Tài liệu - hatrongquangdhcn Muc Luc De 4 tài liệu, giáo án, bài giảng , luận văn, luận án, đồ án, bài tập lớn về tất cả...
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU :
Đại hội Dảng toàn quốc lần thứ VIII đã chỉ rõ để thực hiện mục tiêu tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội bền vững , đưa đất nước ta trở thành một nước công nghiệp hoá và
xã hội chủ nghĩa , phải làm tốt hai nhiệm vụ cực kì quan trọng là đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển kinh tế hàng háo nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lí của nhà nước
Vậy mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ này như thế nào Từ một số cơ sở lí luận và thực tiễn , đề tài luận án sau đây sẽ làm rõ về : “ Mối quan hệ giữa công nghiệp hoá và nền kinh tế thị trường qua thực tiễn kinh tế nước ta”.Từ đó , nêu ra các phương hướng cụ thể để có thể kết hợp tốt hai quá trình này
Em xin chân thành cám ơn sự hướng dẫn chỉ dạy tận tình của thầy trong suốt quá trình học và hoàn tất luận án sau Mặc dù đã rất cố gắng, nhưng chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu xót , em rất mong được sự góp ý của thầy
Chương 1 : Những vấn đề lí luận cơ bản về công nghiệp hoá và kinh tế thị trường
I Công nghiệp hoá :
1) Khái niệm ;
Lịch sử phát triển đã chứng minh , để xoá bỏ tình trạng lạc hậu của kinh tế xã hội , tận dụng được triệt để các nguồn lực , giữ vững được nhịp độ tăng trưởng nhanh và ổn định , các nước cần chọn lựa một cơ cấu kinh tế hợp lí , nền kinh tế phải được trang bị kĩ thuật hiện đại Và quá trình này đã gắn liền với quá trình công nghiệp hoá ở các nứơc phát triển Trong thực tiễn đến nay vẫn còn tồn tại rất nhiều quan niệm khác nhau về phạm trù “ công nghiệp hoá’’ Như khi các cuộc cách mạng công nghiệp ở Tây Âu xảy
Trang 2ra vào thế kỉ 18 , thì công nghiệp hoá được xem như là quá trình thay thế lao động thủ công bằng lao động máy móc
“ Kế thừa có chọn lọc những tri thức văn minh của nhân loại ,rút ra những kinh nghiệm trong lịch sử tiến hành công nghiệp hoá Hội nghị Ban chấp hành trung ương lần thứ 7 khoá VI và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII Đảng Cộng Sản Việt Nam đã xác định : công nghiệp hóa là quá trình chuyển đồi căn bản toàn diện các hoạt động sản suất kinh doanh , dịch vụ và quản lí kinh tế - xã hội từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ , phương tiện và phương pháp tiến tiến , hiện đại dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ tạo ra năng suất lao động xã hội cao’’.[3,trg 47]
Có thể nói định nghĩa này về cơ bản đã phản ánh được phạm vi rộng lớn của quá trình công nghiệp hoá chỉ ra được cái kết lõi của nó là biến lao động thủ công,lạc hậu thành lao động sử dụng kĩ thuật tiên tiến , hiện đại để đạt tới năng suất xã hội cao , gắn được công nghiệp hoá và hiện đại hoá , xác định rõ vai trò của công nghiệp hoá và khoa học công nghệ trong quá trình tiến hành công nghiệp hoá
2) Tính tất yếu khách quan tiến hành công nghiệp hoá :
“Lí luận và thực tiễn cho thấy , công nghiệp hóa , hiện dại hoá là qui luật phổ biến mà mọi quốc gia đều phải trải qua dù ở các quốc gia phát triển sớm hay đi sau Công nghịêp hoá, hiện đại hoá là quá trình tạo ra xung lực mạnh mẽ cho nền kinh tế ,là đòn bẩy quan trọng tạo sự phát triển đột biến trong các lĩnh vực hoạt động của con người Thông qua công nghiệp hoá , hiện đại hoá các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân được trang bị những tư lịêu sản xuất hiện đại
Mỗi nền sản xuất luôn luôn có một cơ sở vật chất kĩ thuật tương ứng
Đó là hệ thống các các yếu tố vật chất của lực lượng sản xuất xã hội , phù hợp với trình
độ kĩ thuật tương ứng mà lực lượng xã hội sử dụng để tiến hành quá trình lao động sản xuất Công nghiệp hoá là con đường tất yếu , ngắn nhất để xây dựng cơ sở vât chất hiện đại , cho nền sàn xuất lớn Cơ sở vât chất kĩ thuật được xem là tiêu chuẩn đánh giá mức
độ hiện đại của một nền kinh tế , nó cũng là điều kiện quyết định để xã hội có thể đạt được một năng suất xã hôi nào đó
