A.MỞ ĐẦU1B.NỘI DUNG1I. Một số vấn đề chung về thụ đắc lãnh thổ11. Cơ sở xác lập chủ quyền quốc gia bằng thụ đắc lãnh thổ12. Bản chất của việc xác lập chủ quyền quốc gia bằng thụ đắc lãnh thổ23. Các hình thức thụ đắc lãnh thổ34. Ý nghĩa4II. Pháp luật quốc tế về thụ đắc lãnh thổ41. Thụ đắc lãnh thổ theo chuyển nhượng72. Thụ đắc lãnh thổ theo chiếm cứ9III. Thực tiễn áp dụng nguyên tắc thụ đắc lãnh thổ giải quyết tranh chấp quốc tế121. Áp dụng nguyên tắc thụ đắc lãnh thổ giải quyết các tranh chấp trên thế giới122. Áp dụng nguyên tắc thụ đắc lãnh thổ giải quyết các tranh chấp trên biển Đông14C.KẾT LUẬN18
Trang 1Đề tài: Phân tích nội dung nguyên tắc thụ đắc lãnh thổ trong
luật quốc tế Việc áp dụng nguyên tắc thụ đắc lãnh thổ trong việc giải quyết các tranh chấp ở biển Đông
A MỞ ĐẦU
Chủ quyền quốc gia là vấn đề hết sức nhạy cảm và trọng yếu được các quốc gia đặt lên hàng đầu Trong lịch sử, việc thiết lập và bảo vệ chủ quyền luôn được đặt lên hàng đầu bên cạnh việc xây dựng kinh tế đất nước Pháp luật quốc tế ra đời dựa trên cơ sở thỏa thuận giữa các quốc gia là khung pháp lí quan trọng điều chỉnh các quan hệ quốc tế phát sinh trong thực tiễn, trong đó, có vấn
đề chủ quyền quốc gia thông qua việc thừa nhận tính hợp pháp của các hình thức, phương thức xác lập Một trong những phương thức quan trọng xác lập chủ quyền lãnh thổ của quốc gia là nguyên tắc thụ đắc Trong bài tập lần này, sinh viên xin được làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về vấn đề này theo
đề tài mà nhóm đã chọn như trên
B NỘI DUNG
I Một số vấn đề chung về thụ đắc lãnh thổ
1 Cơ sở xác lập chủ quyền quốc gia bằng thụ đắc lãnh thổ
1.1 Cơ sở pháp lý
Xác lập chủ quyền của quốc gia đối với lãnh thổ là nhằm xác định danh nghĩa của quốc gia đối với lãnh thổ nói chung và các vùng lãnh thổ nói riêng Lãnh thổ quốc gia là toàn vẹn và bất khả xâm phạm, vì vậy việc xác lập chủ quyền quốc gia đối với lãnh thổ chỉ được coi là hợp pháp khi dựa trên những cơ
sở và phương thức do luật quốc tế quy định Xác lập chủ quyền quốc gia bằng thụ đắc lãnh thổ được ghi nhận trong Hiến chương Liên Hợp Quốc, Nghị quyết 26/25 năm 1970 của Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc về các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 (xác định về chủ quyền trên biển của mỗi quốc gia), Công ước Viên về Luật điều ước
Trang 2quốc tế năm 1969 (quy định việc chuyển nhượng và thụ đắc lãnh thổ bị vô hiệu)
Ở Việt Nam, việc xác lập chủ quyền quốc gia bằng thụ đắc lãnh thổ còn được quy định trong các Hiệp ước giữa Việt Nam với các nước láng giềng như: Hiệp ước biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc, Hiệp ước Hoạch định biên giới quốc gia giữa Việt Nam và Lào, Hiệp ước Hoạch định biên giới quốc gia giữa Việt Nam và Campuchia…
1.2 Cơ sở thực tiễn
