1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

SRD VNGO FLEGT Policy recommendations QIII IV 2015 VN ver

32 63 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 1,77 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cụ thể, các loại giấy tờ cần có để chứng minh gỗ hợp pháp là bảng kê lâm sản do hộ/ cơ sở trồng rừng lập, hóa đơn mua hàng có thuế giá trị gia tăng VAT áp dụng trong trường hợp mua gỗ từ

Trang 1

QUÝ III - IV/2015

Mạng lướiVNGO - FLEGTTHỰC THI LÂM LUẬT - QUẢN TRỊ RỪNG - THƯƠNG MẠI LÂM SẢN (FLEGT)

TRONG SỐ NÀY

1

Báo động tình trạng sử dụng gỗ bất hợp pháp của các hộ gia đình sản xuất đồ gỗ

8

Khung pháp lý chưa rõ ràng, gỗ rừng trồng

từ hợp pháp thành bất hợp pháp trong bối cảnh việt nam tham gia VPA/FLEGT

VỚI TRUYỀN THỐNG SẢN XUẤT

QUY MÔ NHỎ, VIỆT NAM CÓ RẤT

NHIỀU HỘ GIA ĐÌNH SẢN XUẤT ĐỒ

GỖ SỬ DỤNG NGUỒN NGUYÊN LIỆU

ĐA DẠNG TRONG ĐÓ, GỖ RỪNG

TỰ NHIÊN KHÔNG RÕ NGUỒN GỐC

(KHÔNG CÓ GIẤY TỜ HỢP PHÁP)

ĐƯỢC ƯA CHUỘNG DO GIÁ CẢ “MỀM”,

NGUỒN CUNG LINH HOẠT VÀ DỄ TIẾP

CẬN ĐÂY LÀ THÁCH THỨC LỚN CHO

NGÀNH GỖ VIỆT NAM KHI THAM GIA

HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI GỖ VỚI CHÂU

ÂU LÀ NƠI CÓ HỆ THỐNG QUY ĐỊNH

NGHIÊM NGẶT ĐỂ TĂNG CƯỜNG KHẢ

NĂNG TUÂN THỦ GỖ HỢP PHÁP CỦA

TẾ, CẦN CÓ NHỮNG GIẢI PHÁP HỖ TRỢ NHƯ KHUYẾN KHÍCH HỢP TÁC

ĐỂ MỞ RỘNG QUY MÔ SẢN XUẤT VÀ TĂNG KHẢ NĂNG TIẾP CẬN NGUỒN CUNG GỖ HỢP PHÁP, SONG SONG VỚI

CƠ CHẾ PHỐI HỢP GIÁM SÁT CÁC CƠ

SỞ SẢN XUẤT TẠI ĐỊA PHƯƠNG

Trang 2

ĐƠN GIẢN HÓA THỦ TỤC KÊ KHAI

TRONG KHAI THÁC

Bài viết này tập trung vào việc tuân thủ

các quy định về nguyên liệu gỗ hợp pháp

trong các cơ sở sản xuất đồ mộc quy mô

hộ gia đình Dựa trên kết quả khảo sát tại

các tỉnh Hòa Bình, Nghệ An, Bình Định,

Kon Tum do mạng lưới VNGO-FLEGT thực

hiện năm 2015, bài viết mô tả thực trạng

vi phạm các quy định về gỗ nguyên liệu

của các hộ gia đình, và đề xuất một số giải

pháp hỗ trợ Để người sản xuất tuân thủ

quy định về gỗ hợp pháp đưa vào cơ sở

chế biến Cụ thể, các loại giấy tờ cần có để

chứng minh gỗ hợp pháp là bảng kê lâm

sản (do hộ/ cơ sở trồng rừng lập), hóa đơn

mua hàng có thuế giá trị gia tăng (VAT) (áp

dụng trong trường hợp mua gỗ từ tổ chức)

và Biên bản xác nhận của kiểm lâm (xem

Bảng kê lâm sản (Thông tư 01/2012/ BNNPTNT Điều 12,14,16,20; Thông tư 42/2012/BNNPTNT Điều 1)

Hóa đơn thuế giá trị gia tăng (VAT) (Thông tư 01/2012/BNNPTNT Điều 20) Biên bản xác nhận đóng búa kiểm lâm (áp dụng với gỗ tròn có đường kính đầu lớn >= 25cm và chiều dài >= 1m được khai thác từ rừng tự nhiên và gỗ thuộc loài nguy cấp, quý, hiếm được khai thác từ rừng trồng,

gỗ nhập khẩu trong trường hợp không có dấu búa hoặc ký hiệu đặc biệt của nước xuất khẩu, gỗ sau xử lý tịch thu) (Thông tư 01/2012/BNNPTNT Điều 9)

