1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

ghi chep mot so dieu co ban khi ap dung ABA-VB

17 92 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 139,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ghi chep mot so dieu co ban khi ap dung ABA-VB tài liệu, giáo án, bài giảng , luận văn, luận án, đồ án, bài tập lớn về t...

Trang 1

0 ABA/VB

http://www.tretuky.com/f _postst338_0 ABAVB.aspx

I ABA/VB là gì?

http://www.tretuky.com/f t339_I ABAVB-la-gi.aspx

II Kiểm soát việc giảng dạy và những nguyên tắc rèn kỹ năng học tập

http://www.tretuky.com/f -giam-van-e-hanh-vi.aspx

III Ghi chép một số điều cơ bản khi áp dụng ABA/VB

http://www.tretuky.com/f n-khi-ap-dung-ABAVB.aspx

IV Một chương trình học

http://www.tretuky.com/f ot-chuong-trinh-hoc.aspx

V Pairing (Tạo mối quan hệ gắn bó và làm cho trẻ hứng thú khi bạn ở bên trẻ)

http://www.tretuky.com/f -o-ben-tre.aspx#post2444

Phần III:

Ghi chép một số điều cơ bản

khi áp dụng ABA/VB

Tóm gọn vấn đề là: tất cả những gì ta làm cho trẻ tự kỷ đều là để DẠY trẻ tự

kỷ bởi vì khả năng tự học của trẻ tự kỷ là rất nhỏ, và nếu chúng có tự học được

điều gì đó thì chỉ xoay quanh vấn đề nhu cầu của chúng thôi, còn những thứ như là nhận thức xã hội, giao tiếp thì chúng chẳng tự học đâu

Theo phương pháp ABA/VB trong giai đoạn đầu thì việc DẠY này có thể nói nôm

na là có 3 cách để DẠY:

1) Dạy tích cực ở trên bàn (ITT – intensive table training)

2) Dạy ở môi trường tự nhiên (NET – natural environment training)

3) Pairing: nôm na có mấy mục đích sau:

Trang 2

3.1 Thông qua pairing đứa trẻ sẽ vui vẻ, cảm thấy sự có mặt của cô giáo là đem đến sự thoải mái và niềm vui cho trẻ, từ đó trẻ sẽ hứng thú để học những điều cô giáo định dạy ở trên bàn hay ở môi trường tự nhiên (NET)

3.2 Giai đoạn đầu của học ngôn ngữ cần cho trẻ sử dụng ngôn ngữ, hiểu chức năng của ngôn ngữ thông qua chúng nói ra yêu cầu (MAND)

3.3 Những giai đoạn kế tiếp là tiếp tục sử dụng ngôn ngữ với những kiến thức phức tạp hơn (gọi tên sự vật hiện tượng, hội thoại, …)

1 Những lưu ý trong phần “Dạy tích cực ở trên bàn”:

Xin xem chi tiết quy trình dạy học ở phần 5.2

1.1 Cố gắng chỉ dạy con học khi con thật sự hứng thú (vì thế cần có kỹ

thuật Pairing của phương pháp VB) Tạo được sự hứng thú trong học tập tức là

giúp con học nhanh hơn, và tương lai khi con đến trường sẽ có thói quen tự giác học tập

Để hiểu rõ hơn sự phối kết hợp Pairing và Học thì bạn xem « Lịch trình » mà

mình sẽ viết trong “Phần IV: Một chương trình học »

1.2 Chú trọng dạy ngôn ngữ diễn đạt (expressive language) trước ngôn

ngữ nhận biết (rectptive language), đây là 1 đặc điểm khác biệt cơ bản giữa ABA hiện đại và cổ điển

Để dạy ngôn ngữ diễn đạt thì thường sử dụng câu hỏi và yêu cầu con có câu trả lời (dù là khẩu hình miệng hay là ngôn ngữ nói thật sự): ví dụ: Con gì đây? Cái

gì đây? … Chuyên gia tư vấn là bắt đầu mà con chưa phân biệt được giữa các câu hỏi thì tất cả dù là cái hay hoa hay chữ… đều có thể hỏi “Cái gì?”