Vấn đề xác lập chủ quyền quốc gia là một vấn đề quan trọng, mang tính lịch sử, chính trị Trong đó, đối với các vùng lãnh thổ mới, khu vực nhạy cảm giữa các quốc gia thì vấn đề xác lập chủ quyền đối với vùng lãnh thổ đó bằng thụ đắc có ý nghĩa vô cùng quan trọng Pháp luật quốc tế hiện đại và tập quán quốc tế lâu đời đều thừa nhận tính bất khả xâm phạm của lãnh thổ và biên giới quốc gia Tuy nhiên, việc xác lập chủ quyền lãnh thổ trên đất liền hay trên các vùng biển, đảo đều phải thỏa mãn đủ các yếu tố theo luật pháp quốc tế của từng thời điểm lịch sử, nghĩa là việc xác lập chủ quyền lãnh thổ phải dựa vào các phương thức thụ đắc lãnh thổ hợp pháp
2 Bản chất của việc xác lập chủ quyền quốc gia bằng thụ đắc lãnh thổ
Thụ đắc lãnh thổ là việc mở rộng ranh giới địa lý của chủ quyền quốc gia
ra một lãnh thổ mới.[1] Như vậy, bản chất xác lập chủ quyền quốc gia bằng thụ đắc lãnh thổ là việc một quốc gia xác lập chủ quyền của mình đối với một vùng lãnh thổ mới, hay nói cách khác, mở rộng lãnh thổ của mình, thêm một vùng lãnh thổ mới vào bản đồ lãnh thổ quốc gia theo những phương thức phù hợp với nguyên tắc của pháp luật quốc tế
Là một chế định của luật pháp quốc tế, việc xác lập chủ quyền quốc gia đối với lãnh thổ phải tuân thủ những nguyên tắc nhất định của luật pháp quốc tế
Trang 3Vì chủ quyền là thuộc tính chính trị pháp lý không thể tách rời của quốc gia nên nguyên tắc bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia sẽ chi phối các quốc gia trong quá trình thụ đắc lãnh thổ Bên cạnh đó, nguyên tắc hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế và nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng
vũ lực cũng tác động đến qua trình thụ đắc lãnh thổ: “Lãnh thổ của một quốc gia không thể là đối tượng của việc thụ đắc bởi một quốc gia khác bằng việc đe dọa hoặc sử dụng vũ lực Việc thụ đắc lãnh thổ bằng việc đe dọa hoặc sử dụng vũ lực không được thừa nhận là hợp pháp”[2] Cùng với đó, theo nguyên tắc dân tộc tự quyết thì mọi sự thay đổi về lãnh thổ phải dựa trên ý chí của dân cư sinh sống trên những lãnh thổ đó Ngoài ra, nguyên tắc chiếm hữu thật sự, nguyên tắc tự nguyện thực hiện các cam kết quốc tế; nguyên tắc bất khả xâm phạm và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia… cũng là cơ sở cho việc xem xét vấn đề thụ đắc lãnh thổ
Như vậy, xuất phát từ đặc thù riêng của chế định “lãnh thổ” không phải bất kỳ một sự thụ đắc lãnh thổ nào cũng đều phải tuân thủ tất cả các nguyên tắc của luật pháp quốc tế nhưng phải tuân thủ những nguyên tắc cơ bản đảm bảo hòa bình và an ninh thế giới
3 Các hình thức thụ đắc lãnh thổ
Trước khi Hiến chương Liên hợp quốc có hiệu lực, việc sử dụng vũ lực
và xâm lược về cơ bản là không trái với luật pháp quốc tế Do đó trong quá khứ việc xâm lược và thụ đắc và sáp nhập lãnh thổ của nước khác thông qua chiến tranh là hợp pháp và diễn ra phổ biến Tuy nhiên, Sau năm 1945 nguyên tắc cấm đe dọa sử dụng hay sử dụng vũ lực ra đời và nhanh chóng trở thành tập quán quốc tế ràng buộc tất cả mọi quốc gia Sự ra đời của nguyên tắc này đã loại bỏ tính hợp pháp của cách thức thủ đắc lãnh thổ bằng vũ lực và xâm lược
Hiện nay, Trên thực tế có nhiều quan điểm khác nhau về các phương thức thụ đắc lãnh thổ Có quan điểm cho rằng, thụ đắc lãnh thổ có thể được xác định
2 []Nghị Quyết số 26/25 (1970) của Đại hội đồng Liên hợp quốc về các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế.
Trang 4thông qua các hình thức như: Thụ đắc lãnh thổ do tác động của tự nhiên; Thụ đắc lãnh thổ theo thời hiệu; Thụ đắc lãnh thổ do chuyển nhượng; Thụ đắc lãnh thổ do chiếm hữu;
Tuy nhiên, có quan điểm cho rằng chỉ thừa nhận nguyên tắc thụ đắc lãnh thổ theo hai hình thức: Thụ đắc lãnh thổ do chuyển nhượng; Thụ đắc lãnh thổ
do chiếm hữu
4 Ý nghĩa
Phương thức thụ đắc lãnh thổ mang lại ý nghĩa vô cùng to lớn, ngày càng trở nên quan trọng không chỉ đối với thế giới nói chung mà còn với Việt Nam nói riêng Nó mang lại tính công bằng, bình đẳng giữa các quốc gia khi một phần lãnh thổ, một phần biển đảo cũng có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với quốc phòng và an ninh mỗi nước Tuân thủ đúng quy định về thụ đắc lãnh thổ cũng giúp phân chia rạch ròi và chính xác biên giới lãnh thổ tránh được tình trạng tranh chấp, xung đột, mâu thuẫn dẫn đến chiến tranh tranh giành lãnh thổ Và chính vì thế, việc xác định chủ quyền thông qua nguyên tắc thụ đắc lãnh thổ còn
là căn cứ để giải quyết các tranh chấp quốc tế liên quan đến chủ quyền quốc gia
Đặc biệt đối với Việt Nam hiện nay, vấn đề lãnh thổ, biển đảo luôn ở tình trạng căng thẳng và xảy ra tranh chấp kéo dài Những sự kiện lịch sử, văn bản pháp lý đã nêu là cơ sở vững chắc để khẳng định việc xác lập chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
II Pháp luật quốc tế về thụ đắc lãnh thổ
Như đã nói ở trên, nguyên tắc thụ đắc lãnh thổ được xem xét dưới nhiều góc độ và nhiều quan điểm khác nhau Theo quan điểm cho rằng, việc xác lập chủ quyền quốc gia bằng thụ đắc lãnh thổ có thể được thừa nhận thông qua hình thức: thụ đắc bằng con đường tự nhiên hay thời hiệu Họ thừa nhận thông qua lập luận như sau:
Thụ đắc lãnh thổ theo con đường tự nhiên:
Trang 5Đây là một phương thức rất hiếm và có thể nói là không xảy ra thường xuyên Theo đó, một quốc gia được mở rộng diện tích lãnh thổ của mình thông qua việc bồi đắp tự nhiên vào lãnh thổ hoặc sự xuất hiện của các hòn đảo mọc lên tại vùng biển trong phạm vi đường biên giới của quốc gia Nói cách khác, trong trường hợp một vùng lãnh thổ mới xuất hiện theo tiến trình vận động của
tự nhiên trong phạm vi lãnh thổ hiện có của một quốc gia thì quốc gia đó có quyền xác lập chủ quyền đối với vùng lãnh thổ mới hình thành này Nghĩa là quốc gia đó thụ đắc một cách tự động và mặc nhiên Những vùng đất được bồi đắp hoặc hòn đảo xuất hiện trong vùng lãnh hải của một quốc gia sẽ trở thành một bộ phận của lãnh thổ quốc gia, điều đó đồng nghĩa với việc đường biên giới trên biển của quốc gia sẽ được mở rộng (theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982)
Ví dụ như việc xuất hiện hòn đảo trong lãnh hải, nội thủy do núi lửa phun trào hay bồi đấp của hải lưu hay hình thành cù lao trên các dòng sông Trong những năm gần đây cũng có một số hòn đảo mới xuất hiện do núi lửa phun trào dưới biển như đảo Niijima của Nhật Bản xuất hiện năm 2013, hay đảo Hunga Ha’apai của Tonga được mở rộng năm 2015
Một vấn đề liên quan trong cách thức thụ đắc này là việc dịch chuyển của các dòng sông biên giới Các dòng sông thường xuyên được các quốc gia sử dụng để làm biên giới, do tính chất chia tách tự nhiên của chúng Qua thời gian, với tác động của dòng chảy và các yếu tố khác, dòng sông có thể bị dịch chuyển (bên lở bên bồi), và khi đó đặt ra câu hỏi đường biên giới giữa các quốc gia hai bên bờ có dịch chuyển theo dòng chảy mới hay không? Liệu quốc gia bên bồi
có được thêm lãnh thổ và quốc gia bên lở sẽ bị mất lãnh thổ? Để tránh hiện tượng này ngày nay các đường biên giới trên sông thường được xác định bằng tọa độ cố định
Việt Nam và các nước láng giềng Trung Quốc, Lào và Campuchia có các điều ước hoạch định và cắm mốc biên giới, trong đó cũng đã dự trù trước
Trang 6trường hợp có lãnh thổ mới xuất hiện trên các sông, suối biên giới Ví dụ: Điều
V Hiệp ước biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc quy định: “Bất
kỳ sự thay đổi nào có thể xảy ra đối với sông suối biên giới đều không làm thay đổi hướng đi của đường biên giới, không ảnh hưởng đến vị trí của đường biên giới Việt – Trung đã được xác định trên thực địa cũng như sự quy thuộc của các cồn, bãi, trừ khi hai bên ký kết có thỏa thuận khác Những cồn, bãi mới xuất hiện trên sông suối biên giới sau khi đường biên giới đã được xác định trên thực địa sẽ được phân định theo đường biên giới đã được xác định trên thực địa Nếu các cồn, bãi mới xuất hiện nằm trên đường biên giới đã được xác định trên thực địa thì hai bên ký kết sẽ bàn bạc xác định sự quy thuộc trên cơ sở công bằng, hợp lý”
Thụ đắc lãnh thổ theo thời hiệu:
Thụ đắc lãnh thổ theo thời hiệu là sự thực hiện thực sự, liên tục và hòa bình trong một thời gian dài và không có sự phản đối của bất kỳ quốc gia nào khác đối với một vùng lãnh thổ không phải là vô chủ, có nguồn gốc thuộc về một quốc gia khác hoặc chưa thuộc về một quốc nào khác do đang còn bị tranh chấp và rất khó để xác định vùng lãnh thổ đó đã thuộc về một quốc gia nào hay chưa Nói đơn giản, thụ đắc lãnh thổ theo thời hiệu là cách thức chiếm hữu mà luật pháp quốc tế cho phép để hợp pháp hóa việc chiếm hữu hữu hiệu đối với một lãnh thổ nhất định, bất kể lãnh thổ đó đã thuộc về một quốc gia hay không xác định được quốc gia nào có chủ quyền Phương thức thụ đắc lãnh thổ này được hình thành trong thời kỳ mà việc gây chiến tranh xâm lược hoặc việc xâm chiếm bằng vũ lực những vùng lãnh thổ của các nước khác chưa bị ngăn cấm và lên án bởi các quy phạm của luật pháp quốc tế đương thời
Thụ đắc lãnh thổ theo thời điểm đòi hỏi thực hiện chủ quyền trên thực tế đối với một vùng lãnh thổ trong một thời gian tương đối dài, đồng thời phải không có sự phản đối từ quốc gia đang có chủ quyền đối với lãnh thổ đó Phản
Trang 7đối ngoại giao hay các hành động hay phát biểu khác có tính chất phản đối đối với tình trạng chiếm hữu hữu hiệu sẽ vô hiệu hóa việc chiếm hữu theo thời hiệu
Trên đây là lập luận để cho rằng, chủ quyền quốc gia có thể theo con đường thụ đắc lãnh thổ tự nhiên hoặc theo thời hiệu Tuy nhiên, xem xét dưới góc độ thực tiễn và lịch sử thì quan điểm này dường như trở nên lỗi thời, không sát với thực tiễn Một phần, bởi vì hiện nay chủ quyền quốc gia do việc hình thành tự nhiên hay thời hiệu không còn tồn tại, nếu có chỉ là vấn đề láp liếm bởi hình thức xâm chiếm hay sử dụng vũ lực- hình thức bị nghiêm cấm trong luật quốc tế Mặt khác, theo xu hướng hiện đại, Luật quốc tế thừa nhận hai hình thức thụ đắc cơ bản (diễn ra thường xuyên và được các nước thừa nhận) đó là thụ đắc lãnh thổ theo chuyển nhượng và thụ đắc lãnh thổ theo chiếm cứ
1 Thụ đắc lãnh thổ theo chuyển nhượng
Chuyển nhượng lãnh thổ giữa các quốc gia là cách thức thụ đắc lãnh thổ hợp pháp và hòa bình, qua đó quốc gia này chuyển nhượng một phần lãnh thổ thuộc chủ quyền của mình cho quốc gia khác thông qua các hình thức như: thỏa thuận, mua bán, trao đổi lãnh thổ…
Hình thức chuyển nhượng thường được hợp thức thông qua các văn bản điều ước chính thức mà trong đó miêu tả rõ về vùng đất được chuyển nhượng cũng như các điều kiện để việc chuyển nhượng được hoàn thành
Điều kiện để chuyển nhượng lãnh thổ là một cách thức thụ đắc lãnh thổ hợp pháp là phải bảo đảm điều ước chuyển nhượng có hiệu lực theo luật pháp quốc tế Các trường hợp điều ước quốc tế bị vô hiệu dẫn đến việc thụ đắc lãnh thổ theo chuyển nhượng bị vô hiệu được quy định trong Công ước Viên về Luật Điều ước quốc tế năm 1969, bao gồm 08 trường hợp sau: vi phạm luật pháp quốc gia về thẩm quyền ký kết điều ước; vi phạm các giới hạn cụ thể liên quan đến thẩm quyền thể hiện sự đồng ý chịu ràng buộc; sai sót; gian lận; tham nhũng; đe dọa đại diện quốc gia; đe dọa sử dụng hay sử dụng vũ lực và xung đột với quy phạm jus cogens
Trang 8Trên thực tế, việc chuyển nhượng lãnh thổ chỉ xuất hiện trong quá khứ và rất ít xuất hiện trong giai đoạn hiện nay vì tính chất nhạy cảm và thiêng liêng của lãnh thổ quốc gia trong tâm lý dân tộc và dư luận xã hội các nước Cụ thể, một số vụ chuyển nhượng lãnh thổ diễn ra như sau:
Theo hình thức thỏa thuận: Cuối thế kỷ XIX, triều đình nhà Thanh (Trung Quốc) đã thỏa thuận với Vương quốc Anh về việc chuyển giao vùng lãnh thổ Hong Kong với thời hạn 99 năm Hết thời hạn đó, 0h ngày 01/07/1997, Hong Kong được chuyển giaao từ Vương quốc Anh về cho Trung Quốc
Theo hình thức mua bán lãnh thổ: Ở đây, các bên sẽ thỏa thuận một bên chuyển nhượng vùng lãnh thổ, còn bên được chuyển nhượng phải thanh toán một khoản tiền nhất định Ví dụ, năm 1867, Nga chuyển nhượng vùng Alaska cho Mỹ với giá 7,2 triệu đô la Năm 1898, Tây Ban Nha chuyển nhượng vùng Puerto Rico, đảo Guam và Philippines cho Mỹ sau khi thua trong chiến tranh
Mỹ – Tây Ban Nha (trong đó Puerto Rico, Guam được nhượng lại, còn Philippines được mua với giá 20 triệu đô la)
Theo hình thức trao đổi lãnh thổ: trong hình thức này, đối tượng trao đổi
là vùng lãnh thổ có giá trị, diện tích, ý nghĩa tương đương với nhau Ví dụ, ngày 15/02/1951, Liên Xô cũ và Ba Lan đã thỏa thuận trao đổi với nhau vùng lãnh thổ có diện tích 480 km2
Do phương thức thụ đắc lãnh thổ theo chuyển nhượng có tác dụng thay thế chủ quyền lãnh thổ từ quốc gia này sang cho quốc gia khác trên một bộ phận lãnh thổ, quốc gia chuyển nhượng không thể chuyển giao nhiều hơn những quyền mà bản thân nó có Đây là một điểm quan trọng đã được đề cập tới trong
vụ phân xử đảo Palmas Vụ Palmas là vụ tranh chấp chủ quyền một đảo nằm ở phía nam quần đảo Phillippines giữa Hoa Kỳ và Hà Lan Yêu sách của Hoa Kỳ dựa trên cơ sở Hiệp ước 1898, trong đó Tây Ban Nha nhượng quần đảo Phiplippin gồm cả đảo Palmas đã được Tây Ban Nha phát hiện từ thế kỷ XVI
Trang 9cho Hoa Kỳ Đảo Palmas nằm trong đường Hiệp ước đó, nhưng sau đó, Tây Ban Nha đã bỏ rơi trên thực tế Hà Lan đưa ra chứng cứ và lập luận rằng: Hà Lan đã thực thi các quyền có tính chất chủ quyền trên đảo bắt đầu từ thế kỷ thứ XVII Trọng tài Max Huber đã có nhận xét và được các bên chấp nhận “Tây Ban Nha không thể chuyển giao cho Hoa Kỳ hơn các quyền mà bản thân mình có”
Lịch sử Việt Nam cũng có những lần chuyển nhượng lãnh thổ Ví dụ, Chân Lạp (nay là Campuchia) dâng đất các tỉnh Nam bộ cho chúa Nguyễn vào nửa sau thế kỷ XVIII như quà tạ ơn cho các lần chúa Nguyễn giúp các vua Chân Lạp dẹp loạn, lên ngôi Thời nhà Nguyễn có các thỏa thuận chuyển nhượng với Pháp sau khi thua trận trong việc nỗ lực chống Pháp xâm lược của triều đình nhà Nguyễn (Hòa ước Nhâm Tuất năm 1862 nhượng ba tỉnh Biên Hòa, Gia Định và Định Tường; Hòa ước Giáp Tuất năm 1874 nhượng sáu tỉnh Nam kỳ; Hòa ước Quý Mùi năm 1883 chuyển nhượng tỉnh Bình Thuận)
2 Thụ đắc lãnh thổ theo chiếm cứ
Chiếm hữu là một phương thức thụ đắc lãnh thổ trong luật pháp quốc tế,
về bản chất đây là hành động của một quốc gia thiết lập và thực hiện quyền lực của mình trên một lãnh thổ vô chủ hoặc lãnh thổ bị bỏ rơi Theo đó, có thể nhìn nhận phương thức này qua các phương diện sau:
Thứ nhất, về chủ thể của chiếm hữu lãnh thổ cũng giống như chủ thể chung của việc xác lập chủ quyền lãnh thổ - đó phải là quốc gia và hành động chiếm hữu ở đây phải là hành động nhân danh quốc gia, được quốc gia uỷ quyền, không phải là hành động của bất kì cá nhân nào, ngay cả khi các tư nhân
đó hợp thành một tập thể hoặc một công ty, trừ những trường hợp khi tập thể đó hoặc công ty đó được Nhà nước ủy quyền xác lập chủ quyền lãnh thổ thay mặt cho Nhà nước
Thứ hai, về đối tượng của phương thức thụ đắc lãnh thổ bằng chiếm cứ chính là Lãnh thổ vô chủ (Terra Nullius) hoặc lãnh thổ bị bỏ rơi (Terra
Trang 10derelicta) Nếu như lãnh thổ vô chủ là lãnh thổ chưa được bất kỳ một quốc gia nào tuyên bố chủ quyền hoặc chưa từng đặt dưới sự quản trị của quốc gia nhất định nào thì lãnh thổ bị bỏ rơi là lãnh thổ đã từng được chiếm hữu, thuộc chủ quyền của một quốc gia nhưng sau đó, nhà nước chiếm hữu từ bỏ chủ quyền của mình đối với vùng lãnh thổ đó Chính vì sự từ bỏ đó mà lãnh thổ này không còn
là đối tượng điều chỉnh, áp dụng của pháp luật quốc gia nữa Tuy có khác nhau nhưng giữa lãnh thổ vô chủ và lãnh thổ bị bỏ rơi đều có một điểm chung để trở thành đối tượng của phương thức thụ đắc lãnh thổ bằng chiếm cứ, đó là lãnh thổ
đó phải không thuộc chủ quyền của quốc gia nào ở vào thời điểm quốc gia thực hiện việc chiếm cứ
Thứ ba, trong lịch sử, phương thức thụ đắc lãnh thổ bằng chiếm cứ đã tồn tại dưới 2 dạng đó là chiếm cứ hình thức và chiếm cứ hữu hiệu Trong đó:
Chiếm cứ hình thức bắt nguồn từ thuyết “quyền ưu tiên chiếm hữu” dành
cho quốc gia đã phát hiện ra vùng lãnh thổ đó đầu tiên, gọi tắt là thuyết quyền phát hiện, nội dung của nguyên tắc này nói về thiết lập chủ quyền quốc gia trên những vùng lãnh thổ mà họ “phát hiện”, những hành vi thiết lập đó được khẳng định bằng việc kéo quốc kỳ, quốc huy hay đặt biểu tượng của quốc gia trên lãnh thổ mới Phương thức xác lập chủ quyền lãnh thổ này diễn ra phổ biến ở thế kỉ XVI và được coi là hợp pháp trong giai đoạn lịch sử đó Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của giao lưu kinh tế, thương mại cùng sự mở rộng khả năng chinh phục, khám phá tự nhiên của con người, số lượng các quốc gia được phát hiện ngày càng nhiều, trong khi chiếm cứ hình thức chỉ đem lại cho quốc gia phát hiện một danh nghĩa phôi thai, tạm thời, chưa hoàn chỉnh (bởi các dấu vết phát hiện mà quốc gia để lại thường mang tính thụ động, không chịu nổi thử thách của thời gian, không xác định được phạm vị chủ quyền lãnh thổ…) khiến cho phương thức chiếm cứ hình thức này ngày càng bộc lộ những hạn chế, làm phát sinh nhiều tranh chấp về lãnh thổ giữa các quốc gia