Cơ sở thực tiễn: a.Việc dạy của giáo viên: Qua thực tế dự giờ thăm lớp của giáo viên trong trường cũng như trườngbạn tôi nhận thấy: - Một số đề bài thay vì chỉ dạy trong thời gian nửa
Trang 1đó học sinh còn tập kể lại được những mẩu chuyện được nghe thầy, cô kể trên lớp.Qua từng nội dung bài dạy, phân môn tập làm văn nhằm bồi dưỡng thái độ ứng xử
có văn hoá, tinh thần trách nhiệm trong công việc, bồi dưỡng tình cảm lành mạnhtốt đẹp cho học sinh
Qua thực tế giảng dạy nhiều năm ở khối lớp 3, bản thân nhận thấy rằng học sinhchưa thực sự yêu thích môn Tập làm văn chẳng phải vì đây là môn học không có sứccuốn hút, không tạo sự đam mê yêu thích cho học sinh mà là giáo viên chưa thổi đượchồn vào trong các tiết Tập làm văn khi giảng dạy học sinh Từ những băn khoăn trăntrở: Tại sao học sinh mình không thích học tiết làm tập làm văn? Khả năng nghe, nói,
kể, viết của các em ngày càng hạn chế? Tôi đã nhiều lần học hỏi, tìm tòi, tham khảo,
1
Trang 2thử nghiệm và mạnh dạn viết kinh nghiệm : "Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy tập làm văn ở lớp 3 " với các dạng bài “Nghe - Kể lại chuyện” và “Kể hay
nói, viết về một chủ đề”
2.Xác định mục đích nghiên cứu:
Tìm ra những khó khăn trong dạy tập làm văn lớp 3 theo chương trình đổi mới
dạy và học trong giờ tập làm văn lớp 3 như thế nào?
Qua kinh nghiệm này sẽ giúp giáo viên lựa chọn phương pháp dạy học phùhợp đối với các dạng bài cụ thể Giúp mỗi tiết dạy giáo viên cảm thấy tự tin hơn,khắc phục được những hạn chế của giáo viên khi đứng lớp, rèn được cho giáo viên
kĩ năng, kĩ xảo dạy học môn Tiếng Việt đặc biệt là phân môn Tập làm văn
Cách hướng dẫn thường xuyên của giáo viên sẽ tạo ra con đường mòn trong
bộ não của các em, giúp các em hình thành được những kĩ năng đọc kĩ đề, xácđịnh yêu cầu trọng tâm
Giúp giáo viên từng bước san bằng trình độ học sinh trong lớp học; giúp học sinh
tự tin hơn trong học tập, trong giao tiếp để các em hoàn thành chương trình môn học,lớp học và tiếp tục học tập ở các lớp cao hơn
3 Đối tượng nghiên cứu:
Học sinh lớp 3
Hoạt động dạy và học trong giờ Tập làm văn lớp 3
II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Trang 3Tập làm văn là một trong những phân môn có vị trí quan trọng của mônTiếng Việt Phân môn này đòi hỏi học sinh phải vận dụng những kiến thức, kĩnăng tổng hợp từ nhiều phân môn khác như :Học vần, Tập viết, Chính tả, Tập đọc,Luyện từ và câu Để làm được một bài văn học sinh phải sử dụng cả bốn kĩ năng: “ nghe, nói, đọc, viết ” Phải vận dụng những kiến thức về Tiếng Việt , về cuộcsống thực tiễn Phân môn Tập làm văn rèn luyện cho học sinh các kĩ năng tạo lậpvăn bản, trong quá trình lĩnh hội các kiến thức khoa hoc, góp phần dạy học sinh
sử dụng Tiếng Việt trong đời sống sinh hoạt Vì vậy , Tập làm văn được coi làphân môn có tính tổng hợp, toàn diện, sáng tạo có liên quan mật thiết đến cácmôn học khác
Mục tiêu của giáo dục Tiểu học đặt ra là: “ giúp học sinh hình thành những
cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, phẩm chất,thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học lên trung học cơ sở ”
Tập làm văn là một trong những phân môn có vị trí quan trọng của mônTiếng Việt Phân môn này đòi hỏi học sinh phải vận dụng những kiến thức tổnghợp từ nhiều phân môn trong môn Tiếng Việt
Trong quá trình dạy một tiết Tập làm văn, để đạt mục tiêu đề ra ngoàiphương pháp của thầy, học sinh cần phải có vốn kiến thức ngôn ngữ về đời sốngthực tế Học tốt Tập làm văn sẽ giúp học sinh học tốt các môn học khác đồng thờigiáo dục các em những tình cảm lành mạnh, trong sáng; rèn luỵên khả năng giaotiếp và góp phần đắc lực vào việc giữ gìn, phát huy sự trong sáng của Tiếng Việt,hình thành nhân cách con người Việt Nam
1.2 Cơ sở thực tiễn:
a.Việc dạy của giáo viên:
Qua thực tế dự giờ thăm lớp của giáo viên trong trường cũng như trườngbạn tôi nhận thấy:
- Một số đề bài thay vì chỉ dạy trong thời gian nửa tiết học nay đã được dạy trọntrong một tiết học nên cách tổ chức các hoạt động trong giờ tập làm văn còn lúngtúng Giáo viên chưa biết nội dung trọng tâm cần truyền tải đến học sinh mà chỉbiết dựa vào sách giáo viên và thậm chí đi theo sự hướng dẫn trong sách giáo viên
để dạy bài nào cũng giống bài nào Giáo viên chưa thực sự đầu tư vào chất lượng
3
Trang 4bài soạn, kiền thức còn hạn hẹp, chưa chịu khó suy nghĩ, tìm tòi, vận dụng cácphương pháp dạy học và hình thức dạy học khác nhau vào các tiết dạy mà chỉgiảng dạy theo một quy trình áp đặt rập khuôn.