Trong điều kiện hiện nay , khi mà mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô cũ và các nước Dông Âu sụp đổ , các nước tư bản hiện đại đang tích cực với nhiều điều chỉnh mới để thích nghi và phát triển Cách mạng khoa học công nghệ đang có tác động mạnh mẽ trên phạm vi toàn thế giới làm biến đổi sâu sắc câú trúc của lực lượng sản xuất , của cơ cấu kinh tế và quan hệ sản xuất Việt Nam thực hịên kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế định hướng xã hội chủ nghĩa , có thế hiểu cơ sở vật chất kĩ thuật được hướng tới là nền sản xuất hiện đại ,có cơ cấu kinh tế hợp lí ,có trình độ xã hội hoá cao , dựa trên trình độ khoa học công nghệ hiện đại được tổ chức, có kế hoạch trong phạm vi toàn quốc ”
[3,trg 48,49]
3.Mục tiêu – quan điểm của Đảng về công nghiệp hoá ở Việt Nam :
a) Mục tiêu :
“ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã xác định mục tiêu tổng quát của công nghiệp hoá và hiện đại hoá như sau : “ Xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất , kĩ thuật hiện đại , cơ cấu kinh tế hợp lí , quan hệ sản xuất tiến bộ , phù hợp với
Trang 3trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng
an ninh vững chắc , dân giàu nước mạnh , xã hội công bằng văn minh Từ đây đến năm
2020, phấn đấu dưa nước ta trở thành một nước công nghiệp’’
b) Các quan điểm :
- Công nghiệp hoá phải kết hợp đồng thời với quá trình hiện đại hoá
- Gĩư vững độc lập chủ qyền để xây dựng nền kinh tế mở theo hướng phát triển đầu
tư trực tiếp và đẩy mạnh xuất khẩu
- Công nghiệp hoá là sự nghiệp của toàn dân, mọi thành phần kinh tế, trong đó kinh
tế nhà nước làm chủ đạo
- Kĩ thuât công nghệ là động lực to lớn trong của công nghiệp hoá , kết hợp sử dụng công nghệ truyền thống và hiện đại
- Lấy hiệu quả kinh tế xã hội làm tiêu chuẩn cơ bản để xác định phương án phát triền , ưu tiên cho các dự án có công nghệ cao
- Kết hợp phát triển kinh tế với việc củng cố và tăng cường an ninh quốc phòng [ 3,trg50,51]
II.Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa :
1) Khái niệm về kinh tế thị trường :
Kinh tế thị trường là mô hình kinh tế mà ờ đó các quan hệ kinh tế đề được thực hiện trên thị trường , thông qua quá trình trao đổi mua bán Quan hệ hàng hoá tiền tệ phát triển đến một trình độ nhất dịnh sẽ đạt đến kinh tế thị trường Kinh tế thị trường là giai đoạn phát triển của kinh tế hàng hoá dựa trên sự phát triển của rất cao của của lực lượng sản xuất
2) Cơ sở khách quan của sự tồn tại và phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam:
- “ Phân công lao động xã hội với tính cách là cơ sở chung của sản xuất hàng hoá chẳng những không mất đi , mà trái lại còn được phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu Phân công lao động trong từng khu vực , từng địa phương cũng ngày càng phát triển Sự phát triển của phân công lao động được thể hiện ở tính phong phú , đa dạng và chất lượng ngày càng cao của sản phẩm đưa ra trao đổi trên thị trường
- Tồn tại nhiều hình thức sở hữu , trong nền kinh tế tồn tại nhiều hình thức sở hữu , đó
là sản xuất toàn dân , sở hữu tập thể , sở hữu tư nhân , sở hữu hỗn hợp Do đó tồn tại nhiều chủ thể kinh tế độc lập , lợi ích riêng ,nên quan hệ giữa họ chỉ có thể thực hiện bằng quan hệ hàng hoá -tiền tệ
- Thành phần kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể , tuy cùng dựa trên chế độ công hữu
về tư liệu sản xuất , nhưng các đơn vị kinh tế còn có sự khác biệt nhất định , có quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh , có lợi ích riêng Mặc khác , các đơn vị kinh tế còn có sự khác nhau về trình độ kĩ thuật – công nghệ , về trình độ tổ chức quản lí , nên chi phí sản xuất và hiệu quả sản xuất cũng khác nhau
- Quan hệ hàng hoá - tiền tệ còn cần thiết trong quan hệ kinh doanh quốc tế đối ngoại , đặc biệt trong điều kiện phân công lao động quốc tế đang phát triển ngày càng sâu sắc , vì mỗi nước chúng ta là một quốc gia riêng bịêt , là chủ sở hữu đối với các hàng hoá đưa ra trao đổi trên thị trường thế giới Sự trao đổi ở đều phải theo nguyên tắc ngang giá Như vậy khi kinh tế thị trường ở nước ta là tất yếu khách quan, thì không thể lấy ý chí chủ quan mà xoá bỏ nó được.”
