[18] Theo Giáo trình kỹ năng về thi hành án dân sự của Học viện Tư pháp viết cưỡng chế THADS là biện pháp cưỡng bức bắt buộc của cơ quan THADS, do Chấp hành viên quyết định theo thẩm qu
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VŨ THỊ PHƯƠNG TÚ
KÊ BIÊN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TRONG THI HÀNH
ÁN DÂN SỰ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY
TỪ THỰC TIỄN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI – 2017
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VŨ THỊ PHƯƠNG TÚ
KÊ BIÊN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TRONG THI HÀNH
ÁN DÂN SỰ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY
TỪ THỰC TIỄN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Luật Kinh Tế
Mã số: 60.38.01.07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS Trần Quang Huy
HÀ NỘI – 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác
Tác giả luận văn
Vũ Thị Phương Tú
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ KÊ BIÊN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY 6
1.1 Khái niệm thi hành án dân sự 6 1.2 Khái niệm kê biên và kê biên quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sự 8 1.3 Khái quát chung lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật về kê biên quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sự ở nước ta 18
Chương 2 ĐÁNH GIÁ THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ KÊ BIÊN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 28
2.1 Thực trạng pháp luật về kê biên quyền sử dụng đất trong Thi hành án dân
sự 28 2.2 Đánh giá thực tiễn thi hành pháp luật về kê viên quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sự tại quận Đống Đa, Hà Nội 41
Chương 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ KÊ BIÊN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THI HÀNH TẠI QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 66
3.1 Những kiến nghị đề xuất nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất để thi hành án dân sự 66 3.2 Những đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sự trên địa bàn quận Đống Đa, thành phố Hà Nội 71
KẾT LUẬN 75 TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Bảng tổng hợp kết quả thi hành án dân sự của Chi cục THADS quận
việc) 43 Bảng 2.2: Bảng tổng hợp kết quả thi hành án dân sự của Chi cục THADS quận
tiền) 44 Bảng 2.3: Bảng tổng hợp việc ra quyết định hoãn, tạm đình chỉ, đình chỉ thi hành án của Chi cục THADS quận Đống Đa, thành phố Hà Nội từ năm 2012 – 2016 và 7 tháng đầu năm 2017 44 Bảng 2.4: Bảng tổng hợp việc ra quyết định về việc chưa có điều kiện thi
– 2016 và 7 tháng đầu năm 2017 45
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Từ sau khủng hoảng kinh tế toàn cầu diễn ra từ năm 2008 tốc độ tăng trưởng kinh tế toàn thế giới có chiều hướng giảm xuống điều này ảnh hưởng không nhỏ đến nền kinh tế nước ta Suy thoái kinh tế thế giới chính phủ ra chính sách thắt lưng buộc bụng nền sản xuất không phát triển, toàn nền kinh
tế rơi vào tình trạng đình trệ thiếu vốn dẫn đến hàng loạt doanh nghiệp, cá nhân lâm vào tình trạng phá sản hoặc tiếp tục cầm chừng không đẩy mạnh đầu tư Do đó việc khơi thông dòng vốn, xử lý nợ xấu đã trở thành một vấn đề bức thiết hơn bao giờ hết Chính vì lẽ đó số lượng các vụ việc tranh chấp dân
sự phải khởi kiện ra tòa án các cấp tăng lên một cách nhanh chóng kéo theo
sự tăng lên của các việc Thi hành án dân sự Để thi hành dứt điểm bản án đã
có hiệu lực pháp luật, cơ quan thi hành án phải áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án, trong các biện pháp đó có biện pháp cưỡng chế kê biên quyền
sử dụng đất nhằm giải quyết dứt điểm bản án có hiệu lực của Tòa án
Kê biên quyền sử dụng đất là biện pháp nghiêm khắc nhất mà Chấp hành viên áp dụng khi tổ chức thi hành án dân sự đòi hỏi rất cao về mặt chuyên môn nghiệp vụ của Chấp hành viên, bản lĩnh nghề nghiệp và đạo đức Chấp hành viên Vì việc tổ chức kê biên quyền sử dụng đất có thuận lợi hay không, an toàn hay không và có ảnh hưởng đến tình hình an ninh, chính trị, trật
tự an toàn xã hội tại địa bản xảy ra việc cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất hay không tùy thuộc vào việc có áp dụng thống nhất nguyên tắc này trên thực tế của Chấp hành viên Mặt khác, việc kê biên quyền sử dụng đất sự phối hợp của các ban ngành các cấp là điều không thể thiếu nếu thiếu một thành phần theo quy định thì việc cưỡng chế kê biên không thể diễn ra đúng luật dẫn đến phải dừng, hoãn buổi kê biên, gây tổn hại rất lớn về kinh tế, tài sản của các bên
Trang 8Hơn nữa trong thực tế diễn ra khi cơ quan thi hành án dân sự tiến hành các biện pháp cưỡng chế thi hành án đặc biệt là cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất thì các quy định pháp luật về việc này còn thiếu, nhiều vướng mắc gây khó khăn khi tiến hành trong thực tế
Vì vậy việc nghiên cứu biện pháp kê biên quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sự có ý nghĩa quan trọng, nhằm nâng cao hiệu quả công tác thi
hành án dân sự Từ những lý do đó tác giả lựa chọn đề tài “Kê biên quyền sử
dụng đất trong thi hành án dân sự theo pháp luật Việt Nam hiện nay từ thực tiễn quận Đống Đa, thành phố Hà Nội” là đề tài nghiên cứu
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Với xu hướng phát triển không ngừng của xã hội và nhu cầu khách quan của công tác thi hành án, trong những năm vừa qua đã có nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực thi hành án nói chung trong đó có liên quan đến vấn đề kê biên quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sự nói riêng Nó được thể hiện trong các công trình nghiên cứu ở nhiều cấp độ, phạm vi khác nhau
như Đề tài: “Thi hành án dân sự, thực trạng và hướng hoàn thiện của Dự án
VIE/98/001” do Bộ Tư pháp chủ trì thực hiện dự án Một số công trình nghiên
cứu khác như Luận văn thạc sĩ luật học: “Các biện pháp cưỡng chế thi hành
án dân sự” của tác giả Phan Huy Hiếu năm 2011, Luận văn thạc sĩ luật học
“Hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự” của tác giả Nguyễn Thanh Thủy;
Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Lê Xuân Hồng về “Xã hội hóa thi hành
án dân sự ở Việt Nam”
Bên cạnh đó là một số bài viết đăng trên các tạp chí như: “Cưỡng chế
kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án” của tác giả Lê Anh Tuấn