- Khả năng diễn đạt của giáo viên còn hạn chế, ngôn ngữ chưa được trauchuốt: giáo viên còn “bí từ” khi giảng Kiến thức bài còn bó hẹp hoàn toàn trongsách giáo khoa và chỉ biết nêu lên trình tự trong sách giáo khoa chứ chưa biếtkhắc sâu, chốt nội dung khi dạy xong một tiết học Thậm chí có giáo viên khi kểcho học sinh nghe nội dung câu chuyện thì vẫn chưa nắm được cốt lõi của chuyện
mà còn mang tích chất “đọc chuyện”; chưa thuộc được chuyện để kể cho học sinhtrên lớp (đặc biệt là các câu chuyện vui-ngắn)
- Khi dạy cho học sinh “Kể hay nói, viết về một chủ đề” giáo viên chỉ cónêu nội dung mấy câu hỏi ở sách giáo khoa cho học sinh trả lời bằng miệng sau đóyêu cầu học sinh viết về chủ đề đó Do vậy mà hiệu quả giờ dạy chưa cao, họcsinh thực hành viết bài chưa được, đặc biệt là những học sinh chưa có năng khiếu
- Giáo viên chưa khen tặng, uốn nắn các em kịp thời
- Giáo viên chưa khơi gợi được tính tò mò, ham học hỏi, sáng tạo văn họcnơi các em
- Việc tổ chức dạy các giờ tập làm văn (được coi là dạy mẫu ) ở các trường tiểuhọc chưa nhiều nên giáo viên chưa có cơ hội để học tâp lẫn nhau nhằm nâng cao nănglực giảng dạy
b Việc học của học sinh:
- Học sinh lớp 3 vốn từ ngữ của các em chưa nhiều: các em còn mải chơinhiều hơn học Việc tiếp thu bài còn thụ động theo cách truyền tải của giáo viênnên phần nào cũng ảnh hưởng đến chất lượng học tập của các em
- Các em còn ngại kể chuyện vì chưa nhớ các tình tiết, nội dung của câuchuyện; nói về đề tài nào đó cho qua loa, cho xong vì các em chưa tìm ra được các
tữ ngữ liên quan đến đề tài Cách dùng từ đặt câu chưa đúng, viết đoạn văn cònnghèo ý, diễn đạt chưa trôi chảy
- Việc tổ chức học tập trên lớp của giáo viên chưa phát huy được vốn từ ngữcủa các em cũng như chưa khơi dậy ở học sinh sự mạnh dạn tự tin trong học tập
Trang 5Chính vì những lý do trên nên việc học văn ở lớp 3 còn hạn chế Trong tiết
“Nghe - kể lại chuyện” nhiều em còn chưa kể lại được chuyện mặc dầu chuyện đóngắn, tình tiết ít Khi “Kể hay nói, viết về một chủ đề” nào đó theo các gợi ý ởsách giáo khoa thì các em diễn đạt còn lúng túng nhất là những học sinh tiếp thuchậm, năng lực hạn chế không nói (viết) được bài
2 Các biện pháp tiến hành, thời gian tạo ra giải pháp:
2.1 Biện pháp tiến hành:
Trong qua trình nghiên cứu, tôi đã áp dụng một số phương pháp sau:
1 - Phương pháp nghiên cứu tài liệu, lí luận
2 - Phương pháp phân tích, tổng hợp
3 - Phương pháp điều tra, khảo sát
4 - Phương pháp luyện tập, thực hành
5 - Phương pháp thống kê
6 - Phương pháp trao đổi, tranh luận
Trong các phương pháp trên, khi nghiên cứu tôi vận dụng hài hoà cácphương pháp để tìm ra các giải pháp của mình đạt kết quả tối ưu nhất
2.2 Thời gian tạo ra giải pháp:
Trang 6Mục tiêu nghiên cứu trong đề tài này là tập trung vào các nội dung chủ yếusau:
- Tìm hiểu các bài tập về nghe, kể lại chuyện; Kể hay nói, viết về một chủ
đề có trong chương trình tập làm văn lớp 3
- Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giờ học tập làm văn ở lớp 3với dạng bài: Nghe- kể lại chuyện; Kể hay nói, viết về một chủ đề để lựa chọnphương pháp dạy học thích hợp
II MÔ TẢ PHÂN TÍCH CÁC GIẢI PHÁP:
1.Thuyết minh tính mới: Nội dung dạy tập làm văn lớp 3:
Cấu trúc phân môn tập làm văn trong SGK Tiếng việt 3 với các dạng bài:
“ Nghe- kể lại chuyện” và “ Kể hay nói, viết về một chủ đề ” được chia làm 54bài tập Mỗi bài học được trình bày từ 1 đến 2 bài tập - gồm bài tập rèn luyện kỹnăng nói và bài tập rèn kỹ năng viết, trong đó bài tập rèn kỹ năng nói chiếm hơn70% nhất là kiểu bài “Nghe - kể lại chuyện” và “Kể hay nói, viết về một chủ đề”.Đối với hai dạng bài này thì nội dung được phân bổ như sau:
- Dạng bài “Kể hay nói, viết về một chủ đề” gồm có 16 bài tập như: Nói
về đội TNTP Nói về thành thị hoặc nông thôn; Nói về quê hương; Nói ,viết vềcảnh đẹp đất nước
- Dạng bài “Nghe -Kể lại chuyện” gồm có 10 bài tập như : Nghe - Kể: Dại
gì mà đổi; Nghe - kể : Không nỡ nhìn ; Nghe kể: Tôi cũng như bác ; Nghe- kể:Giấu cày nhưng từ năm học 2011-2012, áp dụng chương trình giảm tải của BộGiáo dục và Đào tạo (áp dụng từ ngày 19/9/2011) thì đã cắt bỏ một số bài tậpkhông yêu cầu học sinh làm đó là: Nghe - kể: Tôi có đọc đâu( TLV tuần 11);Nghe - kể: Tôi cũng như bác( TLV tuần 14); Nghe - kể: Giấu cày( TLV tuần 15);Nghe - kể: Kéo cây lúa lên ( TLV tuần 16) Như vậy dạng bài này trong chươngtrình Tập làm văn lớp 3 dạy 6 bài tập còn lại Nội dung kiến thức và yêu cầu rènluyện kỹ năng ở phân môn tập làm văn lớp 3 khá khó, nhiều bài tập mang tínhthực hành từ thực tế xung quanh các em như: Kể về gia đình mình; Nói, viết vềthành thị hoặc nông thôn Qua đó học sinh hình thành được các kỹ năng tạo lập
văn bản (từ chỗ nói theo những câu hỏi gợi ý hoặc kể về gia đình, người thân đến viết một văn bản trọn vẹn)
Trang 7Muốn dạy tập làm văn cho học sinh có hiệu quả, giáo viên cần nắm rõ mụctiêu, nội dung bài học, lựa chọn và phối hợp các phương pháp dạy học; các hìnhthức dạy học phù hợp với yêu cầu của từng bài Có như thế mới nâng cao đượcchất lượng giờ học, bồi dưỡng được những tình cảm lành mạnh, tốt đẹp cho họcsinh.
Để khắc phục những hạn chế ở trên, dựa vào những thuận lợi đang có Tôimạnh dạn thực hiện rèn cho các em 3 kĩ năng trong 2 dạng bài “ Nghe- kể lạichuyện” và “ Kể hay nói, viết về một chủ đề”:
- Rèn kĩ năng nghe- ghi nhớ- kể lại câu chuyện
- Rèn kĩ năng nói và viết theo đề tài
- Rèn kĩ năng kể người thật việc thật
Dưới đây là một số giải pháp thay thế một phần của giải pháp cũ đã đượcthực hiện và đem lại hiệu quả dạy học cao hơn
2 Một số biện pháp tích cực nâng cao hiệu quả dạy tập làm văn lớp
2.1 Trang bị kiến thức cho học sinh luôn chú trọng việc lồng ghép kiến thức giữa các phân môn Tiếng Việt:
Do khả năng tư duy của học sinh còn hạn chế, óc quan sát, trí tưởng tượngkhông phong phú lại chưa chịu khó rèn luyện, nên đa số các em chỉ biết trình bàyđoạn văn một cách hạn hẹp theo nội dung đã gợi ý Từ đó bài văn nói – viết nghèonàn về ý, gò ép, thiếu sự hồn nhiên Bên cạnh đó, đôi lúc các em còn trình bàylệch lạc, thiếu chính xác do ít kiến thức về vốn sống
Việc sử dụng và mở rộng vốn từ còn nhiều hạn chế, các em chưa chú ý cách
sử dụng từ hoặc trau chuốt thế nào cho từ đó hay hơn trong câu văn Có một số từ
do được nghe và nói trong sinh hoạt hằng ngày thành quen thuộc, các em vẫn vô
tư sử dụng trong bài văn của mình
