Cần chắc là các đồ chơi/trò chơi bé đã biết gọi tên và bé có thể sử dụng tên để yêu cầu.. Chúng takhông thể tự giả định là nếu bé đã biết tên gọi sự vật thì bé sẽ biết dùng chính từ đó đ
Trang 1Anh cu nhà này đã từng thử vụ VB rồi, nói chung là từ chỗ ban đầu thảm
thương, về sau trộm vía cũng có khá hơn Kết quả thấy rõ, nhanh, nhưng tốn nhiều công sức và đồ dùng vô cùng
Đến giai đoạn sau, cần dạy những cái có liên hệ qua lại và phức tạp hơn thì mẹcháu phải chuyển sang cách khác
Hy vọng bản dịch ấu trĩ những ngày đầu của anh cu có ích cho các cha mẹkhác
Bước 1 – Lôi cuốn bé cùng tham gia
Bước đầu tiên của chương trình trị liệu là làm quen và tìm hiểu bé, sở thích
và khả năng xử lý thông tin của bé Điều đầu tiên ta dạy bé là "Hợp tác với
cô còn vui hơn chơi một mình!" Chúng ta sẽ theo dõi bé để xem bé thích loại
hoạt động gì Chúng ta sẽ khám phá xem các giác quan cảm nhận của bé đểxem bé thích chơi kiểu gì Chúng ta sẽ thử các loại giọng, các kích thích xúcgiác, âm lượng và hiệu ứng hình ảnh để xem cách bé xử lý thông tin Chúng ta
sẽ dùng thông tin này để tương tác với bé sao cho bé thấy hứng thú Điều
này không hẳn là bé sẽ luôn vui vẻ trong suốt quá trình trị liệu vì sẽ có nhữnglúc “giao tiếp bị gián đoạn" vì bé có thể cảm thấy cáu giận, tùy theo khả năngkiềm chế của bé VD, bé có thể muốn một vật gì đó nhưng không thể nói chogiáo viên biết được và bé có thể khóc Trong những trường hợp này, chúng ta sẽ
dùng kỹ thuật uốn nắn hành vi để không sa vào sai lầm củng cố/khuyến khích
bé dùng hành vi xấu để giao tiếp Phần này rất quan trọng vì đôi khi người ta vôtình dạy bé “Nếu mình khóc đủ lâu và to, sẽ có người tìm ra mình muốn gì vàmang nó đến cho mình " Còn thì phần lớn thời gian, bé sẽ thấy chương trình trị
liệu là quãng thời gian đầy hứng thú Khi bé cười và sung sướng khi nhìn thấy giáo viên là chúng ta biết mình đã làm tốt phần việc này!
Bước 2 – Học gọi tên
Bước tiếp theo là gắn ngôn từ với những hoạt động bé thích Hãy cố gắng
nói cùng một câu theo cùng một trật tự mỗi khi ta tìm cách lôi kéo bé tham giacác trò Những từ đó được gọi là "lời thoại" hay "những quy ước trong hoạtđộng chung" VD, nếu ta thấy bé thích nhún nhẩy trên một quả bóng to, chúng
ta có thể nói "nẩy lên, nảy xuống, quả bóng, nảy xuống, nảy lên, dừng", trongkhi chơi với bé Sau khi nói đi nói lại một số lần, chúng ta bắt đầu bỏ/lược bớt
từ để xem bé có điền từ thiếu vào chỗ trống không, có thể bằng tranh, từ hoặc
ra dấu Chúng ta cũng cho các trò chơi tên gọi Nếu ta thấy bé thích chơi bóng,
Trang 2ta có thể cho bé xem tranh bóng, một biểu tượng hình quả bóng tùy theo khảnăng xử lý thông tin của bé, bé sẽ bắt đầu kết nối tên gọi với hoạt động đó Có
bé tự phát sử dụng những từ đó khi chơi Khi đó, bé đã hiểu rằng đó là những
từ mình dùng khi làm việc này Bé bắt đầu sử dùng từ gắn với các hoạt động béthích và sẽ sử dụng chúng trong những tình huống khác
Bước 3 – Học yêu cầu
Bước tiếp theo là giúp bé biết yêu cầu các trò chơi Cần chắc là các đồ
chơi/trò chơi bé đã biết gọi tên và bé có thể sử dụng tên để yêu cầu Chúng takhông thể tự giả định là nếu bé đã biết tên gọi sự vật thì bé sẽ biết dùng chính
từ đó để yêu cầu Nếu bé chưa biết tự dùng từ, ra dấu hoặc tranh để yêu cầu,chúng ta có thể dạy bé biết yêu cầu Bé có thể biết điền vào chỗ trống từ bóngtrong khi chơi bóng hoặc gọi tên khi bé thấy bóng, nhưng không biết nói bóngkhi muốn yêu cầu được chơi bóng
Hệ thống giao tiếp bằng tranh thường được dùng để dạy bé yêu cầu nếu béthích các biểu tượng hoặc hình họa Nếu bé không thích hình họa, ta có thểdùng ra dấu Nếu bé hay lặp âm (nói theo nhưng không dùng từ có ý nghĩa)chúng ta có thể chuyển từ lặp âm sang yêu cầu Chúng ta sẽ dùng vật hoặc trò
bé thích nhất để dạy bé yêu cầu vì bé sẽ có động lực để giao tiếp Chúng ta sẽthấy bước tiến lớn trong ngôn ngữ của bé khi bé hiểu được sức mạnh đằng saulời nói, ra dấu hay tranh Bé sẽ hiểu, "Mình nói, mình được" và bé sẽ học đượcrất nhiều từ mới!