nay là trung tâm chế biến và xuất khẩu gỗ

lớn nhất Đông Nam Á và thứ sáu trên thế

giới (VNForest 2015) Gỗ nguyên liệu dưới

dạng hộp, ván, thanh… từ nhiều nguồn

cung khác nhau được đưa vào vô vàn

cơ sở sản xuất lớn nhỏ để làm ra các sản

phẩm như đồ dân dụng và công sở, hàng

mỹ nghệ, vật dụng xây dựng… để tiêu thụ

trong nước hoặc xuất khẩu Với cấu trúc sản

xuất đa dạng, phức tạp về nguồn nguyên

liệu, quy mô và cách thức hoạt động, việc

tuân thủ tốt các quy định về gỗ hợp pháp

là nhiệm vụ không dễ dàng

Trang 3

Tuy nhiên, mức độ tuân thủ các quy định

này trên thực tế còn thấp Hiện nay trên

toàn quốc có khoảng vài chục ngàn hộ gia

đình tham gia vào hoạt động sản xuất đồ

gỗ và thường sử dụng nguyên liệu từ nhiều

nguồn khác nhau Trong đó, gỗ không có

giấy tờ chứng minh nguồn gốc hợp pháp

(còn gọi là gỗ trôi nổi), thường là gỗ rừng

tự nhiên, được sử dụng phổ biến Gỗ trôi

nổi được mua với giá rẻ và có thể mua với

số lượng nhỏ lẻ linh hoạt, vì vậy rất phù

hợp với cách thức sản xuất của các hộ gia

Biểu 1: Tỉ lệ hộ sản xuất thiếu giấy tờ pháp lý

kê lâm sản và 41% thiếu biên bản xác nhận đóng búa kiểm lâm (xem chi tiết từng tỉnh

ở Biểu 1)

Trang 4

HIỂU BIẾT QUY ĐỊNH NHƯNG VẪN

“LÀM LIỀU”

Các chủ cơ sở sản xuất đồ gỗ thường có

năng lực tiếp cận thông tin đại chúng, có hiểu

biết các quy định hiện hành về chế biến gỗ hợp

pháp Một số hộ có quan hệ chặt chẽ với chính

quyền địa phương, đặc biệt là các cơ quan chức

năng như UBND, Hạt kiểm lâm, Phòng TNMT…

Kết quả khảo sát ở Nghệ An, Bình Định, Kon

Tum cho thấy 49% chủ hộ hiểu biết về yêu cầu

đối với giấy tờ chứng minh gỗ hợp pháp như

bảng kê lâm sản, hóa đơn, dấu búa kiểm lâm

(mặc dù có thể không biết chính xác tên quy

định, văn bản) Câu hỏi đặt ra là tại sao các cơ

sở cố tình vi phạm quy định, mặc dù biết là có

thể bị kiểm tra và xử phạt.

Trước tiên, ta cần phân tích sâu hơn về

nguồn cung gỗ cho sản xuất đồ mộc Thị trường

gỗ nguyên liệu hiện nay gồm các nguồn cung

chính sau:

i gỗ rừng tự nhiên nhập khẩu chính

ngạch (Lào, Myanma, châu Phi, Nam Mỹ…)

ii gỗ rừng tự nhiên khai thác trái phép hoặc nhập khẩu theo đường tiểu ngạch (còn gọi là gỗ trôi nổi)

iii gỗ rừng tự nhiên bị kiểm lâm tịch thu

và bán đấu giá (phần lớn là gỗ xuất xứ từ nguồn (ii) và được hợp pháp hóa)

iv gỗ rừng trồng và cây phân tán thu mua

từ các hộ trồng rừng ở địa phương Phần lớn các hộ sản xuất nhỏ chỉ có khả năng tiếp cận nguồn cung (ii) và (iv), trong đó

gỗ từ nguồn cung (ii) là bất hợp pháp, không

có giấy tờ chứng minh nguồn gốc Điều này có nghĩa là các hộ chỉ có khả năng mua gỗ trôi nổi với số lượng nhỏ lẻ do đầu nậu cung cấp, hoặc

gỗ rừng trồng và cây phân tán từ các hộ dân trồng rừng ở địa phương Một số hộ muốn mua

gỗ có hóa đơn (để chứng minh tính hợp pháp,

từ đó có thể vận chuyển sản phẩm ra ngoài địa phương) cũng gặp khó khăn do các doanh nghiệp lớn không có thừa gỗ để bán nhỏ lẻ cho các hộ.

Thảo luận nhóm với các hộ sản xuất đồ gỗ ở TP Kon Tum

Nguồn: Do tác giả cung cấp

Trang 5

Hộp 2: Nguồn cung cấp gỗ cho các hộ sản

xuất ở TP Kon Tum

Hộ gia đình anh L.H.S làm nghề mộc ở

thành phố Kon Tum Hộ sử dụng khoảng

6 m3 gỗ tự nhiên năm 2014, hầu hết là gỗ

Sao xanh và Giổi gừng được mua từ xưởng

cưa ở huyện Ngọc Hồi.

Hộ gia đình anh P.T sử dụng khoảng 10 m3

gỗ tự nhiên, chủ yếu là gỗ bìa, ván do đầu

nậu cung cấp và vận chuyển từ huyện Sa

Thầy.

Những trường hợp này là phổ biến ở Kon

Tum, không có giấy tờ pháp lý như nêu

trong Hộp 1 Phần lớn các hộ sản xuất nhỏ

không thể mua gỗ thanh lý đấu giá từ Hạt

kiểm lâm vì lô đấu giá thường cả trăm khối,

đòi hỏi nguồn vốn lớn, nhà xưởng kho bãi

rộng.