Trang 4[3,trg 86]
3) Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa :
Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ rõ: Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là một kiểu tổ chức kinh tế vừa tuân theo những quy luật của kinh tế thị trường vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội, thể hiện trên cả ba mặt: sở hữu, tổ chức quản lý, và phân phối Nĩi cách khác, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chính là nền kinh tế hàng hĩa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường cĩ sự quản lý của Nhà nước nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội cơng bằng, dân chủ, văn minh
Mục đích của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là phát triển lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống nhân dân Phát triển lực lượng sản xuất hiện đại gắn liền với xây dựng quan
hệ sản xuất mới, tiên tiến
4) Đặc trưng – bản chất của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam :
“Lựa chọn mơ hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa khơng phải là sự gán ghép chủ quan giữa kinh tế thị trường và chủ nghĩa xã hội, mà là sự nắm bắt và vận dụng xu thế vận động khách quan của kinh tế thị trường trong thời đại ngày nay Đảng Cộng sản Việt Nam trên cơ sở nhận thức tính quy luật phát triển của thời đại và sự khái quát, đúc rút từ kinh nghiệm phát triển kinh tế thị trường thế giới, đặc biệt là từ thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam và ở Trung Quốc, để đưa ra chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhằm sử dụng kinh tế thị trường để thực hiện mục tiêu từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội Kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa là mơ hình kinh tế trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội Đây là một kiểu kinh tế thị trường mới trong lịch sử phát triển của kinh tế thị trường Cũng cĩ thể nĩi kinh tế thị trường là "cái phổ biến", cịn kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là "cái đặc thù" của Việt Nam, phù hợp với điều kiện và đặc điểm cụ thể của Việt Nam
Nĩi kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cĩ nghĩa đây khơng phải là kinh tế thị trường tự do theo kiểu tư bản chủ nghĩa, cũng khơng phải là kinh tế bao cấp, quản lý theo kiểu tập trung quan liêu; và cũng chưa hồn tồn là kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, bởi vì như trên đã nĩi, Việt Nam đang ở trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, vừa cĩ vừa chưa cĩ đầy đủ các yếu tố của chủ nghĩa xã hội
Chủ trương phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là sự tiếp thu cĩ chọn lọc thành tựu của văn minh nhân loại, phát huy vai trị tích cực của kinh tế thị trường trong việc thúc đẩy phát triển sức sản xuất, xã hội hĩa lao động, cải tiến kỹ thuật - cơng nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo ra nhiều của cải, gĩp phần làm giàu cho xã hội và cải thiện đời sống nhân dân; đồng thời phải cĩ những biện pháp hữu hiệu nhằm hạn chế mặt tiêu cực của kinh tế thị trường, như chạy theo lợi nhuận đơn thuần, cạnh tranh khốc liệt, bĩc lột và phân hĩa giàu nghèo quá đáng, ít quan tâm giải quyết các vấn
đề xã hội Đây cũng là sự lựa chọn tự giác con đường và mơ hình phát triển trên cơ sở quán triệt lý luận Mác - Lê-nin, nắm bắt đúng quy luật khách quan và vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của Việt Nam
Trang 5Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước Nhà nước xã hội chủ nghĩa quản lý nền kinh tế bằng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách, pháp luật, và bằng cả sức mạnh vật chất của lực lượng kinh tế nhà nước; đồng thời sử dụng cơ chế thị trường, áp dụng các hình thức kinh tế và phương pháp quản lý của kinh tế thị trường để kích thích sản xuất, giải phóng sức sản xuất, phát huy mặt tích cực, hạn chế và khắc phục mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo vệ lợi ích của nhân dân lao động, của toàn thể nhân dân