Như vậy, để khắc phục những hạn chế trên, giáo viên cần hiểu rõ tính tíchhợp kiến thức giữa các phân môn Tiếng Việt để từ đó giúp các em trang bị vốnkiến thức cơ bản cần thiết cho mỗi tiết học Khi dạy các phân môn: Tập đọc,Chính tả, Tập viết, Luyện từ và câu có nội dung phù hợp với tiết Tập làm văn sắphọc; giáo viên cần dặn dò hướng dẫn học sinh quan sát tìm hiểu kĩ đối tượng cầnnói đến và ghi chép cụ thể hình ảnh, hoạt động ấy vào sổ tay; với những sự việc
7
Trang 8hoặc hoạt động các em không được chứng kiến hoặc tham gia, giáo viên khuyếnkhích các em quan sát qua tranh ảnh, sách báo, trên tivi,…hoặc hỏi những ngườithân hay trao đổi với bạn bè Khi được trang bị những kiến thức cơ bản như thế,học sinh sẽ có những ý tưởng độc lập từ đó các em có thể trình bày được bài vănchân thực, sinh động và sáng tạo Trong việc trang bị kiến thức cho học sinh, giáoviên không nên áp đặt các em vào một khuôn mẫu nhất định như chỉ định học sinhphải quan sát một bức tranh, một sự vật, con người hay một công việc cụ thể nhưthế sẽ hạn chế năng lực sáng tạo của các em Vì vậy, với bất cứ một đề tài nào củamột tiết Tập làm văn, giáo viên cần cho học sinh liên hệ mở rộng để các em pháthuy được năng lực sáng tạo trong bài văn của mình.
Có thể lập bảng thống kê để tìm hiểu chương trình phân môn Tập làm văn;Tập đọc; Luyện từ và câu có liên quan đến các dạng bài “ Nghe- kể lại chuyện” và
“ Kể hay nói, viết về một chủ đề”
Bài Tập đọc kí hiệu ( - ) B i Luy n t v câu kí hi u (+)ài Luyện từ và câu kí hiệu (+) ện từ và câu kí hiệu (+) ừ và câu kí hiệu (+) ài Luyện từ và câu kí hiệu (+) ện từ và câu kí hiệu (+)
Tuần Bài Tập đọc ; Luyện từ và câu Trùng với kiểu bài TLV
+ Mở rộng vốn từ: Trường học
Kể lại buổi đầu em đi học
người thân đối với em
+ Kể tên sự vật và công việc
thường thấy ở thành phố, nông thôn
- Âm thanh thành phố
Nói, viết về thành thị, nông thôn
HKI
Trang 9Kể, viết về trận thi đấu thể thao
Sau khi giáo viên thống kê bài Tập đọc, Luyện từ và câu theo bài, chủ đềtrùng với kiểu bài Tập làm văn học sinh đang và sẽ học, giáo viên đã phần nàogiúp học sinh hình thành nên các từ ngữ, hình ảnh đẹp về một mảng chủ đề cụ thể
Từ đó giúp các em vận dụng tốt vốn từ ngữ, những mẫu câu ở một mảng chủ đềnào đó, tự tin trình bày trước lớp
2.2.Dạng bài “Nghe - Kể lại chuyện”
Đây là một dạng đề khá khó, rèn luyện ở HS các kỹ năng: nghe- ghi
nhớ-kể lại câu chuyện Do đó dạng bài này yêu cầu học sinh nhớ-kể lại câu chuyện, ghi nhớcác nhân vật, các chi tiết và hiểu được ý nghĩa của câu chuyện
Ngữ liệu học tập của dạng đề này phần lớn là các chuyện vui Trong sáchgiáo viên, hầu hết các tiết dạy dạng đề này được triển khai theo cùng một hướngnhư sau:
- Giáo viên kể chuyện 2 hoặc 3 lần
- Giáo viên đưa ra câu hỏi gợi ý chi tiết để học sinh làm điểm tựa nhớ lạinội dung truyện
- Một vài học sinh kể: Học sinh kể theo nhóm ; Đại diện vài nhóm học sinh
kể lại chuyện trước lớp
Để hoạt động của tiết học dạng đề trên đa dạng hơn, học sinh vui và tích cực học hơn Tôi xin đề nghị thêm một số phương án dạy học như sau:
Cách 1: Cho học sinh ghép đoạn văn thành câu chuyện
9
Trang 10- Giáo viên chia các câu trong câu chuyện thành các thẻ chữ và cho học sinhđọc.