NĂNG LỰC THỰC THI LUẬT PHÁP

CÒN THIẾU VÀ YẾU TRONG BỐI CẢNH

HỘI NHẬP THƯƠNG MẠI

Một nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình

trạng vi phạm các quy định của Nhà nước là

năng lực thực thi luật pháp còn thiếu và yếu ở

địa phương Ở cấp huyện, Hạt kiểm lâm là cơ

quan phụ trách chung các hoạt động khai thác,

vận chuyển, chế biến gỗ trên địa bàn Số lượng

Nguyên nhân của tình trạng này là đa phần

các hộ có năng lực và quy mô sản xuất nhỏ

(khoảng vài m3 gỗ/năm), vốn ít, không có kho

bãi chứa nguyên vật liệu, không có thị trường

tiêu thụ lớn, nên chỉ mua gỗ với số lượng nhỏ

lẻ Trong khi đó, gỗ nguyên liệu từ nguồn cung

(i) và (iii) chủ yếu là những đơn hàng lớn, chỉ

những doanh nghiệp lớn mới có khả năng tiếp

cận.

Hạt kiểm lâm không đủ đáp ứng khối lượng công việc Theo quy định, cứ 1000 ha rừng có

01 cán bộ kiểm lâm (Nghị định CP), và 500 ha rừng đặc dụng có 01 công chức kiểm lâm (Nghị định số 117/2010/NĐ-CP) Với diện tích rừng khoảng 13.9 triệu ha (VNForest 2014) thì cần khoảng 16,000 kiểm lâm viên, trong khi cả nước hiện nay có khoảng 12,000 kiểm lâm viên Ở mỗi xã phường có hoạt động sản xuất chế biến gỗ, chỉ có 01 cán bộ kiểm lâm địa bàn chịu trách nhiệm quản lý, giám sát số lượng lớn các hộ sản xuất nhỏ lẻ Với nguồn lực

119/2006/NĐ-và ngân sách Nhà nước có hạn, nhân sự thiếu, trang thiết bị và chế độ lương thưởng chưa thỏa đáng, đây thực sự là vấn đề nan giải cho

hệ thống giám sát thực thi luật ở địa phương Trong bối cảnh hội nhập thương mại quốc

tế, đối diện với những yêu cầu khắt khe về gỗ hợp pháp từ thị trường nhập khẩu chính như Hoa Kỳ, EU … tình trạng vi phạm các quy định hiện hành sẽ ảnh hưởng đến tình hình xuất khẩu gỗ của Việt Nam

Đối với xuất khẩu gỗ, thị trường EU được đánh giá là ổn định, bền vững, và đem lại giá trị thặng dư cao vì EU nhập khẩu sản phẩm gỗ thay vì gỗ tròn, gỗ xẻ ( xem Hộp 3)

Từ tháng 3/2013, EU áp dụng Quy chế

về gỗ, thắt ngặt các yêu cầu về chứng minh nguồn gốc hợp pháp của sản phẩm gỗ nhập cảng EU Theo cam kết, chính phủ Việt Nam sẽ hoàn thành đàm phán hiệp định thương mại

về gỗ với EU trong năm 2016, tuân thủ các tiêu chuẩn nghiêm ngặt về gỗ hợp pháp trên toàn bộ chuỗi cung từ khâu khai thác đến vận chuyển, chế biến, tiêu thụ và xuất khẩu Tuy nhiên, tình trạng thiếu giấy tờ pháp lý để truy xuất nguồn gốc như hiện nay sẽ dẫn đến hệ quả là sản phẩm gỗ của các hộ sản xuất không đảm bảo tính hợp pháp và có thể vi phạm hiệp

Trang 6

Để hỗ trợ các hộ sản xuất quy mô nhỏ thích nghi và phát triển trong bối cảnh Việt Nam chuẩn bị tham gia hiệp định thương mại quốc tế về gỗ, bài viết mạn phép đưa ra một số giải pháp đồng bộ để tăng cường khả năng tuân thủ gỗ hợp pháp như sau:

- Thứ nhất, cần tập trung giải quyết vấn đề gỗ trôi nổi được sử dụng làm nguyên liệu trong các cơ sở chế biến của hộ gia đình Gỗ trôi nổi không có giấy tờ hợp pháp được khai thác trộm từ các khu rừng tự nhiên trong nước hoặc vận chuyển trái phép theo đường tiểu ngạch Chính quyền địa phương cần giám sát và có chế tài xử phạt nghiêm minh các trường hợp mua bán, vận chuyển, chế biến gỗ không có giấy tờ hợp pháp.

- Song song với đó, cần hỗ trợ nhóm hộ chế biến tiếp cận nguồn nguyên liệu gỗ hợp pháp bằng cách xây dựng mô hình tổ nhóm sản xuất hoặc cao hơn là ban quản lý làng nghề Ban quản lý do các hộ chế biến trong làng nghề hoặc cụm công nghiệp bầu chọn ra và có nhiệm vụ điều tiết nguồn nguyên liệu gỗ đầu vào, quản lý lưu trữ kho vận, tiếp cận thị trường đầu ra, cũng như tư vấn hỗ trợ về giấy tờ gỗ hợp pháp Khi hoạt động ở quy mô tập thể, các

hộ chế biến có cơ hội tiếp cận nguồn gỗ hợp pháp thông qua đại diện là ban quản lý

Hộp 3: Kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam vào EU từ 2012 – 2015

Năm 2014, kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ và sản phẩm gỗ vào EU đạt 703 triệu usd, tăng gần

100 triệu usd so với 2013 là 608 triệu usd Kim ngạch xuất khẩu 8 tháng đầu năm 2015 đạt 442 triệu usd EU hiện là thị trường xuất khẩu gỗ lớn thứ tư của Việt Nam.

Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu gỗ vào EU từ 2012 - 2014 bình quân đạt 2.2%/ năm

Nguồn: Forest Trends 2015

Trang 7

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Hiệp định đối tác tự nguyện, Phụ lục 2 về Định nghĩa gỗ hợp pháp (dự thảo 8) VNForest, 2015

Thông tư 01/2012/TT-BNNPTNT quy định hồ sơ lâm sản hợp pháp và kiểm tra nguồn gốc lâm sản Bộ NNPTNT, 2012

Thông tư 42/2012/TT-BNNPTNT sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 01/2012/TT-BNNPTNT Bộ NNPTNT, 2012

Thông tư 35/2011/TT-BNNPTNT hướng dẫn thực hiện khai thác, tận thu gỗ và lâm sản ngoài gỗ Bộ NNPTNT, 2011

Nghị định 119/2006/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của Kiểm lâm 2006

Nghị định 117/2010/NĐ-CP về tổ chức quản lý hệ thống rừng đặc dụng 2010Quyết định 3322/QĐ-BNN-TCLN về việc công bố hiện trạng rừng toàn quốc năm 2013, 2014

Quy chế gỗ Liên minh châu Âu EU, 2013

Báo cáo Thương mại gỗ và sản phẩm gỗ Việt Nam – EU Forest Trends, 2015

- Thứ ba, khi cấp phép kinh doanh cho các cơ sở sản xuất phải kèm theo điều kiện bắt buộc là cam kết chịu trách nhiệm về nguồn gốc gỗ nguyên liệu hợp pháp Cần có cơ chế phối hợp giám sát giữa cơ quan chức năng địa phương và cộng đồng dân sự, khi mà cơ quan chức năng không có đủ nguồn lực để giám sát.

- Thứ tư, về dài hạn, cần có chiến lược phù hợp để tăng cường năng lực thực thi luật pháp

ở cấp địa phương Đặt trong chiến lược bảo vệ phát triển rừng mà chính phủ đề ra, cũng như mục tiêu tăng trưởng thương mại gỗ, thiết nghĩ cần xây dựng đội ngũ kiểm lâm viên đảm bảo về số lượng và chất lượng, trang thiết bị, cơ chế lương thưởng để họ hoàn thành tốt công việc bảo vệ phát triển rừng và đảm bảo kiểm soát chuỗi cung gỗ hợp pháp, là điều kiện tiên quyết để phát triển ngành gỗ Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế

Trang 8

KHUNG PHÁP LÝ CHƯA RÕ RÀNG, GỖ RỪNG TRỒNG TỪ HỢP PHÁP THÀNH BẤT HỢP PHÁP TRONG BỐI CẢNH VIỆT NAM THAM GIA VPA/FLEGT

Hoàng Xuân Đức ( Trung tâm RESED )

THÔNG ĐIỆP CHÍNH

HIỆN NAY, XU THẾ NHIỀU HỘ GIA ĐÌNH TRỒNG

RỪNG LIỀN KỀ NHAU CÙNG BÁN CHO MỘT

THƯƠNG LÁI HOẶC TỰ LIÊN KẾT VỚI NHAU ĐỂ KHAI

THÁC ĐANG DIỄN RA Ở MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG

TUY NHIÊN, KHUNG PHÁP LÝ LẠI CHƯA QUY ĐỊNH

CỤ THỂ VỀ VIỆC LẬP BÁO CÁO ĐÁNH GIÁ TÁC

ĐỘNG MÔI TRƯỜNG (ĐTM) CHO HAI TRƯỜNG

HỢP NÊU TRÊN KHI TỔNG DIỆN TÍCH RỪNG CỦA

CÁC HỘ ĐẠT TỚI TRÊN 200 HA TRONG BỐI CẢNH

HIỆP ĐỊNH VPA/FLEGT CHUẨN BỊ ĐƯỢC KÝ KẾT,

GỖ RỪNG TRỒNG KHAI THÁC VỚI DIỆN TÍCH TẬP

TRUNG LỚN HƠN 200 HA NẾU KHÔNG CÓ QUYẾT

ĐỊNH PHÊ DUYỆT ĐTM SẼ TRỞ THÀNH GỖ BẤT HỢP

PHÁP VÌ VẬY CẦN CÓ CÁC QUY ĐỊNH, HƯỚNG

DẪN CỤ THỂ VỀ VIỆC LẬP BÁO CÁO ĐTM TRONG

1990 lên gần 3,7 triệu ha năm 2014 Trồng rừng đang là một nguồn sinh kế góp phần cải thiện thu nhập cho khoảng 1,4 triệu hộ gia đình Với tốc độ phát triển như vậy, việc phát sinh các tác động tiêu cực đến môi trường trong quá trình trồng, khai thác rừng là khó tránh khỏi Pháp luật Việt Nam quy định, việc khai thác rừng trồng có diện tích tập trung và lớn hơn 200 ha thì bắt buộc phải lập báo cáo ĐTM.