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thực hiện phân phối chủ yếu theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế, đồng thời phân phối theo mức đóng góp vốn và các nguồn lực khác vào sản xuất, kinh doanh và thông qua phúc lợi xã hội Tăng trưởng kinh tế gắn liền với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển Tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa và giáo dục, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, nâng cao dân trí, giáo dục và đào tạo con người, xây dựng và phát triển nguồn nhân lực của đất nước
Cũng có thể nói, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một kiểu tổ chức kinh
tế của một xã hội đang trong quá trình chuyển biến từ nền kinh tế còn ở trình độ thấp sang nền kinh tế ở trình độ cao hơn hướng tới chế độ xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa Đây là nền kinh tế thị trường có tổ chức, có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và sự quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, được định hướng cao về mặt xã hội, hạn chế tối
đa những khuyết tật của tính tự phát thị trường, nhằm phục vụ tốt nhất lợi ích của đại đa
số nhân dân và sự phát triển bền vững của đất nước
Chủ trương xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thể hiện tư duy, quan niệm của Đảng Cộng sản Việt Nam về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa
xã hội ở Việt Nam.”
[www.cpv.org.vn/ thong tin lí luận ]
III Phát triển kinh tế thị trường gắn liền với quan hệ công nghiệp hoá là tất yếu khách quan :
“Hiện nay tuyệt đại bộ phận các nước trên thế giới đã phát triển nền kinh tế thị trường với những cấp độ khác nhau Sự phát triển kinh tế thị trường và thực hiện công nghịêp hoá ở mỗi quốc gia này đều mang màu sắc riêng , in đậm nét dấu ấn của lịch sử , điều kiện tự nhiên , chính trị , kinh tế ,xã hội văn hoá của quốc gia mình
Qúa trình phát triển kinh tế thị trường gắn liền với công gnhiệp hoá trên thế giới đã diễn
ra trong một một thời gian dài Ngược dòng phát triển của nó , dù có nhiều điểm rất khác nhau (có nước phát triển sớm , có nước phát triển muộn , có nước phát triển nhanh , có nước phát triển chậm …) nhưng nhìn chung đều có tiến trình từ thấp đến cao , tù đơn giản đến phức tạp , từ bộ phận đến toàn bộ và đều phải giải quyết những vấn đề cơ bản sau :
- Phá vỡ tính kết cấu của nền kinh tế nông nghiệp cổ truyền , phát triển quan hệ hàng hoá - tiền tệ , phát triển hệ thống các loaị thị trường và hình thành đồng bộ thể chế thị trường và kinh tế thị trường , tạo lập khung khổ pháp lý của nền kinh tế thị trường
Trang 6- Thực hiện công nghiệp hoá , với đột phá là khâu công nghiệp hoá nông
nghiệp ,nông thôn nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế , cơ cấu công nghệ và cơ cấu lao động theo hứơng hiện đại
- Từng bước mở cửa và hội nhập với nền kinh tế thế giới , chấp nhận sự phân công lao động quốc tế trên cơ sở lợi thế cạnh tranh quốc gia của mỗi quốc gia
- Sự thay đổi của nhà nước từ vai trò là “bà đỡ”, “người lính gác” nằm ngoài mô hình trở thành một tác nhân quyết định , là yếu tố nội tại của mô hình kinh tế thị trường hiện tại
- Gỉải quyết mối quan hệ giữa nhà nước -thị trường –doanh nghiệp –dân cư thông qua luật pháp ,thể chế và chính sách của nhà nước
- Giải quyết các vấn đề xã hội nảy sinh và gia tăng công nghiệp hoá như :thất nghiệp , chênh lệch quá mức giàu nghèo , tệ nạn xã hội để giảm thiểu các tác động tiêu cực