Chúng ta có thể tăng số lần bé phải yêu cầu để được vật bé thích VD, bé
muốn quả bóng Khi bé đã biết yêu cầu bóng thạo rồi, bé có thể yêu cầu bố mẹ
"đứng lên", "đi", hoặc "mở cửa" để lấy bóng Phải lưu ý tăng từ từ từng bướcmột số lần bé phải yêu cầu nếu không bé sẽ nản mà không yêu cầu bóng nữa!
Đến giai đoạn này chúng ta đã có thể định ra dạng giao tiếp nào là thích hợpnhất cho bé Chúng ta sẽ bắt đầu tạo ra một môi trường sinh ngữ gồm ngôn từ,
ra dấu, và tranh, tuy nhiên thường thì bé không thể sử dụng tất cả các dạng giaotiếp cùng lúc để yêu cầu! Việc lựa chọn hình thức giao tiếp nào là hình thứcchính còn tùy thuộc vào cách phản ứng của bé và cách nào bé sử dụng tốt nhất
VD, nếu bé rất nhạy cảm với xúc giác, cách nhắc bé bằng tay khi dạy bé yêucầu sẽ không hiệu quả Một số bé với chứng mất lời có khó khăn trong vậnđộng tinh Nếu vậy, sử dụng ra dấu sẽ không phải là lựa chọn tốt Nếu bé chịucho sờ vào người và vận động tinh tốt, mà lại không tập trung vào tranh, nên sử
Trang 3dụng ra dấu Có khi cần sử dụng kết hợp các phương tiện với nhau VD, bé cóthể có ngôn từ nhưng có lúc cần dùng hình ảnh để nhắc bé nhớ từ.
Môi trường gia đình của bé cũng là yếu tố cần cân nhắc khi lựa chọn nên sửdụng phương tiện gì Nếu ở nhà bé, khó có thể để tranh cho bé, có thể dùng radấu kết hợp với tranh Dùng phương tiện gì thì cũng phải gắn với ngôn từ vàkhích lệ bé dùng từ! Mục tiêu cuối cùng của chúng ta là dạy bé có ngôn từ, tuynhiên, khi bé chưa làm chủ được ngôn từ, có thể phải dùng đến một phươngtiện giao tiếp bổ sung Với bé chưa có ngôn ngữ, cần tìm hiểu TẠI SAO békhông nói và đáp ứng nhu cầu của riêng bé Tạm thời, cần cho bé một phươngtiện giao tiếp Lưu ý đừng để việc dạy bé yêu cầu biến thành cuộc đấu tranhquyền lực Đừng vì thấy bé chưa yêu cầu mà giả như điếc làm bé cáu Hãy nhắc
bé toàn phần lờ bé cần nói và làm gì để được vật hay trò bé muốn Để làm đượcđiều này, bạn cần phải tinh ý để đoán biết được bé muốn gì
Bước 4 – Nề nếp và thời gian biểu
Giai đoạn tiếp theo trong chương trình trị liệu bao gồm việc lên lịch hoặc luân
phiên các hoạt động Dùng thời gian biểu hữu ích vì hai lý do Thứ nhất, nó
giúp ta đưa ra những hoạt động cần để giải quyết những vấn đề cụ thể về xử lýngôn ngữ hoặc phát ngôn cần có để lôi kéo bé vào các hoạt động mà bé khôngtích VD, chúng ta có thẻ cần học về cử động cá cơ quan phát âm, nhại âm, vần
và từ, hoặc hiểu một số khái niệm ngôn ngữ Nếu bé thấy sau một hoạt độngmới sẽ là một hoạt động bé thích thì bé sẽ sẵn lòng tham gia hơn Thực chất thìhoạt động bé thích là động lực thúc đẩy bé hoàn thành hoạt động mới Lý donữa, là khi bé hiểu khái niệm về thời gian biểu, nó sẽ giúp bé dễ hình dung cái
gì sắp tiếp diễn Với bé có khó khăn khi chuyển từ hoạt động này qua hoạtđộng khác, thời gian biểu sẽ giúp bé khỏi cáu giận Với bé với hệ thần kinhbình thường, chúng ta thường dùng câu “trước tiên/ sau đó” VD khi ta nói, "con
ăn trưa xong, rồi con được đi chơi" Bé tự kỷ có thể không hiểu những từ nàytrừ khi ta dùng tranh minh họa Khi chúng ta bắt đầu dùng thời gian biểu,chúng ta có thể bố trí các hoạt động bé thích rải rác trong suốt thời gianhọc Hoặc chúng ta có thể dùng lịch “đầu tiên/sau đó” Nó dạy bé biết kháiniệm về thời gian biểu bằng các biểu tượng và tranh ảnh bé đã quen Một cáchkhác là lần lượt được lựa chọn trò chơi Khi bé đã hiểu khái niệm này với cáchoạt động bé thích rồi, GV có thể giới thiệu các hoạt động mới khi đến lượtmình được lựa chọn Đây cũng là cách giúp bé bắt đầu hiểu thế nào là đợi đếnlượt