Trang 9

CƠ SỞ PHÁP LÝ CÒN THIẾU CỤ THỂ,

CƠ QUAN THỰC THI CHƯA NẮM RÕ

Khung pháp lý chưa quy định cụ thể cho trường hợp khai thác rừng trồng của nhiều

hộ gia đình liền kề nhau và tổng diện tích lớn hơn 200 ha phải lập báo cáo ĐTM (xem hộp 1) Luật bảo vệ môi trường 2014, Nghị định 18/2015/NĐ-CP quy định lập báo cáo ĐTM đối với dự án khai thác rừng với diện tích từ 200 ha trở lên đối với rừng trồng là rừng sản xuất, áp dụng phương thức chặt trắng, có lô thiết kế khai thác diện tích tập trung Tuy nhiên, những văn bản này không nêu rõ trong các trường hợp (i) cá nhân hoặc tổ chức mua lại rừng trồng của nhiều người có diện tích lớn, liền kề nhau

để khai thác (ii) nhiều hộ gia đình có diện tích liền kề, liên kết với nhau để khai thác diện tích lớn hơn 200 ha

Dựa trên kết quả điều tra ở các tỉnh Hòa

Bình, Nghệ An, Bình Định và Kon Tum (tháng

8/2015), bản tin này chỉ ra rằng trường hợp

nhiều hộ trồng rừng bán lại cho thương lái khai

thác hoặc các hộ gia đình có diện tích liền kề và

lớn hơn 200 ha liên kết với nhau để khai thác

đã và đang diễn ra Tuy nhiên, việc lập báo cáo

ĐTM trong cả hai trường hợp trên đều không

được thực hiện bởi quy định trong khung

chính sách chưa cụ thể về những trường hợp

kể trên, điều này sẽ trở nên cần thiết hơn trong

bối cảnh Việt Nam tham gia hiệp định đối tác

tự nguyện về thực thi Lâm luật, Quản trị rừng

và Thương mại lâm sản (VPA/FLEGT).

Hộp 1: Quy định về bảo vệ môi trường và

hồ sơ khai thác rừng trồng.

1 Đối tượng phải thực hiện ĐTM:

- Các dự án có nguy cơ tác động xấu đến môi trường (Điều 18 Luật bảo vệ môi trường năm 2014)

- Dự án khai thác rừng diện tích 200 ha trở lên đối với rừng trồng là rừng sản xuất áp dụng phương thức chặt trắng, có lô thiết kế khai thác diện tích tập trung (Điều 12 Nghị định số 18/2015/NĐ-CP)

2 Hồ sơ khai thác: bao gồm bản đăng

ký khai thác và bảng dự kiến sản phẩm khai thác (Điều 19 Thông tư số 35/2011/TT- BNNPTNT)

Hình 1: Các điểm nghiên cứu

Trang 10

Ngoài ra, trách nhiệm phê duyệt hồ sơ

khai thác rừng trồng của hộ gia đình có

nguồn vốn do chủ rừng tự đầu tư hoặc

Nhà nước hỗ trợ thuộc thẩm quyền của

UBND cấp xã Nhưng cán bộ phụ trách của

UBND xã lại không nắm được quy định về

việc lập báo cáo ĐTM đối với việc khai thác

rừng trồng có diện tích lớn nên đã không

yêu cầu các chủ khai thác thực hiện nhiệm

vụ này Theo kết quả điều tra, đánh giá tác

động tiềm tàng của VPA đến sinh kế của

các nhóm dễ bị tổn thương tại Nghệ An và

Hà Tỉnh, 100% cán bộ Lâm nghiệp xã được

phỏng vấn đều không năm rõ quy định về

việc lập báo cáo ĐTM khi khai thác rừng

trồng với diện tích lớn hơn 200 ha

KHAI THÁC RỪNG TRỒNG CÓ DIỆN

TÍCH LỚN HƠN 200 HA CÓ XU HƯỚNG

GIA TĂNG KHI NGƯỜI DÂN PHẢI BÁN

CÂY ĐỨNG CHO CÁC THƯƠNG LÁI

Theo kết quả điều tra tại 4 tỉnh chỉ

khoảng 10% các hộ trồng rừng tự khai

thác Các hộ trồng rừng còn lại do không

có đủ nhân lực, máy móc để để khai thác và

không có phương tiện để vận chuyển đến

nơi tiêu thụ nên phải bán cho các thương

lái (xem hộp 2) Các thương lái này là những

cá nhân, tổ chức có tiềm lực kinh tế mạnh,

có kiến thức, kinh nghiệm trong việc khai

thác rừng trồng và có năng lực trong việc

tìm kiếm các đầu ra ổn định Mặt khác khi

rừng đạt tuổi khai thác, các hộ trồng rừng

mong muốn bán được tại thời điểm giá

cả tốt nhất, người khai thác cũng ưu tiên

việc mua của các hộ có diện tích liền kề để

thuận lợi trong khai thác và tiết kiệm chi

phí Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu

mua diện tích rừng lớn, tập trung, quay

vòng vốn nhanh, tiết kiệm được thời gian,

chi phí; các chủ thể này sau khi thu mua

sẽ tổ chức mở đường vận xuất (nếu cần),

tổ chức khai thác được bao nhiêu thì vận chuyển tiêu thụ đến đó

Bên cạnh đó, số lượng các thương lái tại mỗi địa phương là không nhiều Theo kết quả nghiên cứu, tại tỉnh Hòa Bình với tổng diện tích rừng trồng tại 03 huyện nghiên cứu là 17.899 ha, nhưng chỉ khoảng 100 thương lái chuyên mua gỗ rừng trồng trên địa bàn này - trung bình mỗi thương lái sẽ thu mua khoảng 179 ha cho mỗi chu kỳ khai thác Tại Nghệ An với diện tích rừng trồng khu vực nghiên cứu là 15.673 ha và

số lượng thương lái khoảng 70 người, trung bình mỗi thương lái thu mua được khoảng