Lịch sử thế giới đã chứng minh rằng việc phát triển kinh tế thị trường và thực hiện công nghiệp hoá là tất yếu khách quan cho các nước chậm phát triển
Về mặt lí luận và thực tiễn cần phải khẳng định , kinh tế thị trường không đồng nhất hoặc
là cái riêng có của chủ nghĩa tư bản Mặc dù sự phát triển của kinh tế thị trường có gắn bó chặt chẽ với các giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản nhưng nó không đồng nghĩa với chủ nghĩa tư bản Kinh tế thị trường tồn tại và phát triển khi mà sản xuất và trao đổi hàng hoá phát triển một cách phổ biến trong nền kinh tế trên các nguyên tắc của thị trường ,tức là có quan hệ hàng hoá -tiền tệ , giá cả hình thành trên thị trường và được quyết định bởi quan hệ cung cầu trên thị trường Kinh tế thị trường tồn tại và phát triển trong chủ nghĩa tư bản và cả trong xã hội chủ nghĩa Vì lẽ đó , kinh tế thị trường không chỉ dung hợp với chủ nghĩa tư bản mà còn dung hợp với chủ nghĩa xã hội Kinh tế thị trường chỉ là phương thức phát triển kinh dựa trên những nguyên tắc của thị trường có sự điều tíêt của nhà nước Nó không thể quyết định bản chất và định hướng phát triển của một chế độ xã hội Bản chất của chế độ chính trị -xã hội quyết định bản chất của nền kinh tế thị trường chứ không thể ngược lại
Có thể khẳng định , chỉ phát triển có hiệu quả nền kinh tế thị trường hiện đại thì mới có khả năng thực hiện thành công công nghiệp hoá rút ngắn ở Việt Nam Kinh tế thị trường phải là một yếu tố nội tại bền vững trong mô hình phát triển kinh tế tổng quát đinh hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta Không nên quan niệm chi là “mượn “ hoặc sử dụng kinh tế thị trường như một yếu tố ngoại lai , đứng bên ngoài mô hình phát triển kinh tế Muốn công nghiệp hoá rút ngắn theo theo định hướng xã hội chủ nghĩa phải phát triển nhanh ,bền vững nền kinh tế thị trường định huớng xã hội chủ nghĩa Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta không phải là nền kinh tế phi thị trường Nhiệm vụ trung tâm của đất nước ta trong 20 năm đầu của thế kỉ XXI là phát triển kinh tế , đẩy mạnh công nghiệp hoá , hiện đại hoá để về cơ bản trở thành một nước công nghiệp ,
có cơ sở vật chất kĩ thuật cần thiết để đáp ứng nhu cầu phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở những giai đoạn sau Trên thế giới có nhiều nước phát triển kinh tế thị trường nhưng vẫn nằm trong danh sách các nước nghèo Điều kiện để thoát khỏi danh sách này
là phải thành công trong công nghiệp hoá rút ngắn Hiện nay trên thế giới số thành công rất ít ỏi Là một nước đi sau , Việt Nam phải lựa chọn và thực thi một mô hình công nghiệp hoá rút ngắn không được phép thất bại Đây là một thử thách rất lớn mà trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay vừa tạo cơ hội ,vừa gây bất lợi cho những nước đi sau , chậm phát triển ” [4,trg 200-202,205-207 ]
Trang 7IV.Mối quan hệ giữa công nghiệp hoá và nền kinh tế thị trường :
Đẩy mạnh công nghiệp hoá , hiện đại hoá và nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là hai nội dung có mối quan hệ thống nhất và hữu cơ với nhau
1)Tác động của công nghiệp hoá lên nền kinh tế thị trường :
- Công nghiệp hoá củng cố tăng cường vai trò của nhà nước , tăng cường sức mạnh hiệu lực và hiệu quả của bộ máy quản lí kinh tế nhà nước , củng cố khối liên minh công nông
và đội ngũ trí thức trong sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa
-Tạo điều kiện để xây dựng nền kinh tế độc lập ,tự chủ , vững mạnh trên cơ sở đó hình thành nên sự phân công lao động xã hội hợp lí giữa các vùng miền , chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng ngày càng hiện đại trên cơ sở phân công lao động và hợp tác quốc tế -Thông qua việc công nghiệp hoá -hiện đại hoá sẽ nâng cao kết cấu hạ tầng sản xuất xã hội này càng hiện đại , đổi mới cơ cấu kinh tế , kĩ thuật công nghệ , đầu tư và cơ câu lao động Bằng cách đó sẽ đưa sự phát triển của kinh tế thị trường lên trình độ cao và phát triển theo chiều sâu