Để dạy ngôn ngữ nhận biết thì thường sử dụng từ “Đưa, lấy, sờ, chỉ, …” theo kiểu trước đây

Nhưng theo VB thì việc dạy ngôn ngữ nhận thức trước ngôn ngữ diễn đạt sẽ là làm chậm tiến trình phát triển ngôn ngữ, và coi như phải làm gấp đôi công việc, thay vì thế muốn để con gọi tên sự vật thì dạy con luôn tên sự vật ấy thông qua trả lời câu hỏi “cái gì?”

Chỉ cần dạy trẻ động từ “Sờ, chỉ, lấy, đưa, …” Sau khi trẻ hiểu những động từ này là đủ Nếu trẻ đã biết gọi tên sự vật thì việc bảo trẻ lấy, sờ, … hay đưa sự vật ấy là đơn giản, không cần phải dạy thêm nữa

http://leapahead.org/aut ifference-between-abavb/

Trang 3

The ABA approach (proposed by Lovaas) believes receptive language skills should be developed prior to teaching expressive language The Verbal Behavior approach, however, believes expressive language (mands, tacts, intraverbals) should be taught first Specifically, mand training should be the initial stages of teaching language skills to children with autism

2 Dạy ở trong môi trường tự nhiên:

Chúng ta hiểu nôm na đây là sự ứng dụng trong môi trường thực tế

Một số trong chúng ta cũng không lạ với cách làm là: cứ gặp con là hỏi “con tên là gì? cái gì đây? …” nói chung là hỏi liên tục mỗi khi có cơ hội ở bên trẻ

và trẻ nhìn thấy bất cứ thứ gì xung quanh là được/bị hỏi Thông qua đó trẻ học được nhiều kiến thức hơn (Cách này giờ đây không được khuyên dùng nhiều nữa)

NHƯNG, theo VB thì không tấn công dồn dập như thế, không vô cớ mà hỏi trẻ, phải tạo tình huống để dạy trẻ trong môi trường tự nhiên, nguyên tắc

cơ bản là tạo cho trẻ vui, hào hứng thì mới dạy.

- Ví dụ: hai mẹ con chơi ở trên giường, người mẹ đậy chăn vào mặt con, rồi mở

ra, mỗi lần mở ra người mẹ nói: mở ra con thấy ai? Con thấy mẹ Rồi cậu bé nói vuốt đuôi: con thấy mẹ

- Thay vì chỉ cái chảo và hỏi: “cái gì đây” thì hãy nói khi hai mẹ con bên nhau

“đây là cái chảo” Và tạo tình huống là hai mẹ con rán trứng chẳng hạn, dấu

cái chảo đi, con sẽ nói yêu cầu “cái chảo” thì mẹ đưa cái chảo ra Đó là dạy con nói yêu cầu

- Tóm lại là không hỏi liên tục mà không có ý nghĩa với con tại thời điểm đó

3 Pairing:

3.1 Pairing là gì?

Thuật ngữ này phải giải thích chứ không dịch được Có thể hiểu nôm

na Pairing là kỹ thuật chơi cùng trẻ để tạo ra hứng thú, động cơ chơi và học

tập (cần có reinforcer – sự khuyến khích/ phần thưởng) Đặc biệt thể hiện

“yêu cầu” cũng là một trong những mục đích của pairing.

ABA/VB hiện đại là có bổ sung thêm 5 phần (pairing, correction procedure, modern forms of escape extinction, instructional control and transfer procedures)

Trang 4

Trong đó mình thấy phần “Pairing” rất hay và cũng là phần khó làm nhất Các

phần còn lại chỉ là kỹ thuật để giảng dạy thì cũng khó nhưng không phải là quá

khó như phần pairing.