224 ha Tuy nhiên, với những thương lái có điều kiện kinh tế khá, có đầy đủ máy móc thiết bị và phương tiện vận chuyển thì con

số này sẽ lớn hơn số trung bình nhiều lần Như vậy, trường hợp một thương lái có thể thu gom rừng trồng của nhiều hộ gia đình với diện tích lớn hơn 200 ha để khai thác đang diễn ra ở một số địa phương

Hộp 2: Người trồng rừng phải bán rừng cho thương lái khai thác.

Việc thu mua gỗ rừng trồng vốn quay vòng rất nhanh nên mỗi năm trung bình mua được từ 400-500 ha Chủ yếu mua của các hộ gia đình nhận khoán đất của Lâm trường hoặc Tổng đội thanh niên xung phong, tập trung tại một số xã có diện tích rừng trồng lớn Trong năm 2014, chúng tôi đã mua được cả một tiểu khu với diện tích hơn 220 ha Tại các xã có diện tích rừng trồng nhỏ thì chủ yếu được thu mua bởi các cá nhân nhỏ lẻ khác (theo ông N.Đ.B, huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An)

Trang 11

Người dân không có phương tiện để vận chuyển gỗ khi khai thác

Nguồn: Do tác giả cung cấp

Trang 12

VÀ XU THẾ LIÊN KẾT GIỮA CÁC HỘ

GIA ĐÌNH ĐANG TẠO NÊN DIỆN TÍCH

LỚN KHI KHAI THÁC

Để tránh việc bị các thương lái ép giá và

góp phần nâng cao giá trị kinh tế của rừng

trồng, các hộ trồng rừng ở một số nơi đã

tự liên kết với nhau để mở đường vận xuất,

cùng tổ chức khai thác, thuê phương tiện

để vận chuyển và tiêu thụ Việc mở đường

vận xuất chỉ cần thực hiện cho chu kỳ khai

thác đầu tiên, các chu kỳ sau chỉ cần nâng

cấp sửa chữa trước khi khai thác (xem hộp

3) Đây có thể là giải pháp khả thi cho các

hộ trồng và khai thác rừng, vì vậy trong

tương lai việc áp dụng xu thế này ở nhiều

địa phương là hoàn toàn có thể xảy ra, đặc

biệt là các huyện miền núi có địa hình phức

tạp, giao thông khó khăn

Theo đánh giá của các nhóm nghiên

cứu, trường hợp người dân tự liên kết trong

khai thác rừng trồng tạo nên diện tích tập

trung lớn hơn 200 ha đã xuất hiện tại hầu

hết các huyện nghiên cứu là huyện miền

núi

TRỞ THÀNH GỖ BẤT HỢP PHÁP KHI HIỆP ĐỊNH VPA/FLEGT ĐƯỢC KÝ KẾT

Với hai trường hợp nêu trên, có thể khẳng định rằng: Việc khai thác rừng trồng của nhiều hộ gia đình có diện tích tập trung

và lớn hơn 200 ha đã, đang và sẽ diễn ra trong tương lai

Trong khi đó, dự thảo Định nghĩa gỗ hợp pháp (LD) hiện hành yêu cầu gỗ trong quá trình khai thác với diện tích tập trung lớn hơn 200 ha (đối với rừng trồng) phải có Quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM Khi hiệp định VPA/FLEGT được ký kết, việc khai thác diện tích lớn hơn 200 ha mà không

có Quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM thì khối lượng gỗ khai thác tại những khu vực

đó sẽ trở thành gỗ bất hợp pháp

Hiện tại, các hộ trồng rừng, khai thác rừng gần như không lập bất kỳ hồ sơ gì liên quan đến công tác bảo vệ môi trường

Số liệu điều tra đã chỉ ra rằng 100% các hộ trồng rừng, khai thác rừng không có hồ sơ hoặc không áp dụng việc lập hồ sơ báo cáo ĐTM Trong khi việc các hộ trồng rừng bán cho thương lái khai thác, tiêu thụ cũng như nhiều hộ tự liên kết với nhau trong quá trình khai thác với diện tích lớn hơn 200 ha

đã xuất hiện ở tất cả các tỉnh nghiên cứu

Hộp 3: Xu thế liên kết giữa các hộ gia

đình trong khai thác rừng trồng.