-Thúc đẩy hình thành một cơ cấu kinh tế mới , hợp lí cho phép khai thác tối đa các nguồn lực , lợi thế của đất nước , góp phần đưa nền kinh tế đi lên , tăng sức cạnh tranh trên thương trường thế giới
- Qúa trình công nghiệp hoá và hịên đại hoá cũng đồng thời là qúa trình mở rộng quan hệ kinh doanh quốc tế ,giúp phát triển nền kinh tề mở , tăng việc trao đổi mua bán giữa các nứơc với nhau
2) Tác động của kinh tế thị trường đối với quá trình công nghiệp hoá :
- Cơ chế thị trường và qui luật cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường sẽ quyết định mô hình công nghiệp hoá như nào , phải đầu tư theo hướng nào , chọn lựa công nghệ nào cho phù hợp
- Kinh tế thị trường tạo ra động lực thúc đẩy cho lực lượng sản xuất phát triển Chính yếu tố cạnh tranh buộc người sản xuất hàng hoá muốn thu được lợi nhuận cao thì phải cải tiến kĩ thuật , áp dụng công nghệ mới , điều này đã thúc đẩy cho công gnhiệp hoá hiện đại hoá phát triển
- Khi kinh tế hàng hoá phát triển nó sẽ thúc đẩy quá trình chuyên môn hoá sản xuất và phân công lao động xã hội ,quốc tế , điểu đó giúp ta có thể tranh thủ , chuyển giao công nghệ hiện đại của các nước phát triển , làm rút ngắn sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá ở nước ta
- Sự phát triển kinh tế thị trường thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung sản xuất tạo điều kiện cho nền sản xuất lớn ra đời với trình độ xã hội hoá cao , nâng cao sản lượng và năng suất
- Nhờ phát triển được kinh tế hàng hoá nhiều thành phần giúp ta khai thác được nhiều tiềm năng trong nước và thu hút được vốn kĩ thuật của nước ngoài , giải phóng năng lực sản xuất , thúc đẩy công nghiệp hoá hiện đại hoá phát triển
CHƯƠNG 2 : Thực trạng , mối quan hệ giữa công nghiệp hoá và kinh tế thị trường qua thực tiễn kinh tế nước ta
I Các giai đoạn phát triển :
1) Giai đoạn 1960 -1986 :
Trang 8Sự nghiệp công nghiệp hoá ở nước ta được bắt đầu từ năm 1960 Đại hội Đảng toàn quốc lần III (9/1960) đã nhận định “ muốn cải tiến tình trạng nông nghiệp lạc hậu hiện nay của nước ta , đưa nước ta từ chế độ sản xuất nhỏ là chủ yếu lên sản xuất lớn XHCN , chúng ta không còn con đường nào khác ngoài con đường công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa” , và đại hội cũng xác định : “ Nhiệm vụ trung tâm của thời kì quá độ ở miển Bắc nước ta là công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa , mà mấu chốt là ưu tiên phát triển công nghiệp nặng” Trong suốt quá trình tiến hành công nghiệp hoá , tình hình trong nước và quốc tế diễn ra hết sức sôi động và phức tạp , không thuận lợi cho nước ta, làm chậm tiến trình chuển đổi của ta “Trong giai đoạn 1961-1965 tốc độ tăng sản lượng công nghiệp
là 13,7%, nông nghiệp là 4,1% Tỉ trọng công nhiệp trong thu nhập quốc dân tăng 16% (1957) lên 18,2% (1960), 22,2% (1965), còn tỉ trọng nông nghiệp giảm từ 44%(1957) xuống 42,3%(1960) và 41,7% (1965) [trg 90]’’
Dù phải đánh trả 2 lần chiến tranh phá hoại ác liệt phải tập trung sức người sức của cho giải phóng miền nam, thống nhất đất nước nhưng chúng ta vẫn tiếp tục phát triển kinh tế
xã hội liên tục,công gnhiệp hoá đạt được nhiều thành tựu Đến năm 1975 cơ cấu kinh ế
đã có sự chuyển dịch quan trọng , tỉ trọng công nghiệp trong thu nhập quốc dân nâng lên :16%(1957), 18,2%(1960),22,2% (1965), 26,6%(1971), 24,2%(1974),28,7% (1975).” [5,trg 92]
