1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

TAI LIEU ON THI TOT NGHIEP LOP K61-2015

135 139 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 135
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TAI LIEU ON THI TOT NGHIEP LOP K61-2015 tài liệu, giáo án, bài giảng , luận văn, luận án, đồ án, bài tập lớn về tất cả c...

Trang 1

ÔN THI TỐT NGHIỆP LỚP TRUNG CẤP CT-HC K61 Khối thi kiến thức 1

PHẦN I.1 – NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN - CÔ HIẾU

Bài 1: Những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng:

1 Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức

a Định nghĩa vật chất, ý thức:

- “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác” (V.I.Lênin toàn tập, T.18, NXB Tiến bộ, Matxcơva, 1980, tr.151)

- Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc con người, là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan

b Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức thể hiện mấy quan điểm sau:

- Vật chất có trước ý thức, vật chất quyết định ý thức + Ý thức là một thuộc tính của một dạng vật chất sống có tổ chức cao, tổ chức đặc biệt: bộ

óc người Không có bộ óc người thì không có ý thức

+ Ý thức phụ thuộc vào hoạt động thần kinh của bộ não trong quá trình phản ánh thế giới khách quan

+ Vật chất còn là cơ sở, nguồn gốc của những nội dung mà ý thức phản ánh, nghĩa là vật chất quyết định nội dung phản ánh của ý thức

- Ý thức tác động trở lại đối với vật chất theo hai hướng: tích cực hoặc tiêu cực + Nếu ý thức phản ánh đúng hiện thực khách quan thì nó thúc đẩy hoạt động thực tiễn của con người

+ Nếu ý thức phản ánh không đúng hiện thực khách quan thì ở một mức độ nhất định nó

sẽ kìm hãm hoạt động thực tiễn của con người

2 Ý nghĩa phương pháp luận từ mối quan hệ giữa vật chất và ý thức

- Quán triệt quan điểm khách quan trong nhận thức và cải tạo thế giới

+ Phải nhận thức sự vật vốn như nó có, không “tô hồng, bôi đen”

+ Phải xuất phát từ điều kiện, hoàn cảnh thực tế; tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan; phải luôn xuất phát từ chính bản thân sự vật, chống chủ nghĩa chủ quan/

Trang 2

- Trong hoạt động thực tiễn phải biết phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức, phát huy vai trò nhân tố của con người trong việc nhân thức,tác động cải tạo thế giới Quan điểm khách quan trên giúp ta ngăn ngừa và khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí

3 Ý nghĩa của vấn đề này đối với quá trình đổi mới ở nước ta hiện nay? (vận dụng)

Ở nước ta, trong thời kỳ trước đổi mới Đảng ta đã nhận định rằng chúng ta mắt bệnh chủ quan duy ý chí trong việc xác định mục tiêu và bước đi trong việc xây dựng vật chất kỹ thuật

và cải tạo xã hội chủ nghĩa; về bố trí cơ cấu kinh tế; về việc sử dụng các thành phần kinh tế… Trong những năm 1976-1980 trên thực tế chúng ta chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hoá trong khi chưa có đủ các tiền đề cần thiết đó là lực lượng sản xuất còn nhỏ bé, chưa phát triển, còn chủ yếu là sản xuất nhỏ, lạc hậu, kinh tế hàng hoá chưa phát triển Chúng ta chỉ muốn đẩy nhanh quá trình xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho Chủ Nghĩa Xã Hội mà không tính đến điều kiện thực tế của đất nước

Trong bố trí cơ cấu kinh tế,trước hết là cơ cấu sản xuất và đầu tư, thường chỉ xuất phát từ mong muốn đi nhanh, không tính đến điều kiện và khả năng thực tế đề ra những chỉ tiêu kế hoạch hoá cao về xây dựng cơ bản và phát triển sản xuất

Trong cải tạo xã hội chủ nghĩa,sử dụng các thành phần kinh tế, đã có hiện tượng nóng vọi muốn xoá bỏ ngay các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa, nhanh chống biến kinh tế tư bản tư nhân thành quốc doanh trong khi đúng ra là phải duy trì thực hiện phát triển các thành phần kinh tế theo từng bước đi thích hợp, phù hợp với thời kỳ quá độ trong một thời gian tương đối dài để phát triển lực lượng sản xuất

Nguyên nhân của căn bệnh chủ quan duy ý chí trên là do sự lạc hậu,yếu kém về lý luận,

do tâm lý của người sản xuất nhỏ và do chúng ta kéo dài chế độ quan liêu bao cấp

Văn kiện Đại Hội toàn quốc lần thứ 6 của Đảng ta đã nêu lên bài học: “Đảng ta luôn luôn xuất phát từ thực tế,tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan Năng lực nhận thức và hành động theo quy luật là điều kiên đảm bảo sự lảnh đạo đúng đắn của Đảng” (VKĐH VI) Chúng ta biết rằng quan điểm khách quan đòi hỏi trong nhận thức và hoạt động thực tiễn phải xuất phát từ bản thân sự vật hiện tượng,phải thừa nhận và tôn trọng tính khách quan của vật chất, của các quy luật tự nhiên và xã hội, không được xuất phát từ ý muốn chủ quan Bài học mà Đảng ta đã nêu ra, trước hết đòi hỏi Đảng nhận thức đúng đắn và hành động phù hợp với hệ thống quy luật khách quan Tiếp tục đổi mới tư duy lý luận, nhất là tư duy về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta Đó là xây dựng CNXH bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa cho nên phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài nhiều chặn đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế xã hội có tính chất quá độ

Mỗi chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước phải xuất phát từ thực tế khách quan của đất nước và phù hợp quy luật Chúng ta biết rằng ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan trong quá trình con người cải tạo thế giới Do đó càng nắm bắt thông tin về thực tế

Trang 3

khách quan chính xác, đầy đủ trung thực và sử lý các thông tin ấy một cách khoa học thì quá trình cải tạo thế giới càng hiệu quả.Đồng thời cần thấy rằng sức mạnh của ý thức là ở năng lực nhận thức và vận dụng tri thức cũng như các quy luật của thế giới khách quan

Xuất phát từ mối quan hệ biên chứng giữa vật chất và ý thức Đảng ta xác định: “Đảng phải luôn luôn xuất phát từ thực tế tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan” là xác định vai trò quyết định của vật chất (thế giới khách quan): “Năng lực nhận thức và hành động theo quy luật là điều kiện đảm bảo sự lảnh đạo đúng đắn của Đảng “là khẳng định vai trò tích cực của ý thức trong việc chỉ đạo hành động con người Như vậy, từ chủ nghĩa Mác-Lênin về mối quan hệ vật chất và ý thức, cũng như từ những kinh nghiệm thành công và thất bại trong quá trình lảnh đạo cách mạng nước ta, Đảng ta đả rút ra bài học trên

Bài học ấy có ý nghĩa thời sự nóng hổi trong quá trình đổi mới đất nước Hiện nay, trong tình hình đổi mới của cục diện thế giới và của cách mạng ở nước ta đòi hỏi Đảng ta không ngừng phát huy sự hiệu quả lảnh đạo của mình thông qua việc nhận thức đúng, tranh thủ đươc thời cơ do cách mạng khoa học công nghệ, do xu thế hội nhập và toàn cầu hoá đem lại, đồng thời xác định rõ những thách thức mà cách mạng nước ta phải đối mặt

Bài 2: Những vấn đề cơ bản của CN duy vật lịch sử:

1 Khái niện:

- PTSX là cách thức con người thực hiện quá trình sản xuất vật chất trong từng giai đoạn lịch sử nhất định của xã hội

PTSX chính là sự thống nhất giữa LLSX ở một trình độ nhất định với QHSX tương ứng

- LLSX là biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong quá trình sản xuất

- QHSX là quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất vật chất Quan hệ sản xuất được cấu thành từ quan hệ sở hữu về TLSX, quan hệ hệ tổ chức – quản lý, quan hệ phân phối sản phẩm lao động, trong đó quan hệ sở hữu vế TLSX đóng vai trò quyết định

2 Quy luật về sự phù hợp của QHSX với trình độ phát triển của LLSX

- Sự vận động và phát triển của LLSX quyết định và làm thay đổi QHSX cho phù hợp với

- QHSX có tính độc lập tương đối và có tác động trở lại đối với LLSX

- QHSX phù hợp với sự phát triển của LLSX có tác dụng thúc đẩy LLSX phát triển, ngược lại QHSX không phù hợp với LLSX, lạc hậu hoặc vượt trước sẽ có tác dụng kìm hãm

sự phát triển của LLSX Khi đó theo quy luật chung QHSX củ sẽ được thay thế bằng QHSX mới phù hợp với sự phát triển của LLSX

3 Liên hệ với quá trình phát triển theo định hướng XHCN ở Việt Nam:

Trang 4

Trước thời kỳ đổi mới năm 1986, việc nhận thức và vận dụng Quy luật trên vào nước ta

đã mắc phải những sai làm, chủ quan, lệch lạc cụ thể:

Một là xóa bỏ chế độ sở hữu tư nhân về TLSX một cách ồ ạt, trong khi chế độ đó đng tạo địa bàn cho sự phát triển của LLSX

Hai là xây dựng chế độ công hữu về TLSX một cách tràn lan, trong khi trình độ của LLSX còn thấp kém và phát triển không đồng đều

Vội vàng áp đặt một QHSX cao hơn sự phát triển của LLSX là trái với Quy luật

Trong xây dựng QHSX mới ( QHSX XHCN) chúng ta chỉ mới xác lập được chế độ sở hữu còn hình thức tổ chức quản lý và cách thức phân phối chưa được giải quyết một cách đúng đắn

Những sai lầm trên đã đẩy nến kinh tế nước ta rơi vào tình trạng trì trệ, khung hoảng Ý thức được điều đó, thời kỳ đổi mới Đảng đã chủ trương chuyển từ một nền kinh tế thuần nhất XHCN sang nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng XHCN

Chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định hương XHCN ở nước ta là vận dụng một cách đung đắn và sáng tạo quy luật QHSX phù hợp với trình đô phát triển của LLSX Chủ trương đó bắt nguồn từ thực trạng trình độ phát triển của LLSX còn thấp và chưa phát triển đồng đều đẻ khai thác, phát huy hét mọi năng lực, LLSX phải tạo lập nhiều loại hình QHSX thì mới phù hợp

Hiện nay nền kinh tế nước ta như Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI đã chỉ rõ các thành phần kinh tế: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Các thành phần kinh tế hoạt động theo phát luật đều là bộ phận hợp thành quan trong của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế, tạo môi trường và điều kiện thúc đẩy các thành phần kinh tế khác cùng phát triển

Sự vận dụng đúng đắn, sáng tạo quy luật về sự phù hợp giữa QHSX với trình độ phát triển của LLSX trong thời kỳ đổi mới đã làm cho nền kinh tế nước ta có những bước phát triển vượt bậc Nền kinh tế thoát khỏi khủng hoảng, tạo đà cho sự phát triển, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao

Bài 5: Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân (không soạn, không có trong thi)

Bài 7: Liên minh công – nông – trí thức trong thời kỳ quá độ lên CNXH

1 Khái niệm: Liên minh công – nông – trí thức là sự đoàn kết, hợp lực, hợp tác…của công nhân, nông dân và đội ngũ trí thức nhằm thực hiện nhu cầu và lợi ích của mỗi lực lượng

và của cả khối liên minh; đồng thời góp phần thực hiện lợi ích chung của dân tộc, của sự nghiệp xây dụng chủ nghĩa xã hội

Trang 5

2 Những nội dung cơ bản của khối liên minh công – nông trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

1 Nội dung chính trị của liên minh công – nông – trí thức trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

Là sự đoàn kết, hợp lực của Công nhân, Nông dân, Tri thức để thực hiện các nhiệm vụ chính trị nhằm bảo vệ độc lập dân tộc, bảo vệ chế độ chính trị để giữ vững định hướng đi lên CNXH

- Giữ vững lập trường chính trị của GCCN (độc lập dân tộc gắn liền với CNXH)

- Giữ vững vai trò lãnh đạo của ĐCS đối với khối liên minh trong quá trình xây dựng và bảo vệ chế độ chính trị, giữ vững độc lập dân tộc, định hướng đi lên CNXH

- Tăng cường đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị

2 Nội dung kinh tế của liên minh công – nông – trí thức trong thời kỳ quá độ lên chủ

nghĩa xã hội (Nội dung này quan trọng nhất)

- Một là, xác định đúng tiềm lực kinh tế và nhu cầu kinh tế của công nhân, nông dân, trí thức và toàn xã hội, trên cơ sở đó xây dựng kế hoạch đầu tư và tổ chức triển khai các hoạt động kinh tế đúng trên tinh thần đảm bảo lợi ích của các bên và tránh sự đầu tư không hiệu quả, lãng phí

- Hai là, tổ chức các hình thức giao lưu, hợp tác, liên kết kinh tế giữa công nghiệp – nông nghiệp- khoa học và công nghệ; giũa các ngành kinh tế; các thành phần kinh tế, các vùng kinh tế; giữa trong nước và quốc tế để phát triển sản xuất kinh doanh, nâng cao đời sống cho công nhân, nông dân, trí thức và toàn xã hội

- Ba là, nâng cao hiệu quả việc chuyển giao và ứng dụng khoa học – kỹ thuật và công nghệ tiên tiến vào quá trình sản xuất kinh doanh nông nghiệp và công nghiệp nhằm gắn kết chặt chẽ ba lĩnh vực kinh tế cơ bản của quốc gia, qua đó gắn bó chặt chẽ công nhân, nông dân

và trí thức làm cơ sở kinh tế - xã hội cho sự phát triển cảu quốc gia

3 Nội dung văn hóa, xã hội của liên minh công – nông – trí thức trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

- Nội dung văn hóa, xã hội của liên minh thực chất là sự đoàn kết, hợp lực của công nhân, nông dân, trí thức nhằm xầy dựng nền văn hóa mới và con người mới xã hội chủ nghĩa

- Nội dung văn hóa, xã hội của liên minh đòi hỏi:

+ Phải đảm bảo kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, tiến bộ và công bằng xã hội; xây dựng nền văn hóa mới xã hội chủ nghĩa; bảo vệ môi trường sinh thái; xây dựng nông thôn mới; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, trong đó công nhân, nông dân, trí thức là nguồn nhân lực quan trọng và cơ bản nhất của quốc gia

Trang 6

+ Phải thực hiện xóa đói giảm nghèo; thực hiện tốt các chính sách xã hội đối với công nhân, nông dân, tri thức; chăm sóc sức khỏe và nâng cao chất lượng sống cho nhân dân; nâng cao dân trí

- Đây là nội dung cơ bản, lâu dài tạo điều kiện cho liên minh phát triển bền vững

3 Vấn đề liên minh công – nông – trí thức ở địa phương (327)

a Thành tựu:

Xác định đây là vấn đề có tính nguyên tắc, chiến lược của cách mạng Việt Nam, Đảng ta chỉ rõ: “Đại đoàn Kết toàn Dân tộc trên nền tảng liên minh Giai cấp công nhân với Giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, dưới sự lãnh đạo của Đảng, là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam; là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”

Thực tế, cuộc Cách mạng Dân tộc Dân chủ Nhân dân và thời kỳ quá độ lên CNXH hiện nay, GCCN luôn liên minh chặt chẽ với GCND và đội ngũ trí thức  giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc tiến tới xây dựng và bảo vệ đất nước đi theo định hướng XHCN

b Hạn chế: có những lúc, những nơi và ở các mức độ khác nhau, liên minh giữa các lực lượng này còn bị xem nhẹ hoặc chưa thực hiện đúng mức Chẳng hạn:

- GCCN: số lượng còn hạn chế, một bộ phận công nhân có tay nghề chưa cao, ý thức giác ngộ giai cấp, tính tổ chức kỷ luật còn hạn chế

- GCND: sự hỗ trợ, liên kết của công nghiệp và của khoa học – công nghệ chưa chặt chẽ

 hiệu quả sản xuất nông nghiệp nhiều địa phương chưa cao (số lượng, chất lượng); lợi ích của nông dân ở nhiều nơi chưa được coi trọng, đời sống nông dân còn nhiều khó khăn

- Đội ngũ trí thức: số lượng ít; hoạt động nghiên cứu khoa học nhiều khi xa rời thực tiễn, tính ứng dụng vào công nghiệp, nông nghiệp chưa cao, chưa kịp thời, tình trạng chảy máu chất xám, lãng phí chất xám còn diễn ra phổ biến

c Phương hướng, giải pháp: (329)

- Quán triệt và thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng về xây dựng GCCN, GCND và đội ngũ trí thức

- Tiếp tục đẩy mạnh CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn, xây dựng nông thôn mới là phương thức căn bản và quan trọng để thực hiện liên minh Công-Nông-Trí thức ở Việt Nam hiện nay

- Tiếp tục đổi mới hệ thống chính trị ở cơ sở và thực hiện tốt Quy chế dân chủ, Pháp lệnh dân chủ ở cơ sở

Trang 7

- Kiện toàn và nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức CT-XH, tổ chức nghề nghiệp

của CN-ND-TT

PHẦN I.2 – TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

BÀI 8: NGUỒN GỐC, QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG HCM

1 Khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh (Trang 88-Cuốn sách màu Tím):

Năm 2011, trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung và phát triển), Đảng ta đã khái quát khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh như sau:

“Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề

cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi”

2 Nguồn gốc tư tưởng Hồ Chí Minh.(4 nguồn gốc)

a Giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam

Dân tộc Việt Nam trong hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước đã tạo lập cho mình một nền văn hóa riêng, phong phú và bền vững với những truyền thống tốt đẹp và cao quý

- Trước hết, đó là chủ nghĩa yêu nước và ý chí bất khuất, tự lực tự cường trong đấu tranh dựng nước và giữ nước Chủ nghĩa yêu nước là dòng chủ lưu chảy xuyên suốt trường kỳ lịch

sử Việt Nam, là chuẩn mực cao nhất trong bảng giá trị văn hóa – tinh thần việt Nam Mọi học thuyết đạo đức, tôn giáo từ nước ngoài du nhập vào Việt Nam đều được tiếp nhận khúc xạ qua lăng kính của tư tưởng yêu nước đó

- Thứ hai, là tinh thần cộng đồng, đoàn kết, ý thức dân chủ xuất hiện trong quá trình dựng nước, giữ nước và trở thành giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Bước sang thế kỷ XX, mặc dù xã hội Việt Nam đã có sự biến đổi sâu sắc về cơ cấu giai cấp – xã hội, nhưng truyền thống này vẫn bền vững Hồ Chí Minh đã kế thừa, phát huy sức mạnh của truyền thống nhân nghĩa, đoàn kết, tương thân tương ái thể hiện tập trung trong bốn chữ “đồng” (đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh)

- Thứ ba, dân tộc Việt Nam là dân tộc cần cù, dũng cảm, thông minh, sáng tạo, ham học hỏi và mở rộng cửa đón nhận tinh hoa văn hóa của nhân loại Người việt Nam từ xưa đã rất

xa lạ với đầu óc hẹp hòi, thủ cựu, thói bài ngoại cực đoan Trên cơ sở giữ vững bản sắc của dân tộc, nhân dân ta đã biết chọn lọc, tiếp thu, cải biến những cái hay, cái tốt, cái đẹp của người thành những giá trị riêng của mình Hồ Chí Minh là hình ảnh sinh động và trọn vẹn của truyền thống đó

Trang 8

b Tinh hoa văn hóa phương Đông và phương Tây:

- Tư tưởng văn hóa phương Đông

+ Nho giáo: Nho giáo có những yếu tố duy tâm, lạc hậu, nhưng nho giáo cũng có nhiều yếu tố tích cực, nên có ảnh hưởng khá lâu dài trong lịch sử Đó là triết lý hành động, tư tưởng nhập thế, hành đạo, giúp đời; lý tưởng về một xã hội bình trị; triết lý nhân sinh: tu thân dưỡng tính góp phần đề cao văn hóa, lễ giáo, đề cao tinh thần hiếu học

+ Phật giáo: Phật giáo có tư tưởng vị tha, từ bi, bác ái, cứu khổ, cứu nạn, thương người như thể thương thân; xây dựng nếp sống có đạo đức, trong sạch, giản dị, chăm lo làm điều thiện; đề cao tinh thần bình đẳng, tinh thần dân chủ chất phác chống lại mọi phân biệt đẳng cấp Phật giáo Thiền tông coi trọng lao động, chống lười biếng

- Tư tưởng và văn hóa phương Tây

+ Tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái của văn hóa phương Tây đã tác động mạnh mẽ tới suy nghĩ và hành động của Hồ Chí Minh (đó là những tư tưởng cơ bản của chủ nghĩa dân tộc và nhân văn trong cách mạng tư sản Mỹ và Pháp: quyền dân tộc, quyền con người và tư tưởng dân chủ)

+ Hồ Chí Minh hình thành phong cách dân chủ của mình từ trong cuộc sống thực tiễn Người học được cách làm việc dân chủ trong cách sinh hoạt khoa học ở Câu lạc bộ Phôbua (Faubourg), trong sinh hoạt chính trị của Đảng xã hội Pháp

Tóm lại, nhờ sự thông minh, óc quan sát, ham học hỏi và được rèn luyện trong phong trào công nhân Pháp, trên hành trình cứu nước Hồ Chí Minh đã biết làm giàu trí tuệ của mình bằng vốn trí tuệ của thời đại, của văn hóa Đông, Tây, từ tầm cao củ tri thức nhân loại mà suy nghĩ và lựa chọn, kế thừa và đổi mới, vận dụng và phát triển

c Chủ nghĩa Mác - Lênin, cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của tư tưởng Hồ Chí Minh

- CN Mác-Lênin là cơ sở, nguồn gốc lý luận chủ yếu nhất hình thành và phát triển tư tưởng HCM

- Tư tưởng HCM là sự vận dụng sáng tạo, phát triển CN Mác-Lênin trong thời đại mới

 CN Mác-Lênin cung cấp thế giới quan và phương pháp luận mácxít, giúp Hồ Chí Minh

có sự chuyển biến về chất nhận thức cách mạng của mình để có thể tiếp thu và chuyển hóa những giá trị tích cực, tiến bộ của tinh hoa văn hóa nhân loại và từ đó hình thành nên một hệ thống những quan điểm về cách mạng Việt Nam, hình thành nên tư tưởng HCM về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người

d Trí tuệ và hoạt động thực tiễn của Hồ Chí Minh

Trang 9

- Trước hết, đó là tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo, cộng với đầu óc phê phán tinh tường, sáng suốt trong nghiên cứu, tìm hiểu

- Đó là sự khổ công học tập nhằm chiếm lĩnh vốn tri thức phong phú của thời đại, vốn kinh nghiệm đấu tranh của phong trào giải phóng dân tộc, phong trào công nhân quốc tế

- Đó là ý chí của một nhà yêu nước, một chiến sĩ cộng sản nhiệt thành cách mạng, một trái tim yêu nước, thương dân, thương yêu những người cùng khổ sẵn sàng chịu đựng những hy sinh cao nhất vì độc lập của tổ quốc, vì tự do, hạnh phúc của đồng bào

Chính những phẩm chất cá nhân cao đẹp đó đã quyết định việc Hồ Chí Minh tiếp nhận, chọn lọc, chuyển hóa phát triển những tinh hoa của dân tộc và thời đại thành tư tưởng đặc sắc của mình

3 Nghiên cứu không ra thi

Bài 9: TTHCM về độc lập dân tộc gắn liền với CNXH

1 Quan niệm của HCM về độc lập dân tộc (362)

a Độc lập dân tộc phải là một nền độc lập thực sự

- Các quyền dân tộc cơ bản được đảm bảo

- Dân tộc đó có quyền tự quyết định trên tất cả các lĩnh vực (đối nội, đối ngoại)

b Độc lập dân tộc là quyền thiêng liêng của dân tộc

- Đây là quyền của tất cả các dân tộc trên thế giới

- Mỗi người dân có trách nhiệm giữ gìn, bảo vệ nền độc lập của dân tộc mình

c Độc lập dân tộc phải gắn liền với hòa bình

- Chỉ có độc lập thực sự mới có nền hòa bình chân chính

- Chỉ có hòa bình chân chính mới có được độc lập hoàn toàn

d Độc lập dân tộc phải đi tới tự do, hạnh phúc cho nhân dân

- Độc lập dân tộc phải gắn với tự do, hạnh phúc của nhân dân

- Khẳng định chân lý “không có gì quý hơn độc lập, tự do”

2 Quan niệm của HCM về CNXH (363)

a Về đặc trưng bản chất của CNXH:

- CNXH là làm cho dân giàu, nước mạnh, ai cũng có công ăn, việc làm, được ăn no, mặc

ấm, được học hành, các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết, giúp đỡ lần nhau

Trang 10

- Về mặt phân phối sản phẩm: CNXH là ai làm nhiều thì hưởng nhiều, làm ít thì hưởng ít,

ai có sức lao động mà không làm thì không hưởng, người già, đau yếu, tàn tật và trẻ em thì được xã hội và cộng đồng có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng

- Trong CNXH, văn hóa, KHKT, chính trị và kinh tế, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được quan tâm và ngày càng được nâng cao

- Về mặt đối ngoại, CNXH là hòa bình, hữu nghị, làm bạn với tất cả các nước

b Về mục tiêu của CNXH:

- Về chế độ chính trị: xây dựng chế độ do nhân dân là chủ và làm chủ

- Về kinh tế: xây dựng nền kinh tế XHCN trên cơ sở công hữu về TLSX

- Về văn hóa: phát triển văn hóa là mục tiêu quan trọng của CNXH (ngang hàng với kinh

tế, chính trị, xã hội)

- Về quan hệ xã hội: xây dựng cho được mối quan hệ tốt đẹp giữa người với người

c CNXH tạo cơ sở củng cố và giữ vững độc lập dân tộc:

- Xóa bỏ nguyên nhân kinh tế sâu xa của tình trạng người bóc lột người do chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất gây ra

- CNXH thực hiện cuộc cách mạng về kinh tế, văn hóa, khoa học và kỹ thuật

d Những điều kiện đảm bảo cho độc lập dân tộc gắn liền với CNXH ở Việt Nam:

- Trong suốt quá trình cách mạng, sự lãnh đạo của Đảng phải được giữ vững, củng cố và tăng cường

- Khối ĐĐKTD trên cơ sở liên minh công – nông – trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng phải được củng cố và mở rộng

- Sự ủng hộ và giúp đỡ của các lực lượng cách mạng, hòa bình, dân chủ, tiến bộ trên thế giới được giữ vững và phát triển

3 Mối quan hệ giữa độc lập dân tộc với CNXH (367)

a Độc lập dân tộc là mục tiêu trực tiếp, trước hết

- Phải thực hiện thành công cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân (Cương lĩnh đầu tiên)

- Tạo tiền đề đi lên CNXH

b Độc lập dân tộc là tiền đề đi lên CNXH:

Xây dựng CNXH với các tiền đề:

Trang 11

- Chính trị:

+ Xây dựng và phát triển hệ thống chính trị do ĐCS Việt Nam lãnh đạo

+ Thành lập Mặt trận Dân tộc thống nhất và thực hiện đoàn kết toàn dân trong Mặt trận + Giành chính quyền và xây dựng một nhà nước cách mạng thực sự của dân, do dân, vì dân

- Kinh tế:

+ Bước đầu hình thành đường lối kinh tế từng bước xây dựng các cở sở kinh tế có tính chất XHCN

+ Mục đích: từng bước cải thiện đời sống nhân dân, bồi bổ các lực lượng cách mạng

- Văn hóa – xã hội:

+ Xây dựng nền văn hóa mới, nền văn hóa cách mạng

+ Giải quyết những vấn đề xã hội trên nền tảng của CN Mác-Lênin

c CNXH là bước phát triển tất yếu của độc lập dân tộc: Đây là sự lựa chọn duy nhất vì:

- Đây là con đường duy nhất của Việt Nam khi giành độc lập

- Phù hợp với quy luật khách quan của sự phát triển các hình thái KT-XH

- Phù hợp với xu thế của thời đại

- Phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh lịch sử của Việt Nam

4 Vận dụng mối quan hệ giữa độc lập dân tộc với CNXH ở nước ta hiện nay:

a Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH trong sự nghiệp đổi mới

- Nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH

- Trong quá trình đổi mới phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH trên nền tảng CN Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh

b Điều kiện mới của độc lập dân tộc gắn liền với CNXH hiện nay:

- Muốn xây dựng đất nước dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh và bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc trước hết phải phát huy mọi tiềm năng, sức mạnh của nguồn nội lực, tranh thủ nguồn ngoại lực bên ngoài, tận dụng thời cơ, điều kiện quốc tế thuận lợi,làm gia tăng sức mạnh dân tộc

- Xác định rõ bước đi, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của đất nước trên nguyên tắc đặt lợi ích của đất nước lên trên hết

Trang 12

- Độc lập dân tộc gắn bó chặt chẽ với CNXH phải được thể hiện trong suốt quá trình đổi mới, trên mọi lĩnh vực của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

- Giữ vững định hướng XHCN trong tiến trình đổi mới Đây là con đường duy nhất đúng đắn trên cả bình diện lý luận và thực tiễn, phù hợp với thời đại Đồng thời tiếp tục làm rõ mục tiêu, đặc trưng và động lực của CNXH trong đổi mới

Bài 10: Tư tưởng HCM về Đại Đoàn kết:

1 Quan điểm của HCM về đại đoàn kêt

Tư tưởng đại đoàn kết HCM là một hệ thống các luận điểm về vị trí, vai trò, nội dung, nguyên tắc, phương pháp tập hợp, tổ chức lực lượng cách mạng, nhằm phát huy đến mức cao nhất sức mạnh của dân tộc, của quốc tế trong sự nghiệp đấu tranh cho độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội

2 Nguyên tắc đại đoàn kết dân tộc: (4 nguyên tắc) Quan trọng

- Đại đoàn kết phải được xây dựng trên cơ sở thống nhất lợi ích của quốc gia, dân tộc với các quyền lợi cơ bản của các giai tầng trong xã hội

- Tin dân dựa vào dân, phấn đấu vì qyền lợi của nhân dân

Nguyên tắc này là sự kết hợp tư duy chính trị truyền thống của dân tộc “dân là gốc của nước” Có nghĩa dân là gốc rễ, là nền tảng, là chủ thể, là sức mạnh vô tận vô địch là chỗ dựa vững chắc của đại đoàn kết, của ĐCS và hệ thống chính trị; vừa là sự quán triệt quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin” cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”

- Đại đoàn kết là một cách tự giác, có tổ chức, có lãnh đạo; đoàn kết lâu dài và chặt chẽ

HCM cho rằng: Đoàn kết không những rộng rãi mà còn lâu dài, đoàn kết là một chính sách dân tộc không phải là một thủ đoạn chính trị Ta đoàn kết cho đấu tranh thống nhất

và độc lập của tổ quốc ta, ta còn phải đoàn kết để xây dựng nước nhà Đoàn kết rộng rãi chặt chẽ, đồng thời phải cũng cố nền có vững thì nhà mới chắc, gốc có tốt thì cây mới tươi

- Đoàn kết phải chân thành thẳng thắng thân ái, đoàn kết phải gắn liền với tự phê bình

Trang 13

3 Vận dụng các nguyên tắc đại đoàn kết dân tộc ở nước ta hiện nay

a Thành tựu:

- Thông qua việc thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng về xây dựng, cũng cố khối Đại đoàn kết, phát huy dân chủ  góp phần đẩy mạnh sản xuất, thực hiện các nhiệm vụ phát triển KT-XH, Quốc phòng-An ninh

- Việc tập hợp nhân dân với các hình thức đa dạng có bước phát triển mới: MTTQ và các

tổ chức thành viên ngày càng phát huy vị trí, vai trò cùa minh, nội dung hoạt động phong phú, thiết thực hơn  lôi cuốn đông đảo các tầng lớp nhân dân vào các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước

- Khối Đại đoàn kết Toàn dân tộc trên nền tảng liên minh công – nông – trí được mở rộng hơn, là nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển KT-XH, giữ vững ổn định CT-XH của đất nước

b Hạn chế, thách thức:

- Lòng tin vào Đảng, Nhà nước và chế độ của một bộ phận nhân dân giảm sút (vì đời sống còn khó khăn + những bất bình trước những bất công xã hội + tình trạng tham nhũng, quan liêu, lãng phí còn khá phổ biến)

- Kỷ cương, phép nước nhiều lúc, nhiều nơi không nghiêm, đạo đức XH có mặt xuống cấp; trật tự an toàn xã hội còn phức tạp

- Việc tập hợp nhân dân vào MTTQ và các đoàn thể CT-XH, các tổ chức xã hội còn nhiều hạn chế, nhất là ở khu vực kinh tế tư nhân, khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, đồng bào có đạo, dân tộc thiểu số…

c Giải pháp:

- Đại đoàn kết toàn dân phải dựa trên cơ sở giải quyết hài hòa quan hệ lợi lích giữa các thành viên trong XH

- Đoàn kết trong Đảng là hạt nhân, là cơ sở vững chắc để xây dựng khối ĐĐK dân tộc

- Tin dân, lắng nghe, học hỏi, tiếp thu ý kiến, giải quyết các khó khăn, vướng mắc của nhân dân, làm tốt công tác dân vận

- Đoàn kết quốc tế phải dựa trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau; hợp tác bình đẳng và cùng có lợi

Bài 11: Không soạn

Bài 12: TTHCM về các bộ và công tác cán bộ: (430)

1 Vai trò của đạo đức cách mạng: (432)

Trang 14

- Đạo đức là cái gốc, nền tảng của người cách mạng (là gốc của cây, là ngọn nguồn của sông suối)

- Có đạo đức cách mạng thì khi gặp khó khăn, gian khổ, thất bại cũng không sợ sệt, rụt rè, lùi bước Khi cần hy sinh cả tính mạng cũng không tiếc Có đạo đức cách mạng thì khi gặp thuận lợi và thành công vẫn giữ vững tinh thần gian khổ, chất phát, khiêm tốn, “lo trước thiên

hạ, vui sau thiên hạ”, lo hoàn thành nhiệm vụ chứ không kèn cựa về mặt hưởng thụ; không công thần, không quan liêu, không kiêu ngạo, không hủ hóa

- Đạo Đức là thước đo lòng cao thượng của con người Mỗi người có công việc, tài năng,

vị trí khác nhau, người làm việc to, người làm việc nhỏ, nhưng ai giữ được đạo đức cách mạng đều là người cao thượng

- Đạo đức là nhân tố tạo nên sức hấp dẫn của CNXH, thể hiện ở những giá trị đạo đức tốt đẹp, ở phẩm chất của người cộng sản ưu tú, bằng tấm gương sống và hành động của mình, chiến đấu cho lý tưởng đó trở thành hiện thực

2 Yêu cầu về đạo đức đối với cán bộ:

a Trung với nước, hiếu với dân

- Phải quyết tâm, suốt đời, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân

- Đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân lên trên hết, trước hết

- Phải trọng dân, tin dân, học dân, hỏi dân, hiểu dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân, thương dân, hòa mình với quần chúng nhân dân thành một khối

- Nắm vững dân tình, dân tâm, dân ý

- Quan tâm dân quyền, dân sinh, dân trí, dân chủ, dân vận

- Làm cho dân tin, dân phục, dân yêu

b Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư

- Cần tức là lao động cần cù, siêng năng; lao động có kế hoạch, sáng tạo, có năng suất cao; lao động với tinh thần tự lực cánh sinh, không lười biếng, không ỷ lại, không dựa dẫm

- Kiệm tức là tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm thì giờ, tiết kiệm tiền của của dân, của nước, của bản thân mình; phải tiết kiệm từ cái to đến cái nhỏ, nhiều cái nhỏ cộng lại thành cái to; "không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi", không phô trương hình thức, không liên hoan, chè chén lu bù Cần và Kiệm phải đi đôi với nhau như hai chân của con người Bác chỉ

rõ tiết kiệm không phải là bủn xỉn Khi không đáng tiêu xài thì một hạt gạo, một đồng xu cũng không nên tiêu, nhưng khi có việc cần làm lợi cho dân, cho nước thì hao bao nhiêu của, tốn bao nhiêu công cũng vui lòng, như thế mới là kiệm

- Liêm tức là "luôn luôn tôn trọng giữ gìn của công và của dân"; "không xâm phạm một đồng xu, hạt thóc của Nhà nước, của nhân dân" Phải "trong sạch, không tham lam" "Không

Trang 15

tham địa vị Không tham tiền tài Không tham sung sướng Không ham người tâng bốc mình

Vì vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ hủ hoá"

- Chính, "nghĩa là không tà, thẳng thắn, đứng đắn"

+ Đối với mình: không tự cao, tự đại, luôn chịu khó học tập cầu tiến bộ, luôn tự kiểm điểm để phát triển điều hay, sửa đổi điều dở của bản thân mình

+ Đối với người: không nịnh hót người trên, không xem khinh người dưới, luôn giữ thái

độ chân thành, khiêm tốn, đoàn kết thật thà, không dối trá, lừa lọc

+ Đối với việc: để việc công lên trên, lên trước việc tư, việc nhà Theo Bác, trên trái đất có hàng muôn triệu người, trong số người đó chỉ có thể chia làm hai hạng là người thiện và người ác

Bác khẳng định: Cần, Kiệm, Liêm là gốc rễ của Chính, như một cái cây cần có cành lá, hoa quả mới là một cây hoàn toàn Con người có Cần, Kiệm, Liêm nhưng cần phải Chính thì mới hoàn chỉnh

- Chí công vô tư, Bác nói: "Đem lòng chí công vô tư mà đối với người, với việc" "Khi làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, khi hưởng thụ thì mình nên đi sau"; phải

"lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ" Như vậy, thực chất của chí công vô tư ở đây chính là thể hiện mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể, thể hiện thái độ, trách nhiệm của mỗi người đối với công việc được giao Chí công vô tư còn là ham làm những gì có lợi cho dân, cho nước, không ham địa vị, không màng công danh, vinh hoa phú quý Đối lập với chí công vô tư là chủ nghĩa cá nhân Bác coi chủ nghĩa cá nhân là thứ giặc ở trong lòng, tội cũng nặng như tội việt gian, mật thám vậy Thực hành chí công vô tư là kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng

c Thương yêu con người, sống có tình có nghĩa

- Yêu thương con người trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh xuất phát từ truyền thống nhân nghĩa của dân tộc, kết hợp với chủ nghĩa nhân đạo cộng sản Hồ Chí Minh coi yêu thương con người là phẩm chất đạo đức cao đẹp nhất; nó thể hiện mối quan hệ giữa cá nhân với cá nhân trong quan hệ xã hội

- Yêu thương con người thể hiện trước hết là tình yêu thương với đại đa số nhân dân, những người nghèo khổ, bị áp bức, bóc lột Phải làm mọi việc để phát huy sức mạnh của mỗi người; đoàn kết để phấn đấu cho đạt được mục tiêu “ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”

- Yêu thương con người thì phải tin vào con người Với mình thì chặt chẽ, nghiêm khắc; với người thì khoan dung, độ lượng, rộng rãi, nâng con người lên, kể cả với những người lầm đường, lạc lối, mắc sai lầm, khuyết điểm

Trang 16

- Yêu thương con người là giúp cho mỗi người ngày càng tiến bộ, tốt đẹp hơn Phải thực hiện phê bình, tự phê bình chân thành, giúp nhau sửa chữa khuyết điểm, phát huy ưu điểm để không ngừng tiến bộ

d Tinh thần quốc tế trong sáng

- Tinh thần quốc tế là một phẩm chất đạo đức bắt nguồn từ bản chất của GCNN và chế độ CNXH

- Người luôn tôn trọng, quan tâm đến các dân tộc Người đặt sự nghiệm cách mạng Việt Nam vào quỹ đạo của cách mạng thế giới, coi thắng lợi của nhân dân Việt Nam cũng là thắng lợi chung của nhân dân tiến bộ thế giới, thắng lợi của bạn cũng là thắng lợi của mình

- Người lên án và đấu tranh chống chia rẽ, hằn thù, bất bình đẳng, phân biệt chủng tộc; đoàn kết với các lực lượng cách mạng và tiến bộ khắp thế giới Người gắn mục tiêu đấu tranh của nhân dân Việt Nam với mục tiêu chung của nhân loại là hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội

3 Liên hệ bản thân về rèn luyện đạo đức cách mạng:

(Căn cứ vào các yêu cầu về đạo đức đối với người cán bộ để liên hệ với bản thân, tài liệu

chỉ tham khảo)

GIẢI PHÁP XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CHO ĐỘI NGŨ

CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN Ở ĐƠN VỊ HIỆN NAY

Một là: Phát triển kinh tế xã hội theo hướng nhanh, bền vững nhằm tạo tiền đề vật chất

để xây dựng đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên

Theo quan điểm của các nhà kinh điển mácxít, tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, suy đến cùng kinh tế quyết định chính trị Như vậy, cơ sở của đạo đức cũng xuất phát từ kinh tế Vấn đề phát triển kinh tế ở nước ta hiện nay là “con đường rút ngắn thời gian so với các nước

đi trước, phát huy tối đa những tiềm năng và lợi thế của đất nước, gắn công nghiệp hóa với hiện đại hóa trong từng bước, gắn công nghiệp hóa, hiện đại hóa với xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế” Mặt khác, “phát triển nhanh phải đi liền với phát triển bền vững Phát triển bền vững phải bao trùm các mặt của đời sống kinh tế,

xã hội, tức là phải gắn kết sự phát triển kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo

vệ và cải thiện môi trường, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh” Đạo đức phản ánh và chịu sự quy định của đời sống kinh tế mà trực tiếp là quan hệ lợi ích của con người Chúng ta nói nâng cao đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân, điều đó không có nghĩa là không quan tâm đầy đủ đến lợi ích chính đáng của từng người Lợi ích của tập thể và cá nhân có mối quan hệ hữu cơ, thống nhất với nhau, trong đó lợi ích tập thể phải

Trang 17

đặt lên trên hết, trước hết Tách rời và đối lập hai mặt đó với nhau là một quan điểm sai lầm

Vì vậy, việc chăm lo phát triển kinh tế, qua đó nâng cao đời sống vật chất cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân Bình Thuận phải là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu tạo nền tảng của việc bồi dưỡng đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên hiện nay

Thực tế cho thấy rằng, ở đâu và lúc nào mà tình hình kinh tế - xã hội phát triển thuận lợi, tình hình chính trị ổn định thì sẽ tạo tiền đề cho đạo đức cách mạng được củng cố, duy trì và phát triển Hiện nay, Bình Thuận là một thành phố năng động đang trên đà phát triển Bình Thuận đang đẩy mạnh các hoạt động kinh tế - xã hội rất đa dạng, trở thành động lực lôi kéo cả khu vực miền Trung và Đông Nam bộ Thông qua các hoạt động đó, đội ngũ cán bộ, đảng viên của Bình Thuận có điều kiện để nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý; kĩ năng tổ chức thực hiện; rèn luyện, trau dồi các phẩm chất đạo đức cần thiết

Tuy nhiên, để thực hiện mục tiêu xây dựng và phát triển về "Xây dựng Bình Thuận trở thành một trong những đô thị lớn của khu vực, là trung tâm kinh tế - xã hội lớn của miền Trung” thì Bình Thuận cần phải tiếp tục đổi mới, nâng cao hơn nữa năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế nhanh và bền vững Việc thực hiện các nhiệm vụ đó sẽ tạo tiền đề vật chất tốt nhất cho việc bồi dưỡng, nâng cao đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, góp phần giữ vững và phát huy các giá trị đạo đức truyền thống, đồng thời hình thành và phát triển các phẩm chất đạo đức mới phù hợp với điều kiện công tác và làm việc trong giai đoạn hiện nay của đội ngũ cán bộ, đảng viên

Hai là: Phát huy vai trò của hệ thống chính trị các cấp ở địa phương trong việc xây dựng đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên

Bất kỳ tổ chức nào cũng do con người lập ra và đến lượt nó, các tổ chức lại quy định hành vi của các thành viên theo những chuẩn mực nhất định Cán bộ, đảng viên là những người hoạt động trong các tổ chức thuộc hệ thống kinh tế - chính trị, trong đó, Đảng là hạt nhân lãnh đạo Việc phát huy vai trò của các tổ chức nhằm quản lý, giáo dục, kiểm tra, giám sát, phê bình cán bộ, đảng viên có tác dụng to lớn đối với việc nâng cao đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân, ngăn ngừa, hạn chế và khắc phục những biểu hiện tiêu cực khác về mặt đạo đức của cán bộ, đảng viên

Chúng ta cần xác định việc thực hiện nhiệm vụ chính trị phải gắn với xây dựng tổ chức, trong đó có tổ chức Đảng và các tổ chức đoàn thể, làm công tác đảng viên, công tác cán bộ đồng thời cũng phải làm công tác về bộ máy

Trang 18

Ba là: Chú trọng tự giáo dục và giáo dục đạo đức cách mạng, tiếp tục đẩy mạnh “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trong cán bộ, đảng viên

Giáo dục là con đường cơ bản, phổ biến để hình thành và phát triển những năng lực và phẩm chất cần thiết cho mỗi người chuẩn bị bước vào cuộc sống lao động và trở thành công dân hữu ích cho xã hội Giáo dục đạo đức là một bộ phận quan trọng của giáo dục, là yêu cầu khách quan nhằm nâng cao vai trò của đạo đức đối với sự hình thành và phát triển nhân cách người cán bộ, đảng viên Thực chất của giáo dục đạo đức là nhằm hình thành, phát triển và hoàn thiện ý thức đạo đức cũng như năng lực thực hiện hành vi đạo đức của mỗi cá nhân Điều đó có nghĩa là hình thành những chủ thể có ý thức trong việc bảo vệ và tăng cường lợi ích cộng đồng xã hội Tuy nhiên, không phải cứ tăng trưởng kinh tế là đạo đức cách mạng tự động được nâng cao Không phải cứ đời sống vật chất được cải thiện là sự sa đọa về lối sống, xuống cấp về đạo đức tự động được khắc phục Sự hình thành những phẩm chất đạo đức của mỗi người không diễn ra một cách tự phát mà nó là kết quả sự nổ lực của quá trình giáo dục

và tự giáo dục, tự rèn luyện của mỗi cá nhân theo những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức của

xã hội

Việc chú trọng tự giáo dục, tự rèn luyện đạo đức cách mạng của mỗi cán bộ, đảng viên là biện pháp có ý nghĩa quyết định, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của việc tự giác hóa quá trình hình thành, phát triển đạo đức cách mạng của đội ngũ cán bộ, đảng viên Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhấn mạnh rằng đạo đức cách mạng không phải từ trên trời sa xuống, mà

nó được củng cố và phát triển chủ yếu do sự đấu tranh rèn luyện bền bỉ hàng ngày Vì vậy, cùng với sự quản lý, giáo dục thường xuyên của tổ chức, mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn tự mình trau dồi, rèn luyện tu dưỡng các phẩm chất đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân Thực tế cho thấy, không ít cán bộ, đảng viên đã từng quên mình, anh hùng trong kháng chiến vì độc lập tự do của Tổ quốc và có những người đã từng giữ chức vị cao trong bộ máy Đảng, Nhà nước nhưng khi trở về cuộc sống đời thường do không thường xuyên tu dưỡng đạo đức nên có biểu hiện công thần, tự cao tự đại, gây mất đoàn kết nội bộ hoặc bị sa ngã trước những cám dỗ vật chất tầm thường, thậm chí trở thành kẻ có tội với đất nước và nhân dân, đơn vị; xây dựng các quy định về tiêu chuẩn đạo đức của cán bộ, đảng viên ở từng vị trí công tác và kịp thời biểu dương, nhân rộng các điển hình tiên tiến “làm theo” tấm gương đạo đức của Bác Những yếu tố trên nhằm nâng cao hơn nữa ý thức tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân Tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng phải được coi là một trong những nhiệm vụ thường xuyên của mỗi cán bộ, đảng viên

Trang 19

Cán bộ, đảng viên càng giữ các trọng trách lớn càng phải chú tâm rèn luyện và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh để cổ vũ mọi người học tập

Bốn là: Nâng cao trình độ về các mặt, nhất là trình độ lý luận chính trị - hành chính của cán bộ, đảng viên

Cán bộ, đảng viên là lực lượng tiên tiến nhất của giai cấp công nhân Đối với mỗi cán bộ, đảng viên dù trong hoàn cảnh nào, cương vị nào cũng đòi hỏi phải có cả đức lẫn tài Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX chỉ rõ: “Các cấp ủy và chi bộ tổ chức, hướng dẫn và kiểm tra đảng viên học tập, rèn luyện, không ngừng nâng cao trình độ chính trị, học vấn chuyên môn, nghiệp vụ, kiến thức lãnh đạo, quản lý” Việc nâng cao trình độ về lý luận chính trị - hành chính sẽ tạo sự phát triển ngày càng hoàn thiện cho mỗi cán bộ, đảng viên, là yếu tố

để mỗi cán bộ, đảng viên phát huy hết mọi khả năng đối với công việc, góp phần làm tăng hiệu quả trong công tác nhất là đối với công tác quản lý, lãnh đạo

Để thực hiện tốt công tác bồi dưỡng trình độ lý luận chính trị - hành chính cho cán

bộ, đảng viên, Bình Thuận cần tổ chức nhiều hơn các đợt học tập nâng cao trình độ chính trị - hành chính cho cán bộ, đảng viên đặc biệt là cán bộ chủ chốt; tăng cường bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, trình độ ngoại ngữ, tin học Để đạt hiệu quả cao, công tác này đòi hỏi ý thức

tự giác học tập rèn luyện của mỗi người Trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Bình Thuận hiện nay, để khắc phục tình trạng yếu kém về đạo đức của một bộ phận nhỏ cán bộ, đảng viên thì việc tổ chức Đảng chăm lo đào tạo, bồi đưỡng đội ngũ cán bộ, đảng viên cả về phẩm chất chính trị lẫn học vấn tri thức, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực quản lý là một việc làm quan trọng và cấp bách hiện nay

Năm là: Thực hiện tốt quy chế dân chủ cơ sở, tăng cường sự giám sát của nhân dân đối với cán bộ, đảng viên

Đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên nảy sinh trong quá trình xây dựng xã hội mới qua hoạt động thực tiễn của họ Cán bộ, đảng viên là những người trực tiếp tiếp xúc với nhân dân, giải quyết những vấn đề có liên quan đến lợi ích của nhân dân và bản thân họ Vì vậy, đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên có hay không và như thế nào đều được thể hiện ở những việc làm cụ thể của mỗi cán bộ, đảng viên Đạo đức của cán bộ, đảng viên không chỉ phụ thuộc vào phẩm chất và năng lực tự giải quyết công việc của họ mà còn phụ thuộc vào quyền làm chủ của nhân dân Quy chế dân chủ ở cơ sở đã góp phần quan trọng vào

sự đổi mới phương thức lãnh đạo của cấp uỷ, sự điều hành của chính quyền Qua đó, cán bộ, đảng viên đã khắc phục dần lối làm việc tuỳ tiện, cảm tính; gần gũi, sâu sát với nhân dân hơn,

Trang 20

lắng nghe ý kiến đúng đắn của nhân dân, tiếp thu nguyện vọng chính đáng của nhân dân trong việc xây dựng các chương trình, mục tiêu, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta; tệ quan liêu, độc đoán, cửa quyển giảm dần, niềm tin của nhân dân đối với cán bộ, đảng viên ngày càng được củng cố Điều đó góp phần làm ổn định trật tự ở địa phương, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với các cấp uỷ và các cơ quan lãnh đạo

Việc thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở cần đi đôi với việc tăng cường sự giám sát của nhân dân đối với cán bộ, đảng viên Thông qua việc phát huy quyền làm chủ và sự giám sát của nhân dân để rèn luyện cán bộ, đảng viên về lập trường tư tưởng, quan điểm, tác phong

và lối sống cách mạng Bởi vì, nhân dân là những người trực tiếp tiếp xúc với cán bộ, đảng viên và thấy được năng lực, phẩm chất của cán bộ, đảng viên qua những việc làm cụ thể của

họ Thực tế ở nước ta và thành phố Đà Nẵng cho thấy, nơi nào quy chế dân chủ ở cơ sở được phát huy, công tác kiểm tra, giám sát của nhân dân được coi trọng thì nơi đó tổ chức Đảng lãnh đạo và hoạt động có hiệu quả; cán bộ, đảng viên luông là những người gương mẫu, chấp hành tốt mọi chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; gần gũi, tôn trọng nhân dân tạo môi trường lành mạnh ở nơi làm việc và nơi cư trú Vì vậy, việc giáo dục và nâng cao ý thức làm chủ và phát huy tới mức cao quyền làm chủ của nhân dân ở thành phố

Đà Nẵng hiện nay cần đi đôi với những biện pháp tổ chức, đảm bảo cho quần chúng thực sự kiểm tra, giám sát công việc của cán bộ, đảng viên ở cơ sở, các tổ chức cơ sở đảng, chính quyền, các đơn vị sản xuất – kinh doanh, các đơn vị hành chính - sự nghiệp phải thường xuyên tổ chức quần chúng phê bình cán bộ, đảng viên, góp ý kiến phê bình cơ quan lãnh đạo quản lý tạo thành dư luận rộng rãi, thành nề nếp thường xuyên của quần chúng là giám sát, biểu dương người tốt, việc tốt, phê bình và lên án những tư tưởng, hành động, tác phong xấu của cán bộ, đảng viên

Trong những năm qua, các chi bộ đảng ở xã, phường, thị trấn đã rất chú trọng đến việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở Các chi bộ chú ý phân công các đồng chí đảng viên trực tiếp tham gia làm trưởng các đoàn thể, mặt trận thôn (khu phố) Mọi thắc mắc của dân đều được cán bộ, đảng viên giải thích cặn kẽ để dân hiểu và nắm bắt được Từ đó, nhân dân tự giác chấp hành các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; tự nguyện tham gia đóng góp xây dựng nhiều công trình dân sinh đạt hiệu quả Mọi chủ trương của cấp trên cũng như của chi bộ đều được đưa ra cho nhân dân thảo luận, bàn bạc và khi thống nhất

ý kiến mới triển khai thực hiện Các thôn (khu phố) cũng thường xuyên tổ chức quần chúng phê bình, đóng góp ý kiến cho cán bộ, đảng viên trên địa bàn; giám sát, giáo dục, giúp đỡ

Trang 21

những đảng viên vi phạm hoặc có dấu hiệu vi phạm pháp luật và đạo đức Nhờ đó, cán bộ, đảng viên trong các chi bộ được trưởng thành hơn, nhiều chi bộ đạt chi bộ trong sạch vững mạnh trong nhiều năm

Từ những điều đề cập trên đây, có thể khẳng định rằngviệcthực hiện tốt quy chế dân chủ cơ sở, tăng cường sự giám sát của nhân dân đối với cán bộ, đảngviên là một trong những yếu tố góp phần làm cho cán bộ, đảng viên nâng cao ý thức đạo đức cách mạng, làm cho nhân dân tin tưởng hơn vào đội ngũ cán bộ, đảng viên

Sáu là: Kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân và những biểu hiện tiêu cực về đạo đức trong một bộ phận cán bộ, đảng viên

Chủ nghĩa cá nhân là một trở ngại lớn cho việc xây dựng đạo đức cách mạng Vì vậy, thắng lợi của cách mạng không thể tách rời cuộc đấu tranh bài trừ chủ nghĩa cá nhân

Cán bộ, đảng viên là những người chịu trách nhiệm trước Đảng, trước tập thể và nhân dân Cán bộ, đảng viên là người đại diện cho lợi ích của một tập thể, một cộng đồng Mặt khác, Đảng ta là đảng cầm quyền nên hầu hết những người có chức, có quyền đều là đảng viên Các chức vụ phải đi đôi với các quyền trong đó có quyền bảo vệ các tài sản của Nhà nước và phân

bổ các tài sản này theo Hiến pháp, pháp luật hoặc theo các nguyên tắc đã được thông qua Chính đây là chỗ một số cán bộ, đảng viên mang nặng chủ nghĩa cá nhân có thể lợi dụng để chiếm đoạt tài sản, làm trái Hiến pháp, pháp luật, nguyên tắc và thể lệ chung

Ở Bình Thuận hiện nay, những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân rất đa dạng Biểu hiện nổi bật đối với người có chức quyền là quan liêu, tham nhũng Ngoài ra còn có các biểu hiện khác như cơ hội về chính trị, cơ hội về tổ chức, chạy chức, chạy quyền, chạy tội, chạy lợi…Muốn loại bỏ những hiện tượng này trước hết phải loại trừ chủ nghĩa cá nhân Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhận định: Do chủ nghĩa cá nhân mà cán bộ, đảng viên ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hóa, lãng phí xa hoa Họ tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán chuyên quyền Họ xa rời quần chúng, xa rời thực tế, mắc bệnh quan liêu, mệnh lệnh Họ không có tinh thần cố gắng vươn lên, không chịu học tập để tiến bộ…Cũng do chủ nghĩa cá nhân mà mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức, tính kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đúng đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, làm hại đến lợi ích của cách mạng, của nhân dân Vì vậy, “muốn thành người cách mạng, thành người cộng sản chân chính phải chống chủ nghĩa cá nhân”

Hiện nay, Bình Thuận vẫn đang tiếp tục đẩy mạnh công tác phòng chống tham nhũng Từ khi Ban chỉ đạo phòng chống tham nhũng Bình Thuận được thành lập, tình hình chống tham

Trang 22

nhũng tại Bình Thuận có bước chuyển biến cơ bản tích cực Qua 9 tháng đầu năm 2015, Bình

Thuận đã tập trung triển khai thực hiện đúng tiến độ các nội dung, công việc đã đề ra tại Kế hoạch phòng, chống tham nhũng năm 2015 Đặc biệt Bình Thuận quan tâm công tác cải cách

hành chính là khâu góp phần giảm thiểu tiêu cực, tham nhũng Đi đôi với công tác phòng thì công tác chống cũng được quan tâm: trong 9 tháng đầu năm 2015 Uỷ ban kiểm tra Tỉnh uỷ đã

xử lý kỷ luật 2 tổ chức Đảng với hình thức khiển trách và 45 đảng viên Nội dung vi phạm chủ yếu là chấp hành chưa nghiêm các Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thiếu tinh thần trách nhiệm, vi phạm phẩm chất đạo đức, lối sống… Thanh tra Bình Thuận đã tiến hành nhiều cuộc thanh tra, kiểm tra, đã kiến nghị thu hồi nộp ngân sách hơn 4 tỷ đồng, qua đó, có tác dụng ngăn ngừa tham nhũng Công tác điều tra, truy tố và xét

xử cũng triển khai rất nghiêm minh, đúng người, đúng tội nên có tác dụng răn đe nhất định

Tóm lại, trong những năm qua, đội ngũ cán bộ, đảng viên Bình Thuận tăng lên đáng kể

về chất lượng và số lượng Có thể nói rằng, đội ngũ cán bộ, đảng viên đã có mặt ở hầu hết các ngành, các cấp Vấn đề đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên cũng có bước chuyển biến mới Trình độ lý luận chính trị, học vấn chuyên môn của cán bộ, đảng viên được nâng lên rõ rệt Cán bộ, đảng viên Bình Thuận luôn luôn là lực lượng tiên phong trong mọi công việc, chủ động sáng tạo trong học tập và công tác nhằm phục vụ có hiệu quả những yêu cầu của tình hình mới đặt ra

Mặc dù vậy, từ thực trạng đạo đức và công tác xây dựng đạo đức cách mạng của cán

bộ, đảng viên Bình Thuận hiện nay ,điều cần thiết là phải xây dựng, bồi dưỡng, nâng cao đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên thành phố Để xây dựng, nâng cao đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên Bình Thuận hiện nay cần thực hiện đồng bộ các giải pháp đã được đề cập Điều đó chắc chắn sẽ phát huy hơn nữa vai trò tiên phong của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong sự nghiệp đổi mới và tạo ra động lực thúc đẩy việc thực hiện tốt các nhiệm vụ chính trị của địa phương./

Phần II: Những vấn đề cơ bản về ĐCS VN và Lịch sử ĐCS VN (cô Vân)

Bài 1: Học thuyết Mác-Lênin và TTHCM về ĐCS

1 Những vấn đề chủ yếu về xây dựng ĐCS theo tư tưởng Mác_Ăngghen (gồm 3 vấn đề)

-Mác, Ph.Angghen cho rằng, xây dựng Đảng về chính trị mà trọng tâm là xây dựng cương lĩnh chính trị và đường lối đúng đắn của cách mạng Xây dựng cương lĩnh chính trị là vấn đề quan trọng hàng đầu, là nguyên tắc cần thực hiện nghiêm ngặt đối với ĐCS Cương

Trang 23

lĩnh chính trị phải thể hiện rõ tôn chỉ mục đích của Đảng và những định hướng lớn về hoạt động của Đảng, kể cả xây dựng nội bộ Đảng và Đảng hoạt động lãnh đạo xã hội, con đường, giải pháp lớn để thực hiện mục tiêu lý tưởng của Đảng

-Xây dựng Đảng về tư tưởng tức là Đảng phải tiến hành công tác tư tưởng, lý luận, nhằm tuyên truyền, phát triển chủ nghĩa Mác_lênin, đường lối, quan điểm của Đảng trong nhân dân, làm chuyển biến tư tưởng của nhân dân theo hướng tiến bộ để họ thực hiện mục tiêu, lý tưởng của Đảng

-Công tác tư tưởng của Đảng gồm 2 bộ phận: công tác tư tưởng nội bộ Đảng và công tác tư tưởng nhân dân Việc đấu tranh kiên quyết không khoan nhượng với chủ nghĩa cơ hội,

bè phái được hai ông xác định là quy luật phát triển của Đảng

2 Những nguyên lý về đảng kiểu mới của Lênin (8 Nguyên lý)

- Chủ nghĩa Mác là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hoạt động của ĐCS

- ĐCS là đội tiền phong chính trị có tổ chức và là đội ngũ có tổ chức chặc chẽ nhất, cách mạng nhất và giác ngộ nhất của GCCN

- Giành được chính quyền, Đảng là hạt nhân lãnh đạo hệ thống chuyên chính vô sản

- Cương lĩnh, đường lối của Đảng phải quán triệt chủ nghĩa quốc tế vô sản

3 Tư tưởng HCM về ĐCS: (6 quan điểm)

- ĐCS là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng

- ĐCS VN là kết quả của sự kết hợp chủ nghĩa M-L với phong trào công nhân và phong trào yêu nước

- ĐCS VN là Đ của GCCN đồng thời là Đ của dân tộc VN

- ĐCS VN phải được xây dựng theo nguyên lý đảng kiểu mới của GCCN

- Đ vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ trung thành của nhân dân,

Trang 24

- ĐCS VN phải thường xuyên chăm lo xây dựng và chỉnh đốn Đảng

Bài 3: Đảng cầm quyền và phương thức lãnh đạo của Đảng cầm quyền

1 K/n ĐCS cầm quyền: là k/n để chỉ một giai đoạn, một thời kỳ mới của cách mạng đó

là giai đoạn mà CNXH trở thành công việc phấn đấu hàng ngày của Đảng Trong đó nhiệm vụ chiến lược hàng đầu, chủ yếu và trọng tâm là tổ chức xây dựng đất nước, nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc là nhiệm vụ chiến lược hàng đầu

2 Đặc điểm của ĐCS cầm quyền :(4 quan điểm)

- Sự thay đổi căn bản nhiệm vụ chính trị của Đảng: chuyển từ nhiệm vụ lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành chính quyền sang nhiệm vụ tổ chức và quản lý đất nước, xây dựng CNXH với nhiệm vụ trọng tâm là xây dựng kinh tế và bảo vệ tổ quốc

- Đảng cầm quyền trong điều kiện đã có nhà nước XHCN: Sau khi có chính quyền Đảng thiết lập nhà nước XHCN của dân, do dân, vì dân mang bản chất GCCN, là công cụ để GCCN và nhân dân LĐ thực hiện quyền làm chủ của mình Đồng thời cũng là công cụ sắc bén để ĐCS thực hiện lãnh đạo đối với toàn XH

- Sự thay đổi phương thức lãnh đạo của Đ: Tập trung đổi mới phương thức lãnh đạo của Đ đối với nhà nước, MT và các đoàn thể Loại trừng những phương thức, phương pháp, biện pháp không còn phù hợp; sáng tạo ra những phương thức, phương pháp, biện pháp mới

đa dạng, phong phú và sát hợp hơn

- Đảng cầm quyền lãnh đạo xây dựng CNXH và bảo vệ tổ quốc: Trước những tác động tích cực, tiêu cực của thế giới, khu vực và trong nước đòi hỏi Đảng ta phải không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu, tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo

3 Nội dung và phương thức lãnh đạo của ĐCS trong điều kiện Đảng cầm quyền: (phân tích thêm trang 71)

- Nội dung lãnh đạo:(4 nội dung)

+Xây dựng chủ trương, đường lối;

+Lãnh đạo xây dựng nhà nước;

+Lãnh đạo công tác cán bộ;

+Kiểm tra, giám sát đối với nhà nước và các tổ chức trong HTCT

- Phương thức lãnh đạo: (5 phương thức)

+Lãnh đạo bằng cương lĩnh, chiến lược, chủ trương, đường lối;

+Lãnh đạo bằng giáo dục, thuyết phục;

Trang 25

+Lãnh đạo bằng công tác tổ chức cán bộ;

+Lãnh đạo bằng công tác kiểm tra, giám sát;

+Lãnh đạo bằng phát huy vai trò làm chủ của nhân dân

Bài 4: Sự ra đời của ĐCS VN và Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng:

1 Nội dung cơ bản của Cương lĩnh chính trị đầu tiên của ĐCS VN:( 6 nội dung

cơ bản)

+ Mục tiêu chiến lược của cách mạng: làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới XHCS (căn cứ vào 2 mâu thuẫn trong XH VN lúc bấy giờ và xu thế thời đại, giải phóng dân tộc, giải phóng con người rồi đi tới đấu tranh giải phóng dân tộc)

+ Nhiệm vụ chiến lược của cách mạng: chống đế quốc giành độc lập cho dân tộc và chống phong kiến giành ruộng đất cho dân cày

+ Lực lượng của cách mạng: công-nông là lực lượng chính, đồng thời đoàn kết tất

cả các lực lượng tiến bộ, yêu nước để tập trung chống đế quốc và tay sai

+ Phương pháp cách mạng: Sử dụng bạo lực cách mạng để giành chính quyền + Vai trò lãnh đạo: ĐCS VN là đội tiền phong của GC Vô sản, sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng

+ Đoàn kết quốc tế: cách mạng VN liên lạc mật thiết và là một bộ phận của cách mạng Thế giới (chung kẻ thù là thực dân, đế quốc, chung mục tiêu giải phóng dân tộc, tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới)

1 Ý nghĩa lịch sử của Cương lĩnh chính trị đầu tiên của ĐCS VN đối với tiến trình cách mạng VN: (4 ý nghĩa)

- Phản ánh một cách súc tích các luận điểm cơ bàn về đường lối chiến lược và sách lược của cách mạng VN(xác định được phương pháp, nhiệm vụ và lực lượng cách mạng để thực hiện chiến lược và sách lược đề ra)

- Đáp ứng yêu cầu cơ bản và cấp bách của XH VN, phù hợp với xu thế của thời đại, định hướng chiến lược đúng đắn cho tiến trình phát triển của cách mạng VN

- Là sự vận dụng đúng đắn, sáng tạo chủ nghĩa Mác Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của một nước thuộc địa nửa phong kiến VN từ một xứ thuộc địa nửa phong kiến đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo con đường XHCN; nhân dân VN từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ XH

- Khẳng định dứt khoát nội dung, xu hướng phát triển của XH VN là gắn liền độc lập dân tộc với CNXH là phù hợp với thời đại mới

Bài 6: Đảng lãnh đạo cuộc đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng GPDT và Thống Nhất đất nước (1945-1975)

1/ Ý nghĩa lịch sử của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (3 ý nghĩa)

Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là đỉnh cao của bản anh hùng ca

về lòng yêu nước và tự hào dân tộc Đây là một trong những chiến thắng vĩ đại nhất trong lịch

Trang 26

sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam, một trong những thắng lợi vĩ đại của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX “Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc một trong

những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời vềsự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng

cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế

kỷ XX” Thắng lợi đó đã chấm dứt 117 năm chống lại các thế lực thực dân đế quốc xâm lược, hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam kết thúc cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trên cả nước, thu giang sơn về một mối, hoàn thành sự nghiệp thống nhất Tổ quốc

Dân tộc Việt Nam đã làm phá sản chủ nghĩa thực dân kiểu mới của đế quốc Mỹ, mở

ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc Việt Nam: kỷ nguyên cả nước hòa bình, độc lập, thống nhất và đi lên chủ nghĩa xã hội Thắng lợi của nhân dân Việt Nam đã góp phần làm thay đổi tương quan lực lượng có lợi cho chủ nghĩa xã hội, cổ vũ động viên phong trào đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân kiểu mới của Mỹ trên phạm vi thế giới

Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước khắng định tính đúng đắn, khoa học và sáng tạo của đường lối chiến tranh nhân dân dưới ánh sáng lý luận Mác-Lênin và tư tưởns Hồ Chí Minh Đó là đường lối kháng chiến độc lập, tự chủ của Đảng Cộng sản Việt Nam, là sự hiện thực hóa của sợi chỉ đỏ: kết hợp mục tiêu độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, tạo nên xung lực cho sự nghiệp thống nhất Tổ quốc Lý luận cách mạng sáng tạo, đường lối đúng đắn đã trở thành ngọn cờ tập hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, kết hợp yếu tố trong nước với quốc tế, phối hợp nhịp nhàng sức mạnh của hai miền Nam - Bắc để đi tới thắng lợi cuối cùng

Chính sức mạnh của chủ nghĩa xã hội, sức mạnh của chính nghĩa, sức mạnh của các dân tộc đang đấu tranh cho hòa bình, độc lập đã góp phần vào thắng lợi của cuộc kháng chiến

Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã mở ra một thời kỳ mới cho dân tộc Việt Nam, thời kỳ cả nước thống nhất đi lên chủ nghĩa xã hội Việt Nam trở thành ngọn cờ tiêu biểu cho phong trào đấu tranh vì độc lập dân tộc, hòa bình và tiến bộ xã hội

2/ Một số kinh nghiệm của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (4 kinh nghiệm)

- Kiên định mục tiêu, giữ vững độc lập tự chủ, xây dựng đường lối và phương pháp cách

Trang 27

mạng đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với thực tiễn Việt Nam

Đó là đường lối tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng ở hai miền đất nước nhằm thực hiện mục tiêu chung là hoàn thành sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ, thống nhất Tổ quốc và đi lên chủ nghĩa xã hội Nhờ sự kết hợp này đã động viên, tập hợp sức mạnh của chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa yêu nước, sức mạnh của hậu phương và tiền tuyến tạo nên sức mạnh

cả nước đánh Mỹ

Cùng với sự đúng đắn của đường lối kháng chiến, phương pháp cách mạng trong chống

Mỹ rất sáng tạo: nhiều cách đánh, nhiều hình thức đấu tranh, nhiều lực lượng phối hợp, nhiều vùng chiến lược tạo nên sức mạnh tổng hợp đế đánh thắng

- Xây dựng căn cứ địa cách mạng và hậu phương chiến tranh vững chắc cho sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước

Từ đầu cuộc kháng chiến, Đảng xác định miền Bắc là hậu phương của cách mạng cả nước Đồng thời, Đảng chủ trương một hệ thống các căn cứ địa tại chỗ ở miền Nam và hệ thống giao thông trên bộ, trên biển nối liền Bắc - Nam với Lào và campuchia Nghị quyết Đại hội IV của Đảng nhấn mạnh: “Không thể nào có thắng lợi của sự nghiệp kháng chiến chống

Mỹ, cứu nước nếu không có miền Bắc xã hội chủ nghĩa” Từ hậu phương miền Bắc hệ thống

căn cứ địa cách mạng đã nối thông, liên hoàn với các chiến trường và với hệ thống các nước

xã hội chủ nghĩa Đây là nguồn sức mạnh, là nguồn gốc của chiến thắng

-Thực hiện đoàn kết dân tộc với đoàn kết quốc tế trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, lợi ích của các nước trong cộng đồng thế giới

Trên cơ sở sự đoàn kết của dân tộc, của Đảng, của các giai cấp, tầng lớp vì mục tiêu đánh Mỹ và thắng Mỹ, Việt Nam đã mở rộng đoàn kết với các nước láng giềng, bè bạn khắp thế giới Đó là liên minh với Lào và Campuchia trên cơ sở Đông Dương là một chiến trường Tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của các nước xà hội chủ nghĩa, bè bạn yêu hòa bình, chống chiến tranh trên khắp thế giới, kể cả nhân dân tiến bộ Mỹ Vừa khai thác hiệu quả sức mạnh quốc tế, thời đại, Đảng ta đã phát huy cao nhất sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc để nhân lên sức mạnh đánh thắng đế quốc Mỹ

-Xây dựng Đảng và đội ngũ cán bộ ngang tầm với nhiệm vụ và yêu cầu của cuộc kháng chiến

Vừa hoạch định đường lối, Đảng vừa chỉ đạo trực tiếp cuộc kháng chiến trên từng thời điểm, từng giai đoạn, từng quyết định Để hoàn thành trọng trách lớn lao đó của lịch sử, Đảng

đã luôn coi trọng công tác xây dựng Đảng, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ vừa hồng, vừa

Trang 28

chuyên Đảng gắn bó với nhân dân, với dân tôc với phong trào cách mạng của nhân dân Ở trong môi trường đó Đảng đã trưởng thành, hoàn thành xuất sắc vai trò là người lãnh đạo cuộc kháng chiến đi tới thắng lợi

Cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc diễn ra suốt ba mươi năm Với sức mạnh của toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng, chiến thắng đã thuộc về nhân dân

ta vì đó là quy luật của lịch sử, là sự tiếp nối truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc

Việt Nam

Bài 7: Đảng lãnh đạo Cách mạng XHCN ở Miền Bắc (1954-1975)

1/ Những đặc điểm của Miền Bắc bước vào thời kỳ quá độ lên CNXH (3 đặc điểm)

a/Miền Bắc bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp lạc hậu bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa

Đây là đặc điểm to lớn nhất và cũng là khó khăn lớn đối với miền Bắc Miền Bắc đi lên chủ nghĩa xã hội từ điểm xuất phát rất thấp:

Quan hệ sản xuất: cá thể, manh mún, quy mô sản xuất nhỏ, năng suất, sản lượng thấp Lực lượng sản xuất trình độ thấp kém Đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật rất ít, hạn chế về năng lực, kinh nghiệm điều hành, quản lý kinh tế

Cơ sở vật chất ít ỏi, chỉ có một số nhà máy như: Nhà máy Điện Yên Phụ, Nhà máy xi măng Hải Phòng công suất 30-40 vạn tấn/năm, Nhà máy dệt, sợi Nam Định, mỏ than Quảng Ninh- Thực dân Pháp ít chú ý đâu tư phát triển công nghiệp nặng nhằm cột chặt công nghiệp Việt Nam vào công nghiệp chính quốc Cơ sở vật chất kỹ thuật do chế độ cũ để lại hầu như không cố gì, bởi trước khi rút khỏi miền Bắc thực dân Pháp đã cho phá hủy những nhà máy máy móc bị vận chuyển hoặc tháo gỡ Mặt khác từ sau hòa bình lập lại, miền Bắc bị thiên tai liên tiếp Cuối năm 1954, nhiều nơi bị mất mùa, nạn đói xảy ra và kéo dài suốt sáu tháng đầu năm 1955, làm cho tình hình kinh tế càng khó khăn thêm

Tình hình chính trị, xã hội phức tạp, Đảng và Chính phủ phải đối phó với những âm mưu, thủ đoạn thâm độc của kẻ địch như dụ dỗ, cưỡng ép đồng bào Công giáo di cư vào Nam; hoạt động bạo loạn chống phá cách mạng ở Ba Làng (Thanh Hóa), Quỳnh Lưu (Nghệ An), hoạt động của bọn phỉ ở miền núi phía Bắc

Khó khăn như vậy, nhưng ngay từ đầu ta chưa nhận thức đầy đủ đặc điểm này, còn chủ quan, nóng vội trong xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc

b/Miền Bắc đi lên chủ nghĩa xã hội trong điểu kiện đất nước tạm chia làm hai miền với hai chiến lược khác nhau do Đảng lãnh đạo

Trang 29

Miền Bắc tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, miền Nam tiếp tục cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc Trong đó, cách mạng xã hội chủ nghĩa miền Bắc có vai trò quyết định nhất đối với toàn bộ sự phát triên của cách mạng Việt Nam, vì miền Bắc là căn cứ địa, là hậu phương lớn cho cách mạng miền Nam, đồng thời miền Bắc chuẩn bị nhữngđiều kiện vật chất và tinh thần cho cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội sau này Miền Nam là tiền tuyến lớn, cách mạng miền Nam có vai trò quyết định trực tiếp

đối với sự nghiệp phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc

Miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội trong điều kiện vừa hòa bình vừa có chiến tranh nên bị chi phối bởi hai quy luật: quy luật xây dựng kinh tế trong thời bình và quy luật chiến tranh Có những thời điểm quy luật chiến tranh lấn át quy luật kinh tế Miền Bắc còn làm nhiệm vụ của hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến miền Nam và nghĩa vụ quốc tế với cách mạng Lào và Campuchia

c/Miền Bắc đi lên chủ nghĩa xã hội trong điều kiện quốc tế thuận lợi, nhưng cũng không ít khó khăn, phức tạp

Việt Nam nhận được sự giúp đỡ của các nước Liên Xô, Trung Quốc, bạn giúp về đào tạo cán bộ, về vật tư, thiết bị máy móc, xây dựng các công trình, khôi phục các nhà máy bị thực dân Pháp phá hủy, giúp đỡ về vốn, đưa chuyên gia các lĩnh vực sang giúp Việt Nam, v.v Tuy nhiên, bản thân các nước lúc đó đang trong quá trình tìm tòi, khảo nghiệm mô hình, giải pháp, cách thức đi lên chủ nghĩa xã hội cho phù hợp, nhiều vấn đề về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội chưa sáng tỏ Miền Bắc đi lên chủ nghĩa xã hội trong điều kiện đó cũng không tránh khỏi những tác động của tiêu cực, vấp váp và sai lầm của các nước

Trong các đặc điểm trên, đặc điểm thứ nhất là đặc điểm to lớn nhất và cũng là khó khăn nhất đối với miền Bắc Với điểm xuất phát chung còn yếu kém của nền sản xuất nhỏ, trình độ lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất còn thấp, lại trải qua chiến tranh lâu dài và chưa qua phát triển tư bản chủ nghĩa, việc lựa chọn hình thức, bước đi, phương pháp như thế nào để xây dựng chủ nghĩa hội trong khi điều đó chưa có tiền lệ đối với Việt Nam Mặt khác quá trình chỉ đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, Đảng còn tập trung giải quyết hai nhiệm vụ: xây dựng chủ nghĩa xã hội và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc (hai cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ đối với miền Bắc) Hơn thế nữa trong cùng một thời kỳ (1954-1975), toàn bộ sức lực, trí tuệ của Đảng và dân tộc phải tập trung cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Trong thời gian này Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp 25 hội nghị thì có đến

16 hội nghị bàn về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, bàn về xây dựng chủ nghĩa xã hội

Trang 30

ở miền Bắc chỉ có 9 hội nghị Đó là những khó khăn đối với Đảng trong hoạch định đường lối

và chỉ đạo thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc

2/ Một số kinh nghiệm (4 kinh nghiệm)

a/Đảng phải luôn giữ vững độc lập tự chủ, đồng thời linh hoạt, sáng tạo trong việc xác định đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa

Xuất phát từ yêu cầu, nguyện vọng của nhân dân miền Bắc cùng như xu thế phát triển của thời đại Đảng quyết định đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa

Miền Bắc bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là thựchiện đúng Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản (1930) Cương lĩnh chính trị đầu tiên đã xác định cách mạng nước ta phải trải qua hai giai đoạn: cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, sau đó tiến lên chủ nghĩa xã hội Cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân do Đảng lãnh đạo, có sứ mệnh lịch sử đánh đuổi đế quốc, giành độc lập dân tộc và đánh đổ giai cấp địa chủ phong kiến,giành ruộng đất cho dân cày Mục tiêu của cách mạng là đưa nước ta tiến lên chủ nghĩa

xã hội, bỏ qua chế độ tự bản chủ nghĩa

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, Đảng luôn giữ vững tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo trong hoạch định đường lối cũng như trong chỉ đạo thực hiện cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc

b/ Nhận thức đúng đắn lý luận của chủ nghĩa Mác_Lênin về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội cũng như nhận thức đúng đắn về quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, nắm bắt sát đúng đặc điểm thực tiễn trên của Việt Nam

Trong lãnh đạo cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bấc Đảng cần nhận thức đúng đắn quan điểm của V.I.Lênin về đặc trưng của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Tôn trọng quy luật khách quan đặc biệt là quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất Chỉ có như vậy Đảng mới khắc phục được tư tưởng chủ quan, nóng vội và trong chỉ đạo thực hiện mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, mọi chủ trương, chính sách mới phù họp với thực tiễn cách mạng Việt Nam cả về kinh tế, chính trị văn hóa - xã hội, truyền thống lịch sử và con người Việt Nam

c/Đảng đồng thời lãnh đạo hai chiến lược khác ở hai miền, xác định rõ vai trò, vị

trí của cách mạng mỗi miền đó là sự sáng tạo, nhạy bén của Đảng trong hoàn cảnh vừa

có chiến tranh, vừa có hòa bình

Trang 31

Xuất phát từ thực tiễn của đất nước, trong điều kiện đất nước tạm thời bị chia cắt làm hai miền, Đảng đồng thời lãnh đạo (thực hiện hai chiến lược cách mạng ở hai miền trong cùng một thời gian (1954-1975): miền Bắc tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, miền Nam tiếp tục cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Trong đó, Đảng xác định cách mạng xã hội chủ nghĩa miền Bắc có vai trò quyết định nhất đối với toàn bộ sự phát triển của cách mạng Việt Nam; miền Nam là tiền tuyến lớn, cách mạng miền Nam có vai trò quyết định trực tiếp đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc Sự kết hợp chặt chẽ hữu cơ hai chiến lược cách mạng, đồng thời xác định rõ vai trò vị trí cách mạng của mỗi miền, đây là nét độc đáo của cách mạng Việt Nam thể hiện sự sáng tạo, nhạy bén của Đảng trong mọi hoàn cảnh lịch sử

d/ Trong quá trình hoạch định đường lối và tổ chức chỉ đạo thực hiện, cần chú trọng lựa chọn những kinh nghiệm phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện cụ thể của Việt Nam

Học tập kinh nghiệm bên ngoài là sự cần thiết trong quá trình hoạch định đường lối và

tổ chức chỉ đạo thực hiện đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, coi đó là điều kiện cần thiết đối với một đảng cầm quyền Tuy nhiên, Đảng cần căn cứ vào thực tiễn sinh động của Việt Nam để vận dụng những nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin, những quy luật phổ biến,cũng như chú trọng lựa chọn những kinh nghiệm của các nước anh em về cách mạng dân tộc dân chủ và cách mạng xã hội chủ cho phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện cụ thể của Việt Nam, tránh giáo điều sách vở, rập khuôn máy móc kinh nghiệm của nước ngoài

Những kinh nghiệm trên có gía trị lý luận và thực tiễn trong quá trình Đảng lãnh đạo

xây dựng chủ nghía xả hội trên cả nước

Bài 9: Đảng lãnh đạo công cuộc đổi mới từ 1986-nay

1/Bối cảnh lịch sử của ĐH VI của Đảng:

- Thế giới: Xu hướng hợp tác và cạnh tranh trên Thế giới đang từng bước thay thế

xu hướng đối đầu và xung đột; Những thành công cũng như thất bại của các nước trên TG khi tiến hành cải cách, đã gợi ra nhiều bài học kinh nghiệm mà VN có thể tham khảo

- Trong nước: Trước ĐH VI đất nước rơi vào khủng hoảng KT-XH; Cuối những năm 70 thế kỷ XX, ở một số địa phương đã có những tìm tòi thử nghiệm cách làm ăn mới; Đảng và Nhà nước ta đã kịp thời tổng kết thực tiễn, điều chỉnh cơ chế, chính sách để đi đến hoàn tất các quan điểm đổi mới (3 bước đột phá: NQ TW6 khóa 4 làm cho sản xuất bung ra;

Trang 32

NQ TW8 khóa 5 xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp; Hội Nghị Bộ chính trị (8/1986)

đề ra các quan điểm kinh tế)

• Sản xuất kinh tế khủng hoảng

+ Tư duy kinh tế + Tổng kết thực tiễn

2/Nội dung cơ bản của đường lối đổi mới của đại hội VI của ĐCS VN năm 1986: (gồm 5 nội dung) Liên hệ thực tiễn

- Đổi mới cơ cấu KT (nông nghiệp là mặt trận hàng đầu; điều chỉnh lớn cơ cấu đầu tư: sản xuất lương thực, thực phẩm, sản xuất hàng tiêu dùng, sx hàng hóa xuất khẩu);

- Đổi mới cơ chế quản lý KT(xóa bỏ cơ chế quản lý tập trung quan liêu hành chính bao cấp; đổi mới kế hoạch hóa, kết hợp kế hoạch hóa)

- Đổi mới và tăng cường vai trò quản lý, điều hành của nhà nước về KT;

- Đổi mới hoạt động KT đối ngoại trên cơ sở mở rộng và nâng cao hiệu quả KT đối ngoại;

- Đổi mới tư duy lý luận và phong cách lãnh đạo của Đảng

Ý nghĩa: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của đảng có ý nghĩa lịch sử

trọng đại, đánh dấu bước ngoặc trong sự nghiệp quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta

Thực tiển:

* Từ 1986 đến nay:

- Trước bối cảnh mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới tạm thời lâm vào thoái trào, Đại hội VII của Đảng (tháng 6/1991) khẳng định tiếp tục đổi mới đồng bộ, triệt để trên các lĩnh vực với những bước đi, cách làm phù hợp và giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa Đại hội đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, xác định những quan điểm và phương hướng phát triển đất nước, khẳng định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh

là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng

- Từ đó đến nay, Đảng ta tiếp tục phát triển tư duy lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Hệ thống quan điểm lý luận về công cuộc đổi mới, về chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, về xây dựng và chỉnh đốn Đảng trong tình hình mới được bổ sung và phát triển ngày càng hoàn thiện

- Gần 30 năm đổi mới, “đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội và tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, đang đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế Kinh tế tăng trưởng khá, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước hình thành, phát triển Chính trị – xã hội ổn định;

Trang 33

quốc phòng, an ninh được tăng cường Văn hoá – xã hội có bước phát triển; bộ mặt đất nước

và đời sống của nhân dân có nhiều thay đổi Dân chủ xã hội chủ nghĩa được phát huy và ngày càng mở rộng Đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường Công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền và cả hệ thống chính trị được đẩy mạnh Sức mạnh về mọi mặt của đất nước được nâng lên; độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ xã hội chủ nghĩa được giữ vững Quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng và đi vào chiều sâu; vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao”

Tại Bình Thuận gần 30 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, đặc biệt là sau 22 năm tái lập tỉnh, Đảng bộ và nhân dân Bình Thuận đã nỗ lực khắc phục khó khăn, phát huy truyền thống cách mạng, tiềm năng và lợi thế để xây dựng tỉnh nhà đạt nhiều thành tựu quan trọng trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội Từ một tỉnh nghèo, kinh tế kém phát triển, thu ngân sách thấp, kết cấu hạ tầng yếu kém, đời sống nhân dân khó khăn, đến nay, tổng thu ngân sách nội địa của tỉnh từ 140 tỷ đồng (năm 1993) đã tăng lên 3.800 tỷ đồng (năm 2014) Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm đạt 11,6% (nhóm nông lâm thuỷ sản tăng 7,0%; nhóm công nghiệp, xây dựng tăng 17,7%; nhóm dịch vụ tăng 13,7%) Riêng giai đoạn 2005-2014 tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 10,9%/năm GRDP bình quân đầu người năm 2014 đạt 1.656 USD (tăng 12,7 lần so năm 1991) Tích lũy từ nội bộ nền kinh tế từ 9,5% (năm 1991) tăng lên 20% (năm 2014) Vốn đầu tư phát triển bình quân hàng năm tăng 18,8% Kinh tế phát triển đã tạo điều kiện cho tỉnh đầu tư giải quyết các vấn đề xã hội đạt nhiều kết quả tích cực Trong đó, sự nghiệp giáo dục, y tế không ngừng phát triển về quy mô và chất lượng, đáp ứng tốt nhu cầu nâng cao dân trí và chăm sóc sức khỏe nhân dân Công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm và xóa đói, giảm nghèo đạt kết quả tích cực; những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc được kế thừa và phát huy; đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được cải thiện và nâng lên rõ rệt; bộ mặt của quê hương ngày càng khởi sắc… Tình hình chính trị ổn định, quốc phòng-an ninh, trật tự xã hội được giữ vững, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của toàn hệ thống chính trị không ngừng nâng lên

ÔN THI TỐT NGHIỆP-THẦY DUY (Phần I.1)

Nội dung kinh tế - chính trị

1 Sản xuất hàng hóa và quy luật giá trị trong nền sản xuất hàng hóa:

- Khái niệm tư bản: là một kiểu quan hệ sản xuất xã hội được hình thành trong lịch sử,

là giá trị mang lại giá trị thặng dư bằng cách bóc lột lao động không công của công nhân làm

Trang 34

thuê Nếu xét theo phương diện vai trò đối với quá trình tạo giá trị và giá trị thặng dư, tư bản được chia thành hai bộ phận là tư bản bất biến và tư bản khả biến

b Phân biệt tiền với tư bản:

- Tiền tệ là hàng hóa đặc biệt, là 1 hình thái giá trị của hàng hóa, là sản phẩm của quá trình sản xuất và trao đổi hàng hóa

- Tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư bằng cách bóc lột lao động của công dân

- Tiền là sản phẩm của lưu thông hàng hóa, đồng thời cũng là hình thức biểu hiện đầu tiên của tư bản

- Công thức chung

T – H – T

H – T – H

- Sản xuất lần lưu thông đều tao ra giá trị và giá trị thặng dư

- Lưu thông là quá trình trong đó diễn ra các hành vi mua và bán (Phần liên hệ)

Nếu mua - bán ngang giá thì chỉ có sự thay đổi hình thái của giá trị: từ tiền

thành hàng hoặc từ hàng thành tiền Còn tổng số giá trị trong tay mỗi người tham gia trao đổi trước sau vẫn không thay đổi

Trong trường hợp trao đổi không ngang giá, hàng hóa có thể bán cao hơn hoặc

thấp hơn giá trị Nhưng, trong nền kinh tế hàng hóa, mỗi người sản xuất đều vừa là người bán, vừa là người mua Cái lợi mà họ thu được khi bán sẽ bù lại cái thiệt khi mua hoặc ngược lại

Trong trường hợp có những kẻ chuyên mua rẻ, bán đắt thì tổng giá trị toàn xã hội cũng không hề tăng lên, bởi vì số giá trị mà những người này thu được chẳng qua chỉ là

sự ăn chặn, đánh cắp số giá trị của người khác mà thôi

Như vậy lưu thông và bản thân tiền tệ trong lưu thông không hề tạo ra giá trị

2 Tuần hoàn và chu chuyển tư bản (144)

a Tuần hoàn tư bản: là sự vận động của tư bản trải qua các giai đoạn, lần lược mang những hình thái khác nhau, thực hiện các chức năng khác nhau rồi trở về hình thái ban đầu với giá trị không những được bảo tồn mà còn tăng lên

- Công thức vận động:

TLSX

T - H SLĐ SX - H’ - T’ (trong đó: T’ = T + t)

Trang 35

c Ba giai đoạn tuần hoàn của tư bản (trang 144, 145/sgk)

- Tuần hoàn của tư bản là sự vận động của tư bản lần lượt trải qua 3 giai đoạn, dưới 3 hình thái, với những chức năng tương ứng, rồi quay về hình thái ban đầu cùng với giá trị thặng dư

- Sự vận động của tư bản về chất được thể hiện thông qua công thức dưới đây :

T-H-sx H’-T’.Trong đó T’=T+t (công thức cụ thể trong skg/144)

- Công thức này cho thấy, sự vận động của tư bản diễn ra quan ba giai đoạn :

+ Giai đoạn 1 : Tiền - Hàng (giai đoạn lưu thông thứ nhất)

Trong giai đoạn này, tư bản tồn tại dưới hình thái tiền, được gọi là tư bản tiền tệ Kết quả của giai đoạn này là tư bản tiền tệ chuyển hóa thành tư bản sản xuất, làm cho lưu thông gián đoạn và sự vận động của tư bản chuyễn sang giai đoạn kế tiếp

+ Giai đoạn 2 : Sản xuất

- Trong giai đoạn này, tư bản tồn tại dưới hình thái tư bản sản xuất, vừa có chức năng sản xuất ra hàng hóa có giá trị sử dụng và giá trị, vừa sản xuất giá trị thặng dư

- Kết quả của giai đoạn này là, tư bản sản xuất chuyển hóa thành tư bản hàng hóa, giá trị thặng dư xuất hiện lần đầu tiên dưới hình thái hàng hóa

+ Giai đoạn 3 : (giai đoạn lưu thông 2)

- Trong giai đoạn này, tư bản hàng hóa vừa thực hiện chức năng thực hiện giá trị của hàng hóa, vừa thực hiện chức năng của tư bản là thực hiện giá trị tư bản và thực hiện giá trị thặng dư

- Kết quả là làm cho tư bản quay về hình thái ban đầu cùng với giá trị thặng dư dưới hình thái tiền

Như vậy, tuần hoàn của tư bản là sự vận động của tư bản, lần lượt trải qua 3 giai đoạn, dưới ba hình thái kế tiếp nhau : tư bản tiền tệ, tư bản sản xuất, tư bản hàng hóa với những chức năng tương ứng, rồi quay về hình thái ban đầu cùng với giá trị thặng dư

Trang 36

do mục đích của sản xuất tư bản chủ nghĩa là chiếm đoạt giá trị thặng dư ngày càng tăng nên tư bản không thể dừng lại trong khuôn khổ một vòng tuần hoàn mà phải luôn lặp đi lặp lại không ngừng

d Thời gian chu chuyển:

+ T chu chuyển = T sản xuất + T lưu thông

+ Thời gian chu chuyển càng ngắn thì hiệu quả của tư bản càng cao và ngược lại

e Tốc độ chu chuyển:

 Tốc độ chu chuyển càng nhanh thì hiệu quả của tư bản càng cao và ngược lại

3 Liên hệ vận dụng trong nền kinh tế đất nước và địa phương

Dựa trên các nội dung trên để đánh giá thực trạng (thành tựu, hạn chế) và đưa ra kiến nghị, đề xuất về:

- Việc sử dụng nguồn vốn trong hoạt động sản xuất và kinh doanh hợp lý, nhằm

- Tăng tốc độ chu chuyển tư bản cố định, tận dụng công suất của máy móc, thiết bị

- Việc đẩy nhanh tốc độ xây dựng công trình để sớm đưa vào khai thác, sử dụng càng sớm càng tốt

Cả nước:

+ Quán triệt tinh thần vốn trong nước là quyết định, vốn ngoài nước là quan trọng Tiếp tục đổi mớicác chính sách kinh tế, đặc biệt là chính sách tài chính tiền tệ để thực hiện tốt việc tạo vốn, huy động và sử dụng vốn có hiệu quả Xây dựng môi trường vĩ mô ổn định, thuận lợi, các chính sách, luật lệ, quy chế rõ ràng và nhất quán, thực hiện nghiêm minh

để mọi người yên tâm đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh Đơn giản hoá các thủ tục hnàh chính trong việc xin phép đầu tư, đăng ký kinh doanh, thuê đất quy hoach xây dựng sẵn nhữngcơ sở hạ tàng cần thiết và những quy chế quản lý hành chính – kinh tế thích hợp ở những địa bàn chọn lọc để thu hút nhanh đầu tư trong và ngoài nước, hinh thành những khu, cụm công nghiệp ở từng vùng,từng địa phương

Cải cách hệ thông thuế, tiếp tục xoá bao cấp, bù lỗ cho những hàng hoá dịch vụ như: điện, nước, xăng dầu , tưng thu giảm chi tiến tới cân bằng thu chi

Tích cực xây dựng thị trường vốn Phát triển các hình thức huy động vốn bằng góp cổ phần, bán cổ phiếu trái phiếu cho người đầu tư trong nước, thí điểm bán một phần ra thị trường vôn quốc tế, từng bước hình thành thị trường chứng khoán.Ưu tiên cho đầu tư trực tiếp, nhất là từ những công ty đa quốc gia, xuyên quốc gia có tầm cỡ trên thế giới để tranh thủ chuyển giao công nghệ hiện đại, kỹ năng quản lý điều hành tiên tiến, mở lối thâm nhập vào thị trường khu vực và quốc tế

Quy định chặt chẽ về vay vốn và trả nợ, kể cả vay trong nước và ngoài nước Đối với các doanh nghiệp, áp dụng cơ chế tự ay , tự trả Nhà nước có thể dành một phần vốn vay làm nguồn tín dụng đầu tư trong nước, nhưng cần làm có trọng điểm và đều phải bảo đảm trả được nợ

+ Trong thực tế các doanh nghiệp đều có nhu cầu đổi mới công nghệ hiện đại

để tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm Nhưng lực bất tòng tâm, gần hầu

Trang 37

hết các xí nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩumáy móc thiết bị lạc hậu nhưng nguồn vốn tự có quá thấp nhất là doanh nghiệp do địa phương quản lý, sản xuất kinh doanh gần như 100% dựa vào vốn tín dụng ngân hàng trong khi muố nhập một dây chuyền sản xuất hiện đại phải mất hàng triệu đôla Nếu doanh nghiệp sử dụng vốn tín dụng để sản xuất thì giá thành sản phẩm sẽ rất cao(vì chứa lãi suất tiền vay và khấu hao tài sản) và thế sẽ không được thj trường chấp nhận, sản phẩm vị ứ đọng

Điều hết sức nhức nhối là thị trường hàng ngoại nhập hầu như bị thả nổi Hàng nhập lậu tràn vào Việt Nam từ bố phía: hàng không, đường sắt, đường bộ qua hàng nghìn km biên giới với các nước biên giới láng giềng

Luật đầu tư nước ngoài chưa thực sự đơn giản, còn cồng kènh, nhiều thủ tục làm cho vấn đề thu hút vốn đầu tư còn gặp nhiều khó khăn

Nạn chảy máu chất xám còn tồn tại, những người có trình độ, tay nghề cao không có môi trường và điều kiện để họ cống hiến và phát huy nên họ phải tìm đến nơi có điều kiện tốt ở nước ngoài để nâng cao và phát huy năng lực

+ Cơ sở hạ tầng của nước ta còn thấp kém, chưa tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp phát triển

Thực hiện Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 16/01/2012 của Ban Chấp hành Trung ương khoá XI về “Xây dựng KCHT đồng bộ nhằm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020” (Nghị quyết số 13-NQ/TW), đến nay đã đạt được những kết quả tích cực Nghị quyết đã được các cấp ủy Đảng, chính quyền quán triệt và thực hiện nghiêm túc, đạt được nhiều thành tựu rõ nét trong phát triển KCHT kinh tế - xã hội

Các nhiệm vụ về xây dựng và hoàn thiện thể chế phát triển KCHT, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đã và đang được khẩn trương xây dựng, hoàn thiện theo Chương trình hành động của Chính phủ tại Nghị quyết số 16/NQ-CP ngày 08/6/2012 (Nghị quyết số 16/NQ-CP)

Một số công trình giao thông quan trọng, quy mô lớn được đầu tư, nâng cấp, đảm bảo kết nối giữa các vùng miền trong cả nước và quốc tế; các tuyến đường cao tốc, cảng hàng không, cảng biển… đang được đẩy nhanh tiến độ thi công; hạ tầng giao thông ở các vùng kinh tế trọng điểm được ưu tiên bố trí vốn đầu tư để sớm hoàn thành, đưa vào sử dụng

Để tiếp tục thực hiện thành công các mục tiêu của Nghị quyết số 13-NQ/TW, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các Bộ, ngành khẩn trương hoàn thành xây dựng các văn bản Luật trong Chương trình hành động của Chính phủ ban hành tại Nghị quyết số 16/NQ-CP Các Bộ, ngành và địa phương tiếp tục rà soát quy hoạch các lĩnh vực KCHT, đảm bảo cân đối giữa nhu cầu và nguồn lực thực hiện, nâng cao tính khả thi của các quy hoạch, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt trong năm 2015 - 2016 để triển khai thực hiện

Ở tỉnh Bình Thuận:

+ Về lĩnh vực tài chính và ngân hàng ở tỉnh ta: Thu thuế, phí, lệ phí hàng năm

đều tăng đã góp phần thu ngân sách của tỉnh năm sau cao hơn năm trước Trong 10 năm gần đây, thu nội địa tăng bình quân 16,7%/năm; thu thuế, phí tăng 18,7%/năm Tỷ lệ thu nội địa

Trang 38

so với GRDP hàng năm đạt từ 10-12% Chi ngân sách địa phương bình quân tăng 15,9%/năm, trong đó chi đầu tư phát triển tăng 16,0%, chiếm trên 30% trong chi ngân sách địa phương Nguồn vồn đầu tư từ ngân sách nhà nước chủ yếu tập trung cho những công trình then chốt, bức xúc, trong đó có các công trình đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ sự nghiệp giáo dục, y tế, các công trình đầu tư kết cấu hạ tầng vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc, các công trình phục vụ những nhiệm vụ trọng tâm của tỉnh

Hoạt động tín dụng tiến triển đều Mạng lưới ngân hàng và các tổ chức tín dụng trong những năm gần đây được mở rộng, tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ sở kinh tế lựa chọn vay vốn , góp phần đẩy mạnh phát triển kinh tế trên địa bàn Riêng năm 2014, nguồn vốn huy động tăng 18%; dư nợ tín dụng tăng 20% so với đầu năm

+ Các nhà máy thủy điện, phong điện, nhiệt điện được đầu tư và đi vào hoạt động tạo điều kiện để sản xuất công nghiệp trong 10 năm qua đạt khá (bình quân tăng 13,5%/năm) Các sản phẩm sản xuất đều tăng So năm 2005, đá xây dựng năm 2014 tăng 3,8 lần; muối hạt tăng 1,3 lần; thuỷ sản đông lạnh tăng 2,6 lần; nước mắm tăng 1,7 lần, đường tăng 2 lần; hạt điều nhân tăng 2,9 lần, gạch nung tăng 2,2 lần; nước khoáng tăng 3,1 lần; nước máy tăng 2,9 lần; sản phẩm may mặc tăng 4,7 lần; điện phát ra tăng 2,4 lần… Sự gia tăng các sản phẩm công nghiệp là kết quả của đầu tư chiều rộng và chiều sâu bằng nhiều nguồn vốn, trong đó đã phát huy được tiềm lực của các thành phần kinh tế vào phát triển công nghiệp

Cơ cấu cây hàng năm chiếm tỷ trọng 75%, cây lâu năm 25% thì đến năm 2014 diện tích cây hàng năm còn 67%, cây lâu năm 33% Trong đó, cây thanh long, cao su tăng khá nhanh Đến cuối năm 2014, diện tích cây thanh long có 23.200 ha (năm 2005: 5.799 ha); cây cao su 42.800 ha (2005: 12.515 ha) Sản lượng mủ cao su từ 6.518 tấn (năm 2005) tăng lên 38.900 tấn (2014); thanh long từ 96.806 tấn (2005) tăng lên 430.120 tấn (2014) Sản lượng lương thực không ngừng tăng lên; năm 2014 đạt 778 ngàn tấn (tăng 1,8 lần so với năm 2005) Chất lượng sản phẩm nông nghiệp luôn được nâng lên, đáp ứng tốt nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu

Tỉnh đã đầu tư nhiều công trình thủy lợi lớn như: hồ Sông Quao, hồ Cà Giây,

hồ Đu Đủ, hồ Tà Pao…và nâng cấp nhiều công trình thủy lợi khác nên đã nâng diện tích chủ nước, tạo điều kiện thâm canh, tăng vụ, nâng cao hiệu quả sản xuất

+ Kết cấu hạ tầng giao thông được xây dựng đến tận các vùng, miền, cả các xã miền núi, đáp ứng khá tốt nhu cầu phát triển kinh tế của địa phương Các tuyến đường kết nối giữa các huyện đều được nhựa hóa Các tuyến giao thông quan trọng phục vụ phát triển kinh

tế của tỉnh như: Quốc lộ 28; Quốc lộ 55; đường Hàm Minh- Thuận Quý; đường Phan Thiết -

Kê Gà - La Gi; Phan Thiết - Mũi Né - Hòa Thắng; Sông Mao - Phan Sơn; Chí Công - Bình Thạnh; đường ĐT 707 - Hàm Cần - Mỹ Thạnh, đường Phú Hội- Cẩm Hang - Sông Mao; đường ĐT 712 - Thị trấn Đức Tài; đường giao thông trên đảo Phú Quý; đường Hòn Lan - Kê Gà; các tuyến Lạc Tánh - Đức Phú, cảng Phan Thiết, cảng Phú Quý… đã được đầu tư làm mới hoặc nâng cấp, hình thành nên mạng lưới giao thông khá hoàn chỉnh trên địa bàn tỉnh và kết nối các tỉnh trong khu vực Hoạt động vận tải phát triển nhanh, trong đó vận tải xe buýt và đường sắt tuyến Phan Thiết - TP.Hồ Chí Minh đáp ứng tốt nhu cầu đi lại của nhân dân và

Trang 39

khách du lịch Vận tải đường biển tuyến Phan Thiết - Phú Quý hoạt động ổn định Khối lượng luân chuyển hàng hoá tăng bình quân 10%/năm; luân chuyển hành khách tăng bình quân 8,8%/năm

Sự gia tăng các sản phẩm công nghiệp là kết quả của đầu tư chiều rộng và chiều sâu bằng nhiều nguồn vốn, trong đó đã phát huy được tiềm lực của các thành phần kinh tế vào phát triển công nghiệp Các DNNN sau khi cổ phần hóa đã nâng cao hiệu quả hoạt động Khu Công nghiệp được đầu tư xây dựng và thu hút khá nhiều nhà đầu tư Trong đó, KCN Phan Thiết giai đoạn 1 đã hoàn tất xây dựng kết cấu hạ tầng, lấp đầy 100% diện tích cho thuê đất; các KCN khác như KCN Phan Thiết giai đoạn 2, KCN Hàm Kiệm 1, KCN Hàm Kiệm 2, KCN Sông Bình đã cơ bản hoàn thành xây dựng kết cấu hạ tầng và lấp đầy từ 20-40% diện tích

Các dự án sản xuất điện được triển khai tích cực, đến cuối năm 2014 đã hoàn thành đưa vào vận hành 20 trụ phong điện (30MW) ở Bình Thạnh (Tuy Phong), 3 trụ phong điện ở huyện Phú Quý; phát điện tổ máy số 1 (622MW), tổ máy số 2 (622MW) nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 2; khởi công xây dựng nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 4; hoàn thành nâng công suất các trạm biến áp 110/22KV: Lương Sơn, Phan Rí, Thuận Nam, Hàm Kiệm; thi công hoàn thành Dự án nâng cao hiệu quả năng lượng khu vực nông thôn tỉnh gồm: đường dây trung áp: xây mới 42,768 km, cải tạo 132,37 km; đường dây hạ áp: xây mới 77,121km, cải tạo 33,174 km; trạm biến áp: xây mới 56 trạm/3.090 KVA

Khối thi kiến thức 2

ÔN THI TỐT NGHIỆP-THẦY HÀ

Phần III.1: Những vấn đề cơ bản về hệ thống chính trị, nhà nước và pháp luật XHCN

* Nội dung 1:

Câu 1 Khái niệm nhà nước pháp quyền, đặc trưng của nhà nước pháp quyền XHCNVN, phương hướng xây dựng nhà nước pháp quyền XHCNVN

1 Khái niệm nhà nước pháp quyền XHCN:

Nhà nước pháp quyền XHCN là nhà nước XHCN thực sự của dân, do dân, vì dân; tất

cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân; bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp, quản lý xã hội theo pháp luật nhằm phục vụ lợi ích và hạnh phúc của nhân dân, do Đảng CSVN lãnh đạo, đồng thời, chịu trách nhiệm và sự giám sát của nhân dân

2 Đặc trưng của nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam

Gồm 6 đặc trưng sau:

- Nhà nước thực sự của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân

Trang 40

- Tổ chức, hoạt động theo nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong quá trình thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp (Đã điều chỉnh theo Hiến pháp 2013)

- Tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp và pháp luật, bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp, pháp luật trong đời sống xã hội

- Nhà nước tôn trọng, thực hiện và bảo vệ quyền con người, bảo đảm trách nhiệm giữa nhà nước và công dân

- Nhà nước do Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo, sự giám sát của nhân dân và phản biện xã hội của mặt trận tổ quốc Việt Nam

- Thực hiện đường lối hòa bình, hữu nghị với các dân tộc và các nhà nước trên thế giới trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau và cùng có lợi; đồng thời tôn trọng và cam kết thực hiện các công ước, điều ước, hiệp ước quốc tế đã tham gia, ký kết, phê chuẩn

Sơ đồ bản chất nhà nước

Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân

3 Phương hướng xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam

Gồm 8 vấn đề sau:

- Phát huy dân chủ, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân

- Đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật

- Tiếp tục đổi mới tổ chức, hoạt động của quốc hội

- Đẩy mạnh cải cách hành chính

- Đẩy mạnh cải cách tư pháp

- Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đủ năng lực, phẩm chất, đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân

- Đẩy mạnh đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng và những hiện tượng tiêu cực khác trong bộ máy nhà nước

Giai cấp Công nhân

Giai cấp Nông dân

Đội ngũ

Trí thức

Ngày đăng: 09/12/2017, 10:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w