Pairing chính là phần quan trọng nhất Là cha mẹ, nhà trị liệu, cô giáo thì bạn tiếp cận với trẻ như là mang tới cho trẻ sự khuyến khích/ phần thưởng Pairing nghĩa là bạn sẽ là người mang đến cho con cái mà con thích (reinforcer) Con

sẽ hiểu rằng có bạn thì tốt hơn là không có bạn Reinforcer có thể là vật hoặc hoạt động mà con thích (ví dụ đồ chơi, đồ ăn, các hoạt động như là cù, xích đu, bất cứ thứ gì mà con thích thì bạn phải tìm ra và sáng tạo nên nữa)

Đặc điểm của Pairing là:

- Không có nhiệm vụ nào dành cho trẻ

- Tạo ra nhiều niềm vui và sự hứng thú cùng với nhau

- Sử dụng nhiều khuyến khích/ phần thưởng (reinforcer) khác nhau

Nếu bạn không biết phải làm gì với con bạn thì bạn phải áp dụng pairing với con bạn Pairing có thể ví von như là tài khoản ở nhà băng : nếu bạn đặt cọc vào tài khoản càng nhiều (tức là pairing), bạn sẽ có thể rút ra được nhiều từ đó (tức là dạy con học) Đặc biệt giai đoạn đầu, bạn phải làm rất nhiều pairing Sau đó giảm bớt dần dần.

Các phần thưởng phải phong phú, và phải đổi liên tục, vì nếu trẻ được giữ phần thưởng trong tay hoặc làm hoạt động gì đó thích thú trong thời gian lâu dài thì đều sẽ chán

3.2 Yêu cầu (MAND) :

Bước đầu tiên để dạy con ngôn ngữ giao tiếp thì hãy dạy con yêu cầu (Mand) Mục tiêu ban đầu của bạn phải là tăng số lần con “yêu cầu” mỗi giờ,

mỗi ngày Nói yêu cầu như thế nào thì bạn xem thêm ở “Phần IV: Một chương trình học”

75% thời gian tiếp xúc với con là pairing, bởi vậy việc dạy con yêu cầu chủ yếu

là dạy trong thời gian pairing này

3.3 Không hỏi con để kiểm tra kiến thức (ngoại trừ khi bạn dạy con học, mà

khi dạy học thì phải xem lưu ý ở điều trên – tức là không bao giờ dạy con hay yêu cầu con cái gì mà không có sự khuyến khích/phần thưởng)

Trang 5

3.4 Không đặt những câu hỏi mà không có câu trả lời như mong đợi.

Ví dụ: con đi tìm chai nước, bạn không nên hỏi: Con có muốn uống nước không? (trừ khi con đã hiểu câu hỏi và biết trả lời có/không) Thay vì thế hãy cầm chai nước đưa cho con, và gợi ý con nói: Nước Hoặc cũng đừng hỏi con muốn uống nước cam hay nước táo ? Trẻ chưa đủ trình độ ngôn ngữ để hiểu câu hỏi đó, và dẫn đến có trường hợp chúng nhại lại là « nước cam hay nước táo » hoặc là chúng nói vuốt đuôi « nước táo » nếu bạn hỏi con muốn uống nước táo hay nước cam ? thì chúng sẽ nói vuốt đuôi « nước cam »

Tương tự nếu con chưa nói được câu dài thì đừng gợi ý để con nói “con muốn…”

Hoặc nếu bạn muốn con nhặt cái bút lên thì không nên nói: Con có thể nhặt cái bút lên không? Mà hãy nói: Con nhặt bút lên

Hoặc không nên hỏi: “Con có muốn đi toilet không?” Hoặc là “Con đi toilet đi” – trong khi có thể là con không muốn Mà hãy nói: “Con có thể đi toilet”

Không có nghĩa rằng bạn không nói gì, mà chỉ là không hỏi kiểu như vậy thôi Bạn có thể có cách nói theo kiểu bình luận hay câu nào đó cho phù hợp hoàn cảnh, và việc bạn nói hay diễn tả sự vật hiện tượng vẫn là cần thiết vì con học ngôn ngữ qua việc được nghe ngôn ngữ nhiều Bình luận và bình luận, càng nhiều càng tốt, với ngôn ngữ ngắn gọn, đúng hoàn cảnh để con đủ nạp thông tin vào đầu nhưng không bị rối, nhưng không bắt con phải nói lại những gì bạn đang bình luận

4 Ghi chú chung:

4.1 Không phải câu nào bạn nói với con cũng kèm theo tên con

Giải thích: bạn sẽ cảm thấy vô cùng bực mình khi suốt này, Hà ơi, làm cho mẹ cái này, Hà ơi đứng dậy, Hà ơi đi ra đây, Hà ơi, rót cốc cà phê, Hà ơi, Hà ơi, cái

gì đây … mà sẽ cảm thấy thích được gọi tên khi ai đó nói: Hà ơi, mẹ yêu con,

Hà ơi, cho con cái này, Hà ơi, ăn kẹo nhé, … Tóm lại là cứ nói với con bình thường như đang nói với học sinh trong lớp học bình thường

4.2 Âm giọng khi dạy cũng như giao tiếp với con cũng bình thường chứ không phải là nói chậm, rời từng từ Vì trên thực tế không có người bình

thường nào nói chậm với con cả Nhưng chỉ cần nói rõ ràng, không nói quá nhanh

Trang 6

Tuy nhiên, cũng phải linh động âm giọng khi dạy con một từ mới: ví dụ nói lần đầu con chưa nghe rõ, nói lần 2 chậm, lần 3 chậm, lần 4 tăng lên, lần 5 sẽ là như bình thường (các bạn đọc kỹ thêm phần “Quy trình dạy học” mà mình sẽ dịch ở phần IV)

Vài ví dụ về « pairing » và thể hiện « yêu cầu » :

Mình có hỏi tư vấn viên rằng nếu đứa trẻ chưa biết nói thì dạy chúng “yêu cầu” thế nào?

Trả lời:

- Bước 1 dạy trẻ “Yêu cầu” bằng ngôn ngữ ký hiệu Cách dễ nhất là mẹ hay

cô tự quy ước ngôn ngữ ký hiệu Nếu đứa trẻ sẽ có nguy cơ phải sử dụng

ngôn ngữ ký hiệu cả đời thì sử dụng Hệ thống ngôn ngữ ký hiệu của Mỹ có

thể tốt hơn cho trẻ khi chúng đến tuổi đi học (nhưng ở VN mình thì không quan trọng vấn đề này nhỉ vì ở trường cũng không sử dụng ngôn ngữ ký hiệu, hy vọng trong tương lai)

- Bước 2 “Yêu cầu” bằng âm thanh gần giống

- Bước 3“Yêu cầu” bằng từ nói gần giống

- Bước 4 “Yêu cầu” bằng cả từ

- …

1. Hoạt động con thích:

Con nằm chơi trên võng Ban đầu bạn đung đưa, con sẽ rất khoái Sau đó bạn giữ

cho võng không đu đưa nữa Con muốn thì sẽ nói : Đu võng Nếu con chưa chủ

động nói thì bạn gợi ý để con nói hoặc thể hiện ngôn ngữ ký hiệu nếu trẻ chưa

biết nói Khi con đã thành thạo với việc nói « Đu võng » thì bạn sẽ tiến thêm, là mỗi khi con nói « Đu võng » bạn nhìn con và chưa di chuyển đến bên võng, gợi ý

con nói « Mẹ ơi đến đây » hoặc « Đến đây » Sau mỗi lần đu võng bạn nên cho

võng dừng lại, con muốn thì lại phải thể hiện nhu cầu Như vậy bằng cách tạo tình huống, con sẽ nói « nhu cầu » nhiều hơn (có thể là 10 lần đu võng là 10 lần con thể hiện nhu cầu)

Tương tự bạn có thể tạo ra các hoạt động mới mà con thích từ chính hoạt động cũ :

ví dụ là đu võng các tư thế khác nhau, cù kỳ, mỗi hoạt động mà con muốn thì đều phải nói ra

2. Đồ chơi con thích:

Con thích chơi puzzle, thì bạn để puzzle ra sàn nhà, con tự động đến chơi, nhưng bạn nhớ là không để toàn bộ trong tầm với của con, khi con cần thêm mảnh ghép, con sẽ “yêu cầu”, …

Trang 7

3. Trong quá trình pairing này thì bạn không yêu cầu con làm việc hay học gì

cả Nhất là giai đoạn đầu càng không được hỏi các câu như là : Con muốn gì ? Cái

gì đây ? (Câu hỏi cái gì đây chỉ sử dụng khi dạy học) Thay vì hỏi con muốn gì thì

khi con đã thể hiện là muốn ăn cà, thì bạn chỉ giơ lọ cà ra và gợi ý con nói « cà », thậm chí chỉ là một chữ « à » hoặc chỉ là con mở miệng ra làm giống khẩu hình của bạn (ngôn ngữ ký hiệu quy ước bởi chính mẹ), thì bạn đưa ngay cho con, và muốn con nói nhu cầu càng nhiều thì bạn sẽ sử dụng cà là một thứ sáng tạo tình huống, nên sẽ không đưa cho con cả quả mà chỉ là một mẩu tí ti thôi Tương tự áp dụng với bim bim (Chips), bạn có thể yêu cầu con nói « nhu cầu » hàng chục lần

để con được nhận 10 mẩu bim bim (thứ mà con rất thích) Nhưng chỉ là tự nguyện con đòi ăn chứ bạn không cầm bim bim đến trước mặt rồi bắt con nói và ăn

4. Sử dụng phần thưởng/ sự khuyến khích để giúp con thích nghi hoặc chấp nhận thứ con không thích :

Ví dụ 1 : Con không thích tô màu hoặc viết mặc dù có thể làm nhưng làm không

hứng thú Viết đến đây mình nhớ có một cô giáo cũ của MC đến nhà mình chơi với MC rồi lấy đồ vẽ ra vẽ với em của MC, khi mình xuất hiện thì thấy MC ngồi ở

sofa, cô thì rất vui với em của MC ở bàn vì cháu vô cùng ham vẽ Cô ấy nói : MC không có hứng thú gì với vẽ cả.

Mình nghĩ bụng : Con tôi mà có hứng thú với việc gì thì cô cũng chẳng có việc mà lĩnh lương đâu.

Rồi mình đã phải tìm mọi cách để đẩy đồng chí ấy đi

Tư vấn viên hướng dẫn cách tạo hứng thú cho con trong trường hợp này là: bật

nhạc cho con xem hoac chi nghe thoi, trong khi đó thì đưa bút và giấy cho con

vẽ hoặc viết (tùy trình độ mà chọn sao cho phù hợp).Nhưng nhớ rằng đây không

phải là nhiệm vụ nhé Đừng nói là : Con hãy vẽ đi Mà hãy nói : Con có thể vẽ Nếu con ngừng vẽ thì tắt nhạc đi Khi con cầm bút vẽ thì bật nhạc cho con xem Bạn nên test xem là khoảng bao lâu thì con hết hứng với việc nghe nhạc (như MC của mình hiện nay là khoảng 10 phút là cháu nói : Tắt đi) thì mình sẽ stop việc nghe nhạc và viết khoảng lúc 7 phút Bạn nhớ là bạn phải kiểm soát việc này, không được cho con dẫn dắt bạn Bạn phải dẫn dắt (ví dụ con nói : bật video, bạn

sẽ là người bật, con nói tắt thì bạn sẽ là người tắt) Không phải lúc nào bạn cũng dẫn dắt kiểu như thế này nhưng trong trường hợp này bạn hãy làm như vậy

Vì đây là một nghiên cứu khoa học đã chứng minh rằng sau một thời gian cảm

thấy rất khoái khi nghe nhạc (hoặc hoạt động nào đó mà con thích) đồng thời vẽ/viết hoặc làm gì đó thì hiệu ứng từ âm nhạc sẽ chuyển sang cái việc vẽ/viết

mà trẻ đang không thích sẽ trở thành thích thú với việc vẽ/ viết Mình mới áp dụng việc này ít thôi nên chưa biết thế nào, tuy nhiên chúng ta cũng cứ nên thử