Từ sau năm 1975, đất nước ta thống nhất , mặc dù cơ sở giữa hai miền rất khác nhau về nguyên lí , điều kiện trong nước và quốc tề có nhiều thay đổi nhưng ta vẫn áp dụng cơ chế cũ là kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp Chính chủ trương nôn nóng chủ quan duy ý chí cộng với những sai lầm trong tổ chức lãnh đạo đã làm cho nền kinh tế nước ta lâm vào khủng hoảng và suy thoái ,cơ cấu kinh tế ngày càng bất hợp lí ,mất cân đối nghiêm trọng , nông nghiệp yếu kém không đáp ứng được trong nước , công nghiệp không phát huy được sức mạnh
Như vậy sau năm 1975 , qúa trình công nghiệp hoá được tíên hành trong cơ chế tập trung quan liêu bao cấp không còn phát huy được tác dụng ,mà còn làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình kinh tế xã hội
2) Giai đoạn 1986 đến nay :
Trong khoảng những năm 1979-1986 Đảng và nhân dân đã có những bước tìm tòi , thử nghiệm để cải cách theo hướng thị trường
- Đại hội VI của Đảng (12/1986) đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, nhất là đổi mới về tư duy kinh tế, đánh giá đúng vai trò của các thành phần kinh tế, có quan điểm
và chủ trương mới về công nghiệp hoá và cơ chế quản lý kinh tế, kiên quyết xoá bỏ chế
độ tập trung quan liêu bao cấp, nhấn mạnh sự thống nhất giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội mở ra một bước ngoặt có ý nghĩa quyết định trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta; là một cột mốc đánh dấu bước chuyển quan trọng trong nhận thức của Ðảng ta về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội
- Ðại hội VII (6-1991) tiếp tục thực hiện chủ trương xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo hướng phát huy thế mạnh của các thành phần kinh tế, vừa cạnh tranh vừa hợp tác, bổ sung cho nhau trong nền kinh tế quốc dân thống nhất Ðại hội đã đưa ra một kết luận mới rất quan trọng: sản xuất hàng hóa không đối lập với chủ nghĩa xã hội, mà là thành tựu phát triển của nền văn minh nhân loại, tồn tại khách quan, cần thiết cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và cả khi chủ nghĩa xã hội đã được xây dựng
Trang 9- Ðại hội VIII (6-1996) xác định nhiệm vụ đẩy mạnh công cuộc đổi mới một cách toàn diện và đồng bộ, tiếp tục phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Thực hiện nhất quán, lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần; lấy việc giải phóng sức sản xuất, động viên tối đa mọi nguồn lực bên trong và bên ngoài cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng cao hiệu quả kinh tế và xã hội, cải thiện đời sống của nhân dân làm mục tiêu hàng đầu trong việc khuyến khích phát triển các thành phần kinh tế và hình thức tổ chức kinh doanh Tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý kinh tế với mục tiêu xóa
bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp, hình thành tương đối đồng bộ cơ chế thị trường có
sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
- Phát huy những kết quả đổi mới đã đạt được, sau nhiều năm nghiên cứu, tìm tòi, tổng kết lý luận - thực tiễn, Ðại hội IX (4-2001) chính thức đưa ra khái niệm "kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa", khẳng định chủ trương xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát của Việt Nam trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, là đường lối chiến lược nhất quán Từ
"nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa", đã khái quát thành "nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa"; đó không phải là sự đơn giản hóa khái niệm mà là bước phát triển mới rất quan trọng về tư duy lý luận và thực tiễn của Ðảng
II.Mối quan hệ giữa công nghiệp hoá và kinh tế thị trường qua thực tiễn kinh tế nước ta :
Từ thực tiễn đổi mới ở Việt Nam trong hai mươi năm qua đã chỉ rõ mối quan hệ hữu cơ giữa công nghiệp hoá và nền kinh tế thị trường :
- Từ sự đổi mới toàn diện bắt đầu từ năm 1986 đã đưa nước ta vượt qua cú sốc lớn
là Liên Xô và khối nuớc Đông Âu tan rã làm mất đi khoản vịên trợ khoảng 1tỷ
đôla/năm ,mặc dù Mỹ vẫn gây khó khăn với chính sách cấm vận , nhưng nền kinh tế của chúng ta đã dần hồi phục và tăng trưởng không ngừng
- Với chính sách mở cửa , thực hiện phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần giúp ta khai thác được nhiều tiềm năng trong nước , năng lực sản xuất được giải phóng , góp phần thúc đẩy công nghiệp hoá ở nước ta Tổng sản phẩm quốc gia không ngừng tăng lên :
Năm GDP theo giá so sánh 1994 (tỉ đồng)
1990 131968
1991 139634
1992 151782
1993 164043
1994 178534
2000 273666
2001 292535
2002 313247
2003 336242
2004 362435
[6,trg 61]
Trang 10- Bằng những chính sách ưu đãi , với những lợi thế cạnh tranh như nguồn nhân lực dồi dào , giá rẻ , thị trường đầy tiềm năng , Việt Nam ngày càng trở nên hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài
Giai đoạn số dự án số vốn (triệu đô)
1988-1990 211 1087.3(93)
2001-2005 3935 6878.1
Và trong thời gian vừa qua , khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của tổ chức WTO , đã có một làn sóng đầu tư mới , với nguồn vốn lên đến hàng tỉ đô :
“Riêng tháng 11-2006 cả nước có 80 dự án được cấp giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới 843 triệu USD Tính chung, trong 11 tháng đầu năm đã có
736 dự án được cấp giấy phép mới với tổng vốn đầu tư đăng ký 6,15 tỷ USD, tăng 60,7%
về vốn đầu tư đăng ký so với cùng kỳ năm trước.Bên cạnh đó, trong tháng 11 có 77 lượt
dự án tăng vốn với số vốn tăng thêm là 117,4 triệu USD đưa tổng số dự án tăng vốn trong
11 tháng đầu năm là 439 lượt dự án với tổng vốn tăng là 2.121,7 triệu USD, tăng 18,9%
về vốn so với cùng kỳ năm trước.Điều đáng chú ý là trong thời gian qua, hàng loạt dự án lớn đã được cấp phép đáng chú ý như: Công ty thép Posco vốn đầu tư 1.126 triệu USD; Công ty TNHH Intel Products VN vốn đầu tư 605 triệu USD, Công ty TNHH Tycoons Worldwide Steel (Vietnam), xây dựng nhà máy cán thép, vốn đầu tư 556 triệu USD, Công ty TNHH Phát triển T.H.T vốn đầu tư 314 triệu USD, Cty TNHH Winvest
Investment (Việt Nam) vốn đầu tư 300 triệu USD; Công ty cảng Container Trung tâm Sài Gòn vốn đầu tư 249 triệu USD, Công ty liên doanh dịch vụ Container quốc tế cảng Sài gòn-SSA vốn đầu tư 160 triệu USD.” (www.tuoitre.com.vn /kinh tế )
Với hàng loạt các dự án như vậy quả là đã góp phần không nhỏ vào việc phát triển kinh tế , công nghiệp hoá , hiện đại hoá ở Việt Nam Hàng loạt các máy móc kĩ thuật , công nghệ tiên tiến sẽ được mang sang ,với những chuyên gia , mô hình quản lí hiệu quả mới sẽ được áp dụng , hàng loạt lao đông của Việt Nam sẽ có thêm việc làm Từ những yếu tố này sẽ giúp ta tranh thủ được những kĩ thuật mới, cải thiện chất lượng quá trình công nghiệp hoá , trình độ tay nghề của những người lao động , quản lí góp phần nâng cao chất lượng qúa trình công nghiệp hoá
Qúa trình công nghiệp hoá đã góp phần làm thay đổi cơ cấu tổng sản phẩm trong nuớc ,tỉ trọng nông nghiệp ngày càng giảm ,ngành công nghiệp và dịch vụ ngày càng chiếm tỉ lệ lớn ,cơ cấu kinh tế ngày càng thay đổi theo hướng hiện đại Sự thay đổi này cũng kéo theo sự thay đổi cơ cấu lao động ở nước ta:
1990 1993 1995 2000 2005
Nông nghiệp 40.5 29.9 27.2 24.53 20.89
Công nghiệp 23.8 28.9 30.7 36.73 41.04
Dịch vụ 35.7 41.2 42.1 38.73 38.07
[6,7,trg 62,16]
Qúa trình công nghiệp hoá trong nền kinh tế thị trường đã góp phần phát triển đời sống kinh tế ở nông thôn , năng lực sản xuất nông nhgiệp cũng tăng lên đáng kể , đưa nước ta trở thành nước xuất khẩu gạo lớn trên thế giới Thât vậy diện tích và sản lượng lúa không ngừng tăng lên: