1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng về đói, nghèo của huyện Hoàng Su Phì và những giải pháp cơ bản trong công cuộc xoá đói giảm nghèo hiện nay

103 907 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng về đói, nghèo của huyện Hoàng Su Phì và những giải pháp cơ bản trong công cuộc xoá đói giảm nghèo hiện nay
Tác giả Nguyễn Xuân Tình
Người hướng dẫn Thầy Giáo Mai Văn Bưu
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Chuyên đề báo cáo thực tập
Năm xuất bản 2006
Thành phố Hoàng Su Phì
Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 1,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thế giới bước sang thế kỷ XXI với một nền văn minh rực rỡ nhưng cũng ngổn ngang những vấn đề gay gắt mang tính chất toàn cầu. Nó chứa đựng trong mình cả niềm vui nỗi bất hạnh, cả nụ cười và nước mắt, nỗi đau nhân loại là nghèo đói vẫn còn trầm trọng trên một phạm vi vô cùng rộng lớn. Nghèo, đói luôn là nỗi bất hạnh của loài người, là một nghịch lý trên con đường phát triển. Trong khi thế giới đã đạt được những thành tựu to lớn về tiến bộ khoa học kỹ thuật, làm tăng đáng kể của cải vật chất xã hội, tăng vượt bậc sự giàu có của con người, thì thảm cảnh đeo đẳng mãi trên lưng con người lại chính là sự nghèo đói. Thực tế hiện nay trong hơn 6 tỷ người của thế giới, thường xuyên có 2,8 tỷ người sống dưới mức sống 2USD/ngày, đặc biệt có 1,2 tỷ người sống dưới mức 1USD/ngày. Ở nước ta, sau 20 đổi mới, nền kinh tế đang từng bước khởi sắc và đã đạt được những thành tựu to lớn. Tuy nhiên, bên cạnh khối dân cư giàu có và trung lưu ngày một gia tăng, vẫn còn một bộ phận lớn dân cư nghèo đói. Tỷ lệ nghèo đói ở Việt Nam còn rất cao (11% năm 2006) đang là một thách thức lớn đối với sự phát triển và trở thành mối quan tâm chung, vấn đề cấp bách phải giải quyết của toàn xã hội. Do đó giải quyết vấn đề giảm nghèo tạo tiền đề cho phát triển kinh tế – xã hội, chuyển nước ta từ một nước nghèo trở thành một nước giàu có, văn minh. Quán triệt quan điểm của Đảng huyện Hoàng Su Phì đã luôn quan tâm đến công tác xoá đói giảm nghèo trong suốt quá trình phát triển. Tuy đã đạt được những thành tựu tốc độ tăng trưởng khá, xong trong nhiều năm qua vẫn có một khoảng cách về thu nhập khá lớn. Mục tiêu của huyện Hoàng Su Phì là tiến tới xoá hẳn tình trạng đói và giảm dần tình trạng nghèo từ nay đến năm 2010. Đây là một việc hết sức khó khăn đòi hỏi phải có sự phối hợp nỗ lực của toàn thể cộng đồng cũng như ý trí vươn lên của chính người nghèo. Qua quá trình học tập tại trường và qua một thời gian nghiên cứu thực tế em đã nhận thức được ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác xoá đói giảm nghèo đối với quá trình phát triển kinh tế xã hội của huyện Hoàng Su Phì nói riêng và của Việt Nam nói chung. Chính vì vậy là một cán bộ phòng Nội vụ - LĐTBXH phụ trách theo dõi về công tác xoá đói giảm nghèo, em đã chọn và nghiên cứu đề tài này đó là vấn đề: “Thực trạng về đói, nghèo của huyện Hoàng Su Phì và những giải pháp cơ bản trong công cuộc xoá đói giảm nghèo hiện nay”.

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Thế giới bước sang thế kỷ XXI với một nền văn minh rực rỡ nhưng cũngngổn ngang những vấn đề gay gắt mang tính chất toàn cầu Nó chứa đựngtrong mình cả niềm vui nỗi bất hạnh, cả nụ cười và nước mắt, nỗi đau nhânloại là nghèo đói vẫn còn trầm trọng trên một phạm vi vô cùng rộng lớn.Nghèo, đói luôn là nỗi bất hạnh của loài người, là một nghịch lý trên conđường phát triển Trong khi thế giới đã đạt được những thành tựu to lớn vềtiến bộ khoa học kỹ thuật, làm tăng đáng kể của cải vật chất xã hội, tăng vượtbậc sự giàu có của con người, thì thảm cảnh đeo đẳng mãi trên lưng conngười lại chính là sự nghèo đói Thực tế hiện nay trong hơn 6 tỷ người của thếgiới, thường xuyên có 2,8 tỷ người sống dưới mức sống 2USD/ngày, đặc biệt

có 1,2 tỷ người sống dưới mức 1USD/ngày

Ở nước ta, sau 20 đổi mới, nền kinh tế đang từng bước khởi sắc và đã đạtđược những thành tựu to lớn Tuy nhiên, bên cạnh khối dân cư giàu có vàtrung lưu ngày một gia tăng, vẫn còn một bộ phận lớn dân cư nghèo đói Tỷ lệnghèo đói ở Việt Nam còn rất cao (11% năm 2006) đang là một thách thứclớn đối với sự phát triển và trở thành mối quan tâm chung, vấn đề cấp báchphải giải quyết của toàn xã hội Do đó giải quyết vấn đề giảm nghèo tạo tiền

đề cho phát triển kinh tế – xã hội, chuyển nước ta từ một nước nghèo trởthành một nước giàu có, văn minh

Quán triệt quan điểm của Đảng huyện Hoàng Su Phì đã luôn quan tâmđến công tác xoá đói giảm nghèo trong suốt quá trình phát triển Tuy đã đạtđược những thành tựu tốc độ tăng trưởng khá, xong trong nhiều năm qua vẫn

có một khoảng cách về thu nhập khá lớn Mục tiêu của huyện Hoàng Su Phì

là tiến tới xoá hẳn tình trạng đói và giảm dần tình trạng nghèo từ nay đến năm

2010 Đây là một việc hết sức khó khăn đòi hỏi phải có sự phối hợp nỗ lựccủa toàn thể cộng đồng cũng như ý trí vươn lên của chính người nghèo

Trang 2

Qua quá trình học tập tại trường và qua một thời gian nghiên cứu thực tế

em đã nhận thức được ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác xoá đói giảmnghèo đối với quá trình phát triển kinh tế xã hội của huyện Hoàng Su Phì nóiriêng và của Việt Nam nói chung Chính vì vậy là một cán bộ phòng Nội vụ -LĐTBXH phụ trách theo dõi về công tác xoá đói giảm nghèo, em đã chọn và

nghiên cứu đề tài này đó là vấn đề: “Thực trạng về đói, nghèo của huyện Hoàng Su Phì và những giải pháp cơ bản trong công cuộc xoá đói giảm nghèo hiện nay”

Kết cấu của chuyên đề bao gồm 3 phần chính sau:

Phần I: Một số vấn đề lý luận chung về xoá đói giảm nghèo.

Phần II: Phân tích thực trạng và nguyên nhân đói nghèo ở huyện Hoàng Su

Phì

Phần III: Phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm xoá đói, giảm

nghèo ở huyện Hoàng Su Phì giai đoạn 2006 - 2010

Do nhận thức còn hạn chế, thời gian nghiên cứu có hạn nên chuyên đềkhông thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định Rất mong được sự đóng góp ýkiến của các thầy cô trong khoa và của các bạn, đặc biệt là thầy giáo hướngdẫn Mai Văn Bưu để bài viết này hoàn chỉnh hơn

Em xin chân thành cảm ơn !

Trang 3

PHẦN I

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO

I- CÁC QUAN NIỆM VỀ ĐÓI, NGHÈO.

1- Quan niệm về đói, nghèo.

Xã hội loài người đã phát triển qua nhiều nấc thang lịch sử do trình độlực lượng sản xuất quyết định Bằng lao động sản xuất, con người khai thácthiên nhiên để tạo ra của cải vật chất nhằm đáp ứng nhu cầu ăn, mặc, ở vànhững nhu cầu khác Năng xuất lao động ngày càng cao thì của cải, vật chấtngày càng nhiều, các nhu cầu đời sống được đáp ứng đầy đủ hơn, trái lại năngxuất lao động thấp, của cải vật chất thu được ít, con người rơi vào cảnh nghèođói

Tuy nhiên, ở trong các thời đại khác nhau, cũng có nhiều cách lý giảikhác nhau về quan niệm, nguyên nhân và cách giải quyết đối với hiện tượngnghèo đói

Trong thời kỳ tiền sử mông muội, loài người trong khi bức ra, tách khỏithế giới động vật trong giới tự nhiên để trở thành người và tổ chức thành đờisống xã hội thì cùng với bước ngoặc ấy, con người đã phải thường xuyên đối

mặt với đói nghèo ở đây, nghèo đói là hệ quả trực tiếp của lạc hậu, mông

muội là điển hình của sự thống trị của tự nhiên đối với con người.

Tiếp thu và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lê Nin, trong công cuộcxây dựng chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc nước ta, Hồ Chí Minh đã để lại chochúng ta những tư tưởng quý báu về cách mạng xã hội chủ nghĩa Đó là quan

niệm của Người về chủ nghĩa xã hội là xa lạ với nghèo đói, bần cùng và lạc

hậu Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh phải đẩy mạnh tăng gia sản xuất hơn nữa,

thực hành tiết kiệm “Tăng gia là tay phải của hạnh phúc, tiết kiệm là tay tráicủa hạnh phúc” Đây là con đường lâu dài và chắc chắn đối với công tác xoá

Trang 4

đói, giảm nghèo nói riêng và không ngừng nâng cao đời sống nhân dân nóichung Đặc biệt là tư tưởng của Người: “Làm cho người nghèo thì đủ ăn,

người đủ ăn thì khá, giàu, người giàu thì giàu thêm” Theo Người, xoá đói phải tiến tới giảm nghèo và tăng giàu Đói, nghèo là một cửa ải phải vượt

qua, phải tiến tới giàu có, giàu có nữa giàu có mãi, “dân có giàu thì nước mớimạnh” Cần phải xây dựng chủ nghĩa xã hội như một xã hội giàu có, phồnthịnh về kinh tế, lành mạnh về xã hội, văn minh về văn hoá Quan niệm trênđây chứa đựng ý nghĩa giải phóng to lớn sức sản xuất, giải phóng tư tưởng vàtiềm năng xã hội, hướng tới một sự phát triển năng động của toàn xã hội vìhạnh phúc của con người

Nếu điểm xuất phát tới chủ nghĩa xã hội lại quá thấp và sự nghiệp xâydựng chủ nghĩa xã hội còn là mới mẻ, đang từng bước phải tìm tòi về conđường, cách đi, mô hình, cách làm như ở nước ta thì vấn đề nghèo đói vẫncòn tồn tại là vấn đề khó tránh khỏi

Đối với Việt Nam để tránh khỏi nguy cơ tụt hậu ngày càng xa hơn so vớicác nước trên thế giới và trong khu vực, con đường phải đi của chúng ta làphát triển rút ngắn đồng thời gắn liền với việc giảm tối đa cái giá phải trả -trong đó có việc phải xoá đói, giảm nghèo ở Việt Nam, đó là nền kinh tế thịtrường theo định hướng xã hội chủ nghĩa

2- Các khái niện về đói nghèo.

2.1- Các khái niệm về nghèo.

* Khái niệm về nghèo khổ của UNDP – 1998

Năm 1998, UNDP công báo một bản báo cáo nhan đề “Khắc phục sựnghèo khổ của con người” đã đưa ra những định nghĩa về nghèo như sau:

Sự nghèo khổ của con người : Thiếu những quyền cơ bản của con người

như biết đọc, biết viết và được nuôi dưỡng tạm đủ

Trang 5

Sự nghèo khổ về tiền tệ : Thiếu thu nhập tối thiểu thích đáng và khả năng

chi tiêu tối thiểu

Sự nghèo khổ cực độ: Nghèo khổ, khốn cùng tức là không có khả năng

thoả mãn những nhu cầu cơ bản tối thiểu

Sự nghèo khổ chung: Mức độ nghèo kém nghiêm trọng hơn được xác

định như sự không có khả năng thoả mãn những nhu cầu lương thực và philương thực chủ yếu, những nhu cầu này đôi khi được xác định khác nhau ởnhững nước khác nhau

Sự nghèo khổ tương đối: Sự nghèo khổ được xác định theo những chuẩn

mực có thể thay đổi với thời gian ở nước này hay nước khác Ngưỡng này cóthể tăng lên đồng thời với thu nhập

Sự nghèo khổ tuyệt đối: Sự nghèo khổ được xác định bằng một chuẩn

mực nhất định Chẳng hạn như ngưỡng quốc tế của sự nghèo khổ là1USD/người/ngày

* Khái niệm về nghèo đói của Ngân hàng thế giới (WB).

Ngưỡng nghèo thứ nhất là số tiền cần thiết để mua một rổ hàng hoálương thực hàng ngày trong năm 1993 và được gọi là “ngưỡng nghèo vềlương thực, thực phẩm” Ngưỡng nghèo này thường thấp bởi vì nó không tínhđến số tiền chi tiêu cho những sản phẩm phi lương thực khác

Ngưỡng nghèo thứ hai là “ ngưỡng nghèo chung” bao gồm cả chi tiêucho lương thực thực phẩm và chi tiêu cho sản phẩm phi lương thực

Xuất phát từ nhu cầu calo tối thiểu cần thiết cho mỗi cơ thể theo thểtrạng con người: WB đã đưa ra con số phổ biến được sử dụng là 2100 kilocalo cho một người mỗi ngày Mỗi gia đình Việt Nam phải mất bao nhiêutiền để mua được một rổ hàng hoá lương thực đủ để cung cấp 2100 calo chomỗi người một ngày Vì vậy, nghèo đói theo định nghĩa của WB là những hộ

Trang 6

không có khả năng chi trả cho số hàng hoá lương thực của mình để đủ cungcấp 2100 calo cho mỗi người một ngày.

* Khái niệm về nghèo đói trong khu vực Châu á - Thái Bình Dương doESCAP tháng 9/1993

Nghèo tuyệt đối: Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được

hưởng và thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người, mà những nhu cầunày đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế và phong tụctập quán của địa phương

Nghèo tương đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư sống dưới mức trung

bình của cộng đồng

2.2- Các khái niệm về đói.

Đói là tình trạng của một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức tối thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống Hay có thể nói đói là một nấc thấp nhất của nghèo.

Tài liệu của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã phân loại đói làmhai dạng (theo mốc đánh giá năm 1993):

Thiếu đói: Là tình trạng của một bộ phận dân cư có thu nhập dưới mức

thu nhập là 12 kg gạo/người/tháng Hay là tình trạng của một bộ phận dân cư

ở nông thôn có thu nhập dưới mức 20.400 đồng/người/tháng và ở thành thị là24.500 đồng/người/tháng

Đói gay gắt: Là tình trạng của một bộ phận dân cư có mức thu nhập dưới

mức 8 kg gạo/người/tháng và ở thành thị là 16.300 đồng/người/tháng

Ngoài ra còn có khái niệm khác nhằm làm rõ hơn tình trạng nghèo đói ởViệt Nam

Nghèo đói kinh niên: (tương ứng với nghèo truyền từ đời này qua đời

khác) là bộ phận dân cư nghèo đói nhiều năm liền cho tới thời điểm đang xét

Trang 7

Nghèo đói cấp tính: (hay còn gọi là nghèo mới ) là bộ phận dân cư rơi

vào tình trạng nghèo đói đột xuất vì nhiều nguyên nhân như phá sản và các rủi

ro, thiên tai khác tại thời điểm đang xét

II- CÁC QUAN NIỆM VỀ XOÁ ĐÓI, GIẢM NGHÈO.

1- Khái niệm về xoá đói, giảm nghèo.

1.1- Khái niệm về xoá đói.

Xoá đói là làm cho bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức tốithiểu và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống,từng bước nâng cao mức sống đến mức tối thiểu và có thu nhập đủ để đảmbảo nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống

1.2- Khái niệm giảm nghèo.

Giảm nghèo là làm cho bộ phận dân cư nghèo nâng cao mức sống, từngbước thoát khỏi tình trạng nghèo Biểu hiện ở tỷ lệ phần trăm và số lượngngười nghèo giảm xuống Nói một cách khác giảm nghèo là quá trình chuyển

bộ phận dân cư nghèo lên một mức sống cao hơn

Ở khía cạnh khác Giảm nghèo là chuyển từ tình trạng có ít điều kiện lựachọn sang tình trạng có đầy đủ điều kiện lựa chọn hơn để cải thiện đời sốngmọi mặt của mỗi người

Ở góc độ nước nghèo: Giảm nghèo ở nước ta chính là từng bước thực

hiện quá trình chuyển đổi trình độ sản xuất cũ, lạc hậu còn tồn đọng trong xãhội sang trình độ sản xuất mới, cao hơn Mục tiêu hướng tới là trình độ sảnxuất tiến tiến của thời đại

Ở góc độ người nghèo: Giảm nghèo là quá trình tạo điều kiện giúp đỡ

người có khả năng tiếp cận các nguồn lực của sự phát triển một cách nhanhnhất, trên cơ sở đó có nhiều lựa chọn hơn, giúp họ từng bước thoát khỏi tìnhtrạng nghèo hiện tại

Trang 8

2- Phương pháp tính thu nhập bình quân đầu người.

N= =

Trong đó:

N: Thu nhập bình quân một người trong hộ;

Q: Tổng thu nhập (tổng doanh thu);

N: Số người trong hộ;

Qc: Tổng chi phí (gồm chi phí vật chất cho sản xuất, kể cả tiền công thuêmướn lao động và các khoản nộp thuế, lệ phí theo quy định nếu có);

QT: Tổng thu nhập thuần tuý

(Thu nhập bình quân đầu người bằng tổng doanh thu trừ tổng chi phí vậtchất chia cho số người trong hộ)

3- Các tiêu thức và chuẩn mực đánh giá nghèo đói.

3.1- Các tiêu thức đánh giá nghèo đói.

Để xác định ngưỡng nghèo có nhiều chỉ tiêu, chuẩn mực đánh giá khác nhau.Tiêu thức về chỉ tiêu chất lượng cuộc sống (PQLI) chỉ số PQLI bao gồm

ba mục tiêu cơ bản là tuổi thọ, tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh và tỷ lệ mù chữ.Tiêu thức về chỉ tiêu phát triển con người (HDI) do UNDP đưa ra của hệthống ba mục tiêu: Tuổi thọ, tình trạng biết chữ người lớn, thu nhập bình quântrên đầu người trong năm

Tiêu thức về chỉ tiêu nhu cầu dinh dưỡng: Tính mức tiêu dùng quy rakilocalo cho một người trong một ngày

Tiêu thức về thu nhập quốc dân bình quân tính theo đầu người: Đây làchỉ tiêu chính mà hiện nay nhiều nước và tổ chức quốc tế đang dùng để xácđịnh giàu nghèo Tại đại hội lần thứ II của Uỷ ban giảm nghèo khu vực(ESAP) họp tại Bang Koc tháng 9/1995, Ngân hàng thế giới đưa ra chuẩn

Trang 9

mực nghèo khổ chung của toàn cầu là thu nhập bình quân đầu người dưới 370USD/ người/năm.

Tóm lại, sự kết hợp chỉ tiêu GDP, HDI, và PQLI cho phép nhìn nhận cácnước giàu, nghèo chính xác và khách quan hơn Bởi nó cho phép đánh giákhách qua, toàn diện của con người trên các mặt kinh tế, văn hoá, xã hội

3.2- Mức chuẩn đánh giá nghèo đói.

a- Mức chuẩn nghèo đói đối với quốc tế (đánh giá nước giàu, nướcnghèo)

Ở một khía cạnh khác nghèo là sự phản ánh trình độ phát triển kinh tế

-xã hội trong từng giai đoạn lịch sử, trong phạm vi một quốc gia, một khu vực,một vùng, miền Các chỉ số xác định thế nào là nghèo cho biết trình độ pháttriển kinh tế - xã hội nói chung và trình độ lực lượng sản xuất nói riêng ởvùng, miền, quốc gia đó ở tại một thời điểm nhất định

Ví dụ: Với chỉ số nghèo là 500 USD/người/ năm cho biết đây là nướcđang phát triển Với chỉ số nghèo là 13.000 USD/người/năm cho biết đây lànước phát triển

Như vậy trên thế giới tương đương với ba nhóm nước có ba dạng nghèokhác nhau: Nghèo ở các nước có trình độ kinh tế phát triển cao, nghèo ở cácnước có trình độ phát triển kinh tế chậm và nghèo ở các nước có trình độ pháttriển kinh tế trung bình Việc phân định ba dạng nghèo như vậy có ý nghĩa rấtlớn trong việc xem xét đánh giá nghèo ở mỗi nước thuộc dạng nào, tương ứngvới trình độ phát triển kinh tế – xã hội nào để có cách nhìn tổng quát trongquá trình giải quyết vấn đề xoá đói giảm nghèo

Với cách đánh giá nghèo như trên, nghèo ở Việt Nam mang đầy đủnhững đặc trưng cơ bản này nhưng nổi bật ở hai đặc trưng sau:

- Nghèo dai dẳng kéo dài, nghèo từ đời nay sang đời khác

Trang 10

- Nghèo có cấp độ rất lớn, khoảng cách giữa thu nhập quan sát được vớingưỡng nghèo được quy định ở Việt Nam và trên thế giới là rất lớn Biểuhiện là, Việt Nam vẫn còn một bộ phận dân cư bị đói.

Đây là hai đặc trưng phản ánh thực trạng ở Việt Nam là nước còn rấtnghèo, nằm trong nhóm nước đang phát triển với trình độ phát triển của lựclượng sản xuất còn thấp kém Đồng thời hai đặc trưng này chi phối rất nhiềuđến trình độ xoá đói giảm nghèo ở nước ta hiện nay

Nếu căn cứ vào GDP trên đầu người/ năm ở vào thời điểm năm 1990 đểphân tích cho thấy:

Trên 25.000 USD : Nước cực giàu

Trên 20.000 – 25000 USD : Nước giàu

Trên 10000 – 20000 USD : Nước khá giàu

Trên 2500 – 10000 USD : Nước trung lưu

Trên 500 – 2500 USD : Nước nghèo

Việt Nam mới đạt được 386 USD/người/năm (Năm 2000) được xếp thứ110/171 nước trên thế giới, nằm trong nhóm cực nghèo

b- Mức chuẩn nghèo đói đối với Việt Nam

Bộ Lao động Thương binh – Xã hội là cơ quan thuộc Chính phủ đượcNhà nước giao trách nhiệm nghiên cứu và công bố chuẩn nghèo của cả nướcqua từng thời kỳ

Tiêu chuẩn nghèo đói năm 1997 là :

- Hộ đói: Là hộ có thu nhập bình quân đầu người dưới 13 kg

gạo/người/tháng, (tương đương 45.000đ)

- Hộ nghèo: Là hộ có mức thu nhập bình quân quy ra gạo:

Trang 11

+ Vùng nông thôn miền núi hải đảo: dưới 15 kg/người/tháng(tươngđương 55.000đ)

+ Vùng nông thôn đồng bằng, trung du: dưới 20 kg/người/tháng (tươngđương 70.000đ)

+ Vùng thành thị: dưới 25 kg/người/tháng(tương đương 90.000đ)

- Xã nghèo: là xã có tỷ lệ hộ đói nghèo từ 40% trở lên và thiếu cơ sở hạ

tầng (điện, đường, trường, trạm, nước sạch, chợ)

Chuẩn nghèo mới được điều chỉnh năm 2000 như sau:

- Hộ nghèo : Là hộ có thu nhập bình quân

+ Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: Dưới 80.000đ/người/tháng

+ Vùng nông thôn đồng bằng: Dưới 50.000đ/người/tháng

+ Vùng thành thị:Dưới 150.000đ/người/tháng

- Xã nghèo: Là xã có tỷ lệ hộ nghèo từ 25% trở lên và chưa đủ cơ sở hạ

tầng thiết yếu (điện, đường, trường, trạm, nước sạch, chợ)

Ngân hàng thế giới dựa theo mức nhu cầu calo tiêu thụ hàng ngày là2.100 calo/ người/ ngày và đồng thời cũng tính đến việc thay đổi giá cả theotừng vùng của một số nhóm hàng hoá lương thực, thực phẩm thiết yếu đã đưa

ra một tiêu chuẩn để đánh giá nghèo đói tại Việt Nam là:

Tính bình quân: 1.090.000 đồng/ người/ năm

Tính riêng: Đô thị là 1.203.000 đồng/ người/ năm

Nông thôn là 1.040.000 đồng/ người/ năm

Chuẩn nghèo mới được điều chỉnh năm 2006 như sau:

Tại (Quyết định số: 170/2005/QĐ-TTg ngày 8/7/2005 của Thủ tướng

Chính phủ ban hành chuẩn nghèo trong giai đoạn 2006-2010: hộ nghèo là hộ

có thu nhập bình quân đầu người dưới 200.000 đồng/người/tháng ở vùng

Trang 12

nông thôn hoặc hộ có thu nhập bình quân dưới 260.000đồng/ngườii/tháng ở thành thị)

Ta thấy mức tiêu chuẩn này cao hơn mức tiêu chuẩn của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội nhiều, dẫn đến một tình trạng có sự khác biệt lớntrong cách đánh giá tình trạng nghèo đói Theo tiêu chuẩn này thì Việt Nam

-có đến một nửa dân số (51%) được coi là nghèo đói, trong một nửa số nghèonày tức là khoảng 25% tổng số dân thuộc diện nghèo đói về lương thực,Nghĩa là dù họ có dùng toàn bộ thu nhập của mình để tiêu dùng cho nhu cầulương thực, thực phẩm cơ bản thì vẫn không đủ để đáp ứng nhu cầu tiêu thụcalo cơ bản hàng ngày

Về mặt cơ cấu, mức độ nghèo khó ở nông thôn cao hơn nhiều so vớithành thị, cũng theo tiêu chuẩn của Ngân hàng thế giới, số dân nghèo khổ ởnông thôn chiếm tới 54%, cao gấp đôi so với các vùng đô thị Như vậy, cókhoảng 90% tổng số người nghèo tập trung ở nông thôn

Mức độ nghèo khổ cũng không đồng đều giữa các khu vực Đối với cácvùng xa xôi hẻo lánh tại Bắc Trung Bộ, số người nghèo chiếm tới 61% dân

số Tại các vùng trung du, miền núi phía Bắc, tỷ lệ này là 59% dân số Đây làcác vùng có tỷ lệ nghèo khổ cao hơn mức trung bình của cả nước Hai vùngnày chiếm khoảng 40% số người nghèo tại Việt Nam, tuy chúng chỉ chiếm29% dân số cả nước Tỷ lệ nghèo thấp nhất là 33% tại vùng Đông Nam Bộ,nơi có trung tâm kinh tế mạnh nhất của cả nước là thành phố Hồ Chí Minh.Bốn vùng khác nhau là cao nguyên Trung bộ, đồng bằng sông Hồng, đồngbằng sông Cửu Long và Duyên hải miền Trung đều có tỷ lệ nghèo đói thấphơn một chút so với mức trung bình chung của cả nước, chiếm khoảng từ 48-50%

Trang 13

4- ý nghĩa của xoá đói giảm nghèo đối với các vấn đề trong đời sống xã hội.

Đói nghèo là vấn đề mang tính chất toàn cầu, tất cả các quốc gia trên thếgiới đều phải quan tâm đến vấn đề xoá đói giảm nghèo trong quá trình pháttriển kinh tế xã hội Chính vì vậy xoá đói giảm nghèo là một bộ phận trong kếhoạch phát triển kinh tế xã hội của tất cả các nước, đó cũng là một trongnhững mục tiêu hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của ViệtNam Chính vì lẽ đó xoá đói giảm nghèo và các vấn đề trong đời sống xã hội

có quan hệ mật thiết với nhau Cụ thể trong quá trình phát triển kinh tế, xoáđói giảm nghèo có mối quan hệ với tăng trưởng kinh tế, giải quyết các vấn đềvăn hoá củng cố an ninh chính trị xã hội và một số chính sách khác có liênquan

4.1-Xoá đói giảm nghèo đối với sự phát triển kinh tế.

Nghèo đói đi liền với lạc hậu, chậm phát triển là trở ngại lớn đối với pháttriển Nói cách khác, xoá đói giảm nghèo là tiền đề của phát triển Ngược lại

sự phát triển kinh tế - xã hội vững chắc gắn với tăng trưởng kinh tế với côngbằng xã hội là nhân tố đảm bảo thành công trong công tác xoá đói giảmnghèo Thông qua hiện trạng nghèo, đói người ta thường nhận thấy sự pháttriển chậm của lực lượng sản xuất, sự lạc hậu của kỹ thuật, trình độ thấp kémcủa phân công lao động xã hội Nó dẫn tới năng xuất lao động xã hội mứctăng trưởng kinh tế luôn ở những chỉ số thấp Thất nghiệp gia tăng, thu nhậpkhông đủ cho chi dùng vật phẩm tối thiểu, do đó càng không thể có điều kiệnchi dùng cho những nhu cầu văn hoá tinh thần để vượt qua ngưỡng tồn tạisinh học, vươn tới việc thoả mãn nhu cầu phát triển chất lượng con người Đó

là hiện trạng nghèo đói về kinh tế của dân cư

Nhìn từ góc độ xã hội, nghèo đói của dân cư biểu hiện qua tỷ lệ lao độngthất nghiệp (tuyệt đối và tương đối), chỉ số về tổng số sản phẩm quốc nội, thunhập bình quân theo đầu người, mức độ thấp kém của đầu tư cho phát triển

Trang 14

kinh tế - xã hội, kể cả phát triển giáo dục, khoa học - kỹ thuật, văn hoá và cáclĩnh vực khác y tế, chăm sóc sức khoẻ cộng đồng và phúc lợi xã hội Nghèođói càng gay gắt thì phát triển kinh tế càng bị kìm hãm Trình độ phát triểncàng chậm chạp thì càng thiếu điều kiện và khả năng từ bên trong để khắcphục đói nghèo.

4.2-Đối với vấn đề chính trị - xã hội.

Nghèo đói về kinh tế sẽ ảnh hưởng đến các mặt xã hội chính trị Các tệnạn xã hội phát sinh như chộm cắp, cướp giật, ma tuý, mại dâm đạo đức bịsuy đồi, an ninh xã hội không được đảm bảo đến một mức nhất định có thểdẫn đến rối loạn xã hội Nếu nghèo đói không được chú ý giải quyết, tỷ lệ vàcấp độ của nghèo đói vượt quá giới hạn an toàn sẽ dẫn đến hậu quả về mặtchính trị, ở mức cao hơn là khủng hoảng chính trị, đặc biệt nguy cơ “diễn biếnhoà bình” và “chiến tranh biên giới mềm”

Nghèo đói về kinh tế luôn dẫn tới những sức ép căng thẳng về chính trị

xã hội Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế sự lệ thuộc của các nướcnghèo đối với nước giàu là điều khó tránh khỏi, bắt đầu từ kinh tế rồi xâmnhập vào văn hoá, hệ tư tưởng và chính trị Thực tế đã cho thấy, trong điềukiện nền kinh tế thế giới đã quốc tế hoá như ngày nay, mỗi quốc gia, dân tộcchỉ có thể giữ vững chế độ chính trị độc lập tự do chủ quyền của mình vớimột tiềm lực kinh tế mạnh Ngày nay, không một quốc gia, dân tộc nào có thểgiải quyết được các vấn đề phát triển trong một mô hình đóng kín, biệt lậpnhư một ốc đảo Muốn phát triển được phải mở cửa, hội nhập hợp tác songphương và đa phương nhưng phải trên cơ sở giữ vững chủ quyền và khôngđánh mất bản sắc dân tộc Do đó, chỉ khi nào làm chủ chiến lược và sách lượcphát triển, định hình những điều kiện và bước đi trong chiến lược phát triển

và có thể khai thác mọi nhân tố tiềm lực từ bên trong nhằm vào nhân tố tiềmlực từ bên trong nhằm vào mục tiêu phát triển thì quá trình tham gia hợp táccạnh tranh với bên ngoài thì mới có tác dụng tích cực, hiệu quả và đạt tới sự

Trang 15

phát triển bền vững Nghèo đói của dân cư (nhất là các tầng lớp cơ bản của xãhội ) đang là lực cản kinh tế - xã hội lớn nhất đối với các nước nghèo hiện naytrong quá trình phát triển Và không có khuôn mẫu duy nhất nào có thể saochép, áp dụng hệt như nhau cho việc giải quyết bài toán kinh tế - xã hội này.Như vậy, nghèo đói và lạc hậu sóng đôi với nhau, là xiềng xích trói buộccác nước nghèo, là một trong những vấn dề bức xúc nhất hiện nay mà mỗiquốc gia dân tộc và cộng đồng quốc tế phải cùng hợp tác giải quyết.

4.3-Đối với các vấn đề về văn hoá.

Từ nghèo đói về kinh tế dẫn tới nghèo đói văn hoá Nguy cơ này rất tiềmtàng và thực sự là một chướng ngại vật đối với sự phát triển không chỉ ở từngngười, từng hộ gia đình mà còn cả cộng đồng, kìm hãm sự phát triển xã hội

Ở một trình độ phát triển thấp, nghèo đói về kinh tế là sự nổi trội gay gắtnhất Do đó mục tiêu phấn đấu là đạt được sự giàu có Nhưng sự giàu có chỉthuần về vật chất, kinh tế mà vắng bóng sự phát triển văn hoá, tinh thần, sựđịnh hướng giá trị sẽ chỉ kích thích tính thiển cận, chủ nghĩa thực dụng, sựthiếu hụt hoặc lệch chuẩn về mặt nhân văn, nhân cách con người … Đi vàolối sống, sự sùng bái giàu có vật chất có nguy cơ phát triển cái xấu, cái ác,làm nghèo nàn biến dạng cái chân thiện mỹ Nếu tình trạng đó xảy ra ở lớp trẻ

sẽ càng nguy hại, đẩy tới sự nghèo nàn, cằn cỗi, về văn hoá nhân cách Nókìm hãm sự phát triển không kém gì lực cản đói nghèo về kinh tế, thậm chícòn tệ hại hơn vì nó thẩm lậu vào những yếu tố phản phát triển, chứa chấp cácmầm mống của bệnh hoạn, suy thoái

“Nghèo đói về kinh tế dễ nhận thấy và ít ai dám coi thường nó Cũng do

đó, giàu về kinh tế dễ trở thành một khát vọng đam mê thậm chí cực đoan,làm giàu bằng mọi giá, bất chấp mọi thủ đoạn Nghèo đói về văn hoá khónhận thấy hơn và rễ rơi vào sự nhận thức muộn màng, có khi phải trả giá”

Trang 16

Do đó trong khi tập trung mọi nỗ lực chống đói nghèo về kinh tế, cầnsớm cảnh báo xã hội những nguy cơ tác hại của đói nghèo văn hoá Khôngsớm dự phòng nó một cách chủ động, xã hội khó tránh khỏi sự thua thiệt bởiphải trả giá đắt cho sự thiếu hụt văn hoá.

4.4-Xoá đói giảm nghèo với một số vấn đề khác có liên quan.

Xoá đói giảm nghèo là một bộ trong chiến lược phát triển kinh tế xã hộicủa đất nước Do đó, nó có mối quan hệ với rất nhiều các chính sách pháttriển kinh tế xã hội vùng sâu, vùng xa, chính sách đào tạo nghề cho người laođộng, chính sách đầu tư và nhiều chính sách khác Tất cả chính sách đó đều

có mối quan hệ tác động qua lại với chương trình xoá đói giảm nghèo Chẳnghạn với chính sách giải quyết việc làm cho người lao động, xoá đói giảmnghèo là làm sao cho người lao động đặc biệt là lao động ở các hộ nghèo cócông ăn việc làm, có thu nhập đảm bảo cuộc sống và như vậy là việc xoá đóigiảm nghèo đã gián tiếp tác động đến việc giải quyết công ăn việc làm chongười lao động, hơn thế nữa còn giải quyết việc làm cho một bộ phận lớn laođộng, bởi vì ở nước ta hiện nay đa số thất nghiệp là người nghèo

Như vậy, xoá đói giảm nghèo và các chính sách kinh tế xã hội khác cóliên quan chặt chẽ với nhau tác động qua lại lẫn nhau Thực hiện mục tiêu này

là góp phần quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam Vìvậy đòi hỏi phải được sự quan tâm sâu sắc của toàn Đảng toàn dân và phảitiến hành được thường xuyên, liên tục góp phần phát triển kinh tế - xã hội củatoàn đất nước

III- NGUYÊN NHÂN CỦA ĐÓI NGHÈO.

1- Các nguyên nhân khác quan, chủ quan dẫn tới nghèo đói:

Con người sinh ra ai cũng muốn được học hành, có cơm ăn, có áo mặc

có công cụ sản xuất từ đơn sơ đến hiện đại Song do môi trường và điều kiệnkinh tế xã hội khác nhau nên hiện nay trên toàn cầu có 1,3 tỷ người đang phải

Trang 17

sống trong tình trạng nghèo đói Nguyên nhân dẫn đến nghèo đói ở nước ta thì

có nhiều, song qua nghiên cứu tổng kết chúng ta có thể đưa ra được 6 nguyênnhân chính (bao gồm cả khách quan và chủ quan) sau:

Do trình độ sản xuất: Hiện nay ở nước ta, tỷ lệ lao động có chuyên môn

kỹ thuật rất thấp 16% trong khi đó khu vực thành thị chiếm từ 30 – 50% Việcđào tạo lao động có chuyên môn kỹ thuật còn nhiều hạn chế như: Giáo dụcxuống cấp trầm trọng, kinh tế nhiều vùng thấp kém không có điều kiện đểtheo học Nhà nước đã có chính sách quan tâm đào tạo, phân phối sức laođộng kỹ thuật cho nông thôn Nhưng còn chậm chưa đáp ứng được nhu cầuhiện tại

Do bản thân người nghèo: Người nghèo là người thiếu hầu hết các yếu

tố để tạo lập lên một cuộc sống bình thường Hộ thiếu vốn, thiếu kỹ năng laođộng, thiếu trình độ học vấn, thiếu đất sản xuất và thiếu cả ý thức vươn lênthoát khỏi cảnh nghèo đói

Do thất nghiệp: Việt Nam là một nước đang phát triển có cung lao động

lớn do dân số tăng nhanh, cầu lao động thấp do trình độ kinh tế chậm pháttriển thường gây lên tình trạng thất nghiệp cao làm cho các vấn đề xã hội càngtrở lên phức tạp kết cục là lại tăng thêm người nghèo

Do điều kiện tự nhiên và môi trường: Là một nước nông nghiệp nghèo

bởi điều kiện tự nhiên ít thuận lợi thường bị thiên tai bão lũ và khả năng hạnchế thiên tai là rất hạn chế Theo ước tính mỗi năm ngân sách tăng khoảng

4000 tỷ trong khi thiệt hại do thiên tai trung bình là 6000 tỷ

Do cơ chế chính sách: Hệ thống cơ chế chính sách ở nước ta hiện nay

còn đang khập khễnh chưa đồng bộ chưa thoả đáng Gần 80% dân số ở nôngthôn trong khi đầu tư ngân sách Nhà nước vào khu vực này chỉ chiếm 10%đến 20% còn lại là khu vực đô thị

Trang 18

Do thiếu trình độ để trao đổi thông tin và sản phẩm: Hệ thống cơ sở hạ

tầng ở nước ta nhất là vùng sâu, vùng xa đang còn lạc hậu chậm phát triểnlàm cho người dân không có điều kiện phát triển thông tin nắm bắt đượcnhững tiến bộ khoa học kỹ thuật và tiếp cận với thị trường làm cho họ ngàycàng tụt hậu với sự phát triển chung

Trang 19

PHẦN II PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN ĐÓI,

NGHÈO Ở HUYỆN HOÀNG SU PHÌ

I- ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI VÀ NHỮNG ẢNH HƯỞNG TỚI ĐỜI SỐNG NGƯỜI DÂN TRONG HUYỆN.

1- Đặc điểm và tình hình hoạt động của HĐND - UBND huyện.

1.1- Tình hình chung của huyện.

Hoàng Su Phì là huyện vùng cao biên giới nằm ở phía tây của Tỉnh HàGiang, cách thị xã Hà Giang 110 Km

- Phía Bắc giáp Nước Trung Quốc

- Phía Nam giáp huyện Bắc Quang

- Phía Đông giáp huyện Vị Xuyên

- Phía Tây giáp huyện Xín Mần

Toàn huyện có 24 xã và 1 thị trấn, với tổng diện tích đất tự nhiên là63.203,34 ha Trong đó đất nông nghiệp 14.410,36 ha

Tổng số hộ toàn huyện là: 10.869 hộ , với 57.264 khẩu, có 12 dân tộc sốngxen kẽ lẫn nhau

Với những đặc điểm trên, huyện Hoàng Su Phì có những thuận lợi cho

sự phát triển kinh tế xã hội như sau:

Là huyện thuộc tiểu vùng II của tỉnh Hà Giang ( Vùng cao núi đất),mặc dù có những điều kiện để phát triển sản xuất và sinh hoạt khó khăn hơncác huyện thuộc tiểu vùng III (Vùng thấp), nhưng lại thuận lợi hơn nhiều sovới các huyện tiểu vùng I (vùng cao núi đá) của tỉnh Hà Giang

Trên địa bàn huyện có tỉnh lộ 177 chạy qua nối với huyện Xín Mần,qua huyện Bắc Quang xuống quốc lộ 2, tạo điều kiện thuận lợi cho việc giaolưu phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn huyện

Trang 20

Phía bắc có 4 xã giáp với nước Trung Quốc với 34,5 Km đường biên –Một vị trí đặc biệt quan trọng trong công cuộc phát triển kinh tế cũng nhưtrong sự nghiệp an ninh quốc phòng.

Là một huyện miền núi huyện Hoàng Su Phì có tiềm năng phong phú

và đa dạng về tài nguyên đất đai, có nguồn lao động dồi dào, nhân dân cácdân tộc với những truyền thống văn hoá lịch sử lâu đời

Tuy nhiên điều kiện địa hình phức tạp, cơ sở hạ tầng thấp kém, phầnlớn dân số là đông bào dân tộc ít người, có trình độ dân trí không cao và cácphong tục tập quán cũ vẫn chưa xoá bỏ được hoàn toàn Đó là một tháchthức lớn đối với địa phương cho việc phát triển sản xuất, nâng cao chất lượngcuộc sống của người dân theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nôngnghiệp nông thôn, trong xu hướng hoà nhập nền kinh tế của huyện nói riêng

và của tỉnh Hà Giang nói chung với nền kinh tế của cả nước và trong khu vực

Trong những năm qua Đảng bộ và nhân dân các dân tộc huyện Hoàng

Su Phì luôn nhận được sự quan tâm chỉ đạo, giúp đỡ của Trung ương, Tỉnh

uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Giang Nhân dân các dântộc huyện Hoàng Su Phì đã vượt khó đi lên phát huy nội lực, tiềm năng thếmạnh của mình đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế - xã hội của huyện nhà

và đã đạt được kết quả đáng phấn khởi trên tất cả các lĩnh vực

1.2-Tình hình tổ chức bộ máy từ huyện tới xã, thị trấn.

(Có sơ đồ kèm theo)

a- Cấp huyện

Cơ quan HĐND huyện.

Gồm: 01 Bí thư huyện uỷ kiêm chức

01 phó chủ tịch HĐND thường trực

01 chuyên viên giúp việcVới các ban (kinh tế xã hội và ban pháp chế), trưởng phó ban đều kiêmchức

Trang 21

Số đại biểu hội đồng nhân dân huyện nhiệm kỳ (2004 – 2009) là 33 đạibiểu (có biểu chất lượng kèm theo).

UBND huyện

Gồm 9 thành viên

Trong đó: 1 chủ tịch

2 phó chủ tịch

6 thành viên được cơ cấu theo các ngành

(Văn phòng UBND, Quân sự, Công an, Tổ chức – LĐXH, Địa chính vàThanh tra) trong đó có 1 là nữ Tuổi đời bình quân của UBND huyện nhiệm

kỳ 2004 - 2009 là 45 tuổi Trực tiếp lãnh đạo 18 phòng ban chuyên môn, 02

sự nghiệp y tế và giáo dục và 24 xã, 1 thị trấn với tổng số 1.744 công chứctrong đó có 4 chức danh dân cử dân bầu

UBND ở 25 xã, thị trấn có 119 thành viên xã có số lượng thành viênnhiều nhất là 7 Xã có số lượng thành viên ít nhất là 5 Nhìn chung số lượngcác thành viên được bố trí cơ cấu hợp lý theo quy định Tuổi đời bình quân 45tuổi Cơ cấu đại biểu, nam 428 ngườichiếm 77,5%, nữ 124 người chiếm22,5%, quần chúng 115 người chiếm 20,83%, tái cử 197 người chiếm35,68%

Trang 22

UBND cấp xã, thị trấn trực tiếp điều hành 9 chức danh chuyên môn theotinh thần NĐ 09/CP và các trưởng thôn theo QĐ số 99/ UB của UBND tỉnh

Tóm lại trong những năm qua hoạt động công tác chính quyền luôn đượccấp trên đánh giá là đơn vị khá của tỉnh

1.3- Tình hình hoạt động tài chính của huyện Hoàng Su Phì trong những năm qua.

Là huyện sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, các ngành nghề và sản xuấtcông nghiệp chưa phát triển, cho nên nguồn thu cho ngân sách từ các khoảnthuế thu không đủ bù chi

1.4- Trong thực hiện cải cách hành chính.

Tiếp tục thực hiện NQTƯ3 khoá VIII UBND huyện đã thường xuyênquan tâm tới việc tinh gọn bộ máy, chăm lo đội ngũ công chức thông quacông tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ từ huyện tới cơ sở để nâng cao trình độchuyên môn nghiệp vụ và tính tác nghiệp cao cho mỗi công chức cho đến nay

có 134 công chức có trình độ đại học chiếm 8%, Cao đẳng 277 chiếm 16%,trung cấp 864 chiếm 50%, Sơ cấp 69 chiếm 4%, chưa qua đào tạo 400 chiếm23%, các thủ tục hành chính được cải tiến gọn nhẹ, tỉnh chủ chương thực hiện

cơ chế một cửa bước đầu đã đi vào hoạt động có hiệu quả để tránh phiền hàcho nhân dân (chế độ tiếp dân, giải quyết đơn thư thuộc thẩm quyền v.v…) đã

có tác dụng quan trọng trong các hoạt động ở mỗi cơ quan và cơ sở

Trang 23

Biểu 1: Bi u ch t lểu chất lượng đội ngũ cán bộ các phòng ban chuyên môn, các ất lượng đội ngũ cán bộ các phòng ban chuyên môn, các ượng đội ngũ cán bộ các phòng ban chuyên môn, cácng đội ngũ cán bộ các phòng ban chuyên môn, cáci ng cán b các phòng ban chuyên môn, cácũ cán bộ các phòng ban chuyên môn, các ội ngũ cán bộ các phòng ban chuyên môn, các

Trỡnh độ đào tạo

Trung học

Phổ thông

cơ sở

Tiểu học

Đại học

Cao đẳng

Trung cấp

Sơ cấp

Chưa qua ĐT

Trang 24

Sơ đồ 1: Vị trí chức năng của HĐND và UBND

- Quyền lực Nhà nước ở địa phương

- Đại diện nhân dân địa phương

- Chính quyền địa phương

- Quản lý địa phương theo hiến pháp

và văn bản cơ quan Nhà nước cấp trên

Trang 25

Sơ đồ 2: Thẩm quyền của HĐND và UBND

THẨM QUYỀN CỦA HĐND VÀ UBND

1- Kinh tế

2- VH - GDXH và đời sống

3- Khoa học công nghệ và môi trường

4- Quốc phòng, an ninh, TTATXH

5- Chính sách dân tộc và tôn giáo

6- Thi hành pháp luật

7- Xây dựng CQ và quản lý hành chính

8- Giá sát

1- Kế hạch - ngân sách - tài chính2- Nông, lâm, ngư, thuỷ lợi, đất đai3- CN - TTCN

4- Giao thông vận tải5- Xây dựng và PTQLĐT6- Thương mại, dịch vụ, du lịch7- VH, giáo dục Xã Hội, đời sống8- Khoa học, CN và môi trường9- Quốc phòng an ninh

10- Dân tộc và tôn giáo11- Thi hành pháp luật12- Xây dựng CQ, quản lý TC, KT,địa giới hành chính

1- Kinh tế

2- Văn hoá - GD, xã hội và đời sống

3- Quốc phòng an ninh, TTATXH

4- Đời sống dân tộc và tôn giáo

4- Giao thông5- Thương mại, dịch vụ6- Văn hoá - GDXH và đời sống

Trang 26

2- Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội của huyện Hoàng Su Phì trong những năm qua.

Trong năm 2006 nền kinh tế của huyện đạt tốc độ tăng trưởng khá ( 13,7%), tổng sản phẩm xã hội đạt 198,78 tỷ đồng ( tăng 23,78 tỷ đồng so với năm

2004 ) cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng trong đó nông nghiệp chiếm58,7%, công nghiệp – xây dựng chiếm 19,3%, thương mại – dịch vụ chiếm 22%.Thu nhập bình quân đầu người đạt 3,61 triệu đồng/người/năm Bình quân lươngthực đầu người đạt 420 kg/ người/ năm Đặc biệt trên lĩnh vực sản xuất nôngnghiệp đã chuyển mạnh từ nền kinh tế tự túc, tự cấp sang sản xuất hàng hoá Cơcấu cây trồng vật nuôi được chuyển dịch đúng hướng, sản xuất cây – con giống

có chất lượng cao Công tác xoá đói giảm nghèo được triển khai có hiệu quả tỷ

lệ hộ nghèo giảm đáng kể

2.1- Nông nghiệp :

Huyện Hoàng Su Phì là huyện vùng cao núi đất của Tỉnh Hà Giang cótiềm năng về sản xuất nông nghiệp, với tổng diện tích đất nông nghiệp là14.410,36 ha Trong đó đất trồng cây hàng năm 10.383,97 ha, đất trồng câylâu năm 3.264,43 ha

Nhiệm vụ chủ yếu của huyện là phát triển nông nghiệp, trong đó sảnxuất lương thực là nhiệm vụ hàng đầu bằng các biện pháp mở rộng diện tíchnông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu các loại cây trồng, tăng cường biện phápthâm canh đưa giống mới có năng xuất cao vào sản xuất, chú trọng công táckhuyến nông, công tác bảo vệ thực vật, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộkhuyến nông xã, khuyến nông thôn bản

Trong những năm qua Đảng Bộ huyện Hoàng Su Phì đã chỉ đạo thànhcông trên lĩnh vực sản xuất nông lâm nghiệp với bài học kinh nghiệm đó là:Thâm canh + giống mới + thuỷ lợi và làm tốt công tác khuyến nông Tạo sựtăng trưởng ổn định, bước đầu chuyển sang sản xuất hàng hoá theo hướng pháttriển những loại cây thế mạnh, chú trọng thâm canh, sử dụng giống mới Tậptrung chuyển đổi diện tích đất trồng kém hiệu quả sang trồng các loại cây cóhiệu quả kinh tế cao, đảm bảo an ninh lương thực tại chỗ Năm 2006 tổng diệngieo trông đều đạt và vượt so với kế hoạch Diện tích lúa đạt 3609,3 ha so vớinăm 2000 tăng 197,8 ha; Diện tích Ngô đạt 2.898,8 ha so với năm 2000 tăng

Trang 27

296,4 ha Đậu tương diện tích đạt 3.483,6 ha so với năm 2000 tăng 1.806,5.Diện tích cây Chè đạt 2.047 ha so với năm 2000 tăng 996,5 ha.

2.2- Chăn nuôi:

Tập trung phát triển 3 loại gia xúc chính( Trâu, Bò, Dê ) gắn với trồng

cỏ và chăn nuôi theo hướng hàng hoá tạo thành phong trào sâu rộng trongNhân dân và được xuất bán ra ngoài huyện đem lại thu nhập cho Nhân dân.Trong những năm qua tốc độ tăng trưởng đàn gia xúc ổn định so với năm

2000 đàn Trâu tăng.1.491 con, đàn Bò tăng.927 con, đàn Dê tăng.2741 con,đàn Lợn tăng.4.274 con

Công tác phòng chống dịch bệnh, tiêm phòng cho gia xúc được chútrọng không để tình trạng dịch lớn xảy ra

Về thuỷ lợi được quan tâm đầu tư đúng mức, đến năm 2006 đã có 75%

số mương dẫn nước được kiên cố hoá theo hướng Nhà nước và Nhân dâncùng làm, chủ động được nước tưới tiêu phục vụ cho sản xuất Nông nghiệp

Hoạt động khuyến nông khuyến lâm được đẩy mạnh, làm tốt nhiệm vụchuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật đến với người dân, tạo động lực chosản xuất phát triển

Công tác trồng rừng phủ xanh đất chống đồi núi trọc được triển khai cóhiệu quả trong những năm qua đã trồng được 2.150 ha rừng; khoanh nuôi bảo

vệ được 9.954,2 ha, nâng độ che phủ rừng từ 37% năm 2000 lên 39,3% năm2006

2.3- Giao thông xây dựng tiểu thủ công nghiệp:

Bằng các nguồn vốn và đầu tư hỗ trợ của Trung ương, của Tỉnh và huyđộng nội lực trong Nhân dân theo phương châm ( Nhà nước và Nhân dân cùnglàm) đã hoàn thành đưa vào sử dụng 338,2 km đường ô tô trong đó nhựa hoá và

bê tông hoá được 115,2 km, 100% số xã có đường ô tô đến trung tâm xã Xâymới được 26 cây cầu cứng và cầu treo, xây 199 điểm trường, nhà lưu trú, trụ sởthôn Hàng năm huy động được 126.000 ngày công phục vụ xây dựng cơ sở hạtầng

Công nghiệp được đầu tư phát triển đúng hướng đến năm 2006, 100%

số xã có điện lưới Quốc gia đến trung tâm xã với tổng số 6.400 hộ được sửdụng điện trong đó 2.700 hộ được sử dụng điện lưới Quốc gia và 3.700 hộ sửdụng điện nước mini Các cơ sở chế biến hàng nông lâm sản được xây dựng

Trang 28

và mở rộng quy mô sản xuất Năm 2006 chế biến được 800 tấn Chè xanh tăng

600 tấn so với năm 2000 với tổng doanh thu đạt khoảng 13,5 tỷ đồng, hiệnnay sản phẩm Chè của Huyện Hoàng Su Phì đã có chỗ đứng trên thị trường

Duy trì tốt các hoạt động của hơn 700 cơ sở chế biến lương thực, thựcphẩm và 120 cơ sở rèn đúc tại gia đình với 19.000 sản phẩm/ năm tổng doanhthu đạt khoảng 520 triệu đồng

Lĩnh vực Bưu chính viễn thông có bước phát triển khá năm 2000 số xã

có điện thoại là 13/ 24 xã, đến năm 2006, 100% số xã có điện thoại cố định

2.4- Tài chính tín dụng:

Thực hiện tốt và phân cấp quản lý ngân sách theo đúng luật ngân sách.Trong nhưng năm qua thu ngân sách trên địa bàn huyện đạt khá: Năm 2006đạt 2,5 tỷ đồng tăng 13,6% so với năm 2000, cùng với nguồn thu trợ cấp cânđối ngân sách của Trung Ương, của Tỉnh đã từng bước đáp ứng được nhu cầuchi thường xuyên về các nhiệm vụ chính trị của huyện

vụ nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của nhân dân

Phối hợp và tạo mọi điều kiện thuận lợi để công ty trách nhiệm khámphá Khánh Hoà đầu tư dự án phát triển du lịch sinh thái trị giá 96 tỷ đồng tại

xã Thông Nguyên Trong năm 2006 đã đón nhiều lượt khách du lịch nướcngoài đến thăm quan tại địa bàn huyện

2.6- Các chương trình dự án:

Trong những năm qua huyện đã tiếp nhận 14 chương trình dự án đầu tưcủa Trung ương, của Tỉnh và các tổ chức phi chính phủ Tiêu biểu là các chươngtrình 135, dự án 120 các xã biên giới, dự án HPM, dự án phát triển cộng đồngCORD, dự án Chia Sẻ, dự án Plan Với tổng trị giá đầu tư liên tục tăng qua cácnăm: năm 2000 đầu tư 13.378,8 triệu đồng, năm 2006 tăng lên 42.280,1 triệuđồng Các dự án được triển khai có hiệu quả được các ngành, các tổ chức đánhgiá cao đã góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hộicủa huyện Hoàng Su Phì

Trang 29

2.7- Văn hoá xã hội:

Giáo dục: Sự nghiệp giáo dục của huyện trong những năm qua đã cónhững bước tiến vượt bậc, quy mô trường lớp được mở rộng với 20 trườngtiểu học, 7 trường PTCS, 6 trường THCS, 2 trường cấp 3, 1 trường PT dân tộcnội trú, 1 trường trung tâm giáo dục thường xuyên và 10 trường mầu giáo tạicác xã, thị trấn, 1 trung tâm bồi dưỡng chính trị và 1 trường dạy nghề tại trungtâm huyện Tỷ lệ huy động trẻ trong độ tuổi (6-14) đến trường đạt trên 95%,

tỷ lệ trẻ 3 - 5 tuổi vào mẫu giáo đạt 54%, 6 tuổi vào lớp 1 đạt 65%

Y tế: Mạng lưới cán bộ y tế từ huyện đến xã được nâng cao một bước,

về trình độ chuyên môn nghiệp vụ thông qua các hoạt động đào tạo tại chỗ vàtập huấn bồi dưỡng Đến nay có 10/ 25 xã có Bác sỹ, 82% cán bộ y tế xã cótrình độ trung cấp, 100% thôn bản có y tá thôn cơ sở vật chất được đầu tưnâng cấp, 80% số xã được xây trạm xã 2 tầng, các mục tiêu chương trình y tếQuốc Gia được thực hiện có hiệu quả

2.8- Chính sách xã hội, xoá đói giảm nghèo:

Thường xuyên chăm lo đến các gia đình thương binh liệt sỹ, bà mẹ ViệtNam anh hùng, người có công với cách mạng, các đối tượng chính sách xãhội theo đúng chính sách đãi ngộ của Đảng và Nhà nước Phong trào xoá đóigiảm nghèo được người dân và các tổ chức tham gia hưởng ứng tích cực: đãxây mới được 32 ngôi nhà tình nghĩa, hộ trợ tấm lợp xoá mái nhà tạm cho2.408 hộ nghèo, hỗ trợ 398 phản nằm cho các hộ nghèo dân tộc Mông, có 383

hộ nghèo được vay vốn phát triển chăn nuôi bò, dê luân phiên với tổng số vốnban đầu là 574 con, đến nay số bò, dê đã phát triển đựơc trên 1.000 con Chỉđạo tốt chương trình Quốc gia cho vay vốn giải quyết việc làm, đào tạo nghề,tạo việc làm hàng năm cho 1.000 lao động ở Nông thôn, thông qua đó đờisống của nhân dân từng bước được nâng lên Năm 2000 hộ nghèo chiếm13,3% đến năm 2005 giảm xuống còn 8% Hộ giàu từ 0,56% tăng lên 2,1%;

Hộ khá từ 3,61% tăng lên 15,1% năm 2005 ( tính theo tiêu chí cũ)

2.9- Thuận lợi và khó khăn:

a Những thuận lợi:

Trang 30

Trong những năm qua nền kinh tế huỵên đang tăng trưởng khá, cơ cấukinh tế chuyển dịch đúng hướng, qui hoạch đựơc các vùng kinh tế sản xuấthàng hóa theo hướng tập trung tiềm năng về đất đai và lao động dồi dào,người dân cần cù chịu khó, trình độ của người lao động được nâng lên mộtbước rõ rệt.

Là huyện có 4 xã biên giới giáp với nước bạn Trung Quốc thuận lợi choviệc phát triển kinh tế cửa khẩu Nhiều chương trình dự án của các tổ chức,

cá nhân trong và ngoài nước tham gia đầu tư trực tiếp vào địa bàn huyện

Hệ thống cơ sở hạ tầng thiết yếu phục vụ sản xuất các chương trình dự

án trọng điểm về phát triển kinh tế lẫn với an ninh quốc phòng được Nhànước đàu tư bước đầu Là huyện có điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng thuận lợicho việc phát triển các loại cây con có chất lượng, có sắc thái văn hoá dân tộc,lợi thế cho ngành du lịch phát triển An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hộitrên địa bàn huyện trong những năm qua được giữ vững và ổn định, tạo môitrường thuận lợi cho các tổ chức trong và ngoài nước đến đầu tư thăm quan

du lịch

Sản xuất nông nghiệp được xác định là ngành kinh tế chủ đạo củahuyện, có những tiềm năng và lợi thế nhất định đất chưa sử dụng có khả năngnông nghiệp còn lớn, khí hậu khá thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp,

hệ thống thuỷ lợi được đầu tư tương đối hoàn chỉnh Ở những vùng có nguồnnước tưới tiêu ổn định, trên 95% số hộ của toàn huyện là sản xuất nôngnghiệp, trình độ dân trí từng bước đã được nâng lên Việc chuyển đổi, ápdụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất tương đối phổ biến Đội ngũcán bộ khuyến nông từ huyện đến cơ sở đã được kiện toàn và đi vào hoạtđộng Trong những năm qua, đã có bước chuyển dịch đúng hướng từ độccanh cây lương thực mang tính tự cung tự cấp, nay đã chuyển sang trồng câyhàng hoá có giá trị kinh tế cao như cây chè, đậu tương Các loại cây này có xuhướng tăng vì nó phù hợp với khí hậu, chất đất Tích cực đầu tư ứng dụng cáctiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp, xây dựng nhiều mô hình

có hiệu quả, kể cả trong chăn nuôi và trồng trọt đã được nhân rộng trên các xã

Trang 31

đem lại hiệu quả kinh tế cao, giá trị sản xuất nông nghiệp hàng năm đã cóbước tăng trưởng khá, chiếm trên 50% trong cơ cấu kinh tế của huyện.

b Những khó khăn:

Là một huyện vùng cao núi đất, địa hình của huyện chia cắt mạnh, độ dốclớn vào mùa mưa thường xảy ra lũ quét và sạt lở, mưa đá, gây ảnh hưởng trực tiếpđến đời sống của nhân dân

Nền kinh tế huyện xuất phát điểm thấp, một bộ phận người dân còn có tưtưởng bằng lòng với kết quả bước đầu thưởng trông chờ ỷ lại vào Nhà nước,không có ý chí tự vươn lên làm giàu

Do bị chi phối bởi nguồn lực và vốn đầu tư, vốn chương trình mục tiêu nhất

là trong xây dựng cơ bản của Tỉnh giảm lên trong những năm tới huyện sẽ găpnhững khó khăn nhất định

Nhìn chung nông nghiệp của huyện Hoàng Su Phì chưa khai thác triệt

để và đúng hướng tiềm năng, lợi thế vốn có như đất đai, lao động Tốc độphát triển còn chậm và chưa rõ nét, giá trị sản xuất ngành nông nghiệp cònchưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế của huyện Sản xuất còn nhỏ lẻ,manh mún, còn khá nặng nề mang tính tự cung, tự cấp Chưa mạnh dạn đầu tư

để sản xuất chuyển hướng hàng hoá đồng bộ, trình độ thâm canh trong nôngnghiệp còn thấp, diện tích tưới tiêu chủ động còn quá ít, hệ số sử dụng đấtchưa cao, số diện tích sản xuất một vụ bỏ hoang còn nhiều Các tiến bộ khoahọc kỹ thuật áp dụng còn chậm ở một số vùng và mới triển khai dưới dạng môhình, nhân ra diện rộng còn ít Một số hộ nông dân còn trông chờ, ỷ lại vào sựđầu tư của nhà nước quá nhiều, không có ý thức tự vươn lên

Nguyên nhân chủ quan: Nhận thức của cấp uỷ, chính quyền cơ sở đếntầng lớp nhân dân còn coi nhẹ vị trí, vai trò phát triển nông nghiệp trong giaiđoạn hiện nay Phương pháp tiếp cận với sản xuất nông nghiệp còn chưa đượcgần gũi với nông dân Nhiều đề án, dự án được lập ra cả dự án được thựchiện, người nông dân chưa được hưởng lợi là bao, đầu tư cho phát triển nôngnghiệp còn hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng và thế mạnh của ngànhnông nghiệp của huyện Hệ thống tổ chức quản lý kinh tế nông nghiệp từ

Trang 32

huyện đến cơ sở còn nhiều hạn chế, mặc dù đã được bố trí đầy đủ nhưng chưaphát huy hết khả năng chuyên môn đã được đào tạo Vai trò Ban quản lý HTXnông nghiệp đã được chuyển đổi nhưng chưa cao, còn nhiều lúng túng trongkhâu quản lý.

Việc phát triển kinh tế nông nghiệp đã ảnh hưởng đến sợ nghiệp pháttriển chung nền kinh tế của huyện Do vậy việc đẩy mạnh tốc độ phát triểnngành nông nghiệp ngang tầm với tiền năng và lợi thế sẵn có là yêu cầu cấpthiết trong giai đoạn phát triển mới hiện nay

3 Những nhân tố ảnh hưởng tới đói nghèo huyện Hoàng Su Phì tỉnh

Hà Giang.

Hiện nay có một số nhân tố gây khó khăn

Thứ nhất: Sự tăng trưởng kinh tế chậm sẽ dẫn đến hậu quả kinh tế trực

tiếp là mất việc làm và giảm thu nhập của nhiều người dân

Thứ hai: Là điều kiện tự nhiên khắc nghiệt như hạn hán, bão, lũ, lụt đã

làm giảm thu nhập và thu hoạch nông nghiệp

Thứ ba: Là việc cắt giảm chi tiêu của Chính phủ đã làm ảnh hưởng khá

nhiều đến việc cung cấp các dịch vụ xã hội có liên quan, quan hệ mật thiết vớingười nghèo

Còn nhiều nhân tố khác: - Trình độ người dân

- Chính quyền và các tổ chức

3.1- Thất nghiệp gia tăng:

Thất nghiệp và tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ ngược chiều nhau,khi nền kinh tế suy giảm hoặc phát triển đối với tốc độ chậm lại thì tình trạngthất nghiệp sẽ gia tăng

Ở khu vực nông thôn, tình trạng thiếu việc làm vẫn còn xảy ra khoảng30% điều này rất dễ hiểu bởi vì khoảng 87% lực lượng lao động ở huyệnHoàng Su Phì là lao động nông nghiệp trong khi đó sản xuất nông nghiệp có

Trang 33

tính thời vụ cao, vào những lúc nông nhàn thì hầu như lao động không có việclàm ngoại trừ một số hộ có nghề phụ.

3.2- Thu nhập của người dân giảm:

Hiện nay có 4.924 hộ nghèo chiếm tỷ lệ 45,30 % dân số, do đó ảnhhưởng tới thu nhập và việc làm nông thôn do suy thoái sẽ tác động mạnh tớinghèo khổ Trong những năm gần đây, hai yếu tố cơ bản góp phần giảm đóinghèo nhanh ở huyện Hoàng Su Phì là huyện đã chỉ đạo triển khai các môhình đưa khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp, thâm canh tăng vụ, đưacác loại cây trồng mới có năng xuất vào thử nghiệm đã đạt hiệu quả khá cao

và việc đa dạng hoá các ngành nghề truyền thống cho người dân đã tạo đượcnguồn thu nhập đáng kể cho người nông dân

Sự suy thoái kinh tế không chỉ ảnh hưởng tới thu nhập nông nghiệp củangười dân mà còn ảnh hưởng tới cơ hội bổ sung thu nhập cho người dân từcác hoạt động phi nông nghiệp khác trong các ngành công nghiệp và dịch vụkhác

Trong ngành công nghiệp và dịch vụ, do tốc độ tăng trưởng chậm, nêndẫn đến tiền lương của người lao động cũng giảm sút, khi tiền lương của họgiảm xuống khi đó việc chi tiêu của họ cho các sản phẩm tiêu dùng hàng ngày

có nguồn gốc từ nông nghiệp sẽ giảm xuống và nó làm cho giá sản phẩmnông nghiệp giảm xuống, điều này gây bất lợi cho người nông dân vốn lànhững người nghèo nhất trong xã hội Chính điều đó làm cho quá trình xoáđói giảm nghèo trở lên khó khăn hơn

3.3- Giảm sút chi tiêu xã hội:

Chi tiêu công cộng đối với các dịch vụ xã hội như y tế, giáo dục tỷ lệthuận với tiềm lực kinh tế và tốc độ tăng trưởng kinh tế Khi nền kinh tế suythoái thì việc chi tiêu cho các dịch vụ xã hội sẽ bị cắt giảm Nếu như cắt giảmchi tiêu không được dự tính cẩn thận để nhằm giảm thiểu những tác động tiêucực và đảm bảo bền vững trong giai đoạn sắp tới Những cắt giảm như vậy có

Trang 34

thể làm tình hình xấu hơn nhiều Việc sắp xếp thứ tự ưu tiên chi tiêu một cách

kỹ lưỡng đã trở thành điều vô cùng quan trọng khi người nghèo đang bị tácđộng và các chi tiêu cho y tế và giáo dục đang bị đe doạ

II- PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG NGHÈO, ĐÓI VÀ NHỮNG THÀNH TỰU ĐẠT ĐƯỢC TRONG CÔNG CUỘC XOÁ ĐÓI, GIẢM NGHÈO CỦA HUYỆN HOÀNG SU PHÌ TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY.

A Căn cứ xây dựng chương trình

I Thực trạng nghèo đói trên địa bàn huyện Hoàng Su Phì tỉnh Hà giang.

1 Thực trạng nghèo đói theo chuẩn nghèo cũ (giai đoạn 2001 - 2005)

Qua kết quả thực hiện chương trình XĐGN giai đoạn 2001-2005 trên địabàn huyện Hoàng Su Phì tỉnh Hà Giang, cho chúng ta thấy:

- Tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh: Trong vòng 5 năm, từ năm 2001 (1.544 hộ

) xuống còn 985 hộ năm 2005 tức là giảm 559 hộ so với năm 2001, bình quânmỗi năm giảm được khoảng 3,4%

- Tốc độ giảm nghèo không đồng đều: Tuy tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh,

song tốc độ giảm nghèo giữa các vùng không đồng đều, Vùng sâu, vùng xa cótốc độ giảm nghèo cao nhất (7,23%), vùng núi thấp có tốc độ giảm nghèo thấpnhất (20,65%)

- Kết quả XĐGN chưa bền vững: Qua xem xét sự phân bố về thu nhập

của các hộ gia đình cho thấy còn một tỷ lệ khá lớn hộ gia đình có mức thunhập nằm ngay sát cận trên chuẩn nghèo, nếu gặp thiên tai, rủi ro, sự thay đổicủa cơ chế chính sách và tác động của quá trình hội nhập thì khả năng táinghèo của nhóm này sẽ rất lớn

- Tỷ lệ hộ nghèo của nhóm dân tộc thiểu số cao: Tuy tốc độ giảm nghèo

của nhóm dân tộc ít người cao, nhưng tỷ lệ hộ nghèo còn cao gấp 10 lần tỷ lệ

hộ nghèo của dân tộc Kinh

Trang 35

2 Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn mới (2006 - 2010).

Chính phủ đã có Quyết định số: 170/2005/QĐ-TTg ngày 8 tháng 7 năm

2005 về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006 - 2010, cụthể:

- Khu vực nông thôn: những hộ có thu nhập bình quân đầu người một

tháng từ 200.000 đồng (2.400.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo.

- Khu vực thành thị: những hộ có thu nhập bình quân đầu người một tháng từ 260.000 đồng (3.120.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ trung bình.

Qua cuộc điều tra xác định hộ nghèo toàn huyện vào tháng 6/2005, vớichuẩn nghèo mới, cuối năm 2004 toàn huyện có 6.366 hộ nghèo, chiếm54,79% số hộ toàn huyện

3 Đặc điểm và tính đa dạng của nghèo, đói ở huyện Hoàng Su Phì tỉnh Hà Giang.

Đặc điểm nghèo: Sau gần 20 năm đổi mới, thu nhập và mức sống của đa

số người dân đã được cải thiện, do vậy đặc điểm nghèo đói cũng có sự thayđổi Trước đây chủ yếu là nghèo về lương thực thực phẩm, thì đến nay cơ bảnđược giải quyết Song nghèo về phi lương thực, thực phẩm (nhu cầu về nhà ở,chăm sóc sức khoẻ khi ốm đau, giáo dục, văn hoá, đi lại và giao tiếp xã hội)ngày càng gay gắt, cơ hội tiếp cận và thụ hưởng các thành quả của sự pháttriển cũng có sự khác biệt đáng kể giữa nhóm giàu và nhóm nghèo, do sựphân hoá giàu nghèo đang có xu hướng gia tăng

Tuy vậy, ở huyện Hoàng Su Phì tỉnh Hà Giang nghèo đói vẫn rất đa dạng thể hiện:

- Thiếu ăn hàng năm từ 1 đến 3 tháng, chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu

số vùng cao chiếm khoảng 7% số hộ nghèo theo chuẩn mới và chiếm khoảng

Trang 36

2% tổng số hộ toàn huyện Mỗi năm ngân sách tỉnh phải trợ cấp cứu đói trên

1 ngàn hộ,

- Số hộ vẫn ở nhà tạm bợ là 482 hộ (55,8%), giá trị tài sản, đồ dùng lâubền không có hoặc có nhưng giá trị rất thấp

- Chưa có điện sinh hoạt 546 hộ (63,2%), phải dùng nguồn nước tự nhiên

để ăn uống 863 hộ (100 %), thiếu đất sản xuất 513 hộ (59,4%)

- Thiếu điều kiện cơ bản để phát triển sản xuất, công cụ sản xuất thô sơ,thiếu vốn, chưa tiếp cận được thị trường tiêu thụ sản phẩm

- Thiếu kiến thức sản suất 457 hộ (66,9 %), không có trình độ chuyênmôn kỹ thuật 683 hộ (100 %), hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực nông lâm sản

863 (100%)

Nghèo còn thể hiện ở việc con cái chỉ theo học ở bậc tiểu học, nếu cóhọc tiếp bậc THCS thì tỷ lệ bỏ học cao, nhất là trẻ em dân tộc ở vùng nhữngvung sâu vùng xa điều kiện đI lại khó khăn, phong tục tập quán lạc hậu Nghèo gắn liền với tập quán lạc hậu, nhất là ma chay, cưới xin tốn kém.Một số hộ nghèo dân tộc thiểu số khi ma chay, cưới xin phải thịt, bán cả trâu,

bò mua bằng nguồn vốn vay ưu đãi hoặc của các tổ chức cá nhân ủng hộ nênkhông có khả năng trả nợ

4 Nguyên nhân nghèo đói

- Nguyên nhân khách quan: Là do điều kiện tự nhiên không thuận lợi,

khí hậu khắc nghiệt, địa hình phức tạp, giao thông đi lại khó khăn, kinh tếchậm phát triển, diện tích đất trồng trọt ít và khó canh tác

- Nguyên nhân chủ quan: Thuộc về chính người dân: Theo số liệu điều

tra năm 2004, nguyên nhân nghèo đói được thể hiện:

- Thiếu kinh nghiệm làm ăn : 42,67%

- Thiếu lao động: 10,37%

Trang 37

- Đông con: 19%

Ngoài ra còn do tính ỷ lại của người dân trông chờ sự giúp đỡ của Nhànước, không thấy rõ trách nhiệm của bản thân trong công cuộc XĐGN chungcủa xã hội Chính quyền và các đoàn thể, nhất là các cơ sở xã, các tổ chức của

xã hội chưa thực sự quan tâm đối với người nghèo

5 Xu hướng nghèo đói.

5.1- Khoảng cách chênh lệch về thu nhập, mức sống, tài sản, tiếp cận các dịch vụ xã hội giữa các vùng, nhóm dân cư, dân tộc có xu hướng gia tăng Kết quả điều tra năm 2004 khoảng cách chênh lệch về thu nhập giữa

nhóm giầu và nhóm nghèo là 5,19 lần, giữa nông thôn và thành thị là 2,47 lần,giữa vùng núi thấp và vùng sâu vùng xa là 1,65 lần, giữa dân tộc Kinh và dântộc Mông là 3,42 lần

5.2- Hộ nghèo có xu hướng tập trung rõ rệt ở một số vùng địa lý và ở một số nhóm dân tộc thiểu số Kết quả điều tra năm 2004, hộ nghèo tập trung

chủ yếu ở khu vực nông thôn chiếm 95,5%; vùng sâu, vùng xa 43,6%; dân tộcMông 42%, dân tộc Tày 18,6%, dân tộc Dao 16,9% trên tổng số hộ nghèotoàn huyện

5.3- Nguy cơ tái nghèo có thể tăng: Do thiên tai, dịch bệnh, biến động

của hội nhập và phát triển kinh tế thị trường; cơ hội việc làm của người nghèocàng khó khăn hơn do đổi mới khoa học công nghệ

Nhận thức được tầm quan trọng của việc xoá đói, giảm nghèo trongchiến lược phát triển kinh tế xã hội của huyệàng Su Phì Quán triệt nghị quyếtđại hội Đảng lần thứ VII, lần thứ VIII chủ trương về xoá đói giảm nghèo.Huyện uỷ, HĐND, UBND huyện Hoàng Su Phì đã sớm có kế hoạch cụ thể vềtriển khai thực hiện công tác xoá đói, giảm nghèo trên địa bàn và đã gặt háiđược những thành tựu đáng kể như sau:

Trang 38

1- Quy mô và sự biến động quy mô đói nghèo.

hộ nghèo đói của huyện là 9,59 %, tỷ lệ đói nghèo của huyện đã giảm đáng kể

từ 17,28% năm 2001 xuống còn 9,59% năm 2005, bình quân 1 năm giảmkhoảng 2,506% Huyện Hoàng Su Phì đạt được kết quả như vậy là do xácđịnh rõ được các nguyên nhân dẫn đến nghèo đói ở mỗi xã và các vùng khácnhau cùng với việc thực hiện các chương trình kinh tế xã hôi trên địa bànhuyện tạo môi trường thuận lợi cho các hộ nhân dân nói chung có điều kiệnphát triển kinh tế và các hộ ngheo nói riêng tự vươn lên để Xoá đói - Giảmnghèo Ta có thể thấy rõ hơn qua bảng sau (từ bảng 3 đến bảng 7)

Trong những năm vừa qua huyện Hoàng Su Phì thực hiện công tác XĐ

-GN đã đạt được kết quả tương đối toàn diện từ nhận thức đến vai trò tráchnhiệm ở mỗi cấp mỗi ngành, nhất là ở từng cơ sở đã coi chương trình XĐ -

GN là nhiệm vụ chỉ đạo thường xuyên Tổ chức thực hiện các giải pháp về

XĐ - GN được coi trọng, dân chủ hơn và có chiều sâu

1.2- Theo khu vực.

Huyện Hoàng Su Phì gồm có 25 xã, thị trấn trong đó 24 xã và 1 thị trấn

Tỷ lệ nghèo đói phân theo khu vực như sau:

Theo kết kết quả điều tra về số hộ đói nghèo bảng 1 thì năm 2001 huyện

Hoàng Su Phì có 1.463 hộ đói nghèo trong tổng số 8.933 hộ toàn huyện,

chiếm tỷ lệ 17,28% tổng số hộ Trong đó phân theo khu vực có 97,5% hộ đóinghèo ở khu vực nông thôn, các xã vùng sâu, các xã biên giới, các xã đặc biệtkhó khăn còn lại là các xã gần đường tỉnh lộ và thị trấn

Trang 39

Phân tích tình hình đói nghèo hiện nay của huyện Hoàng Su Phì cho thấy

sự phân chia giàu nghèo ở các vùng nông thôn, thành thị cũng đang diễn rakhá phổ biến và có xu thế ngày càng giãn cách Các hộ có vốn, có kinhnghiệm làm ăn đã biết tận dụng điều kiện tự nhiên vươn lên làm giàu với mứcthu nhập vài chục triệu đồng một năm, trong khi các hộ nghèo vẫn đangnghèo đi do không có vốn, thiếu kiến thức làm ăn Theo số liệu thống kê, năm

2007 huyện Hoàng Su Phì có 348 hộ giàu, trong đó có khoảng hơn 57 hộ cómức thu nhập từ 20-30 triệu đồng/năm và có khoảng hơn 10 hộ có mức thunhập trên 30 triệu đồng/năm

Xét theo nghề nghiệp thì tỷ lệ đói nghèo cao nhất thuộc về những ngườilàm ruộng Đây là những hộ thuần nông, thu nhập của gia đình chủ yếu dựavào sản xuất nông nghiệp trong khi đó sản xuất nông nghiệp chịu ảnh hưởngrất lớn của điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, chỉ một đợt hạn hán hay mưa bão

là có thể cướp đi toàn bộ thành quả lao động lao động của hộ và sẽ đưa họ từmức nghèo xuống đói và từ trung bình xuống nghèo Ngược lại, những hộ giađình do có người làm nghề gián tiếp, thương nhân hoặc dịch vụ là chủ hộ thì

ít có khả năng bị đói nghèo, do thu nhập của những người này mà mức nghèokhổ của của gia đình họ thường thấp hơn mức nghèo đói chung Những ngườisống trong các hộ gia đình mà chủ hộ không đi làm, do đã nghỉ hưu hoặc lý

do khác thì có nhiều khả năng bị đói nghèo Những hộ ít có khả năng đóinghèo nhất là những hộ có người chủ hộ làm việc trong khu vực kinh tế Nhànước, bởi vì hàng tháng họ nhận được lương và các khoản thu khác theolương gần như cố định do Nhà nước trả và khoản này gần như chắc chắn đảmbảo cho họ có cuộc sống từ mức trung bình trở lên Mà những người này sốngtập trung nhiều ở khu vực thị trấn

1.3- Theo xã, thị trấn.

Thực hiện Quyết định số: 170/2005/QĐ-TTg ngày 8/7/2005 của Thủtướng Chính phủ ban hành chuẩn nghèo trong giai đoạn 2006-2010: hộ nghèo

Trang 40

là hộ có thu nhập bình quân đầu người dưới 200.000 đồng/người/tháng ở vùngnông thôn hoặc hộ có thu nhập bình quân dưới 260.000 đồng/người/tháng ởthành thị và thực hiện nghị quyết của Ban thường vụ tỉnh uỷ, nghị quyết củaHĐND tỉnh và kế hoạch của UBND tỉnh, các cấp, các ngành đoàn thể từ tỉnhđến huyện, thị xã, phường, xã đều có kế hoạch tổ chức thực hiện công tác xoáđói, giảm nghèo, triển khai sâu rộng cuộc vận động trong toàn Đảng, toàn dângiúp nhau xoá đói, giảm nghèo.

Tuy vậy quá trình xoá đói giảm nghèo trên địa bàn huyện Hoàng Su Phìtrong những năm qua diễn ra không đều nhau Trong năm 2001 tỷ lệ hộ nghèotoàn huyện theo số liệu điều tra là 17,28%, năm 2006 tỷ lệ hộ nghèo toànhuyện theo số liệu điều tra là 54,79%, tỷ lệ hộ nghèo đói tăng nhanh Nguyênnhân tăng nhanh như vậy một phần do sự thay đổi chuẩn mực đói nghèo Ta

có thể thấy rõ hơn qua bảng (Bảng 8, bảng 9)

Căn cứ vào bảng 3 ta thấy tỷ lệ nghèo đói ở huyện Hoàng Su Phì phân

bố không đồng đều một số xã có tỷ lệ nghèo đói thấp song bên cạnh đó còn cónhững xã có tỷ lệ nghèo đói cao gấp 2 lần tỷ lệ bình quân chung toàn huyệnBên cạnh những xã có tỷ lệ hộ đói nghèo cao như: Bản máy, Thàng Tín,Thèn Chu Phìn, Pố Lồ, thì cũng có tỷ lệ hộ đói nghèo thấp như: Nậm Dịch,Nậm Ty, Thông Nguyên, Nam Sơn, Hồ Thầu Đây là các xã có hệ thống cơ sở

hạ tầng tốt hơn, vị trí địa lý rất thuận tiện cho việc giao lưu với các vùng kháctrong huyện và là các xã có diện tích trồng chè chủ yếu của huyện, hơn nữatrình độ dân trí của nhân dân khá cao chính vì vậy mà các xã này có tỷ lệ đóinghèo thấp Đa phần các hộ nghèo đói còn lại là những hộ đặc biệt, hộ giađình chính sách, gia đình có người ốm đau, bệnh tật hoặc là những hộ dân tộc

Hơ Mông sống ở trên cao Để giúp các hộ này thoát cảnh nghèo cần có sựquan tâm giúp đỡ thường xuyên của Nhà nước và chính quyền các cấp.Những xã có tỷ lệ đói nghèo cao là những xã cơ sở hạ tầng về giao thông,thuỷ lợi còn thiếu và yếu, trình độ dân trí của người dân còn thấp, không có

Ngày đăng: 26/07/2013, 16:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Báo cáo Việt Nam đánh giá sự nghèo đói và chiến lược của Ngân hàng thế giới-1995 Khác
2. Báo cáo chung của nhóm công tác chuyên gia Chính phủ, Nhà tài trợ, Tổ chức phi Chính phủ: Việt Nam tấn công nghèo đói -1999 Khác
3. Vấn đề giảm nghèo trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam của TS. Trần Thị Hằng Khác
5. Đại học Kinh tế quốc dân, Khoa Quản lý kinh tế - Giáo trình Kinh tế phát triển tập I, II Khác
6. Giáo trình quản lý Kinh tế tập 1, 2 Khoa Quản lý Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Khác
7. Giáo trình hiệu quả quản lý các dự án Khoa Quản lý Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Khác
8. Báo cáo niên giám thống kê 2006 của Phòng thống kê huyện Hoàng Su Phì Khác
9. Quy hoạch phát triển kinh tế xã hội huyện Hoàng Su Phì đến năm 1010 Khác
10. Báo cáo tổng kết điều tra khảo sát hộ nghèo huyện Hoàng Su Phì các năm 2001, 2002, 2003, 2004, 2005, 2006, 2007 Khác
11. Báo cáo kết quả thực hiện công tác xoá đói giảm nghèo năm 2007 huyện Hoàng Su Phì Khác
12. Kế hoạch thực hiện chương trình xoá đói giảm nghèo của huyện Hoàng Su Phì giai đoạn 2005-2010 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1: Vị trí chức năng của HĐND  và UBND - Thực trạng về đói, nghèo của huyện Hoàng Su Phì và những giải pháp cơ bản trong công cuộc xoá đói giảm nghèo hiện nay
Sơ đồ 1 Vị trí chức năng của HĐND và UBND (Trang 24)
Sơ đồ 2: Thẩm quyền của HĐND và UBND - Thực trạng về đói, nghèo của huyện Hoàng Su Phì và những giải pháp cơ bản trong công cuộc xoá đói giảm nghèo hiện nay
Sơ đồ 2 Thẩm quyền của HĐND và UBND (Trang 25)
Sơ đồ 3: Tổng quát chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Chính phủ. - Thực trạng về đói, nghèo của huyện Hoàng Su Phì và những giải pháp cơ bản trong công cuộc xoá đói giảm nghèo hiện nay
Sơ đồ 3 Tổng quát chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Chính phủ (Trang 56)
Bảng 3: Bảng tổng hợp kết quả phân loại kinh tế hộ năm 2001. - Thực trạng về đói, nghèo của huyện Hoàng Su Phì và những giải pháp cơ bản trong công cuộc xoá đói giảm nghèo hiện nay
Bảng 3 Bảng tổng hợp kết quả phân loại kinh tế hộ năm 2001 (Trang 78)
Bảng 4: Bảng tổng hợp kết quả phân loại kinh tế hộ năm 2002 - Thực trạng về đói, nghèo của huyện Hoàng Su Phì và những giải pháp cơ bản trong công cuộc xoá đói giảm nghèo hiện nay
Bảng 4 Bảng tổng hợp kết quả phân loại kinh tế hộ năm 2002 (Trang 80)
Bảng 5: Bảng tổng hợp kết quả phân loại kinh tế hộ năm 2003 - Thực trạng về đói, nghèo của huyện Hoàng Su Phì và những giải pháp cơ bản trong công cuộc xoá đói giảm nghèo hiện nay
Bảng 5 Bảng tổng hợp kết quả phân loại kinh tế hộ năm 2003 (Trang 82)
Bảng 6: Bảng tổng hợp kết quả phân loại kinh tế hộ năm 2004 - Thực trạng về đói, nghèo của huyện Hoàng Su Phì và những giải pháp cơ bản trong công cuộc xoá đói giảm nghèo hiện nay
Bảng 6 Bảng tổng hợp kết quả phân loại kinh tế hộ năm 2004 (Trang 84)
Bảng 7: Bảng tổng hợp kết quả phân loại kinh tế hộ năm 2005 - Thực trạng về đói, nghèo của huyện Hoàng Su Phì và những giải pháp cơ bản trong công cuộc xoá đói giảm nghèo hiện nay
Bảng 7 Bảng tổng hợp kết quả phân loại kinh tế hộ năm 2005 (Trang 86)
Bảng 8: Tỷ lệ đói nghèo năm 2006 của huyện Hoàng Su Phì - Thực trạng về đói, nghèo của huyện Hoàng Su Phì và những giải pháp cơ bản trong công cuộc xoá đói giảm nghèo hiện nay
Bảng 8 Tỷ lệ đói nghèo năm 2006 của huyện Hoàng Su Phì (Trang 88)
Biểu 9: Bảng tổng hợp kết quả phân loại kinh tế hộ năm 2007 - Thực trạng về đói, nghèo của huyện Hoàng Su Phì và những giải pháp cơ bản trong công cuộc xoá đói giảm nghèo hiện nay
i ểu 9: Bảng tổng hợp kết quả phân loại kinh tế hộ năm 2007 (Trang 89)
BẢNG TỔNG HỢP KẾT QUẢ PHÂN LOẠI KINH TẾ HỘ NĂM 2007 - Thực trạng về đói, nghèo của huyện Hoàng Su Phì và những giải pháp cơ bản trong công cuộc xoá đói giảm nghèo hiện nay
2007 (Trang 90)
Bảng 10: Bảng kế hoạch thực hiện XĐ-GN giai đoạn 2008 huyện Hoàng Su Phì tỉnh Hà Giang. - Thực trạng về đói, nghèo của huyện Hoàng Su Phì và những giải pháp cơ bản trong công cuộc xoá đói giảm nghèo hiện nay
Bảng 10 Bảng kế hoạch thực hiện XĐ-GN giai đoạn 2008 huyện Hoàng Su Phì tỉnh Hà Giang (Trang 92)
Bảng 12: Bảng kế hoạch thực hiện XĐ-GN giai đoạn 2010 huyện Hoàng Su Phì tỉnh Hà Giang. - Thực trạng về đói, nghèo của huyện Hoàng Su Phì và những giải pháp cơ bản trong công cuộc xoá đói giảm nghèo hiện nay
Bảng 12 Bảng kế hoạch thực hiện XĐ-GN giai đoạn 2010 huyện Hoàng Su Phì tỉnh Hà Giang (Trang 96)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w