Do không có đường vận xuất, rừng

trồng Keo tại làng chỉ bán được 25-30 triệu/

ha, trong khi giá bán trung bình trên địa

bàn xã khoảng 50 triệu/ha Trong làng hiện

đã có 15 hộ có diện tích liền kề với tổng

diện tích khoảng 209 ha, đã góp tiền để mở

đường, cùng tổ chức khai thác và thuê xe

vận chuyển đi tiêu thụ (theo ông VL, huyện

Hoài Ân, tỉnh Bình Định)

Trang 13

KẾT LUẬN VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ:

Theo quy định hiện hành, gỗ khai thác từ rừng trồng có diện tích tập trung lớn hơn 200

ha nếu không có Quyết định phê duyệt ĐTM sẽ trở thành gỗ bất hợp pháp Bên cạnh đó, Hiệp định VPA/FLEGT mà Việt Nam sẽ sớm ký kết yêu cầu không chỉ gỗ và sản phẩm gỗ xuất khẩu vào thị trường EU phải là gỗ hợp pháp mà gỗ và sản phẩm gỗ tiêu thụ trong thị trường nội địa cũng phải hợp pháp.

Vì vậy, việc tiêu thụ số lượng gỗ bất hợp pháp nói trên sẽ gặp rất nhiều khó khăn và ảnh hưởng đến thu nhập cũng như đời sống của người trồng, khai thác rừng, đặc biệt là người dân ở các huyện miền núi Nhằm đảm bảo quyền lợi của người trồng rừng, khai thác rừng trong tiến trình VPA/FLEGT, cũng như tránh việc các hộ khai thác vi phạm các quy định của pháp luật, chúng tôi đưa ra một số gợi ý chính sách như sau:

- Nghị định 18/2015/NĐ-CP cần làm rõ có hay không việc lập báo cáo ĐTM cho trường hợp mua lại rừng trồng của nhiều hộ gia đình với diện tích tập trung lớn để khai thác hoặc các hộ gia đình có đất liền kề liên kết với nhau để khai thác với diện tích lớn hơn 200 ha.

- Để thực hiện được kiến nghị trên, tại các tỉnh có diện tích rừng trồng lớn, UBND tỉnh cần có các văn bản hướng dẫn cụ thể và phổ biến đến các ban ngành liên quan, chính quyền huyện và xã UBND cấp huyện, UBND cấp xã, Hạt kiểm lâm và các chủ rừng là tổ chức cần nắm rõ danh sách các hộ trồng rừng để tuyên truyền nâng cao nhận thức về quy định

gỗ hợp pháp; đặc biệt là các cá nhân, tổ chức trên địa bàn thường xuyên thu mua rừng trồng để khai thác

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Báo cáo nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng tiêu chuẩn gỗ hợp pháp (LD) của các hộ gia đình tại các tỉnh: Hòa Bình, Nghệ An, Bình Định và Kon Tum Báo cáo tác động của quản lý rừng dựa vào cộng đồng (CBFM) đến sinh kế của người dân tại huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An

Trang 14

THÔNG ĐIỆP CHÍNH

QUY ĐỊNH VỀ MÔI TRƯỜNG VÀ AN TOÀN LAO

ĐỘNG (MT VÀ ATLĐ) CHO CƠ SỞ CHẾ BIẾN HỘ

GIA ĐÌNH ĐÃ CÓ NHƯNG QUÁ TRÌNH THỰC THI

CÒN LỎNG LẺO VÀ THIẾU TOÀN DIỆN DO CÁC

CHỦ HỘ THIẾU VỐN ĐẦU TƯ VÀ CÁC CƠ QUAN

QUẢN LÝ CHƯA GIÁM SÁT HIỆU QUẢ ĐIỀU NÀY

ẢNH HƯỞNG XẤU ĐẾN SỨC KHỎE NGƯỜI LAO

ĐỘNG, SỨC KHỎE CỘNG ĐỒNG, GÂY Ô NHIỄM

MÔI TRƯỜNG VÀ TĂNG TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG

CỦA NHÓM HỘ CHẾ BIẾN KHI VIỆT NAM KÝ KẾT

HIỆP ĐỊNH VPA - FLEGT ĐỂ GIẢI QUYẾT TÌNH TRẠNG

TRÊN GÓP PHẦN THỰC HIỆN THÀNH CÔNG SÁNG

KIẾN FLEGT THÌ CẦN CÓ NHỮNG CHÍNH SÁCH HỖ

TRỢ VỐN CHO CHỦ CƠ SỞ VÀ ĐẶC BIỆT LÀ TĂNG

CƯỜNG GIÁM SÁT THỰC THI CÁC QUY ĐỊNH VỀ

MT VÀ ATLĐ

GIỚI THIỆU

Việt Nam đang trong quá trình đàm phán

Hiệp định đối tác tự nguyện (VPA) với Liên

minh Châu Âu về “Thực thi lâm luật, quản

trị rừng và thương mại lâm sản- FLEGT” Hai

phụ lục quan trọng của VPA là Định nghĩa

gỗ hợp pháp (LD) và Hệ thống đảm bảo gỗ

hợp pháp (TLAS) đặt ra những yêu cầu về

MT và ATLĐ trong quá trình chế biến Tuy

nhiên vẫn còn một khoảng cách lớn giữa

những quy định và việc thực thi những

quy định đó Kết quả nghiên cứu của dự

án EU- FLEGT tại 4 tỉnh Hòa Bình, Nghệ An,

Bình Định, Kon Tum (xem Hình 1) từ tháng

6 – 10/2015 cho thấy các cơ sở chế biến hộ

gia đình chưa đáp ứng các quy định về MT

AN TOÀN LAO ĐỘNG VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

- HAI YẾU TỐ “CẦN” CHO GỖ HỢP PHÁP

Nguyễn Thị Dung (Trung tâm Hợp tác Phát triển Tây Bắc) Nguyễn Quang Tân (Trung tâm vì Con người và Rừng)

và ATLĐ Điều này ảnh hưởng xấu đến sức khỏe cộng đồng, gây ô nhiễm môi trường

và làm tăng tính dễ bị tổn thương cho hộ chế biến trong tiến trình thực hiện VPA Để giải quyết những vấn đề trên chúng tôi đề xuất một số chính sách tăng cường giám sát thực thi và hỗ trợ các hộ thực thi quy định về MT và ATLĐ

Hình 1: Các điểm nghiên cứu

Trang 15

TÌNH HÌNH THỰC THI QUY ĐỊNH MÔI

TRƯỜNG VÀ AN TOÀN LAO ĐỘNG CỦA

HỘ CHẾ BIẾN ĐANG Ở MỨC BÁO ĐỘNG

Trong quá trình phát triển của ngành

chế biến gỗ Việt Nam, các cơ sở chế biến

gỗ quy mô hộ gia đình đã hình thành và

đang nhanh chóng phát triển ở nhiều địa

phương Để các cơ sở chế biến hộ gia đình

sản xuất an toàn và phát triển bền vững

không thể không tính đến các biện pháp

bảo vệ MT và ATLĐ Các văn bản pháp luật

cũng đã đề cập đến vấn đề trên (Xem hộp

1) Theo đó, chủ các cơ sở chế biến gỗ cần

phải đăng ký bản cam kết bảo vệ MT và

cam kết này phải được thừa nhận bằng Văn

bản chấp nhận bản cam kết bảo vệ MT do

UBND huyện hoặc UBND xã cấp

Trên thực tế rất ít hộ có văn bản chấp nhận

bản cam kết bảo vệ MT, số còn lại không

những không có mà còn không hề hay biết gì

đến quy định này Nguy hại hơn là tình trạng

vi phạm cam kết bảo vệ môi trường diễn ra

rất phổ biến Ví dụ như chất thải sinh ra trong

quá trình xẻ, cưa, bào, trà nhám không có hệ

thống thu gom xử lý mà thải trực tiếp ra môi

trường gây ô nhiễm Các xưởng chế biến nhỏ

lẻ được đặt ngay tại nhà, liền kề khu dân cư

gây tiếng ồn ảnh hưởng đến sinh hoạt của

2 Quy định về an toàn - vệ sinh lao động (Bộ Luật Lao động 2012: Chương

IX, khoản 1 điều 137, điều 138 Luật lao động 10/2012/QH13)

3 Quy định về phòng cháy, chữa cháy (Điều 9, 16, 17 Nghị Định số 35/2003/NĐ-CP)

Tương tự như vậy, việc thực thi các quy định về ATLĐ của các chủ chế biến gỗ cũng rất hạn chế Kết quả cuộc điều tra tại gần 200

cơ sở chế biến gỗ nhỏ lẻ tại Hòa Bình, Nghệ

An, Bình Định và Kon Tum cho thấy những con số đáng báo động: 70% số hộ không có nội quy về PCCC; 78% số hộ không có nội quy về ATLĐ (xem chi tiết ở biểu đồ 1) Đó là chưa kể đến số hộ có nội quy nhưng sử dụng không hiệu quả do đặt ở những nơi không ai nhìn thấy hoặc đã quá cũ mờ, bụi phủ

Biểu đồ 1: Tỉ lệ hộ không có nội quy PCCC & ATLĐ theo tỉnh

Bình Định Kon Tum Hòa Bình Trung bình 4 tỉnh Nghệ An

Trang 16

Khi được hỏi về các biện pháp bảo vệ MT

và ATLĐ, 100% công nhân đều cho biết họ

chưa từng tham gia một khóa huấn luyện

về bảo vệ MT và ATLĐ trong chế biến gỗ

Mọi thao tác chế biến chủ yếu được dựa

trên kinh nghiệm của người thợ chính và

chủ cơ sở sản xuất Công nhân không được

trang bị đầy đủ thiết bị bảo hộ lao động

như găng tay, khẩu trang, kính bảo hộ, tai

nghe chống ồn…Máy móc thiết bị trong

các xưởng chế biến gỗ hộ gia đình chủ yếu

Ảnh 1: Lưỡi cưa đứt đột ngột trong quá trình chế biến gỗ gây mất an toàn cho người lao động là chuyện thường tình

Nguồn: Do tác giả cung cấp

là loại tự lắp đặt, thiếu cơ cấu che chắn, bảo

vệ nên không đảm bảo ATLĐ (xem ảnh 1) Các xưởng không có những hướng dẫn cần thiết cho công nhân về cách vận hành an toàn Tại nhiều xưởng, máy cưa vòng nằm vẫn được vận hành để xẻ gỗ trong tình trạng có thể gây rủi ro cho công nhân Hệ thống điện tại các xưởng chế biến cũng chưa đảm bảo, dễ gây cháy nổ, ảnh hưởng đến ATLĐ

Ngày đăng: 09/12/2017, 16:10

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm