉnh, thành phốtrực thuộc Trung ương Bộ Tư pháp cũng đã kịp thời xây dựng Kế hoạch thựchiện Nghị quyết số 19/NQ-CP ngày 12/3/2015 của Chính phủ về những nhiệm
vụ, giải pháp chủ yếu tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao nănglực cạnh tranh quốc gia hai năm 2015-2016 Báo cáo này tập trung đánh giá việctriển khai các nhiệm vụ công tác tư pháp trong 6 tháng đầu năm 2015, xác địnhnhững hạn chế, yếu kém và nguyên nhân để từ đó đề xuất nhiệm vụ trọng tâm,giải pháp chủ yếu đến hết năm 2015
DỰ THẢO
Trang 21 Công tác xây dựng, thẩm định, kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa, hợp nhất VBQPPL và pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật; theo dõi thi hành pháp luật
1.1 Kết quả đạt được
a) Công tác xây dựng pháp luật
Thể chế cho công tác xây dựng pháp luật có bước đột phá mới với việcQuốc hội thông qua Luật ban hành VBQPPL Đây là đạo luật rất quan trọngtrong hệ thống pháp luật của Việt Nam, được coi là “luật của luật”, là nền tảngpháp lý cho việc hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam Đặc biệt, Luật Banhành VBQPPL lần này được xây dựng trong bối cảnh Quốc hội vừa thông quaHiến pháp mới, tạo khuôn khổ hiến định rộng lớn cho việc xác định rõ hơn sựphân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiệncác quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp; đề cao quyền con người, quyền côngdân Bên cạnh đó, Ngành Tư pháp đã và đang tích cực triển khai nhiệm vụ tổngkết 10 năm thi hành Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ chính trị
về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm
2010, định hướng đến năm 2020, bảo đảm yêu cầu về chất lượng, tiến độ
Sáu tháng đầu năm 2015, công tác xây dựng và hoàn thiện thể chế tiếp tụcđược tăng cường, gắn kết chặt chẽ, phục vụ chỉ đạo, điều hành phát triển kinh tế
- xã hội, tháo gỡ những vướng mắc, bất cập giữa quy định pháp luật với thựctiễn, tạo môi trường pháp lý về kinh doanh được thuận lợi, an toàn
- Thực hiện Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2015, các Bộ, cơquan đã tập trung soạn thảo đúng tiến độ, trình Quốc hội, Uỷ ban Thường vụQuốc hội thông qua 11 luật và cho ý kiến đối với 15 dự án luật khác Trong sốcác dự án luật được Quốc hội thông qua và cho ý kiến, có nhiều dự án luật quantrọng như: Luật tổ chức Chính phủ (sửa đổi), Luật tổ chức chính quyền địaphương, Luật ngân sách nhà nước (sửa đổi), Bộ luật hình sự (sửa đổi), Bộ luậtdân sự (sửa đổi) bảo đảm cho việc triển khai thi hành Hiến pháp, hoàn thiệnthể chế bảo đảm cho việc phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa, quyền công dân, quyền con người Nghị quyết về Chương trình xây dựngluật, pháp lệnh năm 2016, điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnhkhóa XIII và năm 2015 cũng đã được Quốc hội khoá XIII thông qua tại kỳ họpthứ 9, trong đó có các dự án luật liên quan trực tiếp đến công tác tư pháp như:
Trang 3Luật chứng thực; Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (sửa đổi); Luật trợgiúp pháp lý (sửa đổi)
- Đối với nhiệm vụ xây dựng các VBQPPL để triển khai thi hành Hiến pháp: Bộ Tư pháp tiếp tục tham mưu, duy trì hoạt động của Hội đồng tư vấn
thẩm định các dự án luật, pháp lệnh trực tiếp triển khai thi hành Hiến pháp theo
Kế hoạch hoạt động của Hội đồng năm 2015 Tính đến hết tháng 6/2015, Hộiđồng đã họp và cho ý kiến đối với 08 dự án luật1 Bên cạnh đó, Bộ Tư pháp cũng
đã tham mưu, chuẩn bị tốt nội dung phục vụ Chính phủ họp Phiên chuyên đề vềcông tác xây dựng pháp luật, trong đó tập trung cho ý kiến đối với các luật, pháplệnh để triển khai thi hành Hiến pháp
- Công tác xây dựng, ban hành văn bản thuộc thẩm quyền của Chính phủ,Thủ tướng Chính phủ tiếp tục được chú trọng, tập trung ban hành các văn bảnquy định chi tiết thi hành luật, pháp lệnh Trong 6 tháng đầu năm 2015, Chínhphủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ đã banhành 40/95 văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành luật, pháp lệnh đã cóhiệu lực pháp luật, đạt 42,11% Bộ Tư pháp đã hoàn thành, trình Chính phủ, Thủtướng Chính phủ 11/13 đề án, văn bản, đạt tỷ lệ 84,61%
- Tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, công tác xây dựngVBQPPL tiếp tục được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, ưu tiênhàng đầu Kết quả cho thấy, việc ban hành VBQPPL bảo đảm quy trình soạnthảo, chất lượng, tiến độ văn bản, đáp ứng kịp thời yêu cầu chỉ đạo, điều hànhcác mặt kinh tế - xã hội của địa phương, hỗ trợ phát triển các doanh nghiệp Kếtquả ước tính 6 tháng đầu năm 2015, các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
đã ban hành 1.627 VBQPPL, tăng rất mạnh so với 6 tháng đầu năm 2015 (tăng
gần 67,4%)
b) Công tác thẩm định, góp ý VBQPPL
- Công tác thẩm định VBQPPL ngày càng được chú trọng nâng cao chấtlượng, bảo đảm vai trò “gác cổng” về thể chế cho các cơ quan Trung ương, địaphương, gắn kết chặt chẽ hơn với công tác kiểm soát thủ tục hành chính
Tính đến cuối tháng 6/2015, toàn ngành Tư pháp đã tổ chức thẩm định
4.345 dự thảo VBQPPL, trong đó có 3.903 dự thảo VBQPPL do các cơ quan tư
pháp địa phương thẩm định (giảm 363 văn bản so với 6 tháng đầu năm 2014);
Bộ Tư pháp đã thẩm định 146 văn bản (trong đó có 48 điều ước quốc tế), giảm
41 văn bản so với cùng kỳ năm 2014; Tổ chức Pháp chế các Bộ, cơ quan ngang
Bộ đã thẩm định 296 văn bản Nhìn chung, các ý kiến thẩm định dự thảo
VBQPPL đã được các cơ quan soạn thảo nghiên cứu, tiếp thu, giải trình trướckhi hoàn chỉnh và là cơ sở để cấp có thẩm quyền xem xét, ban hành
- Việc góp ý VBQPPL được toàn Ngành chú trọng thực hiện, ngày càng đisâu vào chất lượng, nhất là bảo đảm tính khả thi của văn bản Sáu tháng đầu năm
1 Cụ thể là: Bộ luật Hình sự (sửa đổi), Bộ luật Tố tụng hành chính (sửa đổi), Luật trưng cầu ý dân, Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân, Luật tín ngưỡng, tôn giáo, Luật tiếp cận thông tin, Luật
ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế (sửa đổi), Luật ban hành quyết định hành chính.
Trang 42014, Bộ Tư pháp đã thực hiện góp ý 175 điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế.
Đặc biệt, các cơ quan tư pháp đã làm đầu mối tổ chức tốt đợt lấy ý kiến nhândân về dự thảo Bộ luật dân sự (sửa đổi), kịp thời tổng hợp các ý kiến tham giagóp ý, góp phần quan trọng vào việc chỉnh lý, hoàn thiện Dự án để trình Chínhphủ và trình Quốc hội tiếp tục cho ý kiến tại kỳ họp thứ 9 vừa qua
c) Công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hoá, hợp nhất VBQPPL và pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật (QPPL)
- Công tác kiểm tra VBQPPL:
Nâng cao chất lượng kiểm tra VBQPPL được coi là một trong nhữngnhiệm vụ trọng tâm của Ngành trong năm 2015 Các Bộ, cơ quan, địa phương đãtăng cường thực hiện thường xuyên hơn công tác kiểm tra văn bản, gắn kết hơnvới công tác xây dựng pháp luật, theo dõi thi hành pháp luật, tạo nên cơ chếđồng bộ trong việc theo dõi, phát hiện, xử lý và kiến nghị hoàn thiện cácVBQPPL Ước tính trong 6 tháng đầu năm 2015, các Bộ, cơ quan, địa phương
đã tiếp nhận kiểm tra theo thẩm quyền 22.590 VBQPPL, tăng nhẹ so với cùng
kỳ năm 2014 (tăng 338 văn bản); qua kiểm tra, phát hiện 441 văn bản có dấuhiệu trái nội dung, thẩm quyền (giảm 312 văn bản so với 6 tháng đầu năm2014)2 Riêng Bộ Tư pháp đã kiểm tra theo thẩm quyền 1.542 VBQPPL (giảm
gần 22% so với 6 tháng đầu năm 2014), kết quả phát hiện 13 văn bản vi phạm về
nội dung, thẩm quyền, giảm mạnh so với 6 tháng đầu năm 2014 (cùng kỳ năm
2014 Bộ Tư pháp phát hiện 81 văn bản trái pháp luật về nội dung, thẩm quyền).Công tác tự kiểm tra VBQPPL của các Bộ, cơ quan, địa phương được tăngcường và đã tổ chức kiểm tra được một số lượng lớn văn bản Công tác kiểm traVBQPPL theo chuyên đề, lĩnh vực được đẩy mạnh, như chuyên đề về kinhdoanh có điều kiện và điều kiện kinh doanh
- Về công tác rà soát, hệ thống hoá VBQPPL:
Công tác rà soát VBQPPL được các Bộ, cơ quan, địa phương tiến hànhthường xuyên, bảo đảm sự phù hợp của văn bản với các VBQPPL có hiệu lựccao hơn mới được ban hành, cũng như bảo đảm sự phù hợp với điều kiện kinh tế
- xã hội của đất nước, của từng địa phương Việc rà soát VBQPPL để kịp thờisửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ nhằm thực hiện các luật mới ban hành đượcchú trọng đẩy mạnh, như ở các lĩnh vực hộ tịch, thi hành án dân sự, bảo vệ môitrường Việc công bố Danh mục văn bản QPPL hết hiệu lực toàn bộ hoặc mộtphần thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của các Bộ, ngành được thực hiện đúngquy định, góp phần giúp cho hệ thống pháp luật được minh bạch, dễ tiếp cận, tạothuận lợi cho người dân, doanh nghiệp và cơ quan nhà nước trong áp dụng
Tính đến ngày 15/6/2015, Bộ Tư pháp đã nhận được thông tin công bố kết
quả hệ thống hóa văn bản QPPL kỳ đầu của 17/22 Bộ, ngành, 61/63 địa
phương3
2 Ngoài ra, ước tính có hơn 3.500 văn bản khác sai về thể thức, kỹ thuật trình bày.
3 Còn thiếu các Bộ: Kế hoạch và Đầu tư; Khoa học và Công nghệ; Lao động, Thương binh và Xã hội;
Trang 5Để triển khai thực hiện các quy định về quyền con người, quyền và nghĩa
vụ cơ bản của công dân trong Hiến pháp năm 2013 và tiếp tục thực hiện nhiệm
vụ được Thủ tướng Chính phủ giao tại Công văn số 54/VPCP-PL ngày09/01/2015 của Văn phòng Chính phủ về việc rà soát VBQPPL với các quy định
về quyền con người tại Hiến pháp năm 2013, ngày 26/3/2015, Bộ trưởng Bộ Tưpháp đã ký Quyết định số 539/QĐ-BTP ban hành Kế hoạch của Bộ Tư pháp vềviệc triển khai kết quả, tiếp tục rà soát các văn bản quy phạm pháp luật về quyềncon người với quy định của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam Hiện nay, Bộ Tư pháp đang nghiên cứu, tham gia ý kiến về nội dung đềxuất của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ đối với các luật,pháp lệnh về quyền con người cần xử lý
- Công tác hợp nhất VBQPPL, pháp điển hệ thống QPPL tiếp tục được
các Bộ, ngành quan tâm triển khai thực hiện Bộ Tư pháp đã tổ chức hội thảo,tọa đàm sinh hoạt chuyên môn, nghiệp vụ định kỳ công tác pháp điển với các cơquan thực hiện pháp điển, cộng tác viên pháp điển
d) Công tác theo dõi thi hành pháp luật (TDTHPL)
Triển khai trọng tâm của công tác TDTHPL năm 2015 là gắn kết công tácnày với kiểm tra VBQPPL và KSTTHC, tập trung TDTHPL các lĩnh vực đã đượcxác định tại Nghị quyết số 01/NQ-CP, Bộ Tư pháp đã ban hành Kế hoạch theodõi tình hình thi hành pháp luật về chống buôn lậu, gian lận thương mại và hànggiả và Kế hoạch theo dõi tình hình thi hành pháp luật trong lĩnh vực trọng tâmcủa Bộ Tư pháp năm 2015; tổ chức các Đoàn Kiểm tra công tác theo dõi tìnhhình thi hành pháp luật tại các Bộ: Bộ Tài nguyên Môi trường, Bộ Lao độngThương binh và Xã hội, Bộ Khoa học và Công nghệ và tại các tỉnh Nam Định,Hải Phòng Qua kiểm tra cho thấy, các Bộ, ngành, địa phương đều triển khaicông tác TDTHPL khá bài bản, trong bối cảnh điều kiện bảo đảm còn nhiều khókhăn Các Bộ, ngành và các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khác cũng đãban hành kế hoạch, tổ chức TDTHPL theo các lĩnh vực trọng tâm
1.2 Hạn chế và nguyên nhân
a) Hạn chế
- Tình trạng "nợ đọng" văn bản quy định chi tiết thi hành luật, pháp lệnhchưa được khắc phục có hiệu quả, thậm chí, số lượng văn bản "nợ đọng" tănghơn so với cùng kỳ năm 2014 (đến hết tháng 6/2015, có 55 văn bản “nợ đọng”,tăng 05 văn bản so với cùng kỳ năm 2014; từ ngày 01/7/2015, có thêm 54 vănbản quy định chi tiết 10 luật mới có hiệu lực nhưng chưa được ban hành)
- Công tác kiểm tra văn bản còn hiện tượng “khoán trắng" cho các cơquan tư pháp, pháp chế; tại các Bộ, ngành, chưa chú trọng kiểm tra văn bản docác Bộ, ngành khác ban hành có liên quan đến Bộ, ngành mình
- Chất lượng của một số VBQPPL còn chưa đáp ứng được yêu cầu Ở một
số địa phương, việc xây dựng Chương trình ban hành VBQPPL còn hình thức,
số lượng văn bản được ban hành so với văn bản trong Chương trình có sự chênh
Trang 6lệch lớn (Bình Phước, Bạc Liêu, Nghệ An ); có tình trạng dự thảo VBQPPLkhông được tổ chức lấy ý kiến góp ý hoặc lấy ý kiến góp ý không đúng đốitượng (Đắk Lắk).
- Việc triển khai TDTHPL ở một số Bộ, ngành, địa phương trong các lĩnhvực trọng tâm vẫn còn chậm
b) Nguyên nhân
- Do đang tích cực xây dựng VBQPPL triển khai thi hành Hiến pháp năm
2013 nên số lượng luật, pháp lệnh mới được thông qua là rất lớn, có trường hợpcòn thiếu sự định hướng rõ ràng về chính sách khi xây dựng luật do chưa làm tốtcông tác tổng kết thực tiễn nên việc quy định chi tiết là khó, phức tạp, có nhiều ýkiến khác nhau; có nội dung giao quy định chi tiết nhưng chưa có cơ sở thực tiễncho việc quy định chi tiết
- Đội ngũ công chức làm công tác xây dựng, thẩm định, kiểm tra, rà soát,
hệ thống hóa, hợp nhất VBQPPL, pháp điển hệ thống QPPL vẫn còn ít, thiếutính chuyên nghiệp Một số địa phương chưa chú trọng đến việc xây dựngChương trình ban hành VBQPPL của HĐND, UBND
- Sự phối hợp giữa các đơn vị trong công tác xây dựng VBQPPL ở một sốnơi còn hạn chế Một số cơ quan, đơn vị tham gia góp ý dự thảo còn hình thức,nội dung chưa chất lượng; vẫn còn hiện tượng cơ quan chủ trì soạn thảoVBQPPL còn chưa tích cực tiếp thu ý kiến thẩm định, góp ý của cơ quan tưpháp
- Điều kiện về nhân lực, kinh phí cho công tác TDTHPL vẫn chưa đápứng được yêu cầu, nhất là trong bối cảnh cần đẩy mạnh công tác này như là mộttrọng tâm chiến lược
2 Công tác kiểm soát thủ tục hành chính (KSTTHC)
2.1 Kết quả đạt được
Công tác KSTTHC tiếp tục nhận được sự quan tâm của Chính phủ, Thủtướng Chính phủ và các Bộ, ngành, địa phương Các Bộ, ngành, địa phương đãtriển khai tích cực, tiếp tục phát huy tốt vai trò, nhiệm vụ KSTTHC, góp phầntạo nên những kết quả nổi bật trên một số lĩnh vực trọng tâm như bảo hiểm xãhội, thuế và xuất nhập khẩu, góp phần cải thiện môi trường kinh doanh, giảiphóng nguồn lực xã hội, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia Bộ Tư pháp đãtham mưu, xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số08/QĐ-TTg ngày 06/01/2015 về Kế hoạch đơn giản hóa thủ tục hành chínhtrọng tâm năm 2015 và Chỉ thị số 13/CT-TTg ngày 10/6/2015 về tăng cườngtrách nhiệm người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước các cấp trong thựchiện công tác cải cách thủ tục hành chính Bộ Tư pháp cũng đã phối hợp với BộCông an, Bộ Y tế ban hành Thông tư liên tịch số 05/2015/TTLT-BTP-BCA-BYT ngày 15/5/2015 hướng dẫn liên thông thủ tục đăng ký khai sinh, đăng kýthường trú, cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi
Trang 7Trong 6 tháng đầu năm 2015, công tác kiểm soát thủ tục hành chính tiếptục được các Bộ, cơ quan, địa phương quan tâm thực hiện và ngày càng gắn kếtchặt chẽ với công tác thẩm định và tập trung về một đầu mối là Bộ Tư pháphoặc tổ chức pháp chế các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Sở Tư pháp các tỉnh, thànhphố trực thuộc Trung ương Việc chuẩn hóa và kịp thời công bố, công khaiTTHC nói riêng ngày càng được nhiều địa phương chú trọng, như Hà Nội, HảiDương, Đắk Lắk, Điện Biên, Đồng Tháp, Nghệ An, Trong 6 tháng đầu năm
2015, các Bộ, ngành đã hoàn thành việc đơn giản hóa 48 thủ tục hành chính
nâng tổng số thủ tục hành chính đã hoàn thành thực thi phương án đơn giản lên
4.431 trên tổng số 4.723 thủ tục hành chính đã được Chính phủ phê duyệt tại 25
Nghị quyết chuyên đề (đạt tỷ lệ 93,8%); các Bộ, ngành, địa phương đã đánh giá
tác động đối với 1.253 TTHC (tăng 369 TTHC so với 6 tháng đầu năm 2014), trong đó, các Bộ, ngành đánh giá 877 TTHC (tăng 336 TTHC so với 6 tháng đầu năm 2014); ban hành các quyết định công bố 23.712 TTHC và 3.051 VBQPPL
để cập nhật vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về TTHC; tiếp nhận và xử lý 532 phản
ánh kiến nghị về hành vi hành chính, quy định hành chính
Riêng tại Bộ Tư pháp, 6 tháng đầu năm 2015 đã tiếp nhận, chuyển cơquan có thẩm quyền xử lý 17 phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về quyđịnh hành chính theo đúng quy định tại Nghị định số 20/2008/NĐ-CP; tham gia
ý kiến đối với 424 thủ tục hành chính tại 44 dự thảo văn bản quy phạm phápluật Cùng với đó, Hệ thống quản lý, đánh giá công tác KSTTHC và Cơ sở dữliệu quốc gia về TTHC đã được hoàn thiện, nâng cấp, ngày càng đáp ứng yêucầu nhiệm vụ
2.2 Hạn chế và nguyên nhân
a) Hạn chế
- Việc đánh giá tác động của các Bộ, ngành, địa phương chưa nghiêm túc;việc thẩm định quy định TTHC trong một số văn bản quy phạm pháp luật cònchưa chặt chẽ dẫn đến TTHC trên nhiều lĩnh vực vẫn còn phức tạp và tiếp tục làrào cản trong hoạt động sản xuất kinh doanh và đời sống nhân dân
- Việc công bố, công khai TTHC chưa được các Bộ, ngành, địa phươngthực hiện kịp thời, đầy đủ
b) Nguyên nhân
- Công tác KSTTHC chưa nhận được sự quan tâm của một số lãnh đạo cơquan, đơn vị; vai trò của cơ quan KSTTHC trong công tác cải cách TTHC chưađược phát huy; một số nhiệm vụ KSTTHC khó, phức tạp
- Đội ngũ những người làm công tác KSTTHC còn mỏng, chưa được kiệntoàn đầy đủ
3 Công tác quản lý xử lý vi phạm hành chính (XLVPHC)
3.1 Kết quả đạt được
Trang 8Thể chế cho công tác XLVPHC được các Bộ, ngành, địa phương thườngxuyên rà soát để sửa đổi, bổ sung hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền sửađổi, bổ sung cho phù hợp với các VBQPPL có hiệu lực cao hơn mới được banhành, cũng như phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước, như ở cáclĩnh vực: tư pháp, giáo dục, áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã,phường, thị trấn
Nhân lực, kinh phí và các điều kiện bảo đảm khác phục vụ cho công tácquản lý nhà nước về XLVPHC được các Bộ, ngành, địa phương quan tâm kiệntoàn, như
Công tác hướng dẫn nghiệp vụ về quản lý nhà nước XLVPHC được thựchiện thường xuyên Bộ Tư pháp đã tổ chức 05 hội nghị tập huấn và tập huấnchuyên sâu về quản lý công tác thi hành pháp luật về XLVPHC tại Hà Nội, ĐàNẵng, Phú Yên nhằm hướng dẫn nghiệp vụ, trao đổi, thảo luận về những khókhăn, vướng mắc trong thực tiễn triển khai thi hành Luật XLVPHC Các Bộ,ngành, địa phương cũng đã tích cực tổ chức tập huấn, hướng dẫn nghiệp vụ chonhững người thực hiện XLVPHC, như:
3.2 Hạn chế và nguyên nhân
a) Hạn chế
- Thể chế về cơ sở dữ liệu quốc gia XLVPHC chưa được ban hành, gây khókhăn, lúng túng cho các Bộ, ngành, địa phương trong thực hiện, nhất là về thống kê,theo dõi tình hình XLVPHC Bên cạnh đó, vướng mắc, khó khăn trong triển khaiquy định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộcchưa được khắc phục hiệu quả
- Tổ chức bộ máy, nhân lực làm công tác quản lý về XLVPHC vẫn chưađáp ứng được yêu cầu, nhất là tại các địa phương
b) Nguyên nhân
Việc kiện toàn tổ chức, biên chế để thực hiện công tác quản lý công tác thihành pháp luật XLVPHC chưa được quan tâm nhiều, trong khi đây là nhiệm vụphức tạp, phạm vi rộng, trực tiếp liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp củacông dân, tổ chức, liên quan đến hoạt động công chức, công vụ của các cơ quannhà nước từ Trung ương đến địa phương Sự phối hợp giữa các Bộ, ngành hữuquan trong xử lý những vướng mắc về XLVPHC còn khó khăn
4 Công tác thi hành án dân sự (THADS)
4.1 Kết quả đạt được
Triển khai Kế hoạch thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của LuậtTHADS, Bộ, ngành Tư pháp đã tích cực xây dựng và tham gia xây dựng, sửađổi, bổ sung các VBQPPL để thi hành Luật Bộ Tư pháp đã trình Chính phủ dựthảo Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật sửa đổi, bổ sungmột số điều của Luật THADS Nhằm phối hợp có hiệu quả trong công tácTHADS, Bộ Tư pháp, Tổng cục THADS đã xây dựng, ký các quy chế phối hợp
Trang 9trong công tác THADS với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bảo hiểm xã hộiViệt Nam.
Những tháng đầu năm 2015, trong bối cảnh nền kinh tế vẫn còn nhiều khókhăn, thị trường bất động sản chưa thực sự khởi sắc đã ảnh hưởng không nhỏđến kết quả THADS, tuy nhiên, các cơ quan THADS đã có nhiều cố gắng, đạt
được kết quả khá tích cực Kết quả thi THADS 8 tháng năm 2015 (số liệu từ
01/10/2014 đến hết ngày 30/5/2015) như sau:
- Về việc: Tổng số thụ lý là 614.313 việc, tăng 12.467 việc (tăng 2,07% so
với cùng kỳ); trong đó số có điều kiện giải quyết là 474.296 việc Trong số có điều kiện giải quyết, đã giải quyết xong 296.096 việc, đạt tỉ lệ 62,43%, tăng
1,38% so với cùng kỳ (còn thiếu 25,57% so với chỉ tiêu của Quốc hội giao).
- Về tiền: Tổng số thụ lý là trên 112.000 tỷ đồng, tăng trên 31.000 tỷ đồng
(tăng 38,48% so với cùng kỳ); trong đó, số có điều kiện giải quyết là gần 67.000
tỷ đồng, tăng gần 8.600 tỷ đồng Trong số có điều kiện giải quyết, đã giải quyết
xong trên 23.000 tỷ đồng, đạt tỉ lệ 34,62%, tăng 3,99% so với cùng kỳ (còn
thiếu 42,38% so với chỉ tiêu của Quốc hội giao).
Bên cạnh đó, Bộ Tư pháp thường xuyên rà soát, đôn đốc xử lý các vụ việcTHADS tồn đọng, phức tạp, kéo dài Bộ Tư pháp cũng đã tổ chức Hội nghị trựctuyến quán triệt Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật THADS và sơ kếtcông tác THADS 6 tháng đầu năm 2015 (diễn ra ngày 24/4/2015) bằng hìnhthức trực tuyến tại 63 điểm cầu, với sự tham gia của đại diện các Bộ, ban, ngành
ở Trung ương, đại diện Ban chỉ đạo THADS và lãnh đạo UBND các tỉnh, thànhphố trực thuộc Trung ương
Đối với công tác thí điểm chế định Thừa phát lại, với 51 Văn phòng Thừaphát lại và 237 Thừa phát lại, 6 tháng đầu năm 2015 đạt doanh thu hơn 73 tỷđồng Hoạt động Thừa phát lại tiếp tục khẳng định vị trí, vai trò trong đời sống
xã hội và trong hoạt động bổ trợ tư pháp
- Hiệu quả hoạt động của các Văn phòng Thừa phát lại tại các địa phươngthuộc diện mở rộng thực hiện thí điểm còn hạn chế
b) Nguyên nhân
Trang 10- Trình độ, năng lực chuyên môn, nhất là ý thức trách nhiệm, tính gươngmẫu của cán bộ quản lý, chấp hành viên còn chưa cao; việc chấp hành kỷ cương,
kỷ luật ở một số cơ quan THADS chưa nghiêm
- Số việc và số tiền thụ lý tăng cao, nhất là về tiền (tăng 36,53%), trongkhi đó biên chế lại phải cắt giảm 1,5%
- Thị trường bất động sản vẫn chưa thực sự khởi sắc, nhiều tài sản kê biênnhưng không bán đấu giá được, nhất là đối với các vụ việc liên quan đến tíndụng, ngân hàng
- Việc phối hợp giữa một số cơ quan THADS với các Văn phòng Thừaphát lại chưa tốt
5 Quản lý nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp luật, hoà giải ở cơ sở 5.1 Kết quả đạt được
- Về công tác tuyên truyền, phổ biến Hiến pháp: Sáu tháng đầu năm 2015,
Bộ, ngành Tư pháp đã tiếp tục đẩy mạnh việc tuyên truyền, phổ biến Hiến phápbằng nhiều hình thức, nhất là thông qua cuộc thi viết “Tìm hiểu Hiến pháp nướcCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” Ban tổ chức cuộc thi đã nhận được sựhưởng ứng, tham gia của nhiều tầng lớp nhân dân; theo thống kê của Bộ Quốcphòng, Bộ Công an, Bộ Ngoại giao và các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương, tính đến ngày 30/6/2015, cả nước có 4.513.036 bài dự thi, trong đó có một
số đơn vị, địa phương có nhiều bài dự thi là: Bộ Quốc phòng (245.500), BộCông an (260.037), thành phố Hà Nội (390.984), tỉnh Vĩnh Phúc (225.000), tỉnh
Hà Tĩnh (242.716), tỉnh Hải Dương (307.532), tỉnh Quảng Nam (231.941) ;nhiều bài dự thi được đầu tư công phu như: viết tay, sưu tầm nhiều hình ảnh, tưliệu minh họa, giấy in màu, bìa gỗ hoặc hộp chứa Có thể khẳng định, cuộc thi
đã trở thành đợt sinh hoạt chính trị - pháp lý sâu, rộng, là một hình thức tuyêntruyền, phổ biến Hiến pháp có hiệu quả đến các tầng lớp nhân dân, cán bộ, côngchức, viên chức, công nhân, chiến sỹ, lực lượng vũ trang trên toàn quốc và cộngđồng người Việt Nam sinh sống ở nước ngoài
