Trên cơ sở tổng kết lý luận và thực tiễn cho thấy vai trò giám sát và phản biện của MTTQ đã được khẳng định qua các lần Đại hội Đảng toàn quốc, cụ thể: Trong Văn kiện Đại hội lần thứ IX
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ ANH TẤN
HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT VÀ PHẢN BIỆN XÃ HỘI
CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ HIỆN NAY
Chuyên ngành: Chính trị học
Mã số: 60 31 02 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC : TS Nguyễn Văn Thuận
HÀ NỘI, 2017
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện Đề tài, tôi đã nhận được sự quan tâm
giúp đỡ rất nhiệt tình và có hiệu quả của Khoa Triết học, Học viện
Khoa học xã hội, của Huyện ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân
huyện Phù Ninh, Đảng ủy và Ủy ban nhân dân các xã, thị trấn của
huyện Phù Ninh Tôi xin chân thành cảm ơn toàn thể các thầy, cô giáo
trong khoa Chính trị học, Học viện khoa học xã hội; đặc biệt là cảm
ơn TS Nguyễn Văn Thuận, Nguyên chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật
Quốc Hội khóa XII, người đã nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong
việc hoàn thành luận văn này
Xin chân thành cảm ơn Huyện ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban
nhân dân, các phòng, ban, ngành, đoàn thể huyện Phù Ninh; xin cản
ơn các Đảng ủy, Ủy ban nhân dân các xã, thị trấn và bà con nhân dân
đã giúp đỡ, cộng tác cùng tôi để Đề tài được thực hiện kịp tiến độ theo
kế hoạch
Phú Thọ, ngày 25 tháng 8 năm 2017
Tác giả
Nguyễn Thị Anh Tấn
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là hoàn toàn trung thực và chưa sử dụng để bảo vệ luận văn của một học vị
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIÁM SÁT VÀ PHẢN BIỆN XÃ HỘI CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM 11
1.1 Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hệ thống chính trị nước ta 11
1.2 Giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận tổ quốc Việt Nam 19
1.3 Các yếu tố tác động đến hiệu quả giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận tổ quốc Việt Nam 33
Chương 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT VÀ PHẢN BIỆN XÃ HỘI CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ 38
2.1 Khái quát đặc điểm tình hình kinh tế - xã hội của huyện Phù Ninh và tổ chức bộ máy của Mặt trận Tổ quốc huyện Phù Ninh 38
2.2 Thực trạng việc thực hiện vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam huyện Phù Ninh từ năm 2010 đến nay 44
Chương 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT VÀ PHẢN BIỆN XÃ HỘI CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC TỪ THỰC TIỄN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ 60
3.1 Quan điểm tăng cường hoạt động giám sát và phản biện của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam 60
3.2 Một số giải pháp nhằm tăng cường hoạt động giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc 64
KẾT LUẬN 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
PHỤ LỤC 87
Trang 5
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
MTTQ Việt Nam là một bộ phận cấu thành hệ thống chính trị nước Việt Nam
Sự qui định này do yêu cầu khách quan của sự nghiệp cách mạng, xuất phát từ thể chế chính trị nước ta là một nước dân chủ, mọi quyền lực thuộc về nhân dân
Hoạt động giám sát của MTTQ Việt Nam là vấn đề không mới, đã được quy định trong Hiến pháp năm 1992, Luật MTTQ Việt Nam năm 1999 và trong nhiều văn
bản pháp luật khác Về chức năng phản biện xã hội “ trước Hiến pháp năm 2013, không có văn bản quy phạm pháp luật nào quy định về hoạt động phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội mà chỉ dừng ở mức độ quy định về hoạt động góp ý kiến ” (23, tr, 75) Trên cơ sở tổng kết lý luận và thực tiễn cho thấy
vai trò giám sát và phản biện của MTTQ đã được khẳng định qua các lần Đại hội Đảng
toàn quốc, cụ thể: Trong Văn kiện Đại hội lần thứ IX nêu "MTTQ Việt Nam và các tổ chức thành viên là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, nơi thể hiện ý chí, nguyện vọng, tập hợp khối đại đoàn kết toàn dân… tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng, thực hiện giám sát của nhân dân… [12]; Văn kiện Đại hội lần thứ X đã đề cập thêm nội dung Phản biện xã hội: "Nhà nước ban hành cơ chế để Mặt trận và các đoàn thể nhân dân thực hiện tốt vai trò giám sát và PBXH…" [13]; Văn kiện Đại hội lần thứ XI của Đảng chỉ rõ: “Đảng, Nhà nước có cơ chế, chính sách, tạo điều kiện để Mặt trận và các đoàn thể nhân dân hoạt động có hiệu quả, thực hiện vai trò giám sát và PBXH” [14] Văn kiện Đại hội XII tiếp tục nêu: “tiếp tục tăng cường củng cố tổ chức, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của MTTQ và các đoàn thể nhân dân, MTTQ đóng vai trò nòng cốt trong tập hợp, vận động nhân dân, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội, giám sát và PBXH tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân, góp phần xây dựng, bảo vệ Tổ quốc" [15, tr.166]
Trang 7Về cơ sở pháp lý, vai trò giám sát và phản biện xã hội của MTTQ đã được khẳng định trong Luật MTTQ Việt Nam và Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Tại mục 5 Điều 3, Luật MTTQ Việt Nam năm 2015 quy định
quyền và trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam “Thực hiện giám sát và phản biện xã hội” [8, tr.1]; Hiến pháp năm 2013 quy định: “ MTTQ Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [33, tr.11]
Chức năng giám sát và phản biện xã hội được đề cập lần đầu tiên trong Hiến pháp một cách có hệ thống và được cụ thể hóa bằng Quy chế
Nâng cao vai trò, vị trí của MTTQ Việt Nam trong hệ thống chính trị và đời sống xã hội là một yêu cầu khách quan, có ý nghĩa quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc Ngày 12/12/2013, Bộ Chính trị đã ban hành Quyết định số 217-QĐ/TW, về việc ban hành Quy chế Giám sát và PBXH của MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội; Quyết định số 218-QĐ/TW, ban hành Quy định về việc MTTQ Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền
Hòa chung quá trình lịch sử phát triển của đất nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Phù Ninh đã từng bước chuyển mình Với diện tích tự nhiên là 15.637,32 ha, dân số 106.789 người, có 19 đơn vị hành chính (18 xã và
01 thị trấn) Nằm ở vị trí Đông bắc tỉnh Phú Thọ, phía Bắc giáp huyện Đoan Hùng, phía nam giáp thành phố Việt Trì và huyện Lâm Thao, phía Tây giáp thị xã Phú Thọ và huyện Thanh Ba, phía đông có tuyến sông Lô bao bọc là ranh giới với huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc Trên địa bàn huyện có nhiều doanh nghiệp của Trung ương, của tỉnh như Tổng công ty Giấy Việt Nam, các cụm công nghiệp
Trang 8Đồng Lạng, Tử Đà, Phú Gia…; Huyện có hệ thống giao thông thuận lợi chạy qua như tuyến đường Quốc lộ 2, Cao tốc Nội bài - Lào Cai, đường thủy, đường bộ đa dạng Hoạt động của MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội có nhiều đổi mới, góp phần quan trọng xây dựng khối đoàn kết toàn dân, nâng cao năng lực, vai trò lãnh đạo của cấp ủy đảng, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng trong thời kỳ đổi mới [4, tr,10,11,12]
Bên cạnh những thuận lợi, sự phát triển của huyện Phù Ninh cũng gặp không ít những khó khăn, thách thức Trong đó vai trò của MTTQ có lúc, có nơi hoạt động chưa hiệu quả, MTTQ chủ yếu vẫn là tập hợp ý kiến phản ánh, kiến nghị của cán
bộ, nhân dân về chế độ, chính sách chứ chưa có nhiều ý kiến thực sự khoa học nêu
ra để xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch vững mạnh Vai trò của MTTQ mới chỉ dừng lại ở chức năng giám sát mà chưa có phản biện mặc dù được quy định rõ trong Luật MTTQ nhưng thực tế cho thấy, cách thức, đối tượng, cơ chế ràng buộc của giám sát, phản biện xã hội vẫn chưa thực sự cụ thể Có một thực tế cho thấy khi
xã hội phát triển, trình độ dân trí được nâng cao thì người dân có xu hướng quan tâm đến những vấn đề chính trị, đến những quyết sách của Đảng và Nhà nước và chủ động tích cực lên tiếng để bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng của mình nhiều hơn Chính vì vậy là một cán bộ đang làm việc tại cơ quan Ủy ban MTTQ huyện Phù Ninh, bản thân tác giả luận văn luôn suy nghĩ, trăn trở và đặt câu hỏi: làm thế nào để hoạt động giám sát và PBXH của MTTQ nói chung và của huyện Phù Ninh nói riêng hoạt động có hiệu quả, góp phần thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI, XII) “Một số vấn đề cấp
bách về xây dựng Đảng hiện nay” Xuất phát từ điều đó, tác giả lựa chọn đề tài:
“Hoạt động giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam từ thực tiễn huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ hiện nay” làm luận văn thạc sĩ Chính trị
học và hy vọng qua đó sẽ góp phần vào việc tăng cường hoạt động giám sát và PBXH của MTTQ huyện Phù Ninh hiện nay và trong những năm tiếp theo
Trang 92 Tình hình nghiên cứu đề tài
Hoạt động của MTTQ Việt Nam trong những năm gần đây nhận được
sự quan tâm của nhiều các nhà khoa học Đã có nhiều công trình, đề tài nghiên cứu đề cập đến lĩnh vực này Trong tổng quan nghiên cứu đề tài, tác giả có liệt kê, tham khảo một số công trình có liên quan Đây là những tài liệu tham khảo khá quan trọng, giúp ích rất nhiều cho tác giả trong quá trình nghiên cứu, xây dựng đề tài này
Đây là một công trình nghiên cứu khá hệ thống về việc đánh giá thực hiện chức năng giám sát và PBXH của MTTQ Việt Nam trên địa bàn huyện Phù Ninh
Các công trình nghiên cứu về hoạt động giám sát của MTTQ:
- Phạm Hồng Chương - Doãn Thị Chín (đồng chủ biên), (tháng
3-2016), Tư tưởng dân chủ Hồ Chí Minh, Nội dung cuốn sách này khái quát
nguồn gốc, quá trình hình thành và phát triển tư tưởng dân chủ Hồ Chí Minh; phân tích những nội dung cơ bản trong tư tưởng dân chủ Hồ Chí Minh…
- Vũ Trọng Kim (2016), Tập bài giảng về công tác Mặt trận, Đây là một công
trình nghiên cứu và tập hợp các bài viết của tác giả làm sáng tỏ một số vấn đề trong hoạt động của MTTQ góp phần xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc và phát huy vai trò của MTTQ Việt Nam trong thời kỳ đổi mới đất nước, hội nhập quốc tế
Trang 102.2 Các bài viết trên báo, tạp chí viết về giám sát
- Nguyễn Xuân Huy (2013), Về chức năng giám sát của MTTQ Việt Nam,
Tạp chí cộng sản, số ra ngày 26/6/2013 Tác giả khẳng định giám sát sát hoạt động của các cơ quan nhà nước, là nhiệm vụ rất quang trọng của MTTQ, chỉ ra những hạn chế trong cơ chế giám sát và đề xuất cơ chế giám sát của MTTQ Việt Nam
- Lê Khả Phiêu (2014), Phải làm gì để nhân dân, Mặt trận giám sát được hoạt động của Đảng và Nhà nước, Tạp chí Mặt trận, (số 131); Tác giả khẳng
định trong toàn bộ công tác vận động cách mạng của Đảng, khi nào Đảng coi trọng công tác Mặt trận, có khẩu hiệu chiến lược và sách lược đúng, có phương thức và biện pháp tập hợp rộng rãi lực lượng đại đoàn kết dân tộc thì các mục tiêu cách mạng hoàn thành thắng lợi Đảng dựa vào thực tiễn là dựa vào nhân dân, là do nhân dân, từ nhân dân, là dân phải làm chủ Muốn dân chủ thì phải có giám sát Không có giám sát thì không có dân chủ, thì khó tránh được khuyết điểm sai lầm, khó phát hiện và sửa chữa khuyết điểm và sai lầm Tác giả cho rằng: Đảng, Nhà nước rất cần thiết sự giám sát của nhân dân, của Mặt trận
- Đỗ Phương (2014), Lại bàn về giám sát và PBXH, Tạp chí Mặt trận,
(số 133); Tác giả của bài viết đề cập đến vị trí, vai trò giám sát trong xã hội hiện nay còn nhiều hạn chế, để phát huy vai trò giám sát và phản biện cần những thay đổi cơ chế và tổ chức quản lý nếu không giám sát và PBXH chỉ là cụm từ sử dụng trong tổ chức MTTQ Việt Nam mà thôi
- Bùi Thị Nguyệt Thu (2015),”Hoạt động giám sát của MTTQ Việt Nam thực tiễn và một số kiến nghị”, tạp chí Dân Chủ và Pháp luật Tác giả đã
nhấn mạnh một số kết quả trong quá trình thực hiện chức năng giám sát của MTTQ Việt Nam và chỉ ra một số tồn tại, hạn chế dẫn đến hiệu quả, hiệu lực giám sát của MTTQ Việt Nam còn thấp Trên cơ sở đó tác giả chỉ ra nguyên nhân và một số kiến nghị để công tác giám sát của MTTQ Việt Nam đi vào thực chất và hiệu quả
Trang 11- Ngô Sách Thực (2017), “Những vấn đề đặt ra trong công tác giám sát
và phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam”, Tạp chí Mặt trận, (số 166 + 167)
Bài viết nêu ra những kết quả đã đạt được trong công tác giám sát và phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam hiện nay, chỉ ra những hạn chế, nguyên nhân; đề ra các nội dung để tiếp tục làm tốt hơn công tác giám sát và phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam trong thời gian tiếp theo
2.3 Các bài viết trên báo, tạp chí viết về phản biện
- Hoàng Chí Bảo (2013), “Nâng cao năng lực giám sát - phản biện: Đòi hỏi từ thực tiễn - Biết nghe phản biện từ dân là thực thi ủy quyền của dân”, Báo Đại đoàn kết, (số 269) Tác giả cho rằng: Biết nghe phản biện từ
dân là thực thi ủy quyền của dân và nếu tập hợp đầy đủ, phân tích khoa học, đánh giá một cách khách quan và trung thực thì đây sẽ là nguồn thông tin chân thật, sống động và giúp ích thiết thực nhất đối với lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước cũng như hoạt động xã hội, làm công tác dân vận của Mặt trận, của các đoàn thể nhân dân
- Nguyễn Trọng Bình (2010), “PBXH của MTTQ Việt Nam – Thực trạng và một số vấn đề đặt ra”, Tạp chí Mặt trận, (số 7) Tác giả đã nhấn
mạnh một số kết quả trong quá trình thực hiện chức năng PBXH của MTTQ Việt Nam và nhận định một số tồn tại, hạn chế dẫn đến hiệu quả, hiệu lực phản biện của MTTQ Việt Nam còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu; PBXH hiện nay chủ yếu mới chỉ dừng lại ở hình thức góp ý Trên cơ sở đó tác giả chỉ
ra nguyên nhân và một số vấn đề cần giải quyết để PBXH của MTTQ Việt Nam đi vào thực chất và hiệu quả
- Trần Đức Châm (2014), PBXH bản chất là thực hành dân chủ, Tạp chí
Mặt trận, (số 132) Bài viết đề cập đến việc thực hiện Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” ở cơ sở Tác giả cho rằng với kinh nghiệm phong phú vận động quần chúng trong nhiều thập niên qua, MTTQ hoàn toàn có thể phát huy vai trò
Trang 12tốt hơn trong việc khơi dậy tiềm năng sáng tạo của mọi tầng lớp nhân dân; phát huy vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và mỗi người dân trong việc quản lý và tổ chức đời sống cộng đồng theo quy định của pháp luật cũng như tham gia các hoạt động PBXH Từ đó cũng đề nghị Nhà nước tiếp tục hoàn thiện cơ chế để nhân dân đóng góp ý kiến PBXH và giám sát công việc của Đảng, nhà nước
- Nguyễn Văn Pha (2016), Phát huy vai trò của MTTQ Việt Nam tham gia giám sát và PBXH, Tạp chí tuyên giáo, (số 4) Tác giả đã nhấn mạnh một
số kết quả trong quá trình thực hiện chức năng giám sát của MTTQ Việt Nam
và nhận định một số tồn tại, hạn chế Trên cơ sở đó tác giả chỉ ra nguyên nhân
và một số vấn đề cần giải quyết công tác giám sát của MTTQ Việt Nam đi vào thực chất và hiệu quả
- Nguyễn Văn Quang (2012), “PBXH nhằm tạo sự đồng thuận”, Tạp chí
Mặt trận, (số 107) Bài viết đã nêu ra vai trò của PBXH với đồng thuận xã hội, từ
đó rút ra rào cản trong quá trình thực hiện PBXH Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra một số giải pháp cơ bản để công tác phản biện có hiệu quả Tác giả nhấn mạnh vai trò của PBXH đối với sự đồng thuận xã hội là rất lớn Xã hội muốn phát triển cần phải coi trọng công tác PBXH Đặc biệt là phản biện trong quá trình xây dựng chính sách, pháp luật nhằm tạo ra sự đồng thuận trong việc thực hiện
2.4 Các Luận án Tiến sỹ, luận văn thạc sỹ
- Phạm Thế Dân (2015), ”thực hiện PBXH của MTTQ tỉnh Ninh Bình",
Luận văn Thạc sĩ Chính trị học, Đại học KHXH và nhân văn, Hà Nội Trên
cơ sở làm rõ vấn đề lý luận và thực tiễn về vị trí, vai trò, chức năng của MTTQ Việt Nam, tầm quan trọng của PBXH đối với quá trình thực thi quyền lực chính trị và quyền lực nhà nước ở nước ta, khảo sát thực trạng PBXH, luận văn đề xuất những quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện chức năng PBXH của MTTQ Việt Nam
Trang 13- Trần Thị Hồng Loan (2017), “Nâng cao vai trò giám sát và phản biện của MTTQ tại Thành phố Hồ Chí Minh”, Luận văn thạc sỹ Triết học, Học viện KHXH,
Hà Nội Luận văn làm rõ cơ sở lý luận về hoạt động giám sát và PBXH của MTTQ Việt Nam; thực trạng hoạt động giám sát và PBXH của MTTQ tại Thành phố Hồ Chí Minh và nêu quan điểm, giải pháp tăng cường hoạt động giám sát, PBXH của MTTQ Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay
- Vũ Thị Như Hoa (2013), Nâng cao chất lượng PBXH của MTTQ Việt Nam ở nước ta hiện nay, Luận án tiến sĩ Chính trị học, Đại học Quốc gia Hà
Nội Luận án đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận về PBXHvà vai trò của MTTQ Việt Nam trong PBXH, khẳng định PBXH là xu thế tất yếu của sự phát triển, là nhu cầu của cuộc sống và đưa ra hệ thống các tiêu chí đánh giá chất lượng PBXH; đề xuất phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng PBXH của MTTQ Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Các công trình nghiên cứu nêu trên đã có nhiều hướng tiếp cận và nghiên cứu tương đối sâu sắc về hoạt động giám sát, phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam, cũng như đề cập tới các biện pháp phối hợp thực hiện để hoạt động giám sát, PBXH ngày càng hiệu quả hơn Đây là những gợi ý quan trọng để tác giả kế thừa và tìm hiểu thêm về hoạt động giám sát và PBXH của MTTQ ở huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ với mong muốn có cái nhìn khái quát, toàn diện hơn về thực trạng cũng như góp phần đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường công tác giám sát, PBXH của MTTQ Việt Nam nói chung
và của MTTQ huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ nói riêng
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Trên cơ sở những vấn đề lý luận và thực trạng hoạt động giám sát và PBXH của MTTQ huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ, luận văn đề xuất một số quan điểm và giải pháp nhằm tăng cường hoạt động này trong giai đoạn từ nay đến năm 2020
Trang 14- Đề xuất một số quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường hoạt động giám sát và PBXH của MTTQ huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ đến năm 2020
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động giám sát và PBXH của MTTQ Việt Nam huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ hiện nay
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Tập trung nghiên cứu hoạt động giám sát và PBXH của MTTQ Việt Nam huyện Phù Ninh trong thời gian từ năm 2010 đến nay Đây là khoảng thời gian gắn với nhiệm kỳ Đại hội Đảng bộ huyện, nhiệm kỳ Hội đồng nhân dân huyện, trong đó MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội phát huy vai trò tập hợp vận động các tầng lớp nhân dân tham gia xây dựng Đảng, chính quyền, giám sát, PBXH đạt được một số kết quả
đáng khích lệ
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê Nin, tư tưởng
Hồ Chí Minh về dân chủ, về kiểm soát quyền lực, quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về thực thi quyền lực nhân dân, về vai trò của nhân dân, của MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội trong việc giám sát hoạt động của bộ
Trang 15máy Đảng và Nhà nước, thực hiện PBXH trong quá trình hình thành đường lối, chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng và nhà nước Đồng thời tham khảo những tài liệu của các công trình nghiên cứu khoa học, các văn kiện, số liệu có liên quan đến nội dung nghiên cứu
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin Ngoài ra, để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu, luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp như: Phương pháp logic - lịch sử, phương pháp phân tích và tổng hợp; phương pháp tra cứu tài liệu, phương pháp so sánh, phương pháp thu thập và
xử lý thông tin
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Luận văn cung cấp cơ sở lý luận về giám sát và PBXH của MTTQ Việt Nam Những luận chứng, luận cứ để thực hiện tốt hơn hoạt động giám sát và PBXH của MTTQ Việt Nam trên địa bàn huyện Phù Ninh
- Chỉ ra những nguyên nhân, bài học kinh nghiệm và làm rõ những vấn
đề đang đặt ra trong hoạt động giám sát và PBXH của MTTQ Việt Nam huyện Phù Ninh giai đoạn từ năm 2010 đến nay
- Xác định quan điểm và đề xuất những giải pháp có tính khả thi nhằm tăng cường hoạt động giám sát và PBXH của MTTQ Việt Nam trên địa bàn huyện Phù Ninh đến năm 2020
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, bảng chữ viết tắt, luận văn được kết cấu gồm 3 chương, 8 tiết
Trang 16Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIÁM SÁT VÀ PHẢN BIỆN
XÃ HỘI CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM
1.1 Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hệ thống chính trị nước ta
1.1.1 Vị trí, vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo Trải qua các thời kỳ cách mạng với những hình thức tên gọi khác nhau, Mặt trận không ngừng lớn mạnh và đóng góp to lớn vào thắng lợi vĩ đại của dân tộc và cùng với Đảng, Nhà nước hợp thành những trụ cột cơ bản trong hệ thống chính trị nước ta
Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (03/2/1930) trong nội dung chính cương vắn tắt, sách lược vắn tắt được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng chỉ ra sự cần thiết xây dựng một Mặt trận Dân tộc thống nhất nhằm đoàn kết các tầng lớp trong xã hội, các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội, các cá nhân phát huy truyền thống yêu nước, sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc, phấn đấu vì mục tiêu chung, xây dựng một xã hội hòa bình, tự do và hạnh phúc
Ngày 18/11/1930, Ban thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
đã chỉ thị thành lập Hội Phản để Đồng minh, đây là hình thức đầu tiên của Mặt trận dân tộc thống nhất, một hình thức liên minh chính trị của giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và các lực lượng yêu nước khác Và từ đó đến nay, trong lịch sử cách mạng Việt Nam chưa bao giờ vắng bóng tổ chức Mặt trận Khi Đảng chưa giành được chính quyền, Mặt trận đã tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, vận động, giác ngộ, tập hợp nhân dân , đồng thời thực hiện một số chức năng, nhiệm vụ của chính quyền ở vùng giải phóng Sau khi Đảng giành được chính quyền, Mặt trận trở thành thành viên của hệ thống chính trị Mặt trận cùng với Đảng, Nhà nước là công cụ thực hiện và phát huy quyền làm
Trang 17chủ của nhân dân Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý điều hành của Nhà nước, Mặt trận đã vận động các tầng lớp nhân dân đoàn kết chiến đấu bảo vệ đất nước Hiện nay trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa hội, vị trí của Mặt trận ngày càng được xác định rõ hơn thông qua việc đề ra các chủ trương, đường lối của Đảng, thể hiện rõ trong Hiến pháp, trong các văn bản luật đặc biệt là Luật Mặt trận tổ quốc Việt Nam và sự thừa nhận của các tầng lớp nhân dân
Trong các văn kiện quan trọng của Đảng ngày càng tiếp tục khẳng địh
vị trí quan trọng của Mặt trận trong hệ thống chính trị Cụ thể như Chỉ thị 17 ngày 18/4/1983 của Ban Bí thư (khóa V); Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII; Đại hội lần thứ X
Như vậy, vị trí của MTTQ Việt Nam do chính nhân dân, chính lịch sử
xác định và thừa nhận Pháp luật khẳng định MTTQ Việt Nam "là một bộ phận của hệ thống chính trị của nuớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam"
MTTQ Việt Nam với tư cách là thành viên của hệ thống chính trị có chức năng, nhiệm vụ riêng và tồn tại, hoạt động trong mối liên hệ với các thành viên khác của hệ thống chính trị Địa vị này còn do yêu cầu khách quan của
sự nghiệp cách mạng đòi hỏi phải xây dựng khối đại đoàn kết các lực lượng tiến bộ của dân tộc, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam để xây dựng và bảo vệ tổ quốc
Địa vị pháp lý của MTTQ Việt Nam còn do đặc điểm, cấu trúc của hệ thống chính trị Việt Nam quy định, hệ thống đó không tổ chức vận hành theo hình thức đa nguyên, đa đảng mà Đảng cộng sản Việt Nam là người lãnh đạo
Vì vậy, cả về góc độ pháp lý, cả về góc độ lịch sử và hoạt động thực tiễn đều khẳng định MTTQ Việt Nam là một bộ phận không thể thiếu được của hệ thống chính trị nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Vai trò của MTTQ không chỉ tự Mặt trận khẳng định mà còn do chính
nhân dân, chính lịch sử thừa nhận Từ khi đất nước thống nhất, Mặt trận tổ
Trang 18quốc Việt Nam giữ vai trò rất quan trọng việc củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân xây dựng và bảo vệ tổ quốc
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
(bổ sung, phát triển năm 2011) Đảng ta xác định "MTTQ Việt Nam, các đoàn thể nhân dân có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc" [14, tr.86-87]
Luật MTTQ Việt Nam 2015 quy định: “Kế thừa vai trò lịch sử của Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch
Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị
- xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp
xã hội, dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài" [8, tr.1]
Là một tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện rộng lớn, Mặt trận tổ quốc Việt Nam có vai trò củng cố và tăng cường và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, góp phần tạo nên sự đồng thuận xã hội trong toàn dân, thắt chặt mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước, động viên nhân dân phát huy quyền làm chủ, hăng hái tham gia các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động cách mạng, thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Mặt trận Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân Vai trò của MTTQ Việt Nam được Đảng, nhà nước quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật nên MTTQ Việt Nam có vai trò vị trí như tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước; thực hiện giám sát và PBXH; Hiệp thương lựa chọn, giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND cùng cấp và tham gia công tác bầu
cử theo quy định của pháp luật về bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND;
ra lời kêu gọi nhân dân hưởng ứng chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước, MTTQ Việt Nam đối với những sự kiện quan trọng khi cần thiết…
Trang 19Hiện nay trước yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ phát triển đòi hỏi phải tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, phát huy quyền làm chủ của nhân dân Do vậy vai trò của MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội càng quan trọng Nâng cao vai trò, tác dụng của Mặt trận trong hệ thống chính trị và đời sống xã hội
là một yêu cầu của công cuộc đổi mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
1.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Về quyền và trách nhiệm của MTTQ Việt Nam ghi trong Luật MTTQ:
1 Tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; 2 Tuyên truyền, vận động Nhân dân thực hiện quyền làm chủ, thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; 3 Đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; 4 Tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước; 5 Thực hiện giám sát
và PBXH; 6 Tập hợp, tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và Nhân dân để phản ánh, kiến nghị với Đảng, Nhà nước; 7 Thực hiện hoạt động đối ngoại nhân dân [8, tr.1-2]
Hiến pháp năm 2013 xác định:
1 MTTQ Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài MTTQ Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát, PBXH; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân góp phần xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc 2 Công đoàn Việt Nam, Hội nông dân Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội LHPNViệt Nam, Hội cựu chiến binh Việt Nam là các tổ chức chính trị - xã hội được thành lập trên cơ sở tự nguyện, đại diện và
Trang 20bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của thành viên, hội viên tổ chức mình; cùng các tổ chức thành viên khác của Mặt trận phối hợp và thống nhất hành động trong MTTQ Việt Nam 3 Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận và các tổ chức xã hội khác hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật Nhà nước tạo điều kiện để MTTQ Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận và các tổ chức xã hội khác hoạt động [33, tr.11]
Hiến pháp năm 2013 đã có nhiều quy định mới liên quan đến quyền và trách nhiệm cũng như chức năng, nhiệm vụ của MTTQ Việt Nam Hiến pháp đã hiến định chức năng giám sát, PBXH của MTTQ Việt Nam; hiến định được chức năng Mặt trận đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các tầng lớp nhân dân; về các tổ chức thành viên của MTTQ Việt Nam đã ghi rõ
5 tổ chức chính trị xã hội (Công đoàn Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội LHPN Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam) và các tổ chức thành viên khác của Mặt trận có trách nhiệm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của tổ chức mình, đồng thời phối hợp và thống nhất hành động trong MTTQ Việt Nam Điều này khẳng định MTTQ Việt Nam là một thể thống nhất, bao gồm Uỷ ban MTTQ và các tổ chức thành viên Theo đó chức năng của MTTQ Việt Nam là tập hợp, đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân; thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa, tăng cường đồng thuận trong xã hội; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước; Giám sát, PBXH Tương ứng với những chức năng
cơ bản trên, MTTQ Việt Nam có những nhóm nhiệm vụ cơ bản như: tuyên truyền, vận động nhân dân xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước; giám sát và PBXH; tập hợp, tổng hợp ý kiến, kiến nghị của nhân dân để phản ánh, kiến nghị
với Đảng và Nhà nước; thực hiện và mở rộng hoạt động đối ngoại nhân dân
Trang 211.1.3 Chức năng, nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp huyện
Ủy ban MTTQ Việt Nam cấp huyện do Đại hội đại biểu MTTQ huyện hiệp thương dân chủ cử, là cơ quan chấp hành giữa hai nhiệm kỳ đại hội, có trách nhiệm tổ chức thực hiện nhiệm vụ của MTTQ Việt Nam, tổ chức và hoạt động theo Điều lệ của MTTQ Việt Nam phù hợp với Hiến pháp và pháp luật Tổ chức, hoạt động của Uỷ ban MTTQ Việt Nam huyện được thực hiện theo nguyên tắc tự nguyện, hiệp thương dân chủ, phối hợp và thống nhất hành động
Ủy ban MTTQ Việt Nam huyện có nhiệm vụ họp thường kỳ 6 tháng một lần hoặc họp bất thường, họp chuyên đề theo đề nghị của Ban thường trực cùng cấp
Uỷ ban MTTQ Việt Nam cấp huyện là một cơ quan trong hệ thống
chính trị của huyện do Huyện uỷ lãnh đạo, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, nơi thể hiện ý chí, nguyện vọng, tập hợp khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, nơi hiệp thương, phối hợp và thống nhất hành động của các thành viên
Cơ quan Uỷ ban MTTQ Việt Nam huyện có chức năng nhiệm vụ là tham mưu, giúp việc cho Ban Thường trực, Uỷ ban MTTQ Việt Nam huyện về công tác Mặt trận ở địa phương, có nhiệm vụ thảo luận, đánh giá về kết quả thực hiện chương trình phối hợp và thống nhất hành động thời gian qua; quyết định chương trình phối hợp và thống nhất hành động của Uỷ ban MTTQ Việt Nam thời gian tiếp theo
Quyết định kế hoạch chuẩn bị Đại hội MTTQ Việt Nam huyện nhiệm
kỳ tiếp theo, theo hướng dẫn của Uỷ ban MTTQ Việt Nam cấp trên; Hiệp thương dân chủ cử Ban Thường trực; cử, cử bổ sung, thay thế, cho thôi các chức danh Chủ tịch, các Phó Chủ tịch, các Uỷ viên Thường trực, Uỷ viên Uỷ
Trang 22ban MTTQ Việt Nam huyện; Xét, quyết định kết nạp làm thành viên của MTTQ Việt Nam cấp huyện
Ra lời kêu gọi, vận động nhân dân trong huyện hưởng ứng thực hiện các chủ trương của Đảng, Nhà nước và MTTQ Việt Nam Triển khai thực hiện các phong trào thi đua yêu nước; chủ trì phối hợp triển khai cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư”, Cuộc vận động “Ngày vì người nghèo”,
- Uỷ viên Uỷ ban có nhiệm vụ tập hợp, phản ánh ý kiến, kiến nghị của nhân dân và thông báo kết quả thực hiện chương trình phối hợp và thống nhất hành động với Uỷ ban MTTQ Việt Nam cùng cấp; tuyên truyền, vận động hội viên, đoàn viên, nhân dân thi hành Hiến pháp, pháp luật và thực hiện tốt chương trình hành động của MTTQ Việt Nam; vận động các thành viên của MTTQ Việt Nam thực hiện đúng chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc và tham gia công tác Mặt trận ở nơi cư trú
Uỷ viên Uỷ ban được mời họp Uỷ ban, tham gia các Ban tư vấn của Uỷ ban MTTQ Việt Nam huyện; được thảo luận, chất vấn phê bình kiến nghị về
tổ chức và hoạt động của Uỷ ban; được cung cấp các điều kiện cần thiết cho hoạt động
- Về mối quan hệ công tác, quan hệ công tác giữa Uỷ ban MTTQ Việt Nam huyện với Thường trực HĐND và UBND huyện là quan hệ phối hợp để thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn theo quy định của Hiến pháp và pháp luật; Quan hệ phối hợp công tác giữa Uỷ ban MTTQ Việt Nam huyện với Thường trực HĐND, UBND huyện được thực hiện theo Quy chế phối hợp
- Quan hệ công tác giữa Uỷ ban MTTQ huyện với các tổ chức thành viên cùng cấp Uỷ ban MTTQ huyện chủ trì việc hiệp thương dân chủ giữa các thành viên để bàn bạc thực hiện nhiệm vụ chung của địa phương, cùng xây dựng chương trình phối hợp và thống nhất hành động, cùng nhau thực
Trang 23hiện chương trình phối hợp và thống nhất hành động đã đề ra Cấp ủy Đảng vừa là tổ chức thành viên, vừa lãnh đạo MTTQ Việt Nam huyện
- Quan hệ công tác giữa Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ huyện với Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ cấp xã là quan hệ hướng dẫn, kiểm tra thực hiện theo quy định của Điều lệ MTTQ Việt Nam Quan hệ giữa Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ huyện với cấp uỷ, chính quyền cấp xã được thực hiện theo các quy định của Đảng và Nhà nước
- Trong quan hệ với nhân dân, Uỷ ban MTTQ Việt Nam, các tổ chức thành viên của MTTQ Việt Nam các cấp mở rộng và đa dạng hoá các hình thức tập hợp nhân dân, phát huy vai trò người tiêu biểu, xây dựng cộng đồng dân cư tự quản hoạt động trên cơ sở hương ước, quy ước; động viên nhân dân phát huy quyền làm chủ, thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp và pháp luật, giám sát hoạt động của
cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ công chức nhà nước; thường xuyên tập hợp ý kiến, kiến nghị của nhân dân để phản ảnh, kiến nghị với Đảng
và Nhà nước; chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân
- Thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn được quy định trong các văn bản pháp luật, công tác giám sát của MTTQ huyện đã tập trung vào các nội dung hoạt động và với những phương thức sau đây: Tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền; Giám sát hoạt động của đại biểu dân cử; Giám sát việc thực thi chính sách pháp luật trên cơ sở đó, MTTQ đề nghị với Nhà nước xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành chính sách, pháp luật cho phù hợp với thực tiễn của đời sống xã hội; Giám sát việc giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân; Giám sát đối với cán bộ, công chức và đảng viên ở khu dân cư; Giám sát hoạt động tư pháp…
Từ nhiệm vụ chung của MTTQ nêu trên, Ủy ban MTTQ căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong từng thời kỳ và tình hình cụ thể của mỗi địa phương để đề
Trang 24ra nhiệm vụ cụ thể cho Mặt trận cấp mình trong mỗi kỳ Đại hội, hay chương trình phối hợp thống nhất hành động từng năm một cách phù hợp và có tính khả thi
Thực tiễn cho thấy, ở nơi nào Mặt trận chủ động đề xuất chương trình phối hợp và thống nhất hành động hàng năm một cách cụ thể, biết tập trung thực hiện nhiệm vụ trọng tâm của Mặt trận gắn với nhiệm vụ trọng tâm của chính quyền, tham gia giải quyết các vấn đề bức xúc trong nhân dân thì hoạt động của Mặt trận đạt hiệu quả thiết thực, vai trò, vị trí của Mặt trận được Đảng, chính quyền, nhân dân thừa nhận
1.2 Giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận tổ quốc Việt Nam
1.2.1.Giám sát, hoạt động giám sát của Mặt trận tổ quốc Việt Nam
1.2.1.1 Khái niệm giám sát
Khái niệm “giám sát” hiện nay được dùng khá phổ biến trong các khoa học như chính trị, luật học, hành chính học… và trong nhiều văn bản Nghị quyết của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước cũng như trong hành xử của đời sống chính trị thực tiễn Tuy khái niệm giám sát và nội hàm của nó được diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau
Theo Từ điển Hán - Việt của Đào Duy Anh chủ biên thì "giám sát là xem xét và đàn hạch"; Đại từ điển tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên hiểu
"Giám sát là theo dõi, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ"; cuốn tìm hiểu một số thuật ngữ trong Văn kiện Đại hội X của Đảng: “Giám sát là theo dõi, kiểm tra, phát hiện, đánh giá của cá nhân, tổ chức, cộng đồng người đối với cá nhân, tổ chức, cộng đồng người khác trong các lĩnh vực hoạt động kinh tế - xã hội, trong việc thực hiện Hiến pháp, pháp luật, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước, các quyền lợi, nghĩa vụ của công dân, của các tổ chức chính trị - xã hội và kiến nghị phát huy ưu điểm, thành tựu, xử lý đối với
cá nhân, tổ chức có những hành vi sai trái” [23, tr.70]
Trang 25Quy chế giám sát, PBXH của MTTQ Việt Nam và các đoàn thể chính trị
- xã hội cho rằng: “Giám sát” là theo dõi, phát hiện, xem xét; đánh giá kiến nghị nhằm tác động đối với cơ quan, tổ chức và cán bộ, đảng viên, đại biểu dân cử, công chức, viên chức nhà nước về việc thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước [2, tr.2]
Tuy cách diễn đạt và biểu hiện ý nghĩa của từ giám sát có khác nhau nhưng chúng đều có một đặc điểm là giám sát luôn gắn với một chủ thể nhất định, tức là phải trả lời câu hỏi; ai (hoặc tổ chức nào) có quyền thực hiện việc theo dõi, xem xét, kiểm tra và đưa ra nhận định về một việc làm nào đó đã thực hiện đúng hoặc sai những điều quy định Đồng thời giám sát luôn gắn với một đối tượng cụ thể , tức là phải trả lời được câu hỏi: Giám sát ai?, giám sát việc gì?để có những tác động nhằm điều chỉnh đối tượng thực hiện đúng yêu cầu, quy định của chủ thể quyền lực
Với những quan niệm trên giám sát có những đặc trưng sau”
Giám sát luôn gắn với một chủ thể nhất định Tức là phải trả lời được câu hỏi cá nhân hoặc tổ chức nào có quyền theo dõi, xem xét, đánh giá một việc đã được thực hiện là đúng hay sai những điều đã quy định
Giám sát luôn gắn với một đối tượng nhất định Tức là phải trả lời được câu hỏi giám sát ai và giám sát việc gì
Giám sát phải thể hiện được quan hệ giữa các chủ thể tham gia vào hoạt động giám sát Nội dung của quan hệ này biểu hiện ở những quyền và nghĩa
vụ của chủ thể giám sát và đối tượng chịu sự giám sát
Giám sát phải được tiến hành trên những căn cứ do pháp luật quy định Bởi đó chính là cơ sở, chuẩn mực để chủ thể có quyền thực hiện việc giám sát đưa ra những nhận định chính xác về hoạt động của đối tượng chịu sự giám sát Giám sát là hoạt động có mục đích, mục đích của giám sát là đưa ra những nhận định chính xác của chủ thể giám sát đối với hoạt động của đối
Trang 26tượng chịu sự giám sát, từ đó có biện pháp xử lý đối với những việc làm sai trái, nhằm bảo đảm những quy định của pháp luật được thực hiện nghiêm túc Như vậy, thuật ngữ “giám sát” nếu chỉ hiểu theo nghĩa chung thì phạm vi áp dụng của nó rất rộng Muốn có một cách hiểu cụ thể thì hoạt động giám sát bao giờ cũng gắn với một chủ thể xác định như giám sát của Đảng, giám sát của Quốc hội, của HĐND, giám sát của MTTQ - các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội…
Từ những quan điểm trên tác giả luận văn lựa chọn cách hiểu về giám sát được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước và cho
rằng: Giám sát là quá trình theo dõi, quan sát, phân tích, nhận định về hành
vi của đối tượng bị giám sát xem có vi phạm những chuẩn mực của chủ thể quyền lực hay không để có những tác động điều chỉnh tương đối thực hiện hiện đúng các yêu cầu chuẩn mực mà chủ thể quyền lực đề ra
1.2.1.2 Giám sát của Mặt trận tổ quốc Việt Nam
Hoạt động giám sát của MTTQ được đề cập trong Nghị quyết Đại hội đại biểu Thanh niên cứu quốc toàn xứ Bắc kỳ tháng 11/1945 “Mặt trận việt minh, Thanh niên cứu quốc có nhiệm vụ ủng hộ Chính phủ và Bộ Thanh niên Sự ủng
hộ đó phải thiết thực (bằng việc làm không phải bằng lời nói suông), sáng suốt (thấy cái hay, cái dở) và tích cực (giám sát và đề nghị)”, tuy nhiên quyền giám sát của Mặt trận chính thức được ghi nhận tại Điều 9 Hiến pháp năm 2013 “Mặt trận giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ viên chức Nhà nước”; nhân dân có quyền giám sát trực tiếp hoặc gián tiếp cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, đảng viên (thông qua Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội để thực hiện)
Sau Hiến pháp năm 1992 và Hiến pháp năm 2013, các văn bản pháp luật ngày càng quy định cụ thể hơn về chức năng giám sát của MTTQ, trong đó có Luật MTTQ năm 2015, Nhà nước dần chuyển hóa quyền giám sát của MTTQ
Trang 27trên nhiều lĩnh vực như giám sát việc thi hành luật thuế, luật đất đai, luật nghĩa
vụ quân sự, giám sát tố tụng hình sự, dân sự, xử lý vi phạm hành chính …
Giám sát của MTTQ Việt Nam được hiểu là "giám sát xã hội", không mang
tính quyền lực Nhà nước, là giám sát mang tính nhân dân, giám sát này chỉ dừng lại ở mức "theo dõi, phát hiện, kiến nghị", tức là áp dụng các biện pháp tác động mang tính
xã hội vào hoạt động của đối tượng bị giám sát (sự nhận xét, đánh giá kiến nghị từ phía xã hội, từ đó đối tượng bị giám sát tự chấn chỉnh, rút kinh nghiệm trong quá trình hoạt động của mình), không có quyền yêu cầu hoặc bắt buộc cơ quan, tổ chức phải tiến hành xử lý một vụ việc cụ thể nào, việc có xử lý hay không xử lý, xác định kết quả, kiến nghị giám sát đó đúng hay sai phụ thuộc vào quyền và trách nhiệm của
cơ quan, tổ chức, cá nhân được giám sát theo pháp luật và các quy định hiện hành
Trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân,
do dân và vì dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, giám sát của MTTQ Việt Nam nhằm đảm bảo giải quyết tốt mối quan hệ giữa Nhà nước pháp quyền và xã hội công dân Ngoài ra, chức năng giám sát của Mặt trận còn
hỗ trợ cho công tác giám sát, thanh tra của Nhà nước, kiểm tra của Đảng
Như vậy có thể hiểu “giám sát của MTTQ Việt Nam là việc Ủy ban MTTQ Việt Nam các cấp trực tiếp hoặc đề nghị các tổ chức thành viên của MTTQ Việt Nam theo dõi, xem xét, đánh giá, kiến nghị đối với hoạt động của
cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử, cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hiện chính sách, pháp luật” [8, tr.9]
1.2.1.3 Đặc điểm hoạt động giám sát của Mặt trận tổ quốc Việt Nam
* Chủ thể giám sát của MTTQ Việt Nam: là MTTQ, các đoàn thể chính trị
- xã hội từ Trung ương đến cơ sở, bao gồm MTTQ, Công đoàn Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam; Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam; Hội Cựu chiến binh Việt Nam; Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh
* Đối tượng giám sát: Điểm 1, Điều 26 chương V, Luật MTTQ Việt
Nam thì đối tượng giám sát của MTTQ Việt Nam là cơ quan nhà nước, tổ chức, đại biểu dân cử, cán bộ, công chức, viên chức [8, tr.9]
Trang 28Theo Quy chế giám sát và PBXH của MTTQ Việt Nam và các đoàn thể chính trị -xã hội thì đối tượng giám sát là: Các cơ quan, tổ chức từ Trung ương đến
cơ sở Cán bộ, đảng viên, đại biểu dân cử, công chức,viên chức nhà nước [2, tr.3]
Như vậy đối tượng giám sát của Mặt trận tổ quốc rất rộng so với đối tượng giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân, đối tượng giám sát của MTTQ Việt Nam bao gồm hoạt động tư cách, phẩm chất của đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND các cấp, cán bộ, viên chức nhà nước Như vậy, đối tượng giám sát của mặt trận là bao gồm bộ máy Nhà nước và các thành viên trong
bộ máy đó, các cơ quan nhà nước có chức năng giám sát, kiểm tra, thanh tra đều chịu sự giám sát của Mặt trận tổ quốc Việt Nam
* Nội dung giám sát của MTTQ: Điểm 2, Điều 26 chương V, Luật
MTTQ Việt Nam thì nội dung giám sát là việc thực hiện chính sách, pháp luật có liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân, quyền và trách nhiệm của MTTQ Việt Nam [8, tr.9]
Theo Quy chế giám sát và PBXH của MTTQ Việt Nam và các đoàn thể
chính trị - xã hội thì nội dung giám sát là: Việc thực hiện các chủ trương,
đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước (trừ những vấn đề thuộc bí mật quốc gia) của cơ quan, tổ chức và cá nhân [2, tr.3]
* Hình thức giám sát: Luật MTTQ quy định hình thức giám sát của MTTQ:
Nghiên cứu, xem xét văn bản của cơ quan có thẩm quyền liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân Tổ chức đoàn giám sát Thông qua hoạt động của Ban TTND được thành lập ở cấp xã, Ban giám sát đầu tư của cộng đồng Tham gia giám sát với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ phối hợp với Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương MTTQ Việt Nam ban hành nghị quyết liên tịch quy định chi tiết Điều này [8, tr.9,10]
Như vậy hình thức giám sát là: Hằng năm, căn cứ vào tình hình thực
tiễn, MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội có trách nhiệm xây dựng chương trình, kế hoạch giám sát báo cáo cấp ủy và chính quyền cùng cấp
Trang 29trước khi triển khai Khi cần thiết có thể tổ chức giám sát ngoài kế hoạch
Chương trình, kế hoạch giám sát được thống nhất với cơ quan quản lý nhà nước liên quan để hỗ trợ triển khai, bảo đảm giám sát thiết thực, đúng thực tế,
có tác động tốt với đời sống chính trị, xã hội và nhân dân Giám sát thông qua
việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về dân chủ ở cơ sở, hoạt động
của Ban TTND, Ban giám sát đầu tư của cộng đồng Giám sát thông qua
nghiên cứu văn bản, tài liệu, báo cáo của các cơ quan, tổ chức; đơn, thư khiếu nại, tố cáo, phản ánh, kiến nghị của các tổ chức, cá nhân gửi MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội và qua phản ánh của các phương tiện thông tin đại
chúng MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội tham gia các hoạt động giám sát do các cơ quan dân cử đề nghị
* Nguyên tắc giám sát: Điều 3 Luật MTTQ Việt Nam quy định về nguyên
tắc giám sát như sau: thứ nhất phải bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, phù hợp với Hiến pháp, Điều lệ MTTQ Việt Nam và Điều lệ các đoàn thể chính trị - xã hội…; …có sự phối hợp chặt chẽ giữa MTTQ Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội với các cơ quan, tổ chức có liên quan; không làm trở ngại các hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân được giám sát và phản biện xã hội…; … bảo đảm dân chủ, công khai, khách quan và mang tính xây dựng…; … tôn trọng các
ý kiến khác nhau, nhưng không trái với quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của thành viên, đoàn viên, hội viên, lợi ích quốc gia, dân tộc…
1.2.1.4 Phân biệt hoạt động giám sát của Mặt trận tổ quốc Việt Nam với một số hình thức giám sát khác
Không chỉ MTTQ Việt Nam mới có chức năng giám sát mà một số cơ quan, tổ chức khác cũng có chức năng này, như: Đảng, Quốc hội, HĐND,…
Giám sát của Đảng: Được thực hiện theo Điều lệ Đảng và các quy định
có liên quan của Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các cơ quan Đảng ở Trung ương Chủ thể giám sát là Ủy ban kiểm tra các cấp; đối tượng giám sát là cấp ủy cấp dưới và đảng viên Nội dung giám sát: Ngoài việc giám sát đảng viên thực
Trang 30hiện Điều lệ Đảng và các quy định của Đảng thì còn giám sát Đảng viên trong việc chấp hành chính sách, pháp luật của Nhà nước
Giám sát của Quốc hội và HĐND: Hiến pháp 2013 khẳng định: "Quốc
hội giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước" (Điều 69); "Hội đồng nhân dân giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương và việc thực hiện Nghị quyết của Hội đồng nhân dân" (Điều 113)
Một trong những chức năng cơ bản của Quốc hội và HĐND các cấp là giám sát Hoạt động giám sát của Quốc hội, HĐND các cấp là nhằm phát huy vai trò của cơ quan đại diện cho nhân dân, đảm bảo quyền lực nhà nước thực
sự thuộc về nhân dân, cơ chế giám sát mang tính quyền lực Nhà nước do nhân dân bầu ra Xét về bản chất việc thực hiện quyền giám sát thì Quốc hội, HĐND là cơ quan thay mặt nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước do chính nhân dân giao cho
Ngoài ra còn có các hoạt động giám sát của Tòa án đối với bộ máy nhà nước thông qua hoạt động xét xử Các phương pháp, cách thức mà loại hình giám sát này áp dụng luôn luôn mang tính quyền lực nhà nước và nó trực tiếp mang lại hậu quả pháp lý
1.2.2 Phản biện xã hội, hoạt động phản biện xã hội
1.2.2.1 Khái niệm phản biện xã hội
“Phản biện” thường được hiểu “là việc xem xét, đánh giá chất lượng một công trình khoa học trước hội đồng chấm thi, nghiệm thu đề tài” (Đại từ điển Tiếng Việt) hay là “đánh giá đúng chất lượng một công trình khoa học khi công trình được đưa ra bảo vệ để lấy học vị trước hội đồng chấm thi” [1, tr 23]
Theo Quyết định số 22/2002/QĐ-TTg ngày 30/01/2002 của Thủ tướng
Chính phủ thì phản biện được hiểu là “hoạt động cung cấp các thông tin, tư liệu cùng các ý kiến phân tích, đánh giá tính khả thi và các kiến nghị về sự phù hợp của nội dung đề án đối với mục tiêu và các điều kiện ràng buộc ban đầu hoặc thực trạng đặt ra” [38, tr.2]
Trang 31Theo tác giả Phan Hòa thì “PBXH là sự nhận xét, đánh giá, nêu chính
kiến, kiến nghị đối với dự thảo các chủ trương, đường lối của đảng, chính sách
pháp luật của Nhà nước, các chương trình, dự án đang kỳ dự thảo” [20] Theo tác giả Nguyễn Thị Tâm thì “PBXH là sự biện luận, thẩm định, đánh giá
của các lực lượng xã hội đối với những chủ trương, chính sách, đề án, dự án xã hội liên quan đến lợi ích của mọi thành viên trong xã hội nhằm phát hiện , bổ sung, chứng minh, khẳng định hoặc bác bỏ, phủ định một chủ trương, chính
sách hay đề án xã hội đang hình thành hay đã công bố” [20, tr.78]
Theo tác giả Phạm Quang Tú, Đặng Hoàng Giang “PBXH: Khái niệm, chức năng và điều kiện hình thành” viết trên Tạp chí Tia Sáng của Bộ khoa học
và Công nghệ đăng ngày 20/3/2012 thì: “PBXH là sự phản tư của các lực lượng
xã hội đối với những kiến tạo chính sách, thể chế trực tiếp liên quan đến quyền lợi của các thành viên trong cộng đồng, PBXH đã trở thành một cơ chế động năng
cho quá trình vận động, đổi mới của xã hội” [43] Đánh giá cao vai trò của PBXH, văn kiện đại hội lần thứ XI của Đảng ghi rõ: “Đảng tôn trọng tính tự chủ,
ủng hộ hoạt động tự nguyện, tích cực sáng tạo và chân thành lắng nghe ý kiến của mặt trận và các đoàn thể Đảng, Nhà nước có cơ chế, chính sách, tạo điều kiện để mặt trận và các đoàn thể nhân dân hoạt động có hiệu quả, thực hiện vai trò giám
sát và PBXH” [14, tr 87] Quy chế giám sát, PBXH của MTTQ Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội của Bộ Chính trị (Khóa XI) nêu rõ: PBXH là việc nhận
xét, đánh giá, nêu chính kiến, kiến nghị đối với dự thảo các chủ trương, đường lối
của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước [2, tr 2]
Tuy các khái niệm trên còn một số điểm khác nhau, song tựu chung lại đều đồng tình cho rằng PBXH là hoạt động bày tỏ ý kiến, chính kiến, đánh giá, nhận xét, đề xuất và kiến nghị của cộng đồng xã hội, của tập thể, cá nhân đối với quá trình hoạch định và thực thi các chủ trương, chính sách của các chủ thể thực thi quyền lực có liên quan đến lợi ích chung của cộng đồng, tập
Trang 32thể Và nhiều lần đề cập đến chủ thể PBXH là phản biện mang tính chất xã hội, cụ thể là các đoàn thể chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, các
cá nhân; đối tượng của PBXH là Đảng cầm quyền, các cơ quan quyền lực Nhà nước; nội dung PBXH là các quyết sách chính trị của Đảng cầm quyền
và các cơ quan quyền lực Nhà nước; mục đích của PBXH là nhằm thực thi dân chủ, phát huy trí tuệ của toàn xã hội, nhằm làm cho các quyết sách chính trị phản ánh đúng quy luật khách quan, đáp ứng lợi ích của các đối tượng chịu
sự tác động của quyết sách chính trị
Kế thừa kết quả nghiên cứu trên, tác giả luận văn cho rằng: PBXH là hoạt động nhận xét, đánh giá, nêu chính kiến, kiến nghị của xã hội thông qua MTTQ, các đoàn thể chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, các cá nhân tiêu biểu để bày tỏ chính kiến, ý kiến, đối với việc hoạch định và thực thi các quyết sách chính trị của Đảng cầm quyền và của các cơ quan quyền lực Nhà nước nhằm thực thi dân chủ, phát huy trí tuệ của xã hội, làm cho các quyết sách chính trị phản ánh đúng quy luật khách quan, đáp ứng lợi ích của các đối tượng chịu sự tác động của quyết sách chính trị
PBXH là việc MTTQ Việt Nam nhận xét, đánh giá, kiến nghị đối với dự thảo chính sách, pháp luật của Nhà nước; dự thảo các chương trình, dự án,
đề án của cơ quan nhà nước Quá trình thực hiện, giám sát nếu có bất cập thì Mặt trận có thể phản biện với hình thức kiến nghị, đề nghị giải quyết
1.2.2.2 Vai trò, chức năng, mục đích, nội dung, phương thức phản biện
xã hội của Mặt trận tổ quốc Việt Nam
Phản biện xã hội là một vấn đề mới ở Việt Nam, ngày nay khi Việt Nam chuyển sang nền kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế thì hệ quả của nó là sự hình thành xã hội công dân hay nói rõ hơn là một xã hội dân sự, đó là điều kiện
xã hội để hình thành phản biện xã hội khi quyền dân chủ cao hơn, phản biện
Trang 33đưa ra các lập luận, phân tích nhằm phát hiện, chứng minh, khẳng định, bổ sung hoặc bác bỏ một dự thảo chính sách, dự án xã hội đang được xây dựng
* Vai trò phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam: Văn kiện Đại hội X của
Đảng khẳng định “Phát huy vai trò và tạo điều kiện thuận lợi để Mặt trận và các đoàn thể nhân dân tham gia xây dựng đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, thực hiện vai trò giám sát và phản biện xã hội”
MTTQ Việt Nam thực hiện PBXH trên các mặt sau: Những chủ trương, đường lối, chính sách, quyết định lớn của Đảng kể cả đối với công tác tổ chức và cán bộ trước khi ban hành như các dự thảo văn kiện Đại hội Đảng; các nghị quyết chuyên đề; đề án nhân sự Đại hội; dự kiến giới thiệu nhân sự của cấp có thẩm quyền; các dự thảo sửa đổi, bổ sung Hiến pháp, các dự án luật, pháp lệnh, các chương trình phát triển kinh tế- xã hội…Nội dung phản biện phải đáp ứng yêu cầu
về tính khách quan, trung thực, đúng luật pháp Rõ ràng nội dung phản biện bao gồm sự cần thiết; sự phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tính đúng đắn, khoa học, khả thi; đánh giá tác động, hiệu quả về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại của dự thảo văn bản; bảo đảm hài hòa lợi ích của Nhà nước, Nhân dân, tổ chức
PBXH của MTTQ Việt Nam có vai trò quan trọng trong xây dựng chế
độ dân chủ hiện đại, không thể có dân chủ trong một xã hội không có phản biện và ngược lại PBXH là một vấn đề cấp bách cần được các cấp, các ngành chú trọng trong thời gian tới
* Chức năng phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam
Một là: Phản biện xã hội giúp điều tiết xung đột lợi ích giữa các nhóm xã
hội để tạo đồng thuận xã hội Trong quá trình phát triển của mình, xã hội đã tạo
ra một tập hợp nhiều nhóm lợi ích Các nhóm lợi ích có nguy cơ mâu thuẫn về quyền dẫn đến những mâu thuẫn, ức chế xã hội, cao hơn, nó có thể dẫn đến tình trạng căn thẳng xã hội thường trực, thậm chí là tiền đề cho các cuộc khủng
Trang 34hoảng chính trị - xã hội trên diện rộng Sở dĩ có tình trạng như vậy là bởi xã hội
đã thiếu đi một cơ chế đối thoại, PBXH để điều hòa mâu thuẫn, cân đối lợi ích giữa các nhóm liên quan Nếu chúng ta xem xã hội như một chỉnh thể toàn vẹn thì vận động xã hội là quá trình trao đổi giữa các lực lượng xã hội Mâu thuẫn, xung đột xã hội sẽ làm gián đoạn phương thức trao đổi này cho đến khi cơ chế đối thoại xuất hiện PBXH góp phần tái tạo, phục hồi trạng thái cân bằng vốn đã
bị phá vỡ trước đó, mở đường cho trạng thái đồng thuận xã hội xuất hiện Khi một xã hội trở nên đồng thuận, bản thân nó đã tự tạo cho mình những tiền đề phát triển mới Vì đồng thuận xã hội là điều kiện cần để phát triển các nguồn vốn cộng đồng, mở rộng mạng lưới xã hội mà ở đó các thành viên dễ dàng tương tác với nhau nhờ cùng chia sẻ những niềm tin và giá trị chung
Hai là: PBXH góp phần khắc phục những khiếm khuyết trong quá trình
xây dựng các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước nhằm nâng cao chất lượng quản lý xã hội
Hoạt động PBXH được tiến hành khi trước đó đã tồn tại một số vấn đề nhất định trong xây dựng chủ trương, chính sách của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và khiếm khuyết ấy có thể làm cho bản thân chính sách, quyết định đó trở nên không phù hợp, khó áp dụng, thậm chí không khả thi trong thực tế Vì vậy, PBXH thực chất là đưa ra một cách nhìn khác của xã hội đối với chất lượng và tương lai của chính sách sẽ được ban hành dựa trên những
cơ sở khoa học, thực tiễn
Phản biện không có nghĩa là phủ định sạch trơn hay tìm cách thay thế
dự thảo chính sách của cơ quan có thẩm quyền bằng một chính sách khác Ngược lại, nó giúp cơ quan có thẩm quyền xây dựng chính sách nhận ra những hạn chế, thiếu sót hay lỗ hổng của dự thảo, hơn nữa nó còn đề xuất các hướng đi hay giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế ấy Việc này một mặt
nó trực tiếp nâng cao tính hiệu quả của quá trình xây dựng chính sách, mặt
Trang 35khác, từng bước nó làm thay đổi tư duy xây dựng chính sách theo hướng bám sát thực tế đời sống xã hội
Ba là: PBXH góp phần nâng cao trách nhiệm xã hội của cộng đồng,
phát triển ý thức về quyền và nghĩa vụ của người công dân, qua đó từng bước nâng cao dân chủ
Hoạt động phản biện xã hội có tác động không nhỏ trong đời sống, nhất
là trong xã hội hiện đại Với sự bùng nổ thông tin, vai trò tích cực của truyền thông đã giúp đẩy mạnh quá trình xã hội hóa các hoạt động phản biện, thông qua PBXH, cộng đồng dần nắm bắt được những nguyên nhân của hoạt động này, từ đó tác động đến nhu cầu quan tâm, nhận thức vấn đề xã hội đang được đặt ra Bằng cách này hay cách khác, hoạt động phản biện xã hội luôn tiềm ẩn khả năng tạo ra một môi trường tương tác xã hội giữa cộng đồng trí thức (phát hiện và lý giải vấn đề), cộng đồng truyền thông (phổ quát thông tin) và cộng đồng xã hội (hưởng ứng thông tin và hình thành dư luận) Quá trình tương tác
ấy phá vỡ ốc đảo khép kín của đời sống cá thể, kết nối cá thể với cộng đồng lớn bên ngoài, giúp họ hình thành nên tính năng động xã hội Từ đó góp phần nâng cao trách nhiệm xã hội của cộng đồng, phát triển ý thức về quyền và nghĩa vụ của người công dân, qua đó từng bước nâng cao dân chủ
* Mục đích của Phản biện xã hội
Thứ nhất: Có thể coi đó là những biện pháp hữu hiệu nhằm phát huy
một cách có hiệu quả trí tuệ trong các tầng lớp nhân dân thông qua việc xây dựng các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, những chủ trương chính sách, pháp luật này được thông qua phản biện sẽ phù hợp, khả thi hơn trong thực tiễn
Thứ hai: Thông qua phản biện nhằm tăng cường ý thức chính trị của
nhân dân, đưa nhân dân vào đời sống chính trị của đất nước, sự tham gia tích cực của các tầng lớp nhân dân vào các công việc chung của đất nước vừa là thước đo thể hiện mức độ dân chủ trong thể chế nhà nước, vừa là giải pháp để
Trang 36nâng cao hiệu quả quản lý, cho nên, việc tăng cường ý thức chính trị của nhân dân có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển bền vững của đất nước
Thứ ba: Về mặt bản chất PBXH là sự phản hồi của xã hội đối với chủ
trương, chính sách của Đảng, pháp luật và quản lý nhà nước đối với toàn xã hội Thông qua sự phản hồi này, các tầng lớp nhân dân thể hiện việc tham gia, đóng góp xây dựng trí tuệ, kinh nghiệm của mình đối với các hoạt động của Đảng và Nhà nước…
Thứ tư: Trong quá trình phản biện, việc tranh luận, đối thoại với các
tầng lớp nhân dân của cơ quan có thẩm quyền xây dựng chính sách sẽ diễn ra Thông qua quá trình tranh luận này, các chủ thể có thẩm quyền sẽ được rèn luyện những kỹ năng chính trị hiện đại, khắc phục tình trạng né tránh công luận, trì trệ, quan liêu Quá trình phản biện cũng là môi trường tốt giáo dục, rèn luyện việc đưa quần chúng vào các phong trào xã hội theo định hướng của Đảng và Nhà nước Việc tranh luận, tiếp thu, phản hồi trong PBXH được coi
là phẩm chất cần có của người lãnh đạo trong nền chính trị hiện đại, có vai trò rèn luyện bản lĩnh của người làm chính trị, nhờ đó nâng cao năng lực tự phát hiện các khuyết điểm của chính mình để sửa chữa
Hiện nay phản biện xã hội được thừa nhận là một trong những khâu quan trọng trong xây dựng chính sách dựa trên những cơ sở khoa học và có tính thực tiễn cao nhằm mang lại hiệu quả cho hoạt động điều hành, quản lý,
là một trong những biện pháp để mở rộng dân chủ, tạo sự đồng thuận xã hội
* Nội dung, phương thức phản biện xã hội
- Nội dung phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam đối với các dự thảo
về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước tập trung vào sự cần thiết, tính cấp thiết của văn bản dự thảo; sự phù hợp của văn bản dự thảo đối với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; thực tiễn của địa phương, đơn vị; tính đúng đắn, khoa học, phù hợp với thực tiễn đời sống xã hội và tính khả thi của văn bản dự thảo; dự báo tác động, hiệu quả về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh,
Trang 37đối ngoại của văn bản dự thảo Ngoài ra các vấn đề về kỹ thuật, ngôn ngữ soạn thảo… cũng được góp ý tới cơ quan chủ trì dự thảo
- Phương thức PBXH của MTTQ gồm: Động viên nhân dân đóng góp ý kiến PBXH Tổ chức để các Hội đồng tư vấn, các Ban tư vấn và các cộng tác viên là những chuyên gia các lĩnh vực để thực hiện PBXH Tổ chức đối thoại trực tiếp giữa MTTQ Việt Nam với cơ quan, tổ chức có dự thảo văn bản được PBXH Cũng có thể thông qua Báo chí, chương trình phát thanh- truyền hình, các chương trình nghiên cứu, khảo sát do các cơ quan, tổ chức của MTTQ tiến hành…Từ đó tổng hợp ý kiến đóng góp, kiến nghị với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét giải quyết [8, tr.13]
1.2.2.3 Chủ thể, đối tượng phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam
* Chủ thể phản biện xã hội
Theo các quy định hiện hành thì MTTQ Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội (Công đoàn Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Hội LHPN Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh)
là chủ thể đóng vai trò chủ yếu trong PBXH, việc quy định này dựa trên cơ sở MTTQ Việt Nam vừa có tính riêng là một chủ thể vừa có tính chung là bao hàm các tổ chức thành viên của Mặt trận MTTQ Việt Nam có các tổ chức thành viên là các tổ chức có ưu thế về tính xã hội rộng rãi, tổ chức đến từng khu dân cư, cùng với MTTQ Việt Nam các đoàn thể chính trị - xã hội là những chủ thể tiến hành PBXH đối với các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước có liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của đoàn viên, hội viên và các tầng lớp nhân dân Các tổ chức này cũng phối hợp với MTTQ trong quá trình thực hiện PBXH, vì vậy những ý kiến phản biện của loại chủ thể này đối với xã hội cũng mang tầm ảnh hưởng nhất định, nó phản ánh tâm tư, nguyện vọng, quyền lợi của nhiều bộ phận dân cư trong xã hội
Hiểu theo nghĩa rộng, chủ thể tiến hành phản biện rất đa dạng, đó là toàn thể xã hội nói chung Ngoài MTTQ, các đoàn thể chính trị - xã hội, các
tổ chức xã hội, các tầng lớp nhân dân, cá nhân… đặc biệt là vai trò của báo
Trang 38chí, truyền thông, với sự bùng nổ và phát triển của công nghệ thông tin như hiện nay, báo chí, truyền thông đang có những điều kiện thuận lợi để thực hiện tốt hoạt động PBXH Trên thực tế các chủ thể là MTTQ, các đoàn thể chính trị - xã hội cũng sử dụng loại công cụ này để trợ giúp cho hoạt động phản biện của mình, tính chất phản biện của báo chí ngày càng thể hiện rõ nét thông qua hoạt động góp ý kiến, kiến nghị và trở thành một trong những biện pháp quan trọng phản ảnh dư luận của xã hội, cơ quan báo chí sẽ tiếp nhận,
xử lý các phản ánh của đời sống để chuyển đến các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trong quá trình xây dựng các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các dự thảo được đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng để lấy ý kiến của nhân dân sẽ tiếp thu được nhiều ý kiến phản biện
có giá trị Bên cạnh đó, báo chí cũng là kênh thông tin cập nhập một cách nhanh nhạy các chủ trương, chính sách khác của Nhà nước Sự cập nhập này
có ý nghĩa trong việc thông tin cho người đọc vừa là nơi người đọc thể hiện phản biện của mình đối với những vấn đề mang tính thời sự của đất nước
* Đối tượng PBXH của MTTQ Việt Nam: Theo quy định hiện hành, đối
tượng PBXH là các văn bản dự thảo về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật, các quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của nhà nước (trừ những vấn đề thuộc bí mật quốc gia) phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của mình [2, tr.5]
1.3 Các yếu tố tác động đến hiệu quả giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận tổ quốc Việt Nam
1.3.1 Về nhận thức
Có một thực tế cho thấy làm tốt công tác PBXH là tạo được sức mạnh
to lớn cho các phong trào hành động cách mạng PBXH thể hiện quan hệ hợp tác, phối hợp giữa chủ thể phản biện và chủ thể được phản biện trong quá trình thực hiện phản biện, giữa cơ quan Nhà nước với MTTQ, giữa cơ quan
Trang 39quyền lực và tổ chức của nhân dân, do đó, cần có sự thống nhất về nhận thức
và hành động của cấp ủy, chính quyền và xã hội, nhất là trong cán bộ, công chức và nhân dân Các kiến nghị của MTTQ và các tổ chức thành viên của Mặt trận phải được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền tiếp nhận và giải trình đầy
đủ trước khi đề án, dự án được ban hành, thực hiện
Để người dân phát huy được quyền làm chủ, trước hết cấp ủy, chính quyền cần nâng cao ý thức chính trị và pháp luật của nhân dân thông qua tuyên truyền, phổ biến, giáo dục chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhất là các chủ trương, đường lối, chính sách pháp luật về quyền giám sát và PBXH của họ Thường xuyên tổ chức đối thoại trực tiếp giữa người đứng đầu cấp ủy, chính quyền với nhân dân để lắng nghe dân; Trang bị cho nhân dân các thông tin và kiến thức cần thiết để họ có thể tự mình trực tiếp thực hiện quyền giám sát và PBXH
Cán bộ làm công tác Mặt trận cần nghiên cứu nắm chắc nghiệp vụ công tác về giám sát và PBXH Đó là những nội dung của Quyết định 217 của Bộ Chính trị và những quy định của Luật MTTQ Việt Nam về hoạt động giám sát
và PBXH Cụ thể cần phải nắm vững về mục đích, tính chất, nguyên tắc, chủ thể, đối tượng, nội dung, phạm vi, phương pháp, quyền và trách nhiệm trong giám sát và PBXH Đồng thời lựa chọn những nội dung giám sát, PBXH bảo đảm thiết thực, hiệu quả
1.3.2 Về pháp lý
Hoạt động giám sát, phản biện xã hội của MTTQ phải thực hiện đúng quy trình giám sát theo hướng dẫn và gắn với điều kiện cụ thể của địa phương Hằng năm, MTTQ các cấp xây dựng chương trình giám sát và PBXH sát với yêu cầu nhiệm vụ chính trị và thực tiễn địa phương, báo cáo cấp ủy để lãnh đạo, chỉ đạo, thống nhất với chính quyền cùng cấp thực hiện Trên cơ sở
đó, MTTQ chủ động triển khai tổ chức thực hiện và báo cáo kết quả giám sát,
Trang 40PBXH với cấp ủy, HĐND, UBND và MTTQ cấp trên Trong đó, chú trọng việc tăng cường hoạt động giám sát của nhân dân đối với Đảng viên, cán bộ công chức và các tổ chức, cơ quan Đảng và Nhà nước Cần có các điều kiện bảo đảm, các phương án bảo vệ cho các cá nhân mạnh dạn tố cáo hành vi tham nhũng, đi đôi với chế độ khen thưởng kịp thời Tăng cường sự phối hợp, kết hợp giữa hoạt động giám sát của nhân dân, thông qua hoạt động của MTTQ Việt Nam và các tổ chức thành viên cũng như của Ban TTND, với hoạt động thanh tra của Thanh tra nhà nước, hoạt động kiểm tra của Ủy ban kiểm tra từ Đảng cùng cấp, từ đó tạo ra một cơ chế pháp lý bảo đảm cho hoạt động giám sát của nhân dân được tiến hành có hiệu quả trên thực tế
MTTQ và các tổ chức chính trị- xã hội thường xuyên củng cố, kiện toàn, nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức, bộ máy cán bộ, thường xuyên tập huấn, bồi dưỡng kiến thức, chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng về giám sát, PBXH cho đội ngũ cán bộ Hướng dẫn MTTQ cơ sở thực hiện tốt các nội dung đề ra trong năm
Để MTTQ thực hiện tốt hoạt động giám sát và PBXH, cấp ủy, chính quyền cần có sự bảo đảm kinh phí để MTTQ thực hiện tốt các nội dung này, nên có chế độ đãi ngộ phù hợp để khuyến khích cán bộ Mặt trận Các kiến nghị PBXH của MTTQ, các tổ chức thành viên phải được cơ quan tổ chức có thẩm quyền tiếp thu và giải trình đầy đủ trước khi dự án, đề án được ban hành, thực hiện
1.3.3 Về nguồn lực
Ủy ban MTTQ căn cứ vào hướng dẫn, ban hành quy chế hoạt động của Ban tư vấn đồng thời hướng dẫn tổ chức và hoạt động của Ủy ban MTTQ các cấp Thông qua hoạt động của Mặt trận và các tổ chức thành viên, của Ban tư vấn, Mặt trận thường xuyên tổng hợp ý kiến, đề nghị, kiến nghị của cử tri và