Ví dụ 2 :

Trang 8

Con không thích nghe tiếng máy hút bụi Nhưng con lại rất thích đu võng Vậy thì hãy cho con đu võng (đây phải là một phần thưởng có giá trị cực cao – tức là con cực thích chứ không phải là giá trị về tiền nhé), đồng thời bạn bật máy hút bụi Chỉ trong chốc lát thôi, đủ để con đánh đổi chấp nhận việc nghe tiếng máy hút bụi để được ở lại ngồi đu võng Thời gian để con nghe tiếng máy hút bụi sẽ là tăng dần dần lên nhưng phải từ từ

Tương tự với nhiều thứ khác mà con không thích Tùy vào từng trẻ thôi Như con mình thì cháu đã chấp nhận rất nhiều thứ sau khi được tiếp cận với nó một cách từ

từ mà chưa cần phải sử dụng chiến thuật này Nhưng mình cũng đã thử chiến thuật này thì thấy cháu cũng dễ chịu hơn với vài thứ đồ chơi có âm thanh mới lạ

5. Hoạt động con thích :

Như MC nhà mình thích nấu ăn thì mình cùng con nấu mỳ chẳng hạn Con sẽ tự động : lấy nồi, đổ nước, lấy dầu, cà chua, mỳ, xỳ dầu, muối, bật bếp, đũa, thìa, dĩa, đĩa, Nhưng hầu như con không nói câu nào cả Để khuyến khích con luyện nói

ra những từ ấy bằng tiếng Đức, mình sẽ không để những thứ ấy ở trong tầm với

của con nữa Con sẽ nói bằng tiếng Việt : Con cần nồi Hoặc : Đôi đũa đâu ? Bất

luận con nói tiếng gì, thì trước khi đưa thứ ấy cho con, mình sẽ giơ thứ ấy và con

sẽ nói : nồi, đổ nước, mở nắp (auf machen), cà chua, như vậy có thể thấy một việc nấu mỳ con sẽ sử dụng ngôn ngữ khoảng 20 lần, thay vì con tự làm và không

sử dụng nó một câu nào Với MC có thể nói cả câu dài, nhưng tư vấn viên vẫn nói

« Làm ơn đừng bắt MC nói cả câu dài : « Mở nắp chai ra » bằng tiếng Đức cho

đến khi MC sẽ tự yêu cầu được 150 lần trong 1 giờ Hiện nay khi tạo ra tình

huống thì con yêu cầu được 69 lần trong 1 giờ (khoảng 1 phút 1 lần nói một cách chủ động) Họ có nghiên cứu rằng : khi đứa trẻ có hứng thú nói

nhiều, hiểu ý nghĩa của việc sử dụng ngôn ngữ, và sử dụng thành thục với 300

từ thì sẽ tự nói những câu dài và tránh học vẹt Mình tin điều đó.

6. Món ăn con thích : ví dụ con thích uống nước táo Con sẽ có thể « yêu cầu »

(bằng ngôn ngữ hoặc cử chỉ để bạn hiểu con thích uống nước táo Khi ấy bạn đưa chai nước táo ra và con cần nói : Nước táo (bằng ngôn ngữ hoặc ký hiệu), sau đó bạn làm động tác gợi ý con sẽ cần nói : mở ra Mở ra rồi thì con sẽ cần nói : Cốc, rót nước

Nhưng nhớ rằng khi con mới học sử dụng ngôn ngữ, chỉ cần con thể hiện được

« yêu cầu » bằng lời nói hoặc khẩu hình là uống nước táo là bạn đáp ứng ngay,

đừng bắt con nói thêm những việc như là mở ra, rót vào, cần cốc,

Cho đến khi nào bạn tạo tình huống mà con có thể thể hiện yêu cầu 150 lần trong

1 giờ thì bạn sẽ có thể hỏi những câu như là : con muốn uống nước gì ? Con có muốn uống nước không ? Con uống nước táo hay nước cam.

Trang 9

Bạn thử làm xem, việc sử dụng ngôn ngữ và nói yêu cầu tùy thuộc vào trình độ của trẻ, tư vấn viên nói có cháu chỉ cần vài tuần hay vài tháng áp dụng kỹ thuật này là đã tăng tần xuất sử dụng ngôn ngữ thông qua nói nhu cầu (hàng trăm yêu cầu trong 1 tiếng với tình huống tạo ra)

7. Một phép so sánh với trẻ bình thường : thể hiện « yêu cầu » khi không tạo ra tình huống – EM CỦA MC

Mình thử đếm số lần mà em của MC (4 tuổi) thể hiện nhu cầu trong những hoạt động bình thường trong 1 tiếng mà mình không cố tạo ra tình huống như trên (tức là để rất tự nhiên)

1) Nấu mỳ cùng mẹ trong bếp : cháu sẽ nói : Mẹ ơi, bật bếp đi, Mẹ ơi, cho thêm

nước đi, cháy mất rồi, Mẹ ơi, con thích cho sữa vào, cho bơ vào, nhưng hoàn toàn là cháu tự nghĩ ra và mình đáp ứng ngay không yêu cầu cháu nói gì và mình cũng chẳng hỏi gì

2) Ăn mỳ trong khi mẹ cho em ăn (cùng phòng) : cháu sẽ nói : mẹ ơi cho em bé

ăn mỳ đi, mẹ nhìn con này, mẹ cho con thêm xì dầu đi, mẹ nhìn em bé này, 3) Gấp quần áo trong khi mẹ nấu bột cho em (2 phòng cạnh nhau) : cháu sẽ nói : mẹ ơi xem con gấp này, chụp ảnh cho con đi, mẹ nhìn ra cửa sổ kìa trời nắng hôm trước mẹ hứa đưa con đi chơi ; mẹ ơi mẹ vào đây xem con tiếp đi ;

mẹ ơi xem em bé cứ phá này ; tóm lại là cháu không chỉ trò chuyện bày tỏ

mà đúng là toàn là nhu cầu (bắt mẹ làm gì đó)

4) Xem ti vi trong khi mẹ cho em đi ngủ (2 phòng cạnh nhau) : cháu chỉ yêu cầu bật ti vi và chọn kênh, xong là cháu ngồi im xem, chẳng nói câu nào nữa

Nhưng nếu mình ở cùng phòng cháu sẽ khoe mẹ xem hình ảnh ví dụ Mẹ ơi nhìn này, Micky mause.

Kết thúc 3 hoạt động trên là 50 phút, cháu yêu cầu 41 lần (mình đếm bằng

một cái đồng hồ đơn giản dành cho kỹ thuật VB này – mua 8,5 Euro) 10 phút còn lại cháu thực hiện hoạt động 4 và chẳng nói câu nào

Nếu là MC, thì hoạt động 4 cũng sẽ phải thực hiện rất nhiều yêu cầu bằng cách

mẹ hay cô tạo ra tình huống : bật ti vi, mở hộp đĩa CD, lấy đĩa CD, đậy nắp hộp vào, cho đĩa vào video, bật video, nói thật ngần ấy câu từ bằng tiếng Đức

thì đến mẹ cháu cũng còn phải học và thực hành chứ chưa nói gì đến cháu Hoặc hoạt động 2 (ăn mỳ) thì MC sẽ phải nói những yêu cầu khi cần đĩa, dĩa, thìa, xì dầu, tương ớt,

Voi tre binh thuong nhu em cua MC thi moi cau chau noi dai tu 5 den 10 tu Nen voi nhung hoat dong nhu kieu o tren thi chau se noi khoang 4-500 tu/ tieng Con khi choi voi nguoi khac thi chau yeu cau khoang 150 lan, moi lan la mot cau dai, nhu vay co the len toi 1000 tu / tieng

Trang 10

8. MC thể hiện yêu cầu khi mẹ hoặc cô tạo ra tình huống :

Mình đếm khi MC nấu mỳ thì khoảng 20-30 yêu cầu được thể hiện ra (ngay cả việc rót dầu vào chảo bạn cũng có thể rót tí một và đã có thể cần 5 lần yêu cầu, hoặc cho nước luộc mỳ cũng cho thiếu để con phải yêu cầu), ăn mỳ là 18 yêu cầu (rót xì dầu hay tương ớt nhiều lần, là những thứ cháu thích, ), ăn bim bim thì càng « yêu cầu » nhiều lần hơn Kể cả khi cháu thích cất bim bim đi vì sợ mẹ hay

cô ăn mất, thì cháu nói tiếng Việt : Cất bim bim đi Ngay lập tức cháu học câu này

bằng tiếng Đức và sử dụng nó liên tục sau mỗi lần được một miếng bim bim Nếu mình không tạo ra tình huống thì câu này có lẽ cháu chỉ sử dụng 1 lần cho 1 gói bim bim to đùng Hoặc là cháu không thích nghe mình hát bài « Cắt nửa vầng trăng », mình dạy cháu nói : « Con không thích » thì cháu không hào hứng sử dụng, nhưng khi mình dạy cháu nói « Im đi » (bằng tiếng Đức) thì cháu áp dụng liên tục vì nó ngắn, dễ dàng nói, và cháu có lúc còn gợi ý bằng tiếng Việt : mẹ ơi hát cắt nửa vầng trăng đi, để cháu chơi cái trò nói từ « Hoer auf » để mẹ phải im bặt luôn Hoặc ngược lại khi cháu nói linh tinh, mình cũng dùng từ « Hoer auf » thế là cháu cũng im ngay lập tức và cười vui vẻ lắm, như là trò chơi ấy

« Đu võng + Bánh gạo + Haribo + Cù + Đến đây + Đẩy + Kéo + Cá xấu + Rắn + những tên của trò chơi » trong 1 tiếng đã có 69 lần SỬ DỤNG LỜI NÓI thông qua yêu cầu

Việc đếm này rất hay Các bạn chưa mua được đồng hồ đếm thì bạn có thể dùng hạt đậu để trong túi quần, mỗi lần con yêu cầu bạn cho 1 hạt đậu sang túi quần bên kia.

Lưu ý : Pairing là cho trẻ thực hiện hoạt động hay cho trẻ chơi thứ trẻ thích Tất cả

những hoạt động mình kể mà EM của MC làm là những thứ cháu tự nguyện làm

và mình không tạo ra những thủ thuật để cháu phải yêu cầu Với MC việc nấu mỳ cũng là hoạt động cháu thích vì thế như là phần thưởng và buộc cháu phải nói yêu

cầu khi mẹ tạo ra tình huống để cháu phải SỬ DỤNG LỜI NÓI (mà không cần

phải hỏi Cái gì đây ?)

Hỏi « cái gì đây ? » nhiều và không đúng lúc đúng hoàn cảnh sẽ tạo cho trẻ dập

khuôn Hơn nữa, chúng đến bên bạn để lấy cái chúng cần chứ không phải để chúng trả lời đây là cái cốc, trong khi chúng sẽ nói Cốc hoặc Nước để đạt được uống nước – và như vậy chúng sẽ hiểu ý nghĩa của việc SỬ DỤNG LỜI NÓI Đã có nghiên cứu cho thấy những trẻ được dạy theo cách luôn chờ để hỏi rồi

mới trả lời thì sẽ dập khuôn ngay cả khi chúng muốn uống nước nhưng đi đến bên

tủ lạnh rồi chờ mẹ hỏi Con muốn gì ? rồi mới nói Con muốn uống nước Thực ra

trước đây mình dạy MC theo ABA nửa mùa nên thấy con cũng chẳng dập khuôn

gì cả, nhưng có một điều mà mình trăn trở rằng con không sử dụng ngôn ngữ nhiều, giao tiếp hạn chế nên mình mới cần tìm đến tư vấn viên là thế

Ngày đăng: 09/12/2017, 05:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w