- Cùng với việc đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến Hiến pháp năm 2013thông qua cuộc thi viết "Tìm hiểu Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam”, việc phổ biến, tuyên truyền pháp luật được các Bộ, ngành, địa phương chútrọng, nhất là đối với các văn bản QPPL mới ban hành như Luật đầu tư (sửa đổi),Luật doanh nghiệp (sửa đổi), Luật hộ tịch, Luật nhà ở (sửa đổi) ; các lĩnh vực liênquan trực tiếp đến người dân, doanh nghiệp, như: đất đai, XLVPHC Một số địaphương thường xuyên có sự đổi mới về hình thức PBGDPL, như: Đà Nẵng, HàNội Kết quả 6 tháng đầu năm 2015, theo ước tính, các Bộ, ngành, địa phương
tổ chức 405.892 cuộc tuyên truyền pháp luật (tăng 10% so với cùng kỳ năm 2014) cho 26.418.823 lượt người (tương đương với cùng kỳ năm 2014); phát hành miễn phí 16.104.689 tài liệu tuyên truyền, phổ biến pháp luật (giảm hơn 42
triệu tài liệu so với 6 tháng đầu năm 2014)
Trang 11- Công tác tổ chức tập huấn kiến thức pháp luật và nghiệp vụ, kỹ năng hòagiải cho hòa giải viên được các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quan tâmtriển khai Bộ Tư pháp đang tích cực xây dựng Đề án “Củng cố, kiện toàn vànâng cao chất lượng đội ngũ hòa giải viên ở cơ sở, đáp ứng yêu cầu nâng caohiệu quả công tác hòa giải ở cơ sở giai đoạn 2016 – 2020” Hoạt động của các tổhòa giải tiếp tục mang lại hiệu quả cao, kết quả hoà giải thành 6 tháng đầu năm
2015 ước đạt 73,18% (tăng 0,48% so với cùng kỳ năm 2014) Một số địa
phương có tỷ lệ hoà giải thành cao (như Hà Nam – 91%, Hoà Bình – 90%, VĩnhLong – 89%, Khánh Hoà – 88,8%, Thanh Hoá - 88%, Sơn La – 87%, Hậu Giang– 86,7%, Long An – 85%, Vĩnh Phúc – 84%, Sóc Trăng – 83,6%, Hà Nội –83%)
- Bên cạnh đó, Bộ Tư pháp đã phối hợp với Bộ Văn hóa Thể thao và Dulịch, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ban hành Kế hoạch phối hợp
số 856/KH-BTP-BVHTTDL-BTTUBTWMTTQVN ngày 23/3/2015 về khảo sát,đánh giá tình hình xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước của làng, bản, thôn,
ấp, khu dân cư; hướng dẫn Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố trực thuộc Trungương rà soát, đánh giá tình hình xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước
- Việc triển khai Luật hoà giải ở cơ sở chưa đồng đều ở các địa phương;một số địa phương có tỷ lệ hòa giải thành chưa cao4
b) Nguyên nhân
- Sự quan tâm của cấp uỷ, chính quyền địa phương ở nhiều nơi chưa tốt,chưa bố trí đủ kinh phí cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật Kinh phíphục vụ Cuộc thi tìm hiểu Hiến pháp hiện chưa được bố trí riêng mà được lấy từnguồn kinh phí PBGDPL thường xuyên của đơn vị trong khi đó đây là nhiệm vụlớn triển khai thi hành Hiến pháp đã được Chính phủ giao
- Một số thành viên Hội đồng phối hợp PBGDPL ở một số tỉnh, thành phốtrực thuộc Trung ương chưa dành nhiều thời gian cho các hoạt động của Hộiđồng
6 Công tác hộ tịch, quốc tịch, chứng thực, nuôi con nuôi, lý lịch tư pháp, đăng ký giao dịch bảo đảm, bồi thường nhà nước
6.1 Kết quả đạt được
4 Như Đắk Lắk (53,8%), Đắk Nông (59,8%).
Trang 12a) Công tác hộ tịch, quốc tịch, chứng thực
- Về công tác quản lý, đăng ký hộ tịch:
Chuẩn bị để triển khai thi hành Luật hộ tịch được xác định là một trongnhững nhiệm vụ trọng tâm của Ngành, ngay từ đầu năm, Bộ Tư pháp đã thammưu cho Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật hộtịch (Quyết định số 59/QĐ-TTg ngày 15/01/2015) và ban hành Kế hoạch của Bộ
Tư pháp triển khai thi hành Luật hộ tịch (Quyết định số 333/QĐ-BTP ngày14/02/2015) Việc thực hiện các nhiệm vụ theo các kế hoạch nêu trên, nhất làxây dựng các văn bản QPPL quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật hộtịch được Bộ Tư pháp triển khai quyết liệt, bảo đảm tiến độ
Cùng với đó, công tác hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ được chú trọng;Trong 6 tháng đầu năm 2015, Bộ Tư pháp đã giải quyết 120 công văn hướngdẫn nghiệp vụ, trả lời đơn thư của công dân (tăng 15% so với cùng kỳ năm2014); Cho ý kiến đối với 2400 công văn ghi chú ly hôn (tăng 18% so với cùng
kỳ năm 2014)
Tại các địa phương, việc chuẩn bị triển khai thi hành Luật hộ tịch đượcchú trọng, nhất là việc rà soát đội ngũ cán bộ Tư pháp – hộ tịch cấp xã Kết quảước tính công tác đăng ký hộ tịch 6 tháng đầu năm 2015: các tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương đã thực hiện đăng ký khai sinh mới cho 997.755 trường
hợp (giảm 2,53% so với 6 tháng đầu năm 2014), đăng ký khai sinh lại cho
223.605 trường hợp; khai tử cho 276.885 trường hợp (giảm 2.724 trường hợp –
tương ứng giảm khoảng 1% so với 6 tháng đầu năm 2014), đăng ký kết hôn cho451.437 cặp (giảm khá mạnh, giảm 4,52%, so với 6 tháng đầu năm 2014), trong
đó có 7.492 trường hợp có yếu tố nước ngoài (tăng tới 11,93% so với 6 tháng
đầu năm 2014) Nhiều địa phương đã giải quyết kịp thời yêu cầu đăng ký hộ tịchcủa người dân, không để xảy ra tình trạng tồn đọng
- Công tác quốc tịch:
Trong 06 tháng đầu năm 2015, Bộ Tư pháp đã giải quyết kịp thời nhữngkhó khăn, vướng mắc của địa phương trong quá trình thực hiện Luật Quốc tịchViệt Nam năm 2008; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quốc tịch ViệtNam năm 2008 và các văn bản hướng dẫn thi hành Công tác chỉ đạo, điều hànhtrong lĩnh vực quốc tịch được tập trung đổi mới, việc giải quyết hồ sơ về quốctịch kịp thời và đồng bộ hơn Tính đến ngày 30/4/2015, Bộ Tư pháp đã rà soát,
xử lý 3.383 hồ sơ (trong đó: 3.367 hồ sơ xin thôi quốc tịch Việt Nam, 05 hồ sơxin nhập quốc tịch Việt Nam và 11 hồ sơ xin trở lại quốc tịch Việt Nam); trả lời
868 trường hợp tra cứu, xác minh theo đề nghị của các cơ quan
- Công tác chứng thực:
Thể chế cho công tác chứng thực có bước đổi mới với việc Chính phủ banhành Nghị định 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 về cấp bản sao từ sổ gốc,chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng,
Trang 13giao dịch Hiện nay, Bộ Tư pháp đang tích cực xây dựng các văn bản hướng dẫnthi hành Nghị định.
Ở địa phương, công tác chứng thực đã cơ bản giải quyết được kịp thời nhucầu của người dân Ước tính 6 tháng đầu năm 2015, trên toàn quốc thực hiện
được 2.737.215 việc chứng thực chữ ký, chứng thực hợp đồng, giao dịch (giảm
54.893 việc, tương đương giảm khoảng 2% việc so với cùng kỳ năm 2014) và
chứng thực 59.216.957 bản sao, tăng mạnh so với cùng kỳ năm 2014 (tăng
18.166.836 bản, tương ứng tăng 44,25%)
b) Công tác nuôi con nuôi
Công tác con nuôi trong nước đang thực sự thể hiện quan điểm đúng đắn
và nguyên tắc cơ bản của Công ước Lahay cũng như tinh thần của Luật Nuôicon nuôi trong vấn đề ưu tiên con nuôi trong nước Trong 6 tháng đầu năm, Bộ
Tư pháp đã xây dựng Kế hoạch đẩy mạnh việc thực hiện đăng ký nuôi con nuôithực tế và đến nay, tại các địa phương, việc triển khai Kế hoạch đã bước sanggiai đoạn cuối Trong 6 tháng đầu năm 2015, Ngành Tư pháp đã giải quyết đăng
ký nuôi con nuôi trong nước cho 1.249 trường hợp (giảm 129 trường hợp, tương
ứng giảm 9,36% so với 6 tháng đầu năm 2014)
Đối với nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, so với cùng kỳ năm ngoái, sốtrường hợp trẻ em làm con nuôi người nước ngoài được giải quyết trong 6 tháng
đầu năm 2015 là tương đương (245 trường hợp) So với năm 2014, đến nay đã
thu hút thêm sự tham gia giải quyết nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài của 11địa phương mới, bao gồm: Lâm Đồng, Đăk Nông, Kon Tum, Khánh Hòa, BìnhThuận, Quảng Ngãi, Phú Yên, Bình Định, Vĩnh Phúc, Lào Cai, Hà Nam
c) Công tác lý lịch tư pháp
Công tác lý lịch tư pháp có nhiều cách làm mới, sáng tạo nhằm tạo thuận lợitối đa cho người dân Trên cơ sở tham mưu của Bộ Tư pháp, ngày 08/01/2015, Thủtướng Chính phủ đã ký Quyết định số 19/QĐ-TTg phê duyệt ''Đề án thí điểm cấpPhiếu lý lịch tư pháp qua dịch vụ bưu chính, đăng ký cấp Phiếu lý lịch tư pháp trựctuyến''; ngày 30/6, Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và Tổng công ty Bưuđiện Việt Nam tổ chức Lễ ký thỏa thuận hợp tác phối hợp thực hiện dịch vụchuyển phát hồ sơ, kết quả cấp Phiếu lý lịch tư pháp
Tại Bộ Tư pháp, tính đến ngày 30/4/2015, đã nhận được 65.264 thông tin lý
lịch tư pháp, thông tin về thay đổi, cải chính hộ tịch (tăng hơn 30% so với cùng
kỳ năm trước), đã cập nhật 49.000 thông tin lý lịch tư pháp vào cơ sở dữ liệu điện
tử (bằng 93.4% so với cùng kỳ năm 2014), lập và đưa vào lưu trữ gần 21.000 hồ
sơ lý lịch tư pháp bằng giấy (bằng 92.8% so với cùng kỳ năm 2014); đã tiếp
nhận 57 hồ sơ (tăng 46% so với cùng kỳ năm 2014) và cấp 60 Phiếu lý lịch tư pháp
(03 hồ sơ năm 2014 chuyển sang) của người nước ngoài có thời gian cư trú tại ViệtNam 100% các hồ sơ yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp này được giải quyết đúnghoặc sớm thời hạn so với quy định của pháp luật
Trang 14Tại các địa phương, tình trạng chậm cấp phiếu LLTP đã từng bước được
khắc phục Đặc biệt, mô hình “Kiềng 3 chân” (Trung tâm – Cục C53 - Sở Tư
pháp) được thử nghiệm tại Trung tâm LLTPQG và 10 Sở Tư pháp (các tỉnh,
thành phố: Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Bình Dương, Phú Yên, Khánh Hòa, ThanhHóa, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, An Giang và Đồng Tháp) đã mang lại hiệu quảtích cực: kịp thời giải quyết cơ bản tình trạng chậm cấp Phiếu; giảm thiểu tối
đa chi phí, thời gian đi lại của người dân; củng cố niềm tin của người dân đốivới cơ quan nhà nước và góp phần nâng cao chỉ số cải cách hành chính trên
từng địa bàn Sáu tháng đầu năm, các Sở Tư pháp cấp được 130.586 Phiếu lý
lịch tư pháp (giảm 24.883 Phiếu, tương ứng giảm 16% so với cùng kỳ năm2014), trong đó có 96.411 Phiếu lý lịch tư pháp số 1 (giảm 24.622 Phiếu so với
6 tháng đầu năm 2014) và 34.175 Phiếu lý lịch tư pháp số 2 (giảm 261 Phiếu sovới cùng kỳ năm 2014)
d) Công tác đăng ký giao dịch bảo đảm (ĐKGDBĐ)
Hoàn thiện thể chế về giao dịch bảo đảm và đăng ký giao dịch bảo đảm làmột trong những nhiệm vụ quan trọng được nêu tại Nghị quyết số 19/NQ-CPngày 12/3/2015 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu tiếp tụccải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia hai năm2015-2016 Nhận thức rõ điều này, Bộ Tư pháp đang tập trung sửa đổi các thông
tư, thông tư liên tịch về lĩnh vực này (Thông tư liên tịch số BTNMT hướng dẫn việc đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liềnvới đất; Thông tư số 08/2014/TT-BTP sửa đổi các Thông tư về đăng ký, cungcấp thông tin về giao dịch bảo đảm ), cũng như hoàn thiện các quy định về biệnpháp trong quá trình xây dựng Bộ luật Dân sự (sửa đổi) nhằm bảo vệ quyền vàlợi ích hợp pháp cho các bên bảo đảm, nhận bảo đảm Đến hết tháng 6/2015,tổng số yêu cầu đăng ký, cung cấp thông tin về giao dịch bảo đảm được giải
20/2011/TTLT-BTP-quyết đạt khoảng 177.000 đơn (tăng mạnh so với cùng kỳ năm 2014 – tăng
95%), trong đó, tỷ lệ đăng ký trực tuyến đạt trung bình 43,2%
đ) Công tác bồi thường nhà nước
Nhằm đánh giá thực tiễn triển khai thi hành Luật trách nhiệm bồi thườngcủa nhà nước, Bộ Tư pháp đang cùng với các Bộ, ngành liên quan và các địaphương chuẩn bị tổng kết thi hành, tạo cơ sở cho việc sửa đổi, bổ sung Luật (đãđược đưa vào Chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh, Nghị quyết của Quốchội, UBTVQH năm 2016) Sáu tháng đầu năm 2015, các Bộ, ngành, địa phương
đã thụ lý giải quyết 71 vụ việc (trong đó có 26 vụ việc thụ lý mới), giảm 14 vụ socùng kỳ năm 2014, đã giải quyết xong 30/71 việc (đạt tỉ lệ 42,2%) với số tiền Nhànước phải bồi thường trong các quyết định giải quyết bồi thường, bản án, quyếtđịnh về giải quyết bồi thường đã có hiệu lực pháp luật là 7.185.453.287 đồng, tăng4.618.601.287 đồng so với cùng kỳ năm 2014
Về công tác bồi thường Nhà nước trong lĩnh vực THADS, sáu tháng đầu
năm 2015, đã thụ lý, giải quyết 05 vụ việc (có 02 vụ việc thụ lý mới), tăng 01 vụviệc so với cùng kỳ năm 2014, trong đó 01 vụ việc đã giải quyết với số tiền bồi
Trang 15thường là 655.466.000 đồng Hiện còn 04 vụ việc đang trong quá trình giảiquyết.
cố ý làm sai để trục lợi Tình trạng lạm dụng bản sao có chứng thực khôngnhững không giảm mà còn tăng mạnh
- Công tác triển khai thi hành Luật Nuôi con nuôi và Công ước La Hayvẫn còn chưa đồng đều ở các địa phương Ở một số địa phương, công tác connuôi chưa thật sự nhận được sự quan tâm của các cơ quan có thẩm quyền Việcgiải quyết nhu cầu nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi của người nước ngoàicòn gặp khó khăn
- Số lượng thông tin lý lịch tư pháp chưa được xử lý, cập nhật vào cơ sở
dữ liệu còn tồn đọng khá lớn Công tác lưu trữ hồ sơ lý lịch tư pháp bằng vănbản giấy chưa được quan tâm, chú trọng
- Công tác đăng ký, cung cấp thông tin về giao dịch bảo đảm còn xảy ratình trạng bị trùng về thẩm quyền giải quyết yêu cầu đăng ký
- Pháp luật về trách nhiệm bồi thường Nhà nước còn bất cập; việc xácđịnh lỗi của cơ quan nhà nước để xác định cơ quan có trách nhiệm bồi thườngcòn khó khăn; công tác định giá, giám định để xác định thiệt hại làm cơ sở bồithường còn chậm
b) Nguyên nhân
- Việc bố trí công chức làm công tác hộ tịch từ Trung ương đến địaphương chưa xứng tầm với nhiệm vụ được giao, ảnh hưởng đến chất lượng vàthời gian giải quyết công việc; chưa có phần mềm cơ sở dữ liệu hộ tịch thốngnhất trên cả nước nên công tác quản lý, báo cáo, thống kê hộ tịch còn gặp nhiềukhó khăn
- Lực lượng cán bộ công chức giải quyết việc nuôi con nuôi ở cả Trungương và địa phương còn quá mỏng để có thể triển khai nhanh chóng và hiệu quảLuật Nuôi con nuôi và Công ước Lahay đáp ứng nhu cầu hội nhập quốc tế tronglĩnh vực nuôi con nuôi khi bước sang thời kỳ hợp tác quốc tế đa phương Một số
5 Thanh Hoá: Có tình trạng đăng ký sai về trình tự thủ tục, dẫn đến việc phải hủy các giấy tờ hộ tịch.
Trang 16Trung tâm bảo trợ xã hội không gửi danh sách trẻ em có nhu cầu tìm gia đìnhthay thế ở nước ngoài đến Sở Tư pháp để theo dõi, giải quyết.
- Nhân lực, cơ sở vật chất bảo đảm cho công tác lý lịch tư pháp chưa đáp ứngyêu cầu nhiệm vụ Mức độ ứng dụng công nghệ thông tin vào quá trình xâydựng, quản lý, lưu trữ, sử dụng, khai thác cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp còn hạnchế và chưa đồng đều giữa các cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp
- Chưa có sự quan tâm đúng mức của Lãnh đạo một số Bộ, địa phươngtrong việc phổ biến, quán triệt pháp luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.Qua một thời gian triển khai, một số quy định của Luật TNBTCNN đã bộc lộ bấtcập, không phù hợp với thực tiễn cần phải được xem xét, sửa đổi, bổ sung nhưphạm vi điều chỉnh của Luật, phạm vi trách nhiệm bồi thường của nhà nước, căn
cứ xác định trách nhiệm bồi thường Bên cạnh đó, xuất phát từ khó khăn về biênchế nên nhiều Bộ, ngành, địa phương chưa bố trí được biên chế chuyên tráchlàm công tác BTNN, trong khi đó, đây là một công tác mới, đòi hỏi sự chuyênsâu về chuyên môn, nghiệp vụ
7 Quản lý nhà nước về bổ trợ tư pháp, trợ giúp pháp lý
7.1 Kết quả đạt được
a) Quản lý nhà nước về bổ trợ tư pháp
Về lĩnh vực luật sư, tư vấn pháp luật:
Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 02/2015/TT-BTP ngày 16/01/2015quy định một số mẫu giấy tờ về luật sư và hành nghề luật sư, bảo đảm sự thốngnhất, thuận lợi trong quản lý nhà nước về lĩnh vực luật sư Bộ Tư pháp cũng đãtích cực phối hợp tổ chức Đại hội đại biểu luật sư toàn quốc lần thứ II một cáchdân chủ, công khai và minh bạch Tính đến hết tháng 6 năm 2015, Bộ Tư pháp
đã cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư cho 319 trường hợp, cấp và gia hạn Giấyphép hành nghề tại Việt Nam cho luật sư nước ngoài cho 16 trường hợp, cấpGiấy phép thành lập chi nhánh, công ty luật nước ngoài tại Việt Nam cho 03trường hợp
Tại các địa phương, công tác quản lý nhà nước về hoạt động của luật sưđược chú trọng, kịp thời tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn trong hoạt độnghành nghề luật sư; Chiến lược phát triển nghề luật sư tại địa phương được thực
hiện tốt Ước tính 6 tháng đầu năm 2015, các luật sư tham gia 166.350 việc, tăng
rất mạnh so với cùng kỳ năm 2014 (tăng 95.587 việc, tướng ứng tăng 135%), đạttổng doanh thu hơn 5.285 tỷ đồng, nộp thuế hơn 454 tỷ đồng
Về lĩnh vực công chứng:
Các VBQPPL hướng dẫn thi hành Luật công chứng (sửa đổi) đã được banhành đầy đủ (Chính phủ ban hành Nghị định số 29/2015/NĐ-CP ngày 15/3/2015của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luậtcông chứng; Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 04/2015/TT-BTP ngày15/4/2015 hướng dẫn tập sự hành nghề công chứng và Thông tư số 06/2015/TT-
Trang 17BTP ngày 15/6/2015 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều củaLuật công chứng) Đến hết tháng 5/2015, Bộ Tư pháp đã bổ nhiệm công chứngviên cho 70 trường hợp, miễn nhiệm 02 trường hợp, cấp và cấp lại Thẻ công chứngviên cho 34 trường hợp.
Tại các địa phương, việc phát triển các tổ chức hành nghề công chứngđược thực hiện bám sát Quy hoạch của Thủ tướng Chính phủ Ước tính 6 thángđầu năm 2015, các tổ chức hành nghề công chứng đã công chứng được
2.018.009 hợp đồng, giao dịch, tăng nhiều so với cùng kỳ năm 2014 (tăng
455.783 hợp đồng, giao dịch, tương ứng tăng 29,17%), đóng góp cho Ngân sách
nhà nước hoặc nộp thuế hơn 1.025 tỷ đồng.
Về lĩnh vực giám định tư pháp:
Việc triển khai Luật giám định tư pháp và Đề án “Đổi mới và nâng caohiệu quả hoạt động giám định tư pháp”(Đề án 258) được Bộ Tư pháp, các Bộ,ngành liên quan và các địa phương chú trọng Bộ Y tế đã phối hợp với Bộ Tưpháp hoàn thiện các Đề án thành lập 5 Trung tâm pháp y tâm thần khu vực
Về lĩnh vực bán đấu giá tài sản, trọng tài thương mại, quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản:
Bộ Tư pháp cũng đã phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hànhThông tư liên tịch số 14/2015/TTLT-BTNMT-BTP ngày 04/04/2015 quy địnhviệc tổ chức thực hiện đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất có thu tiền sử dụngđất hoặc cho thuê đất Ước tính 6 tháng đầu năm, các tổ chức bán đấu giá đã tổ
chức thành công 7.856 cuộc bán đấu giá (so với cùng kỳ năm 2014, tăng 472
cuộc), nộp ngân sách nhà nước gần 107 tỷ đồng
Với việc Chính phủ ban hành Nghị định số 22/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phá sản về Quản tài viên và hànhnghề quản lý, thanh lý tài sản, đã tạo cơ sở pháp lý đầy đủ cho sự phát triển mộtnghề mới thuộc lĩnh vực bổ trợ tư pháp Sáu tháng đầu năm 2015, Bộ Tư pháp
đã cấp và cấp lại Chứng chỉ hành nghề đấu giá viên cho 90 trường hợp, thu hồiChứng chỉ 06 trường hợp; cấp Chứng chỉ hành nghề quản tài viên cho 96 trườnghợp
b) Công tác trợ giúp pháp lý (TGPL)
Trên cơ sở đề xuất của Bộ Tư pháp, ngày 01/6/2015, Thủ tướng Chínhphủ ký Quyết định số 749/QĐ-TTg phê duyệt Đề án đổi mới công tác trợ giúppháp lý giai đoạn 2015 – 2025 với nhiều nội dung, định hướng quan trọng giúpcho công tác TGPL ngày càng chuyên nghiệp, hiệu quả Ngành Tư pháp đangtích cực tổng kết 8 năm thi hành Luật trợ giúp pháp lý, làm cơ sở cho việc xâydựng Luật trợ giúp pháp lý (sửa đổi)6 Công tác hướng dẫn, chỉ đạo nghiệp vụTGPL được Bộ Tư pháp đẩy mạnh; Bộ đã hoàn thành thẩm định 232 vụ việcphức tạp điển hình của 14 Trung tâm trợ giúp pháp lý Tại các địa phương, hoạt
6 Theo Chương trình của Quốc hội, dự án Luật trợ giúp pháp lý (sửa đổi) sẽ được trình Quốc hội cho ý kiến và thông qua trong năm 2016.
Trang 18động TGPL dần đi vào chiều sâu, nhất là TGPL trong lĩnh vực tố tụng, đáp ứngnhu cầu TGPL ngay tại cơ sở Sáu tháng đầu năm 2015, các Trung tâm TGPL đã
thực hiện 52.556 vụ việc (giảm 10,81% so với 6 tháng đầu năm 2014) cho 51.579 lượt người (giảm 12,85% so với 6 tháng đầu năm 2014).
7.2 Hạn chế và nguyên nhân
a) Hạn chế
- Việc xây dựng một số Đề án, chính sách hỗ trợ phát triển nghề luật sưvẫn còn chậm so với yêu cầu Sự phối hợp giữa một số tổ chức xã hội - nghềnghiệp của luật sư với cơ quan quản lý nhà nước trong việc quản lý luật sư vàhành nghề luật sư chưa chặt chẽ, nhất là trong việc phối hợp tổ chức Đại hội đạibiểu luật sư toàn quốc lần thứ II; chưa kiện toàn được chức danh Bí thư Đảngđoàn Liên đoàn luật sư Việt Nam
- Kỹ năng, kinh nghiệm thực tế về chuyên môn, nghiệp vụ của một sốcông chứng viên ở một số địa phương còn hạn chế (Sóc Trăng, Bình Phước )
- Việc ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện Quyết định số TTg ngày 01/01/2014 của Thủ tướng Chính phủ về chế độ bồi dưỡng giám định
01/2014/QĐ-tư pháp ở các Bộ, ngành còn chậm; vẫn còn tình trạng trả chậm, nợ đọng chi phígiám định tư pháp
- Việc thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành và hoạt động thanh trachuyên ngành được giao tại Nghị định số 54/2014/NĐ-CP ngày 29/5/2014 củaChính phủ về tổ chức và hoạt động của thanh tra ngành Tư pháp còn chậm
- Hoạt động TGPL đang dần chuyển hướng trọng tâm vào các vụ việc tốtụng, nhưng vẫn còn dàn trải
b) Nguyên nhân
- Một số tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư nhận thức chưa đúng vềvai trò quản lý nhà nước, quá đề cao vai trò tự quản của tổ chức mình, ảnhhưởng đến phối hợp trong quản lý luật sư và hành nghề luật sư
- Một số Bộ, ngành chưa quan tâm đúng mức đối với công tác giám định
tư pháp
- Nhân lực làm công tác bổ trợ tư pháp tại Bộ Tư pháp còn mỏng nên việc
triển khai chức năng thanh tra chuyên ngành còn khó khăn
- Một số cán bộ, công chức, viên chức làm công tác TGPL chưa nhận thứcđầy đủ về chủ trương chuyển hướng trọng tâm của công tác TGPL vào các vụviệc tố tụng; trình độ chuyên môn, nghiệp vụ đội ngũ những người làm công tácTGPL tại các địa phương chưa đồng đều, kỹ năng tham gia tố tụng chưa cao
8 Công tác pháp luật quốc tế, hợp tác quốc tế về tư pháp và pháp luật 8.1 Kết quả đạt được
a) Công tác pháp luật quốc tế