- Giáo viên, cho học sinh thảo luận theo nhóm để ghép các thẻ chữ thànhcâu chuyện Các nhóm thảo luận rồi ghi kết quả sắp xếp vào bảng con ( chỉ ghicon chữ ghi câu, không ghi câu văn) sắp xếp thành câu chuyện hoàn chỉnh
- Sau đó học sinh nghe giáo viên kể chuyện và điều chỉnh sắp xếp của mìnhcho đúng với nội dung ( nếu cần)
- Học sinh trao đổi về điều thú vị trong truyện hay ý nghĩa của truyện
- Học sinh kể chuyện theo nhóm
- Đại diện vài nhóm học sinh kể lại chuyện trước lớp (có thể nhập vai kể)
- Học sinh nhận xét, giáo viên bổ sung, nhận xét chung
Ví dụ minh họa : Khi dạy Nghe kể lại chuyện: Không nỡ nhìn.( TV3 - tập
1-tr.61), giáo viên có thể thực hiện như sau:
1 Chuẩn bị:
- 6 thẻ chữ Mỗi thẻ chữ ghi một câu sau:
a – Không ạ ! Cháu không nỡ ngồi nhìn các cụ già và phụ nữ phải đứng
b – Cháu nhức đầu à ? Có cần xoa dầu không ?
c – Anh thanh niên nói nhỏ:
d – Một anh thanh niên ngồi nhưng hai tay cứ ôm lấy mặt
e – Bà cụ ngồi bên thấy thế liền hỏi:
g – Trên một chuyến xe buýt đông người
- Giáo viên kể chuyện 2 lần
- Học sinh đối chiếu giữa nội dung chuyện vừa được nghe với thứ tự nộidung mình đã sắp xếp.( g – d – e – b – c – a )
- Học sinh trao đổi về điều thú vị trong truyện hay ý nghĩa của truyện
- Học sinh kể chuyện theo nhóm ( giáo viên giúp đỡ những em kể chậm )
Trang 11- Đại diện vài nhóm học sinh kể lại chuyện trước lớp (có thể nhập vai kể)
- Cho học sinh trao đổi về tính khôi hài của chuyện: Anh thanh niên trênchuyến xe buýt không biết nhường chỗ cho người già, phụ nữ mà lại che mặt vàgiải thích rất buồn cười là không nỡ nhìn các cụ già và phụ nữ phải đứng
- Cho học sinh liên hệ thực tế bản thân: Nếu gặp người như anh thanh niêntrên chuyến xe đó thì em sẽ làm gì?
- Học sinh nhận xét, giáo viên bổ sung, nhận xét chung
Cách 2 : Giáo viên vừa kể vừa kết hợp nêu các câu hỏi để thu hút HS nghe một cách chủ động sáng tạo.
- Giáo viên kể một phần đầu của câu chuyện sau đó đặt câu hỏi đề nghị họcsinh đoán sự kiện gì có thể xảy ra tiếp theo Giáo viên ghi một vài ý học sinhđoán lên bảng
- Học sinh nghe giáo viên kể tiếp rồi trao đổi đối chiếu điều được nghe vớiđiều đã đoán để điều chỉnh phần được ghi trên bảng
- Giáo viên kể lại chuyện 2 lần đề nghị học sinh nêu thêm một số tình tiếtnửa phần đầu của truyện( câu hỏi kiểm tra trí nhớ của HS về các sự kiện đã kể cóliên quan đến tình tiết, sự việc đang nói tới) Ở hoạt động này giáo viên có thểdùng thẻ từ ghi các sự kiện thể hiện trong phần đầu của truyện và học sinh chọnđưa vào dàn ý đã có trên bảng
- Câu hỏi để Học sinh trao đổi về ý nghĩa hoặc một vài chi tiết thú vị trongchuyện
- Học sinh kể lại chuyện( theo nhóm hay cặp)
- Đại diện vài nhóm học sinh kể lại chuyện trước lớp
- Cả lớp nhận xét, giáo viên bổ sung và nhận xét chung
Ví dụ minh họa : Nghe kể lại chuyện: Dại gì mà đổi (BT1-TV3 - tập 1- tr36)
1.Chuẩn bị : Tranh vẽ ở SGK phóng to
2.Cách tiến hành :
- Giáo viên treo tranh vẽ lên bảng
Giáo viên kể phần đầu của chuyện kết hợp chỉ tranh: “Có một cậu bé 4 tuổinhưng rất nghịch ngợm Một hôm, mẹ cậu doạ sẽ đổi cậu để lấy một đứa trẻ ngoan
về nuôi.”
11
Trang 12- Giáo viên hỏi: Các em thử đoán xem cậu bé trả lời như thế nào?
- Giáo viên ghi một vài ý học sinh đoán lên bảng :
Ví dụ :
+ Cậu bé òa khóc
+ Cậu bé hét lên
+ Cậu bé mừng rỡ
+ Cậu bé không đồng ý đổi
- Giáo viên kể tiếp câu chuyện và cho học sinh đối chiếu điều được nghe vớiđiều đã đoán để điều chỉnh phần ghi ở bảng
- Giáo viên kể chuyện lần 2, đề nghị học sinh nêu lên một số tình tiết nửaphần đầu của truyện Giáo viên có thể đưa lên một số thẻ từ ghi một số tình tiếtcủa chuyện
Ví dụ :
+ Mẹ sẽ chẳng đổi được đâu!
+ Vì sao thế?
+ Chẳng ai muốn đổi đứa con ngoan để lấy đứa con nghịch
- Học sinh trao đổi về ý nghĩa hoặc một vài chi tiết thú vị của chuyện
- Học sinh kể lại chuyện (theo nhóm hay cặp) kết hợp câu hỏi gợi ý ở SGK
- Đại diện vài nhóm học sinh kể trước lớp
- Cả lớp nhận xét, giáo viên bổ sung, nhận xét chung
Cách 3 : Hướng dẫn tạo và vẽ sơ đồ trình tự câu chuyện
Giáo viên kể chuyện một, hai lần và đặt câu hỏi gợi mở để giúp học sinh vẽ
sơ đồ mạng câu chuyện hay vẽ sơ đồ trình tự câu chuyện
- Giáo viên cho học sinh điền vào sơ đồ mạng câu chuyện sơ đồ trình tự câuchuyện của mình
- Giáo viên kể chuyện lần ba, yêu cầu học sinh kiểm tra lại trình tự củamình
- Học sinh dựa vào sơ đồ câu chuyện kể lại chuyện Giáo viên cần khen tặng
và uốn nắn học sinh kịp thời: về cách dùng từ, cách xưng hô…
- Học sinh trao đổi về điều thú vị trong truyện hay ý nghĩa của truyện
Trang 13Ví dụ minh hoạ : Nghe kể lại chuyện: Nâng niu từng hạt giống (TV3 -Tập
2-Tr.30), giáo viên có thể tiến hành như sau:
1.Chuẩn bị :
+ Tranh vẽ ở sách giáo khoa phóng to
+Phiếu bài tập xây dựng sơ đồ trình tự câu chuyện, có thể là:
2.Cách tiến hành :
- Giáo viên kể 2 lần và yêu cầu học sinh vẽ sơ đồ trình tự câu chuyện Nếuhọc sinh có khó khăn giáo viên có thể nêu các câu hỏi gợi ý như sau:
+ Câu chuyện nói đến ai?
+ Ông nhận được quà gì?
+ Thời tiết lúc đó thế nào?
+ Ông Của bảo thế nào?
+ Ông Của đã làm gì?
+ Kết quả ra sao?
- Giáo viên kể lần ba rồi yêu cầu học sinh kiểm tra và hoàn chỉnh sơ đồ
- Học sinh thảo luận nhóm 2 rồi điều chỉnh sơ đồ trình tự câu chuyện
Chia làm hai phần
Trời rét đậm
Trời rét đậm
Nhận được
10 hạt thóc giống
Nhận được
10 hạt thóc giống
Chỉ năm hạt nảy mầm
Chỉ năm hạt nảy mầm
Trang 14- Gọi một vài học sinh nhìn sơ đồ trình tự của mình kể lại chuyện cho cả lớpnghe Học sinh nhận xét, giáo viên bổ sung và động viên khuyến khích các em làchính Giáo viên chú ý rèn cho học sinh kể gãy gọn, nói thành câu (qua việc ngắtnghỉ hơi) và chú ý giọng điệu của các em chậm lại, kể rõ từng công việc ông làm ( kèm thêm cử chỉ, điệu bộ) khi kể ông Của chia mười hạt giống thành hai phần.Năm hạt ông gieo trong phòng thí nghiệm Còn năm hạt kia ông ngâm nước ấm,gói vào khăn, tối tối ủ trong người, trùm chăn ngủ để hơi ấm của cơ thể làm chothóc nảy mầm Cũng có thể cho học sinh vẽ thêm sơ đồ công việc của ông vớinăm hạt thóc sau:
Ngâm nước ấm gói vào khăn ủ trong người
- Học sinh dựa vào mạng câu chuyện để kể lại theo nhóm 4, giáo viên kèmcặp giúp đỡ học sinh
- Đại diện nhóm kể trước lớp Học sinh nhận xét, giáo viên bổ sung, nhậnxét chung (Giáo viên lưu ý đến câu, từ và cách xưng hô của học sinh) Cần độngviên học sinh qua lời khen, uốn nắn cho học sinh tiến bộ hơn mức độ em đã đạtđược khi kể Ví dụ như: khi em kể chưa lưu loát thì động viên em cố gắng tập kểnhiều lần cho thuộc câu chuyện hơn, khi em kể thuộc câu chuyện mà chưa dùng
cử chỉ điệu bộ thì dộng viên em cố gắng kèm theo cử chỉ, điệu bộ để lời kể của emhấp dẫn, cuốn hút người nghe hơn… Và trong mỗi trường hợp giáo viên khôngnên quên lời khen các em theo tùng mức độ các em đạt được
- Cả lớp và giáo viên bình chọn bạn kể chuyện hay nhất, hiểu câu chuyệnnhất, kể tiến bộ nhất để biểu dương
Cách 4 : Xây dựng mạng câu chuyện
Giáo viên kể chuyện một lần và đề nghị học sinh cho biết: câu chuyện cómấy nhân vật? giáo viên phác hoạ hình các nhân vật đó lên bảng (bằng cách vẽ ôtròn và trên đó ghi tên nhân vật)
Trang 15- Học sinh nghe giáo viên kể chuyện lần 2 rồi viết xung quanh nhân vật một
số từ hay cụm từ thể hiện hành động hay suy nghĩ của nhân vật (xây dựng mạngcâu chuyện) Nếu học sinh có khó khăn thì giáo viên đặt một số gợi ý
- Học sinh trao đổi điều chỉnh mạng câu chuyện (theo nhóm).Một số họcsinh nhìn mạng câu chuyện rồi kể lại chuyện trước lớp
- Học sinh dựa vào mạng câu chuyện để kể lại chuyện theo cặp (hay nhóm).Học sinh thảo luận theo ý nghĩa của chuyện
Ví dụ minh hoạ : Nghe kể lại chuyện: Người bán quạt may mắn (Tập 2-Tr56)
1.Chuẩn bị : Phiếu bài tập xây dựng mạng câu chuyện :
+ Bà lão bán quạt gặp ai và phàn nàn điều gì?
+ Ông Vương Hi Chi viết chữ vào những chiếc quạt để làm gì?
+ Vì sao mọi người đua nhau đến mua quạt?
- Học sinh thảo luận rồi điều chỉnh mạng câu chuyện, có thể như sau:
15
Trang 16- Gọi một vài học sinh nhìn mạng kể lại chuyện cho cả lớp nghe Học sinhnhận xét, giáo viên bổ sung và động viên khuyến khích các em là chính.
- Học sinh dựa vào mạng câu chuyện để kể lại theo nhóm, giáo viên kèmcặp giúp đỡ học sinh tiếp thu chậm
- Đại diện nhóm kể trước lớp Học sinh nhận xét, giáo viên bổ sung, nhậnxét
Giáo viên hỏi học sinh: Qua câu chuyện này, em biết gì về Vương Hi Chi?
- Cả lớp và giáo viên bình chọn bạn kể chuyện hay nhất, hiểu câu chuyệnnhất
Cách 5: Cho HS ngồi thành vòng tròn nghe GV kể chuyện Khi kể làm
động tác, điệu bộ, nét mặt và sử dụng con rối, trang ảnh… HS vừa lắng nghe, vừaquan sát, vừa làm động tác theo giáo viên Sau đó tổ chức cho HS diễn lại câuchuyện vừa nghe như một vở kịch Có thể chia HS thành các nhóm nhỏ để miêu tảlại các nhân vật ( vẽ hình nhân vật, chuẩn bị trang phục…), một số nhóm khác thìchuẩn bị hoặc làm những vật dụng có trong câu chuyện… Cách làm này khiến câuchuyện đi ra đời sống thực, đồng thời giúp học sinh tự tin hơn
*Một số lưu ý khi dạy dạng bài trên
- Có rất nhiều cách để tiến hành giờ học dạy dạng bài “Nghe - kể lạichuyện” Giáo viên có thể tuỳ vào tình hình của lớp, trình độ học sinh để chọncách dạy phù hợp nhất
Trang 17- Cho dù dạy theo cách nào, giáo viên cũng phải có sự chuẩn bị bài trước(Tranh ảnh phục vụ nội dung truyện hoặc xây dụng mạng câu chuyện: Phiếu bàitập) để giờ học sinh động, gây hứng thú học tập cho học sinh hơn.
- Chú ý giao việc cho học sinh rõ ràng đặc biệt là khi hoạt động nhóm vànên theo dõi, kèm cặp thêm cho học sinh chưa hoàn thành, tạo cho các niềm tin,
mạnh dạn hơn trong học tập
2.3.Dạng bài: Kể hay nói, viết về một chủ đề.
*Mục đích : Nội dung các bài tập thuộc dạng bài này nhằm rèn cho học
sinh kỹ năng diễn đạt bằng lời nói( viết) về một chủ đề nào đó hay rèn kĩ năng
kể, viết người thật việc thật: Nói viết về thành thị hoặc nông thôn; Kể về gia đình ;
Kể về một buổi thi đấu
Xem xét cách triển khai câu hỏi gợi ý ở mỗi đề, chúng ta có thể thấy dạng
đề này hầu như là sự kết hợp của nhiều thể loại: miêu tả, tường thuật, thuyết minh
và phát biểu cảm nghĩ Do vốn Tiếng Việt của học sinh tiểu học còn hạn chế, một
số chủ đề trong sách giáo khoa các em chưa có điều kiện làm quen… Nên việc tổchức dạy học nội dung này gặp nhiều khó khăn Mà trong sách giáo viên, các kiểu
đề này chủ yếu được tiến hành theo một trình tự như sau:
- Giáo viên giới thiệu bài:
- Giáo viên hướng dẫn học sinh làm bài:
+ Học sinh đọc và xác định yêu cầu của bài tập
+ GV cho học sinh tìm ý theo hệ thống câu hỏi trong SGK hay hệ thống câuhỏi trong SGV hoặc giải thích cho học sinh cách làm bài
+ Một học sinh kể mẫu và giáo viên nhận xét
- Học sinh tập nói theo tổ (nhóm)
- Đại diện một số nhóm nói trước lớp Cả lớp và giáo viên nhận xét
- Cả lớp viết bài vào vở nếu bài yêu cầu cả nói và viết
Để giúp học sinh triển khai ý trong bài nói, hình thành nội dung cần nói vềmột chủ đề và phát triển diễn đạt ý tưởng tạo cho các em sự mạnh dạn tự tin tronghọc tập Ngoài cách đã được trình bày trong sách giáo viên thì có thể sử dụng
thêm các phương pháp: “Sử dụng bản đồ tư duy”
17
Trang 18Bản đồ tư duy là một phương tiện trực quan, muốn xây dựng được nó để dạy tập làm văn, người giáo viên cũng phải suy nghĩ, tìm tòi đặc biệt là các từ ngữ phục vụ theo yêu cầu của từng chủ đề, đề bài Giáo viên thiết kế bản đồ tư duy cần phải đảm bảo đúng kiến thức của từng bài, từng chủ đề và đảm bảo tính thẩm
mĩ để qua đó học sinh tiếp nhận kiến thức bài một cách tích cực và mang lại hiệu quả giờ học cao hơn
Giáo viên có thể thực hiện xây dựng bản đồ tư duy phù hợp với nội dung các bài tập nhằm rèn cho học sinh kỹ năng như sau:
a)Rèn kĩ năng nói và viết theo đề tài
Với dạng bài này học sinh cảm thấy lúng túng khi tìm từ, đặt câu và sắp xếp thứ tự các câu trong bài nói, viết của mình Đây là dạng bài thể hiện rõ sự tích hợp của các môn học
- Sau khi phân tích yêu cầu đề bài giáo viên yêu cầu học sinh nghĩ về đề tài, xâu chuỗi tất cả vốn từ các em đã có, vốn từ các em vừa học trong các bài tập đọc, chính tả, luyện từ và câu, tập viết,… có liên quan đến chủ đề
- Học sinh viết ra những từ ngữ có liên quan đến chủ đề mà các em vừa tìm được vào sơ đồ tư duy
- Học sinh đánh số thứ tự các từ ngữ mình vừa tìm được
- Học sinh nhìn bản đồ tư duy tự suy nghĩ, hồi tưởng về chủ đề và đặt câu cho từng từ ngữ theo thứ tự các em đánh dấu Các em tự kiểm tra lại
- Giáo viên gọi một số học sinh nói về chủ đề, học sinh cùng giáo viên nhận xét, góp ý về câu, từ…
- Học sinh tập nói theo nhóm 3 – Đại diện các nhóm trình bày, học sinh cùng giáo viên nhận xét, góp ý, tuyên dương
Ví dụ minh họa : Đề bài: Nói về quê hương em (BT2-TV3 -Tập1- Tr92)
1 Chuẩn bị : Phiếu học tập
a.Hoàn thành bảng dưới đây
Giọng quê hương
Quê hương
Trang 19
Đất quý, đất yêu
Vẽ quê hương
b.Đánh dấu X trước mỗi câu nếu em đồng ý Qua các bài đọc trên em thấy quê hương: + Là tất cả những gì gần gũi, thân thương đối với mình + Là nơi mình sinh ra và lớn lên + Là những điều mình có thể nghe, có thể thấy, có thể sờ, có thể nếm + Là cái gì đó mà khi xa mình thấy nhớ thương - Giáo viên nêu câu hỏi: Các em hãy nghĩ về quê hương mình: Quê em ở đâu? Em yêu nhất cảnh vật gì ở quê hương? Cảnh vật đó có gì đáng nhớ? Tình cảm của em đối với quê hương như thế nào? 2 Cách tiến hành : Hoạt động 1: Giúp HS tìm hiểu yêu cầu của đề bài và chuẩn bị thông tin ý tưởng để nói Trước hết GV phát phiếu học tập cho học sinh và dẫn dắt học sinh hoàn thành bài tập a, b trên phiếu (theo nhóm) - GV treo bảng phụ có ghi các bài tập a, b trên bảng Cho các nhóm tự nêu kết quả bài làm của mình, các nhóm khác nhận xét, GV bổ sung hoàn thành bài tập Hoạt động 2 : HS tập trung động não nghĩ về quê hương đã xác định trong khung chủ đề và viết ra bất kì những từ ngữ nào liên quan đến quê hương mà mình đang nghĩ tới - Giáo viên giới thiệu bản đồ tư duy GV đã chuẩn bị - Hướng dẫn HS chọn từ trung tâm Ví dụ :
ngôi nhà vườn bách thú thành phố con sông Quê hương em lũy tre, cánh đồng
nông thôn đường phố nhà cao tầng
19