Không phải tất cả các bé đều cần thời gian biểu minh họa bằng tranh vì bé cóthể gặp khó khăn tập trung sử dụng nhiều hơn một giác quan VD, bé có thể
Trang 4khó khăn khi vừa nghe vừa nhìn Có bé cần sử dụng vật cụ thể chứ không phảitranh Có bé tiến triển tốt khi chúng ta xen kẽ các yêu cầu vào các hoạt động béthích và tăng dần số yêu cầu trước khi bé được vật bé muốn Kỹ thuật nàythường hữu ích với bé không thể đợi lâu hoặc không hiểu được khái niệm thờigian biểu Chúng ta có thể bắt đầu bằng việc yêu cầu bé cho ta vật bé thích vàsau đó trả lại ngay cho bé Khi bé hiểu là bé sẽ được trả lại vật bé thích ngaysau khi bé tự nguyện cho vật đó, chúng ta có thể bắt đầu yêu cầu bé làm thêmmột hay hơn một các vật trước khi trả lại bé Cần điều tiết thận trọng số lần hồiđáp để bé vẫn chịu vâng lời Có bé cần ta chỉ dẫn điều ta muốn ở bé nếu không
bé sẽ không chịu làm theo Có thể làm việc này bằng cách dùng bảng ký hiệuhoặc hộp đựng các yêu cầu để bé nhìn thấy bằng mắt các yêu cầu Kỹ thuật dạyphải tùy theo nhu cầu của từng bé và xóa dần phần hỗ trợ khi bé đã tự làmđược
Bước 5 – Cân đối giữa thời gian giáo viên và học sinh làm chủ giờ học
Khi bé đã hiểu khái niệm về thời gian biểu và biết cho vật bé thích được một
thời gian, thường thì buổi học của chúng ta sẽ chia thành giờ “cô làm chủ”
hay “giờ ngồi bàn” và “bé làm chủ” hay giờ “ngồi sàn (chơi)” Như đã nói ở
phần trên, thời gian ngồi bàn là để giải quyết các vấn đề về xử lý ngôn ngữ vàphát ngôn của từng bé Nhiều bé tự kỷ bị rối loạn về chỉ đạo vận động haydyspraxia khiến bé không thể tự chủ các vận động theo trình tự cần thiết đểphát ra lời nói Có bé bị rối loạn khả năng xử lý âm thanh, khiến bé khó táchbiệt các âm thành từ Temple Grandin, một người tự kỷ trưởng thành, kể lại khi
bé cô nghe các âm như chạy cùng nhau và cô không thể biết nó bắt đầu và kếtthúc ở đâu
Chúng ta cần tận dụng tính dễ uốn của não bé khi còn ít tuổi để cải thiện nhữngrối loạn về chỉ đạo vận động và xử lý âm thanh ảnh hưởng đến khả năng hiểu
và phát ra ngôn ngữ Kỹ thuật để giải quyết vấn đề này đòi hỏi rất nhiều sự lặplại và bé sẽ khó chịu vì thế phải sử dụng thêm cả kỹ thuật điều chỉnh hành vi.Chúng ta có thể sử dụng thức ăn, đồ chơi bé thích, thậm chí cả băng video hoặccác phần thưởng và thận trọng điều tiết số lần lặp lại để bé vẫn chịu nghe lời
Sẽ có lúc bé cáu và không vui nếu ta ép bé quá hoặc không thưởng/khích lệ bé.Phải cẩn trọng không khuyến khích bé chạy trốn và dùng từ những lần đó thayđổi phương pháp để tránh không xảy ra lần nữa Phần này cũng tương tự nhưphần trắc nghiệm chuyên biệt phương pháp dạy Cũng tương tự như chươngtrình can thiệp hành vi, chúng ta sử dụng kỹ thuật dạy không có lỗi thay cho lốidạy "sai, sai, rồi mới nhắc nội dung đúng" Có nghĩa là nếu bé không thể trả lời
Trang 5đúng, chúng ta sẽ nhắc toàn phần và xóa dần phần nhắc đến khi bé có thể tự trảlời được Lý do chúng tôi thấy điều này quan trọng là vì bé tự kỷ thường có cáckhiếm khuyết về xử lý thông tin đầu vào, tìm từ và /hoặc chỉ đạo vận động Bé
có thể trả lời một câu hỏi vào một thời điểm, nhưng bé có thể không trả lờiđược câu đó vào lúc khác Lối nhắc “sai, sai, nội dung đúng" có thể làm một số
bé thật sự khó chịu vì riêng việc bé không tìm được từ hoặc âm đúng đã khóchịu rồi, câu "sai" lại chẳng giúp gì cho bé, mà chỉ cho bé biết là bé sai Theochúng tôi, cần để bé thấy bé học được và được khích lệ vì đã cố gắng giao tiếpbằng lời – như vậy bé mới có động lực để nói Cần thận trọng xóa dần lời nhắc
để bé không bị phụ thuộc vào chúng Điều này không có nghĩa là chúng tôikhông bao giờ tán thành dùng từ “sai rồi” trong chương trình trị liệu, nhưng vớiphần gia tăng lời nói của bé thì đúng
Thời lượng "ngồi bàn" còn tùy thuộc vào từng bé nhưng phải luôn xen kẽ cảthời gian ngồi bàn và ngồi sàn (chơi) Thời gian chơi phải bao gồm cả thời gian
cô và bé làm chủ Chúng tôi thấy cần cân đối hài hòa giữa hai phần này đểchúng ta có thể khám phá thêm những hoạt động mà bé thích đồng thời kháiquát hóa những kỹ năng bé học trong thời gian ngồi bàn Nếu trong thời gianhọc, bé bắt đầu tỏ ra không còn thích thú nữa, phải lập tức cân đối lại thờilượng giữa hai phần Chúng tôi thấy bé sẽ học và thích học nếu chúng ta cóphương pháp sư phạm đúng đắn
Bước 6 – Mở rộng vốn từ và làm theo những hướng dẫn đơn giản
Khi bé đã có thể dễ dàng trao đổi những nhu cầu đơn giản của bé, chúng ta sẽ
bắt đầu mở rộng vốn từ vựng và phối hợp các kỹ năng Chúng ta có thể dùng
các câu chuyện bé thích hoặc các trò chơi theo chủ đề để học từ mới, kỹ năng mới và phát triển các “lời thoại” mới Thời gian ngồi bàn trong giai
đoạn này có thể bao gồm việc dạy những khái niệm trừu tượng như quan hệphiến diện hay toàn diện, kỹ năng phân loại, tính từ và giới từ Theo kinh
nghiệm của chúng tôi, bé tự kỷ thường hay gặp khó khăn ở phần này Cần đưa
cho bé thật nhiều ví dụ minh họa cho một khái niệm để khu biệt khái niệm
ta dạy bé, giúp bé hiểu được nghĩa của từ Nếu chỉ với thời gian chơi hoặc
cùng chơi, khó có thể làm được điều này VD, nếu chúng ta muốn dạy bé kháiniệm "to", chúng ta cần phải có ít nhất hai vật giống hệt nhau về mọi mặt trừkích thước Nếu không, chúng ta không thể biết được bé đã gắn kết đặc tínhnào với từ “to” Nếu chúng ta dùng giày to màu đen buộc dây của mẹ và giày
bé màu trắng dán dính của bé để dạy, chúng ta không thể biết liệu bé có cho cáivật màu đen có dây là “to” hay không! Nhưng nếu chúng ta dạy khái niệm nàyvới 2 cái giày giống hệt nhau, một to, một nhỏ, bé chỉ thấy có một điểm khác
Trang 6nhau duy nhất để liên kết với từ đó Sau đó chúng ta phải sử dụng rất nhiều ví
dụ khác nữa để bé khỏi lầm từ “to” với khái niệm “giầy”!
Trong giai đoạn này chúng ta cũng dạy bé làm theo những hướng dẫn đơn giản.Việc trắc nghiệm chuyên biệt là rất hữu ích khi mới dạy những khái niệm kiểunày, tuy nhiên, cần khái quát hóa những khái niệm mới trong môi trường tựnhiên Điều này cần làm trong thời gian chơi và trong hoạt động chung cũngnhư khi tập lời thoại
Bước 7- Kỹ năng ngôn ngữ phức tạp hơn
Khi bé đã hiểu được và sử dụng thành thạo các khái niệm ngôn ngữ, chúng
ta sẽ hướng tới những kỹ năng ngôn ngữ cao hơn như hiểu những lệnh phức tạp, thành lập câu phức hoặc miêu tả và định nghĩa vật và hành động bằng lời Có bé tự kỷ có khả năng phát ngôn tốt hơn khả năng hiểu ngôn ngữ.
Các bé này có thể sử dụng các mẫu câu phức tạp và dài hơn khả năng hiểu của
bé Có bé có thể đọc tương đối trôi chảy nhưng lại không hiểu tài liệu mìnhđọc Với những bé này, chúng ta cần hướng đến những hoạt động nhận thứcnhư trả lời câu hỏi, sắp xếp trình tự, và kể lại câu chuyện Chúng ta cũng bắtđầu một số kỹ năng hội thoại như nói theo chủ đề, hội thoại theo lượt, và đọcngôn ngữ cơ thể của người khác Với bé có khiếm khuyết về xử lý âm thanh,chúng tôi sẽ bắt đầu chương trình giải quyết những vấn đề này như chươngtrình “Tăng tốc" nếu thấy bé cần
Bước 8 –Tương tác xã hội
Nhiều bé tự kỷ gặp rất nhiều khó khăn về tương tác xã hội, và phần này trở thành trọng tâm khi bé đã có thể hiểu và sử dụng những kỹ năng ngôn ngữ
cơ bản Chúng tôi thường sử dụng kỹ thuật của Carol Gray bao gồm "Các mẩu
hội thoại vui" và "Các câu chuyện xã hội" để giúp bé hiểu những lắt léo trong
giao tiếp xã hội Chúng tôi thường gắn màu sắc với các biểu hiện tình cảm và dùng hình ảnh để giúp bé hiểu mọi người nghĩ gì hoặc cảm thấy gì trong những tình huống xã hội cụ thể Hơn thế, các câu chuyện xã hội thường được sử dụng
để dạy bé nên mong đợi điều gì và người khác trông đợi gì ở bé trong từng tìnhhuống xã hội
Chúng tôi cũng dạy bé giao tiếp với bé khác thông qua giờ chơi Đầu tiên là với
sự giúp đỡ của chuyên viên trị liệu, cô giáo hoặc bố mẹ rồi dần dần rút lui để bé
tự chơi không cần giúp
Để tiến hành thành công chương trình ngôn ngữ ứng xử cho bé
Trang 7Giáo án Ngôn ngữ ứng xử
• Dựa trên cuốn “Ngôn ngữ ứng xử” (1957)
Đưa ra luận điểm ngôn ngữ là một hành vi, được chi phối chủ yếu bởi khen
thưởng, và vào việc tạo và duy trì động lực thúc đẩy bé học.
• Tập trung vào việc dạy chức năng của ngôn ngữ
Kỹ thuật dạy tập trung vào việc dạy bé biết hồi đáp về tất cả các khía cạnh chứcnăng Một từ chưa được coi là “dạy xong” nếu bé chưa biết sử dụng từ đó trongmọi chức năng
• Chương trình một cô một trò đặt bé vào “môi trường sinh ngữ tích cực”
Các khía cạnh chức năng của ngôn ngữ
Yêu cầu – Yêu cầu một sự vật (vật, hoạt động, thông tin …) bé muốn Ngôn
ngữ ứng xử trong đó dạng hồi đáp bị chi phối bởi điều kiện thúc đẩy hoặc phản lực tâm lý sẽ quyết định hành vi
(VD đòi ăn khi đói)
“(Con muốn) nước hoa quả.” “(Mình đi) ra ngoài.” “Áo của con đâu?”
Nhận biết/tiếp thu – người nghe phản hồi lại các chỉ dẫn của người khác Xác
định vật bằng cách chỉ, sờ, lấy, v.v…
VD:
GV: “Làm giống cô” (vỗ tay) (HS vỗ tay)
GV: “Đi giày vào” (HS đi giày)
GV: “Ném cô của bóng” (HS ném bóng)
Normal 0 false false false EN-US X-NONE X-NONE
MicrosoftInternetExplorer4
Gọi tên – Gọi tên sự vật (vật, người, hành động …), hoặc đặc tính của một
vật hiện hữu (bao gồm danh từ, đại từ, giới từ, tính từ, trạng từ)
Khi dạy bé gọi tên, bạn chuyển từ hồi đáp yêu cầu sang lặp âm hoặc gọi
tên/thuật lại
Trang 8Bé: (nhìn lên trời và chỉ) “Máy bay!”
GV: (giơ quả bóng đỏ) “Cái này màu gì?”
Bé: “Màu đỏ.”
Bé: (đang ngồi trên đu quay)
GV: “Con đang làm gì?”
HS: “Chơi đu.”
Hội thoại – Trả lời các câu hỏi lấy thông tin hoặc hồi đáp lại lời người khác nói
về sự vật (vật, người, hành động …), hoặc đặc tính của một vật KHÔNG hiện hữu (Hội thoại trao đổi) Hồi đáp dạng “Điền vào chỗ trống” cũng thường được sử dụng
VD
“Con có vui không?” “Có ”
“Con chơi với ai?” “Johnny và David.”
“Con chơi với bao nhiêu đồ chơi?” “Ba.”
“Con thích đồ chơi nào nhất?” “Đồ chơi mới.”
“Nó đâu?” “Ở trên giá sách.”
“Con kể tên một vài con vật.” “Mèo, chó, ngựa.”
“Con vật kêu “meo” là con .” “Mèo.”
FFC (Đặc tính, Chức năng, Chủng loại) – Mối liên hệ ngôn ngữ giữa các từ
Các dạng hồi đáp là Nhận biết, Gọi tên/thuật lại, hoặc Hội thoại.
VD:
GV: “Tìm một con vật.”
HS: (chỉ con mèo) (Nhận biết chủng loại)
GV: “Con gì kêu meo?”
HS: (chỉ con mèo) “Con mèo.” (gọi tên theo đặc tính)
GV: “Con vật và là vật nuôi của con là ”
HS: “Con mèo.” (Điền vào chỗ trống theo chức năng)
Nhái âm/bắt chước lời nói – Bắt chước ngôn từ Khả năng nhắc lại những gì
nghe thấy Dùng để hình thành phát âm, hoặc sau này, để xây dựng mẫu câu phức tạp hơn
VD:
GV: “Quả bóng.”
HS: “Quả bóng.”
Trang 9Bắt chước động tác – copy vận động của người khác Sử dụng ngôn ngữ ra
dấu
VD:
GV: (Làm dấu từ ‘quả bóng’)
HS: (Làm dấu từ ‘quả bóng’)
Các khái niệm quan trọng
Hành vi – Tất cả các hành vi ta dạy bé đều liên quan trực tiếp đến khen thưởng xảy ra sau khi có hành vi Khi chúng ta đã nắm bắt được cái gì là động cơ thúc đẩy bé, chúng ta có thể dàn dựng tình huống khiến bé muốn học.
Động lực thiết lập - (Động cơ) – Nhân tố nhất thời làm tăng hoặc giảm giá trị của khen thưởng và dẫn đến hành vi gia tăng gắn với một khen thưởng
cụ thể.
Khen thưởng – Sự việc xảy ra sau hành vi làm gia tăng khả năng hành vi
đó sẽ tái diễn trong cùng bối cảnh tương tự.
Cái gì ảnh hưởng đến động cơ?
Tước đoạt sẽ làm tăng giá trị của khen thưởng vì người đó chưa có được vật
mong muốn trong một lúc nào đó (Nếu bé để quên ‘Barney’ ở nhà bà tuần trước, khi bé quay lại nhà bà, búp bê là vật bé mong muốn.)
Bão hòa sẽ làm giảm giá trị của khen thưởng Nếu bé chơi búp bê Barney doll
suốt ngày, bé có thể không còn muốn búp bê nữa
Cách dạy không hiệu quả sẽ làm tăng mong muốn chạy trốn và giảm giá trị
của khen thưởng (“Động cơ cạnh tranh.”)
Cách dạy hiệu quả sẽ duy trì giá trị của động cơ thiết lập khiến bé muốn học.
Thưởng và Phạt
Thưởng
• Cho bé cái bé thích sau khi hành vi xảy ra (phần thưởng tích cực), hoặc
• Lấy đi cái bé thấy khó chịu (phần thưởng tiêu cực).
Phạt
• Áp đặt cái bé ghét (phạt tích cực), hoặc
Trang 10• Lấy đi cái bé thích ngay sau khi hành vi xảy ra (phạt tiêu cực).
Thưởng tích cực
Tình huống – Bé nhìn thấy thanh kẹo ở cửa hàng và muốn nó (có động lực thiếtlập)
1) Bé gào lên “Con muốn kẹo” và ăn vạ
Bố mẹ cho bé kẹo để yên chuyện (Củng cố hành vi không đúng mực)
2) Bé quay sang bố và ra hiệu “Kẹo” Bố cho bé kẹo và khen bé đã lễ phép yêu
cầu (Củng cố hành vi đúng mực)
Bàn luận: Trong cả hai trường hợp, bé học được là hành vi của bé giúp bé có được cái bé muốn, nên bé sẽ lặp lại hành vi đó.
Thưởng tiêu cực
Tình huống: Đài bật to trong phòng
1) Bé vào phòng và gào lên.
Có người vặn đài nhỏ đi
(Củng cố hành vi không đúng mực)
2) Bé vào phòng bịt tai và nói “to quá”
Có người hỏi bé có muốn vặn nhỏ đài đi không Khi bé nói “có”, vặn nhỏ đài
Chỉ nên phạt khi các cách tiếp cận chức năng không để lại phản lực tâm lý
đã được dùng mà không giảm được hành vi xấu.
Trang 11Các kỹ thuật củng cố hành vi (phân cấp phần thưởng) phải được sử dụng đi kèm với phạt.
Nguyên tắc cơ bản của một chương trình Ngôn ngữ ứng xử
• Dạy cho bé biết yêu cầu trước tiên
• Bắt đầu từ nội dung bé có thể làm được (VD Lặp âm, bắt chước, nhận biết, vàlàm theo mẫu với “bé bắt đầu học”)
• Giờ học nên đan xen các hoạt động ngôn ngữ với các cơ hội bé được yêu cầu
để làm động lực thúc đẩy bé làm bài tập chính
• Các kỹ thuật dạy cơ bản dựa trên nguyên tắc thay đổi hành vi (ABA)
Các yếu tố làm nên một chương trình hiệu quả
• Với mỗi từ, dạy bé tất cả các khía cạnh chức năng ngôn ngữ
• Hôi thoại diễn ra liên tục giữa cô và trò
Các bài tập được giao liên tục cho bé
Các yếu tố làm nên một chương trình hiệu quả
• Chủ động tạo tình huống để tạo điều kiện thúc đẩy động cơ
(EO’s) để bé xử sự đúng như ta muốn
VD:
1) Để đồ chơi ngoài tầm tay của trẻ; trẻ phải yêu cầu mới được
2) Bé muốn ra ngoài; GV đứng ở cửa và đợi bé xin phép mở cửa
• Học không có lỗi
Nhắc TRƯỚC KHI bé trả lời sai
Bé sẽ bớt cáu kỉnh hơn
• Xóa dần nhắc (Tối đa đến tối thiểu) đợi sau 0 – 3 giây
Tránh phụ thuộc vào nhắc và khuyến khích bé suy nghĩ độc lập
Normal 0 false false false EN-US X-NONE X-NONE
MicrosoftInternetExplorer4
Trang 12• Hồi đáp tốc độ nhanh (trôi chảy)
Sẽ giữ chân bé lâu hơn
Trong đời thực trẻ khác không đợi lâu
• Tỷ lệ hồi đáp đúng cao (Dạy tốc độ)
Liên tục giao bài cho bé
Củng cố việc học kỹ năng
• Khái quát hóa các kỹ năng ngay từ đầu
Các kỹ năng sẽ hữu ích hơn nếu chúng có thể được sử dụng trong các địa điểm
và điều kiện khác nhau
• Đa dạng và xen kẽ các nội dung dạy
Làm bé luôn phải tập trung và không nhàm chán
• Các bài khó xen kẽ với bài dễ để giữ động lực thúc đẩy bé
• Kỹ thuật “Gắn kết” được sử dụng để tạo ra tình huống, người và hoạt động củng cố hành vi và mở rộng mối quan tâm của bé
VD:
Bé vừa xem băng bé thích vừa xếp ghép hình
• Kỹ thuật chuyển tiếp làm cho việc học dễ hơn
VD: (chuyển tiếp từ nhận biết sang gọi tên không có lỗi)
GV: “Chỉ cô con mèo.”
Hành vi luôn xảy ra có lý do Vấn đề là CHÚNG TA có tìm ra NGUYÊN
NHÂN.
Học nên (và có thể) là NIỀM VUI!
Để dạy bé thành công
Trang 13Ngôn ngữ ứng xử là gì?
Ngôn ngữ ứng xử (VB) bắt đầu xuất hiện trong cuốn sách cùng tên của B.F Skinner xuất bản năm 1957 Trong cuốn sách, Skinner giới thiệu hai khái niệm chính Thứ nhất, ông đưa ra luận điểm ngôn ngữ là một hành vi bị chi phối bởi
một số điều kiện trong môi trường Chúng ta có thể làm tăng khả năng hành
vi này diễn ra bằng cách tạo ra những điều kiện thúc đẩy hành vi xuất
hiện và có khen thưởng sau khi hành vi xảy ra Ví dụ, nếu đặt đồ chơi của bé
ở ngăn tủ cao bé không với được Bé phải yêu cầu thì mới lấy được vật
đó Điều kiện thúc đẩy hành vi là ham muốn được chơi đồ chơi đó, hành vi là yêu cầu đồ chơi vàkhen thưởng là được nhận đồ chơi Khái niệm thứ hai Skinner đưa ra là ngôn ngữ có thể coi là một tập hợp các khía cạnh chức
năng độc lập bao gồm yêu cầu, nhận biết tiếp thu (hồi đáp không lời với yêu
cầu/mệnh lệnh), gọi tên/thuật lại, lặp âm(nhắc lại), và hỏi đáp Vì thế một từ
có thể có nhiều nghĩa khác nhau tùy theo ngữ cảnh sử dụng VD, nếu một vận động viên chạy về đến vạch đích người đầy mồ hồi và nhìn huấn luyện viên rồi nói “nước!”, thì phần nhiều đây là yêu cầu xin nước Trong ngữ cảnh khác, bé
có thể ra ngoài sau cơn mưa, và nhìn thấy vũng nước rồi nói “ nước” Trong ngữ cảnh này, bé đã gọi tên cái bé thấy Hoặc có lẽ bé đã nhắc lại âm khi nghe
bố nói từ này Đây là hồi đáp lặp âm Và bé có thể trả lời nước khi được hỏi
“Con bơi ở đâu?” VD trên cho ta thấy cùng một từ khi nói ra có thể có nhiều nghĩa, tùy thuộc vào cách sử dụng từ
Chúng ta cần biết rằng bé sử dụng đúng từ “nước” ở một khía cạnh chức năng này, không có nghĩa là bé có thể sử dụng từ đó ở khía cạnh chức năng khác Vì thế một từ chỉ được coi là “học xong” khi chúng ta đã dạy tất cả các khía cạnh chức năng Để làm được điều này, cần tập trung vào cách chuyển tiếp hồi đáp của bé từ một khía cạnh này sang một khía cạnh khác Thông thường, bé sẽ bắt đầu với chức năng yêu cầu vì chúng củng cố được hành vi đó nhiều nhất Vì bé yêu cầu thì bé được nhận vật bé muốn Từ đây có thể chuyển sang gọi tên theo cách sau:
BÉ: <nhìn thấy đồ chơi và muốn chơi> “Búp bê” (yêu cầu)
Người lớn: <cho bé búp bê> “Cái gì đây?”
BÉ: “Búp bê.” (gọi tên/thuật lại)
Phương pháp này khác với các phương pháp truyền thống dạy hồi đáp tiếp thu
và diễn đạt bằng cách học thuộc lòng Hãy thử tưởng tượng người ta đưa cho bạn một quyển từ điển và bảo bạn nhớ càng nhiều từ càng tốt, và hy vọng bạn
sẽ sử dụng kiến thức đó để hội thoại với mọi người mà không thêm lời hướng dẫn nào! Phần nhiều là bạn sẽ phải rất vất vả cố gắng giao tiếp vì bạn không có
đủ nền tảng để tạo ngôn ngữ
Trang 14Nguyên tắc dạy cơ bản của một chương trình Ngôn ngữ ứng xử
Học vì hứng thú (động lực thúc đẩy) chứ không phải do áp đặt.
Chúng ta sẽ tạo lập nên động lực này bằng cách dạy những điều có ý nghĩa và thú vị với người học Khi chúng ta đã có động lực thúc đẩy, chúng ta có thể mở rộng diện quan tâm bằng cách cho thêm những sự vật khác vào giờ học và gắn chúng với những khen thưởng
Bắt đầu bằng việc dạy bé cách yêu cầu.
Tại sao? Bởi vì hồi đáp yêu cầu cho bé thấy sức mạnh của việc sử dụng ngôn ngữ Khi bé yêu cầu vật bé muốn, hành vi này của bé đã được củng cố thông qua việc nhận được cái bé muốn
Ban đầu, hãy tập những kỹ năng cho bé cảm giác mình học được Cảm giác
mình học được sẽ làm nảy sinh hứng thú! Chọn kỹ năng đơn giản mà chúng ta
có thể dễ dàng nhắc bé câu trả lời đúng Đối với bé mới học, ví dụ là bắt chước hành động, ghép vật, hoặc đáp lại yêu cầu chỉ vật Bé học lên cao có thể làm đốxếp hình hoặc nhắc lại từ Cứ chọn nội dung nào chắc chắn bé sẽ làm được
Sử dụng tổng hợp các khía cạnh chức năng của ngôn ngữ trong khi dạy.
Nhấn mạnh việc tạo cơ hội cho bé nêu yêu cầu, vì dạng hồi đáp này (được vật mình yêu cầu) có sức củng cố hành vi rất cao Cũng cần dạy bé đan xen các nộidung gọi tên sự vật, trả lời câu hỏi, và làm theo chỉ dẫn
BÉ: “Cho con uống nước” (yêu cầu)
BỐ MẸ: “Được Con chỉ mẹ xem nó ở đâu?”
BÉ: <Chỉ vào tủ lạnh> (tiếp thu)
BỐ MẸ: <lấy nước> “Bây giờ chúng ta cần cái gì nhỉ?”
BÉ: “Cái cốc.” (yêu cầu)
BỐ MẸ: <lấy cốc> “Cái gì đây?” <chỉ vào cốc>
BÉ: “Cái cốc.” (gọi tên/thuật lại)
BỐ MẸ: “Đúng rồi.” <Cầm bình đựng cốc lên> “Mẹ phải làm gì nữa nhỉ?”
BÉ: “Đổ ra!” (yêu cầu)
BỐ MẸ: “Được rồi.” <đổ nước ra và cất bình đi> “Con còn uống gì nữa nhỉ?.”
BÉ: “Sữa.” (Hỏi đáp vì sữa không có ở đó)
Dạy theo chức năng, đặc tính và chủng loại.