trong Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số chuyên đề THADS năm 2010; Bài viết
“Vì sao cưỡng chế thi hành án khó khăn” của tác giả Trần Đại Sỹ trên tạp chí Dân chủ và Pháp luật Số 7/2008; Bài viết “Cưỡng chế thi hành án kê biên, kê
biên khẩn cấp tạm thời, giải toả kê biên” của tác giả Đỗ Văn Thịnh trên tạp
Trang 9chí Dân chủ và Pháp luật Số 12/2010; “Vấn đề cưỡng chế đối với người thứ
ba” của tác giả Bùi Văn Yên và “Cần xử lý triệt để hành vi chiếm lại đất sau cưỡng chế thi hành án” của tác giả Trần Hoàng Đoán trong số chuyên đề về
THADS của Tạp chí dân chủ và pháp luật tháng 5 năm 2012; “Những điểm
mới về cưỡng chế thi hành án dân sự” của tác giả Lê Anh Tuấn trong Tạp chí
Dân chủ và Pháp luật số chuyên đề Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật THADS tháng 5 năm 2015
Mỗi công trình nghiên cứu ở những góc độ, khía cạnh và mức độ khác nhau Tuy nhiên tất cả đều có một điểm chung là hướng đến hoàn thiện pháp luật thi hành án nói chung nhằm nâng cao hiệu quả chung trong công tác thi hành án dân sự ở nước ta trong giai đoạn hiện nay Dựa trên những ý tưởng gợi mở từ các công trình nêu trên, luận văn được xem như là một công trình nghiên cứu độc lập và có tính hệ thống về kê biên quyền sử dụng đất trong thi hành án án dân sự theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là làm rõ một số vấn đề lý luận về
kê biên quyền sử dụng đất; các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về
kê biên quyền sử dụng đất và thực tế việc thực hiện biện pháp cưỡng chế này trên địa bàn quận Đống Đa Qua việc nghiên cứu nêu ra những hạn chế, bất cập trong các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về kê biên quyền sử dụng đất và thực tế việc thực hiện kê biên quyền sử dụng đất trên địa bàn quận Đống Đa từ đó tìm ra nguyên nhân và giải pháp khắc phục để góp phần nâng cao hiệu quả công tác kê biên quyền sử dụng đất
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
Đối tượng nghiên cứu đề tài là những vấn đề lý luận về kê biên quyền
sử dụng đất, các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về kê biên quyền
sử dụng đất Bên cạnh đó, tác giả còn đề cập đến thực tiễn áp dụng pháp luật
về kê biên quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sự, đánh giá thực trạng kê
Trang 10biên Từ đó rút ra những giải pháp thiết thực để hoàn thiện pháp luật về kê biên quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sự, góp phần nâng cao hiệu quả chung trong công tác thi hành án dân sự trong điều kiện mới của nước ta ngày nay
Về thời gian: Luận văn tập trung nghiên cứu hoạt động kê biên quyền
sử dụng đất trong thi hành án dân sự cũng như áp dụng pháp luật trong khoảng thời gian từ năm 2014 đến nay
Về không gian: Luận văn nghiên cứu hoạt động và áp dụng pháp luật
về kê biên quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất để thi hành án dân sự trên phạm vi quận Đống Đa, thành phố Hà Nội
Đề tài có nội dung nghiên cứu rộng, tuy nhiên do giới hạn của luận văn thạc sỹ việc nghiên cứu đề tài chỉ tập trung vào một số vấn đề lý luận cơ bản
về kê biên quyền sử dụng đất như khái niệm, đặc điểm kê biên quyền sử dụng đất, ý nghĩa kê biên quyền sử dụng đất; các quy định của Luật THADS về kê biên quyền sử dụng đất và thực tiễn thực hiện biện pháp này trong những năm gần đây trên địa bàn quận Đống Đa
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được hoàn thành trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lê Nin, quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật; quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam
về cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Ngoài ra luận văn còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu kinh tế phổ biến để làm sáng tỏ mục tiêu và nội dung nghiên cứu của đề tài như:
Phương pháp trừu tượng hoá khoa học và phương pháp phân tích hệ thống: việc nghiên cứu hoạt động kê biên quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sự được thực hiện một cách đồng bộ, gắn với từng giai đoạn, từng hoàn cảnh lịch sử cụ thể của đất nước về điều kiện phát triển kinh tế
Phương pháp thống kê, thu thập thông tin định lượng: luận văn đã sử dụng các số liệu tài liệu thống kê thích hợp để phục vụ cho việc phân tích,
Trang 11đánh giá toàn diện thực trạng áp dụng pháp luật về kê biên quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sự trên địa bàn quận Đống Đa, thành phố Hà Nội trong
3 năm vừa qua
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn có một số đóng góp mới như sau:
- Phân tích làm rõ nội dung các quy định của pháp luật thi hành án dân
sự Việt Nam hiện hành về kê biên quyền sử dụng đất
- Góp phần đánh giá đầy đủ, khách quan về thực trạng pháp luật và hiệu quả áp dụng pháp luật về kê biên quyền sử dụng đất ở Việt Nam hiện nay
- Đánh giá đúng thực trạng các quy định của pháp luật THADS Việt Nam hiện hành về kê biên quyền sử dụng đất và thực tiễn thực hiện trên địa bàn quận Đống Đa, thành phố Hà Nội
- Đề xuất những giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện và thực hiện các quy định của pháp luật THADS Việt Nam về kê biên quyền sử dụng đất
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có kết cấu 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về kê biên quyền sử dụng đất trong thi hành
án dân sự theo pháp luật Việt Nam hiện nay
Chương 2: Đánh giá thực tiễn thi hành pháp luật về kê biên quyền sử
dụng đất trong thi hành án dân sự trên địa bàn quận Đống Đa, thành phố Hà Nội
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật về kê biên quyền sử dụng
đất trong thi hành án dân sự và nâng cao hiệu quả thi hành án tại quận Đống Đa,
thành phố Hà Nội
Trang 12Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ KÊ BIÊN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY 1.1 Khái niệm thi hành án dân sự
Theo đại từ điên tiếng Việt, thi hành là “Thực hiện điều đã chính thức quyết định”[14] Như vậy, thi hành án có thể được hiểu là thực hiện bản án, quyết định của Tòa án trên thực tế Bản án quyết định của Tòa án được hiểu là văn bản pháp lý của Tòa án nhân danh Nhà nước tuyên tại phiên tòa, giải quyết về các vấn đề trong vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh tế, hành chính Việc thực hiện bản án, quyết định của Tòa án có hiệu quả, một mặt đảm bảo thực hiện quyền tư pháp của Nhà nước, thể hiện
sự tôn trọng của xã hội và công dân đối với phán quyết của cơ quan nhân danh Nhà nước là Tòa án, mặt khác nó là biện pháp hữu hiệu để khôi phục các quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức và công dân bị xâm hại Thi hành án là hoạt động tư pháp bởi những lý do sau:
Thi hành án là giai đoạn diễn ra ngay sau giai đoạn xét xử và các bản
án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án là cơ sở để tiến hành hoạt động thi hành án Song không thể nói đây là cơ sở pháp lý duy nhất, mà mới chỉ là điều kiện cần Để tiến hành hoạt động thi hành án có hiệu quả, phải có các điều kiện đủ là có cơ quan thi hành án, các nguyên tắc, trình tự, thủ tục thi hành án được quy định cụ thể trong pháp luật thi hành án Cho nên, hoạt động thi hành án không chịu sự điều chỉnh của pháp luật tố tụng mà chịu sự điều chỉnh của pháp luật thi hành án
Thi hành án không mang tính chất hành chính, bởi hành chính là hoạt động chấp hành, điều hành, các quyết định hành chính được đưa ra trên cơ sở mệnh lệnh có tính bắt buộc thi hành của cấp trên đối với cấp dưới Hoạt động của cơ quan hành chính chủ yếu xoay quanh người đứng đầu là Thủ trưởng cơ
Trang 13quan hành chính, trong khi đó thi hành án là hoạt động tư pháp có những điểm khác cơ bản
Từ sự phân tích ở trên, có thể đưa ra khái niệm thi hành án như sau: Thi
hành án là hoạt động tư pháp do cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền tiến hành theo trình tự, thủ tục do pháp luật qui định để đưa bản án, quyết định của Tòa án hoặc các quyết định khác theo qui định của pháp luật, được thực hiện trên thực tế, nhằm bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của các công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa
Thi hành án dân sự là giai đoạn kết thúc của tố tụng dân sự mà trong đó
cơ quan thi hành án đưa các bản án, quyết định đã có hiệu lực thi hành ra thi hành nhằm bảo vệ quyền lợi của cá nhân, cơ quan, tổ chức Bản chất của thi hành án dân sự là thi hành các quyết định của Tòa án tuyên trong bản án, quyết định mà không giải quyết lại nội dung vụ án và là giai đoạn bảo vệ quyền lợi cho các đương sự về mặt thực tế Thi hành án dân sự có ý nghĩa vô cùng quan trọng đó là bảo đảm bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực thực
tế trong cuộc sống, bảo đảm quyền lợi của đương sự bên cạnh đó thông qua việc thi hành án, Cơ quan thi hành án phát hiện sai sót của Tòa án trong việc
áp dụng pháp luật từ đó kiến nghị Tòa án có thẩm quyền kịp thời chỉ đạo công tác xét xử, hướng dẫn áp dụng pháp luật và kiến nghị trong việc lập pháp
Dưới góc độ lý luận, xung quanh khái niệm "dân sự" trong thi hành án dân sự hiện nay được hiểu là những bản án, quyết định liên quan đến quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động Phạm vi của thi hành án dân sự phải được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm: bản án, quyết định về dân sự, kinh tế, lao động, hôn nhân và gia đình; quyết định về tài sản trong bản án, quyết định hình sự (phạt tiền, tịch thu tài sản, án phí); quyết định về tài sản và quyền tài sản trong bản án, quyết định hành chính; bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của trọng tài nước ngoài được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành ở Việt Nam Điều này cũng
Trang 14hoàn toàn phù hợp với pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới: việc tổ chức thi hành các bản án có nguồn gốc pháp luật về nội dung là luật tư (Luật dân
sự, kinh doanh, thương mại, lao động), được thực hiện theo một thủ tục chung
mà không có sự tách bạch căn bản việc thi hành án dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh tế, thương mại hay lao động
Các bản án, quyết định được thi hành án không chỉ là các bản án, quyết định được ban hành bởi tòa án, của hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh và của trọng tài thương mại trong nước mà còn là những phán quyết được ban hành bởi Tòa án nước ngoài và quyết định của Trọng tài nước ngoài nhưng được tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành trên lãnh thổ Việt Nam Tóm lại,
thi hành án dân sự là việc tổ chức thi hành những bản án, quyết định về phần dân sự của các cơ quan có thẩm quyền được thực hiện bởi cơ quan thi hành
án dân sự theo trình tự thủ tục chặt chẽ theo qui định của pháp luật về thi hành án dân sự, nhằm đảm bảo quyền và lơi ích hợp pháp theo các quyết định trong các bản án, quyết định đã tuyên
1.2 Khái niệm kê biên và kê biên quyền sử dụng đất trong thi hành
án dân sự
1.2.1 Khái niệm kê biên
Cưỡng chế là một tính chất cơ bản của pháp luật Tính chất cưỡng chế làm cho pháp luật khác với đạo đức và phong tục Theo Lênin thì pháp luật sẽ không còn là gì nữa "nếu không có một bộ máy có đủ sức cưỡng bức người ta tuân theo những tiêu chuẩn của pháp quyền thì pháp quyền có cũng như không" Các quy tắc đạo đức, phong tục được con người tuân thủ, chủ yếu nhờ vào sự tự giác, lòng tin, trình độ hiểu biết và lên án của xã hội; còn quy phạm pháp luật được Nhà nước bảo đảm thi hành, nếu ai không chấp hành thì Nhà nước cưỡng chế thi hành
Sự cưỡng chế của pháp luật không phải đơn thuần nhằm mục đích trừng trị mà trước hết là răn đe, ngăn chặn những hành vi vi phạm pháp luật,
Trang 15giáo dục người vi phạm Sự cưỡng chế ở đây được thực hiện trên cơ sở pháp luật, trong khuôn khổ pháp luật, do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tiến hành Nhà nước XHCN không thừa nhận các hành vi bạo lực trái với pháp luật trong việc xử lý các vi phạm pháp luật
Tính chất cưỡng chế của pháp luật không chỉ là răng đe, ngăn chặn, trừng trị, mà còn là sự giáo dục sâu sắc đối với các chủ thể pháp luật Bản thân quy phạm pháp luật là chuẩn mực để con người rèn luyện ý thức công dân, hình thành ý thức pháp luật, tạo ra cho mỗi công dân một khả năng tư duy pháp lý, tránh được những ngẫu nhiên, tùy tiện, coi thường pháp luật Nhà nước
Tựu chung lại cưỡng chế được hiểu là Nhà nước dùng quyền lực của mình buộc cá nhân, cơ quan, tổ chức phải thực hiện một hành vi hoặc nghĩa
vụ nhất định, theo quy định của pháp luật hoặc là quyền lực xã hội buộc mọi người phải tuân theo luật, lệ đã đặt ra
Cưỡng chế gắn liền với hoạt động quản lý nhà nước và là một trong những phương pháp chủ yếu trong hoạt động quản lý nhà nước Trong nhà nước Pháp quyền, việc cưỡng chế nhằm mục đích thi hành pháp luật của nhà nước, duy trì trật tự xã hội [9,tr.194] Nhà nước thực hiện cưỡng chế thông qua nhiều biện pháp cưỡng chế, những biện pháp cưỡng chế này được Nhà nước trao quyền cho các cơ quan nhà nước khác nhau thực hiện như: cưỡng chế hành chính, cưỡng chế trong hoạt động tố tụng của cơ quan điều tra và cơ quan tòa án và cưỡng chế thi hành án
Trong hoạt động quản lý hành chính và xử lý vi phạm hành chính, cưỡng chế hành chính được UBND và các cơ quan hành chính thực hiện như: cưỡng chế hành chính đối với những đối tượng chống đối không di dời tài sản
để giải phóng mặt bằng phục vụ cho quốc phòng hoặc các cá nhân, cơ quan,
tổ chức vi phạm hành chính thì các cơ quan có thẩm quyền được áp dụng các biện pháp cưỡng chế được quy định tại Khoản 2 Điều 86 Luật xử lý vi phạm hành chính như kê biên tài sản, khấu trừ tài khoản của cá nhân, tổ chức [19]
Trang 16Các biện pháp cưỡng chế của cơ quan điều tra được trao quyền cho thủ trưởng cơ quan điều tra thực hiện được quy định tại Khoản 2 Điều 34 Bộ luật
tố tụng hình sự như: quyết định truy nã bị can, khám xét, thu giữ, kê biên tài sản [15] Trong hoạt động tố tụng cơ quan tòa án cũng được Nhà nước trao quyền được áp dụng các biện pháp cưỡng chế được quy định tại Điều 102 Bộ luật tố tụng dân sự về các biện pháp khẩn cấp tạm thời như: kê biên tài sản tranh chấp, phong tỏa tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác [17] Ngoài ra cơ quan THADS cũng được Nhà nước trao quyền được áp dụng các biện pháp cưỡng chế trong THADS được quy định tại Điều 71 Luật THADS trong đó có biện pháp kê biên, xử lý tài sản … [18]
Theo Giáo trình kỹ năng về thi hành án dân sự của Học viện Tư pháp
viết cưỡng chế THADS là biện pháp cưỡng bức bắt buộc của cơ quan
THADS, do Chấp hành viên quyết định theo thẩm quyền nhằm buộc người phải thi hành án phải thực hiện những hành vi hoặc nghĩa vụ về tài sản theo bản án, quyết định Cưỡng chế thi hành án được áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành
án, hoặc trong trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc chốn tránh viện thi hành án.[9, tr.215]
Điều kiện áp dụng biện pháp cưỡng chế: Để áp dụng được biện pháp cưỡng chế thi hành án, cần phải hội đủ các điều kiện sau đây: Người phải thi hành án phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản hoặc phải thực hiện hành vi theo bản án, quyết định của Tòa án, quyết định của Trọng tài, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh; Người phải thi hành
án có điều kiện thi hành án nhưng không tự nguyện thi hành án Cho thấy, biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự chỉ được áp dụng khi người phải thi hành án có nghĩa vụ và hành vi phải thực hiện theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền, nhất là có thái độ và hành vi không tự nguyện thi hành án khi người phải thi hành án có điều kiện thi hành án Theo khoản 6, Điều 3 Luật
Trang 17THADS năm 2008, có điều kiện thi hành án là trường hợp người phải thi hành án có tài sản, thu nhập để thi hành nghĩa vụ về tài sản; tự mình hoặc thông qua người khác thực hiện nghĩa vụ thi hành án
Công tác THADS chỉ là một bộ phận của thi hành án nói chung Ở nước ta hiện nay được phân ra làm hai bộ phận, thi hành án hình sự và THADS Thi hành án hình sự được Chính phủ giao cho Bộ công an quản lý, công tác THADS được Chính phủ giao cho Bộ Tư pháp quản lý Việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án hình sự hà khắc hơn biện pháp cưỡng chế THADS Sự khác biệt giữa thi hành án hình sự và THADS được thể hiện
ở căn cứ và tính chất của cưỡng chế thi hành án Nếu như căn cứ cưỡng chế thi hành án hình sự là phần hình phạt được tuyên trong quyết định của bản án hình sự đó là hình phạt tù có thời hạn, tù chung thân và hình phạt tử hình Thì căn cứ cưỡng chế trong thi hành án dân sự lại là: Theo Điều 70 Luật THADS năm 2008, căn cứ tổ chức cưỡng chế gồm có: bản án quyết định, quyết định thi hành án, quyết định cưỡng chế thi hành án, trừ trường hợp bản, quyết định
đã tuyên kê biên, phong tỏa tài sản, tài khoản và trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án Về tính chất cưỡng chế hình sự có hiệu lực thi hành án ngay sau khi bản án hình sự có hiệu lực pháp luật, tòa án có thẩm quyền ra quyết định thi hành án hình sự đối với người phải thi hành án, họ không có thời gian tự nguyện thi hành án Ngay sau có quyết định thi hành án, người phải thi hành án hình sự phải chấp hành ngay tức khắc, nếu không cơ quan công an tiến hành cưỡng chế bằng việc bắt hoặc dẫn giải người phải thi hành án đến các trại giam để thi hành án Nhưng đối với việc cưỡng chế THADS chỉ đặt ra khi đương sự có đơn yêu cầu thi hành
án, cơ quan THADS ra quyết định thi hành án, giao cho Chấp hành viên thực hiện, Chấp hành viên chỉ được áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với người phải thi hành án sau khi đã hết thời hạn tự nguyện thi hành án ( theo khoản 1 điều 45 Luật thi hành án dân sự 2008 sửa đổi bổ sung năm 2014 là 10 ngày)
Trang 18trừ trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc trốn tránh nghĩa vụ thi hành án Ngoài ra, cơ quan thi hành
án dân sự không không tổ chức cưỡng chế thi hành án có huy động lực lượng trong thời gian 15 ngày trước và sau tết Nguyên đán; các ngày truyền thống đối với các đối tượng chính sách, nếu họ là người phải thi hành án
Theo từ điển từ và ngữ Việt Nam, “Kê” nghĩa là tính toán, còn “biên”
có nghĩa là ghi chép lại theo một trật tự nhất định[12] Vậy kê biên có nghĩa
là tính toán và ghi chép lại theo một trật tự nhất định Thuật ngữ kê biên tài sản được ghi nhận trong nhiều văn bản pháp lý của nước ta như Pháp lệnh thi hành án dân sự 1993, 2004, Luật thi hành án dân sự 2008 được sửa đổi bổ sung năm 2014… Do đó, có thể thấy rằng đây là một thuật ngữ pháp lý được
sử dụng nhiều trong pháp luật tố tụng dân sự Trong từ điển pháp lý thông
dụng có định nghĩa kê biên tài sản như sau: “Kê biên tài sản là việc ghi lại
từng tài sản, cấm việc tẩu tán, phá hủy, để đảm bảo cho việc xét xử và thi hành án”[13] Như vậy, kê biên tài sản là một thuật ngữ pháp lý chỉ việc tính
toán và ghi chép lại tài sản theo một trật tự nhất định nhằm mục đích cụ thể
1.2.2 Kê biên quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sự
Quyền sử dụng đất: Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là một loại tư liệu sản xuất đặc biệt quan trọng đối với con người Ở Việt Nam, khi nói đến quyền sở hữu đất đai, chúng ta thấy với tư cách chủ sở hữu, nhà nước có đầy đủ quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đất đai Trong các quyền năng đó, quyền sử dụng là quyền có ý nghĩa thực tế lớn nhất, trực tiếp đem lại lợi ích cho chủ sở hữu Nhưng Nhà nước không trực tiếp sử dụng mà giao cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư sử dụng để khai thác lợi ích từ đất dưới các hình thức giao đất, cho thuê và bảo hộ việc nhận chuyển quyền sử dụng đất giữa người sử dụng với nhau
Như vậy, quyền sử dụng đất trước hiết được hiểu là một quyền tự nhiên, khi con người chiếm hữu đất đai thì họ sẽ thực hiện hành vi sử dụng
Trang 19đất mà cụ thể là khai thác tính năng sử dụng đất mà không quan tâm đến hình thức sở hữu của nó Thông qua hành vi sử dụng đất mà con người có thể thỏa mãn những nhu cầu của minh trong cuộc sống cũng như tạo ra của cải cho xã hội Ngoài ra, quyền sử dụng đất được xem như một quyền năng pháp lý tức quyền năng này được pháp luật ghi nhận và bảo vệ Quyền sử dụng đất là một loại quyền đặc trưng của người sử dụng đất, nó được phái sinh từ quyền sở hữu toàn dân về đất đai Đây là loại quyền phát sinh trên cơ sở kết hợp một cách đặc thù quyền tài sản của chủ sở hữu với yếu tố quyền lực nhà nước Yếu tố quyền lực nhà nước được thể hiện ở chỗ Nhà nước ban hành các quy định pháp luật một cách chặt chẽ về hình thưc, thủ tục, điều kiện, quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ sử dụng đất đai
Quyền sử dụng đất là một trong loại tài sản có thể bị cưỡng chế kê biên đảm bảo thi hành các bản án, quyết định theo quy định của pháp luật Kê biên quyền sử dụng dất để thi hành án dân sự là biện pháp cưỡng chế với người phải thi hành án sau khi đã hết thời gian tự nguyện thi hành án, do chấp hành viên tiến hành tính toán và ghi chép lại những quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của người phải thi hành án theo một trật tự nhất định theo quy định pháp luật nhằm đảm bảo thi hành các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật
Kê biên quyền sử dụng đất để thi hành án dân sự là một trong những biện pháp khó khăn và phức tạp nhất trong các biện pháp cưỡng chế hiện nay, đặc biệt là thực hiện kê biên đối với người phải thi hành án là cá nhân Bởi vì như chúng ta đã biết đất đai là những tài sản lớn và vô cùng quan trọng của mỗi người, đó là nơi sinh hoạt, sản xuất của mỗi gia đình hay là nơi thiêng liêng, nơi có mộ phần ông bà, cha mẹ của người phải thi hành và cũng là nơi
mà nhiều thế hệ ông bà, cha mẹ họ đã sống nơi đó Nên việc cưỡng chế, tước
đi quyền năng của họ đối với tài sản này, buộc họ phải rời bỏ mảnh đất đó thì
có sự chây ỳ không muốn thưc hiện, thậm chí là kháng cự, chống đối là điều không tránh khỏi
Trang 20Chính vì vậy, khi áp dụng biên pháp này phải đáp ứng đủ các điều kiện như: Theo bản án, quyết định của tòa án, người phải thi hành án phải có nghĩa
vụ trả tiền cho người phải thi hành án; người phải thi hành án phải có tài sản
để thi hành nghĩa vụ trả tiền cho người được thi hành án Tài sản bị kê biên có thể là tài sản thuộc sử hữu chung, sở hữu riêng của người phải thi hành án, tài sản này có thể do người phải thi hành án hoặc do người thứ ba quản lý, sử dụng; đã hết thời gian tự nguyện do Chấp hành viên ấn định nhưng người phải thi hành án không tự nguyện thi hành án hoặc chưa hết thời gian tự nguyện, nhưng cần phải ngăn chặn việc tẩu tán, hủy hoại tài sản [30, tr.211] Ngoài ra kê biên QSDĐ cần phải lưu ý một số điểm được quy định tại Mục 8 Luật THADS[25] như:
- Trước khi kê biên QSDĐ phải thông báo với Phòng đăng ký QSDĐ biết Đồng thời Chấp hành viên yêu cầu Phòng đăng ký QSDĐ cung cấp thông tin về QSDĐ bị kê biên để làm cơ sở xử lý theo quy định của pháp luật
- Chấp hành viên chỉ được kê biên QSDĐ của người phải thi hành án thuộc trường hợp được chuyển quyền sử dụng theo quy định của pháp về đất đai
- Khi kê biên QSDĐ, Chấp hành viên yêu cầu người phải thi hành án, người đang quản lý giấy tờ về QSDĐ phải nộp các giấy tờ đó cho cơ quan THADS
- Trường hợp kê biên QSDĐ có tài sản gắn liền với đất thuộc quyền sở hữu của người phải thi hành án thì Chấp hành viên kê biên cả QSDĐ và tài sản gắn liền với đất Trường hợp tài sản gắn liền với đất không thuộc quyền
sở hữu của người phải thi hành án thì Chấp hành viên chỉ kê biên QSDĐ và thông báo cho người có tài sản gắn liền với đất biết để tháo dỡ, di rời
Kê biên QSDĐ là một trong nhiều biện pháp kê biên tài sản của người phải thi hành án trong THADS như: kê biên hoa lợi, kê biên phương tiện giao thông, kê biên vốn góp, kê biên tài sản là đồ vật đang bị khóa hay đóng gói Tuy nhiên kê biên QSDĐ hiện nay là một trong những biện pháp kê biên
Trang 21thực hiện phổ biến, nhưng khó khăn và phức tạp nhất trong các biện pháp kê biên, cưỡng chế THADS
Tóm lại: Kê biên QSDĐ là một biện pháp cưỡng chế THADS, do Chấp hành viên thực hiện quyền lực Nhà nước để kê biên QSDĐ của người phải thi hành án buộc người phải thi hành án phải thực hiện nghĩa vụ về tiền theo bản án, quyết định của tòa án, trong trường hợp người phải thi hành án có điều kiện thi hành án nhưng không tự nguyện thi hành án
1.2.3 Đặc điểm và ý nghĩa của kê biên QSDĐ trong Thi hành án dân sự
Đặc điểm của kê biên QSDĐ trong Thi hành án dân sự:
Mang tính quyền lực của Nhà nước, người áp dụng biện pháp kê biên là người được Nhà nước trao quyền thực hiện quyền lực của Nhà nước nhằm đảm bảo các bản án, quyết định của tòa án và các quyết định khác theo quy định của pháp luật đã có hiệu lực pháp luật được thi hành trên thực tế Quyền lực Nhà nước còn thể hiện ở khía cạnh chỉ có cơ quan thi hành án mới có quyền cưỡng chế kê biên và xử lý QSDĐ Nhà nước không trao quyền này cho bất kỳ một cơ quan, tổ chức nào kể cả các văn phòng thừa phát lại cũng không được ra quyết định cưỡng chế kê biên QSDĐ, quyền này thuộc về Cục trưởng Cục THADS tỉnh xem xét phê duyệt kế hoạch và ra quyết định cưỡng chế thi hành án trên cơ sở đề nghị của Văn phòng Thừa phát lại trên địa bàn [5] Tóm lại kê biên cưỡng chế QSDĐ mang tính quyền lực Nhà nước rõ rệt Nhà nước giao quyền thực hiện các biện pháp cưỡng chế nhằm bảo đảm thi hành bản án, quyết định của tòa án có hiệu lực pháp luật trao cho Chấp hành viên thực hiện
Kê biên quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sự là một trong những biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự có tính nghiêm khắc nhất trong các biện pháp cưỡng chế Theo đó, khi bị kê biên, QSDĐ của người sử dụng đất
bị đặt vào tình trạng bị hạn chế giao dịch Khi Chấp hành viên ban hành quyết định cưỡng chế kê biên QSDĐ, thì kể từ thời điểm này người phải thi hành án
Trang 22không được tự mình chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp, tặng cho, góp vốn và thừa kế QSDĐ, nếu người phải thi hành muốn thực hiện các quyền trên phải thông qua Chấp hành viên phụ trách vụ việc và phải được sự cho phép của Chấp hành viên, đồng thời phải làm theo những điều kiện theo quy định của pháp luật THADS Việc hạn chế một số quyền này chấm dứt khi người phải thi hành án hoàn thành nghĩa vụ tài sản của mình đối với người được thi hành án, bằng quyết định giải tỏa kê biên QSDĐ của Chấp hành viên, đến thời điểm này QSDĐ của người phải thi hành án mới không bị hạn chế giao dịch
Đối tượng kê biên là một loại tài sản đặc biệt
Kê biên quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sự là một quá trình gồm nhiều thủ tục pháp lý liên quan chặt chẽ với nhau Các trình tự thủ tục thực hiện đòi hỏi Chấp hành viên phải thực hiện các thủ tục chặt chẽ từ khi nhận hồ sơ thi hành án, lập hồ sơ thi hành án, xác minh điều kiện thi hành án, thông báo thi hành án, ra quyết định cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất, định giá quyền sử dụng đất, bán đấu giá quyền sử dụng đất, giao quyền sử dụng đất đến thanh toán tiền bán đấu giá đều phải theo một trình tự chặt chẽ
do Luật THADS và các văn bản dưới luật điều chỉnh Ngoài ra Chấp hành viên còn phải tuân thủ theo các văn bản pháp luật liên quan đến thi hành án đó
là Bộ luật dân sự, Bộ luật tố tụng dân sự, Luật đất đai, Luật hôn nhân gia đình Như vậy Chấp hành viên kê biên quyền sử dụng đất phải thực hiện theo trình tự chặt chẽ do pháp luật quy định
Kê biên quyền sử dụng đất là một hoạt động rất nhạy cảm, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người phải thi hành án Nếu thủ tục ban đầu không được thực hiện một cách đầy đủ và đúng pháp luật, thì khi có khiếu nại phát sinh, cơ quan thi hành án không có cơ sở bác khiếu nại của đương sự, người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, buộc phải công nhận khiếu nại là đúng thì cả
Trang 23một quá trình thi hành án sẽ bị ngưng trệ, thậm chí phải làm lại từ đầu, gây tốn kém về thời gian và tiền bạc của Nhà nước
Ý nghĩa của kê biên quyền sử dụng đất trong Thi hành án dân sự
Thứ nhất, kê biên quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sự góp phần
củng cố và thi hành triệt để kết quả của công tác xét xử trước đó
Quyền sử dụng đất là tài sản có giá trị lớn, vì vậy khi Chấp hành viên thực hiện biện pháp cưỡng chế này phần lớn thi hành triệt để bản án, quyết định của tòa án có nghĩa vụ tài sản có giá trị lớn mà các biện pháp cưỡng chế khác không mang lại hiệu quả như biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập của người phải thi hành án, kê biên tài sản có giá trị không lớn, Thu tiền từ hoạt động kinh doanh của người phải thi hành án … Mặt khác đối với người phải thi hành án, phải thi hành nhiều bản án, quyết định của tòa án, do đó họ phải thực hiện nhiều nghĩa vụ về trả tiền thì việc xử lý QSDĐ sẽ bảo đảm thi hành triệt để không những một bản án, quyết định mà còn thi hành triệt để nhiều bản án, quyết định của Tòa án
Thứ hai, kê biên quyền sử dụng đất còn có tác dụng lớn trong việc răn
đe, giáo dục ý thức pháp luật cho mọi công dân
Kê biên quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sự không chỉ là hoạt động nghiệp vụ của riêng cơ quan thi hành án dân sự mà đó là sự kết hợp với vai trò và trách nhiệm của các cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương là sự phối hợp chặt chẽ với cơ quan, tổ chức hữu quan và mỗi thành viên trong cộng đồng xã hội Vì vậy thông qua buổi cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất nhằm răn đe những đối tượng trây ỳ, chống đối không thực hiện nghĩa vụ của mình Mặt khác thông qua buổi cưỡng chế nhằm giáo dục ý thức pháp luật cho mỗi công dân hiểu biết thêm pháp luật về THADS để họ tự điều chỉnh hành vi của mình trong những trường hợp tương tự
Trang 241.3 Khái quát chung lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật
về kê biên quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sự ở nước ta
Trong những năm qua, cùng với sự phát triển chung của đất nước, hệ thống pháp luật Việt Nam từng bước được củng cố và hoàn thiện, góp phần
ổn định kỷ cương, tăng cường pháp chế XHCN, tạo được niềm tin sâu rộng trong quần chúng nhân dân đối với Đảng và Nhà nước Trong đó, vai trò của
hệ thống pháp luật về Thi hành án dân sự nói chung, các qui định về kê biên quyền sử dụng đất để thi hành án dân sự nói riêng cũng đóng góp một phần quan trọng trong tiến trình hoàn thiện hệ thống pháp luật nước nhà Quá trình hình thành và phát triển pháp luật về kê biên quyền sử dụng đất để thi hành án dân sự nước qua đã trải qua các giai đoạn như sau:
1.3.1 Giai đoạn từ sau cách mạng tháng 8 năm 1945 đến năm 1989
Năm 1946 Sắc lệnh số 13 ngày 24/01/1946 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hoà về Cách tổ chức các toà án và các ngạch thẩm phán trong nước Việt Nam dân chủ cộng hoà được ban hành, theo đó
Ban tư pháp xã, phường có quyền “hoà giải tất cả các việc dân sự và thương
sự…, phạt các việc vi cảnh…, thi hành các mệnh lệnh của thẩm phán cấp trên”[7] Ở miền Nam, hoạt động thi hành án nói chung đều do Thừa phát lại
đảm nhiệm Thừa phát lại do Tổng trưởng Bộ Tư pháp của chế độ Việt Nam cộng hoà bổ nhiệm, thực hiện nhiệm vụ thi hành án trong phạm vi quản hạt của Toà sơ thẩm mà Thừa phát lại có trụ sở Đây là văn bản pháp lý đầu tiên cho công tác tổ chức thi hành án dân sự ở nước ta.Đến 1949 Thông tư số 24-
BK ngày 26/4/1949 cũng được ban hành, thông tư đã xác định trách nhiệm thi hành án của Thừa phát lại, Ban Tư pháp xã và nhấn mạnh vai trò của Uỷ ban nhân dân xã và các cơ quan có liên quan trong việc hỗ trợ thi hành án Rõ ràng Nhà nước không chỉ tôn trọng quyền tự định đoạt của các đương sự trong giao lưu dân sự, thương mại và tố tụng mà còn đảm bảo quyền tự định
Trang 25đoạt của đương sự trong việc bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình bằng sự cưỡng chế của Nhà nước
Năm 1950 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành Sắc lệnh số 85/SL ngày
22/5/1950 quy định “thẩm phán huyện dưới sự kiểm sát của biện lý có nhiệm
vụ đem chấp hành các án hình về khoản bồi thường hay bồi hoàn và các án
hộ, mà chính toà án huyện hay toà án trên đã tuyên” [8] Như vậy, theo quy
định này, việc thi hành án dân sự do Thừa phát lại và Ban Tư pháp xã thực hiện trước đây đã được chuyển giao cho thẩm phán huyện, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Chánh án Đó là sự thay đổi trong cơ chế thi hành án, từ cơ chế theo yêu cầu của bên được thi hành án sang cơ chế toà án chủ động thi hành
án Nhà Nước thực thi trách nhiệm thi hành án thông qua việc Toà án chủ động thi hành án dân sự mà không cần chờ đến yêu cầu của các đương sự
Năm 1960 Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 1960 được ban hành
Trong đó quy định: “tại các Toà án nhân dân địa phương có nhân viên chấp
hành án làm nhiệm vụ thi hành những bản án và quyết định về dân sự, những khoản về bồi thường tài sản trong các bản án và quyết định về hình sự”[22]
Ngày 13 tháng 10 năm 1972 Chánh án Toà án nhân dân tối cao ban hành Quyết định số 186/TC về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của Chấp hành viên tại các Toà án nhân dân khu phố, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và cùng với đó Thông tư số 187 -TC ngày 13/10/1972 của Tòa án nhân dân tối cao ban hành hướng dẫn thực hiện Quyết định số 186/TC ngày 13/10/1972 về tổ chức nhiệm vụ, quyền hạn của Chấp hành viên các TAND địa phương Trong thời gian này Cơ quan thi hành án không được tổ chức riêng mà giao cho Chấp hành viên có nhiệm vụ thi hành các bản án, quyết định của Toà án; giúp Chánh án kiểm tra, đôn đốc công tác thi hành án tại các Tòa án cấp dưới
Đến năm 1981 Luật tổ chức tòa án 1981 và tại Nghị định 143/HĐBT ngày 22 tháng 11 năm 1981 của Hội đồng bộ trưởng về chức năng, nhiệm vụ,
Trang 26quyền hạn và tổ chức của Bộ Tư pháp Toà án nhân dân tối cao đã bàn giao nhiệm vụ quản lý công tác thi hành án cho Bộ Tư pháp Ngày 18/7/1982, Bộ
Tư pháp và TAND tối cao đã ký thông tư liên ngành số 472 về “quản lý công
tác thi hành án trong thời kỳ trước mắt” quy định: ở địa phương tại các tòa án
nhân dân tỉnh, Thành phố trực thuộc trung ương có Phòng thi hành án nằm trong cơ cấu bộ máy và biên chế của tòa án để giúp Chánh án chỉ đạo công tác thi hành án ở các tòa án huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có Chấp hành viên hoặc cán bộ làm công tác thi hành án dưới sự chỉ đạo của Chánh
án Việc quản lý, chỉ đạo và tổ chức thực thi nhiệm vụ của chấp hành viên vẫn
do Chánh án tòa án nhân dân cùng cấp đảm nhiệm như đã quy định trong Quyết định số 186-TC ngày 13/10/1972
1.3.2 Giai đoạn từ năm 1989 đến trước năm 2004
Năm 1989 Pháp lệnh thi hành án dân sự ngày 28/8/1989 được ban hành, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1990, một hình thức văn bản pháp lý
có hiệu lực cao, lần đầu tiên đã được ban hành, đặt cơ sở pháp lý cho việc tăng cường, hoàn thiện tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự Pháp lệnh gồm 7 chương, 43 Điều Chương một gồm 8 điều (từ Điều 1 đến Điều 8) nêu lên những quy định chung về thi hành án dân sự Chương hai gồm 4 điều (từ Điều 9 đến Điều 12) là những quy định về chấp hành viên Chương ba gồm
10 điều (từ điều 13 đến điều 22) quy định về thủ tục thi hành án Chương bốn gồm 15 điều (từ Điều 23 đến Điều 37) quy định biện pháp cưỡng chế Chương năm gồm 2 điều (Điều 38, Điều 39) quy định việc khiếu nại tố cáo hành vi trái pháp luật của chấp hành viên và kháng cáo quyết định của Chánh
án Chương sáu gồm 2 điều (Điều 40, Điều 41) quy định việc xử lý vi phạm đối với người không chịu chấp hành bản án, quyết định của tòa án Chương bảy gồm 2 điều (Điều 42, Điều 43) là những điều khoản thi hành
Sự ra đời của Pháp lệnh đã tạo một bước phát triển mới trong quá trình xây dựng, hoàn thiện pháp luật của Nhà nước ta nói chung và trong lĩnh vực
Trang 27thi hành án dân sự nói riêng.Từ đây thì cơ chế quản lý, cách thức tổ chức và các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự được qui định cụ thể, chi tiết hơn
và các qui định về kê biên quyền sử dụng đất đảm bảo thi hành án dân sự tuy không được qui định cụ thể trong các điều luật cụ thể nhưng cũng đã được áp dụng căn cứ vào các qui định về kê biên tài sản được qui định tại chương IV(
từ điều 23 đến điều 37), cùng pháp lệnh 1989 nhiều văn bản pháp luật nhằm
cụ thể hoá thực hiện một số quy định của Pháp lệnh được ban hành, đảm bảo Pháp lệnh được thi hành nghiêm chỉnh như: Thông tư liên ngành số 06-89/TTLN ngày 07/12/1989 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp; Thông tư liên ngành số 07-89/TTLN ngày 10/12/1989 của Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ hướng dẫn việc bảo vệ cưỡng chế thi hành án Theo pháp lệnh thi hành án dân sự 1989 và Quy chế chấp hành viên, thì chỉ có chấp là người được nhà nước giao trách nhiệm thi hành các bản án quyết định của tòa án (trước đây việc thi hành án, ngoài Chấp hành viên còn có thể do cán bộ Tòa án thực hiện) Từ đây cơ chế thi hành án được đổi mới, đội ngũ cán bộ làm công tác thi hành án cũng không ngừng được cũng cố và tăng cường Thẩm phán vừa làm nhiệm vụ xét xử, vừa tổ chức thực hiện nhiệm vụ thi hành án Đội ngũ cán bộ thi hành án đã được chuyên môn hoá, có chức danh, tiêu chuẩn riêng và chịu trách nhiệm trước Nhà nước về thực hiện phán quyết của Toà án
Đầu những năm 1990 công cuộc đổi mới nói chung và cải cách bộ máy Nhà nước nói riêng đã được tiến hành một cách khá tích cực, khẩn trương Hiến pháp năm 1992 và các Luật về tổ chức bộ máy Nhà nước được Quốc hội khoá IX thông qua vào tháng 10/1992, đã đặt ra những nguyên tắc nền tảng cho quá trình cải cách Tư pháp, trong đó công tác thi hành án được đổi mới một cách cơ bản Trong đó Luật Tổ chức Chính phủ năm 1992 lần đầu tiên đã
xác định việc “quản lý công tác thi hành án” là một trong những nhiệm vụ và
quyền hạn của Chính phủ trong lĩnh vực pháp luật và hành chính tư pháp Để
Trang 28thực hiện quy định của các đạo luật trên đây về công tác thi hành án, tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa IX ngày 6/10/1992 đã thông qua Nghị quyết qui định một số điểm về việc thi hành luật tổ chức tòa án nhân dân bàn giao công tác thi hành án từ tòa án nhân dân các cấp sang các cơ quan của Chính phủ
“chậm nhất vào tháng 6/1993”
Ngày 26 tháng 04 năm 1993 Pháp lệnh thi hành án dân sự 1993 được ban hành và có hiệu lực ngày 01 thánh 06 năm 1993 thay thế Pháp lệnh thi hành án dân sự 1989 Pháp lệnh thi hành án dân sự 1993 gồm 7 chương 50 điều Các biện pháp cưỡng chế thi hành án vẫn kế thừa theo các qui định của pháp lệnh thi hành án 1989 Điểm khác biệt cơ bản của pháp lệnh thi hành án dân sự 1993 so với Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1989 chính là ở khâu tổ chức, cơ chế thi hành án dân sự Theo Pháp lệnh thi hành án dân sự năm
1989, Toà án có nhiệm vụ thi hành án dân sự; Theo Pháp lệnh thi hành án dân
sự năm 1993 thì nhiệm vụ thi hành án dân sự được chuyển cho một cơ quan Nhà nước mới được thành lập và đi vào hoạt động từ ngày 01 tháng 07 năm
1993, đó là hệ thống các cơ quan thi hành án dân sự Việc ra quyết định về thi hành án trước đây thuộc thẩm quyền của Chánh án Toà án nhân dân, thì nay thuộc thẩm quyền của thủ trưởng cơ quan thi hành án.Cùng với pháp lệnh
chính phủban hành nghị định số 30/CP ngày 02/6/1993 về “tổ chức, nhiệm
vụ, quyền hạn của các cơ quan quản lý công tác thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự và chấp hành viên” Ngày 20/7/1993, Bộ trưởng Bộ Tư
pháp đã ra Quyết định số 473/QĐ thành lập Cục quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp với nhiệm vụ, quyền hạn: Giúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp thực hiện việc quản lý Nhà nước về công tác thi hành án dân sự trong phạm vi cả nước; quản lý nghiệp vụ công tác thi hành án dân sự Pháp lệnh 1993 đã tạo bước ngoặc về tổ chức và hoạt động của công tác thi hành án dân sự, đưa công tác này sang một giai đoạn phát triển mới để đáp ứng yêu cầu của đất nước trong thời kỳ đổi mới
Trang 291.3.3 Giai đoạn từ năm 2004 đến trước năm 2009
Kể từ khi Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1993 được ban hành đã có trên 10 năm áp dụng vào thực tiễn Đây là một văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất trong lĩnh vực thi hành án dân sự Trên cơ sở Pháp lệnh này, hệ thống cơ quan thi hành án dân sự đã được hình thành trong cả nước, đưa công tác thi hành án dần dần di vào nề nếp, hiệu quả thi hành án ngày càng được nâng cao góp phần đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật và trật tự kỷ cương xã hội Tuy nhiên, qua một thời gian áp dụng Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1993 cũng không còn phù hợp, đã bộc lộ những điểm bất cập đòi hỏi phải được kịp thời bổ sung, sửa đổi Về cơ bản Pháp lệnh thi hành án dân
sự năm 1993 là sự sao y nguyên bản các quy định của Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1989 Vì vậy, Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1993 không còn phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội, không theo kịp quá trình đổi mới của đất nước ta trong thời kỳ chuyển hướng sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là đường lối của Đảng về cải cách hành chính, cải cách tư pháp Nhiều vấn đề vướng mắc về cơ chế quản lý, mô hình
tổ chức, thủ tục thi hành án chưa được giải quyết Vì cơ sở pháp lý bị thiếu nên tình trạng án tồn đọng ngày càng nhiều Để khắc phục những tồn tại trên sau một thời gian tích cực tiếp thu ý kiến đóng góp, cụ thể hoá một số chủ trương, chính sách về thi hành án Sau nhiều lần chỉnh lý lấy ý kiến địa phương Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 đã được Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 14-1-2004 và có hiệu lực từ ngày 01- 07-2004
Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 được ban hành cũng là một bước phát triển mới của Pháp luật về thi hành án Trước hết có thể thấy rằng Pháp lệnh này đã được sửa đổi bổ sung trên cơ sở Pháp lệnh thi hành án dân
sự năm 1993 một cách cơ bản cả về nội dung và bố cục Về bố cục Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 gồm 8 chương 70 điều Về nội dung, Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 có nhiều qui định mới so với Pháp lệnh thi hành án
Trang 30dân sự năm 1993 như qui định về lệ phí thi hành án, miễn giảm thi hành án, kết thúc thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án của người phải thi hành án
Bên cạnh đó Chính phủ cũng đã ban hành các Nghị định quy định chi
tiết như: Nghị định số 164/2004/NĐ-CP ngày 14/9/2004 “về kê biên, đấu giá
quyền sử dụng đất để đảm bảo thi hành án”, Nghị định số 173/2004/NĐ-CP
ngày 30/9/2004 “quy định về thủ tục, cưỡng chế và xử phạt hành chính trong
thi hành án dân sự”, Nghị định số 50/2005/NĐ-CP ngày 11/4/2005 “về cơ quan quản lý thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự và cán bộ, công chức làm công tác thi hành án dân sự” và Bộ trưởng Bộ Tư pháp cũng đã ban
hành Quyết định số 1148/2005/QĐ-BTP ngày 18/5/2005 quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn, sự phân cấp, uỷ quyền trong quản lý nhà nước giữa Bộ
Tư pháp với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Sở Tư pháp về công tác thi hành án dân sự Đây là lần đầu tiên biện pháp cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất được qui đinh và hướng dẫn cụ thể, chi tiết tại Nghi Định 164/2004 của chính phủ Các thủ tục tiến hành kê biên, đấu giá quyền sử dụng đất đảm bảo thi hành án dân sự được qui định cụ thể, cách thức thực hiện cũn g được hướng dẫn khá chi tiết Điều này đã tạo cơ sở vững chắc và điều kiên thuận lợi hơn trong quá trình áp dụng, thực hiện biện pháp cưỡng kê biên tài sản nói chung
kê biên quyền sử dụng đất nói riêng Nó đánh dấu cho một bước phát triển
mới trong lĩnhvực thi hành án dân sự của nước ta trong giai đoạn này [9]
1.3.4 Giai đoạn từ năm 2009 đến nay
Tuy Pháp lệnh thi hành án dân sự 2004 ra đời đã khắc phục được nhiều điểm bất hợp lý, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc còn tồn tại trong công tác thi hành án dân sự, tập trung nhiệm vụ thi hành án về Ngành Tư pháp Song vẫn còn nhiều điểm bất cập, hạn chế cần phải khắcphục mà pháp lệnh chưa thực hiện được Trên cơ sở quán triệt quan điểm chỉ đạo điều chỉnh toàn diện các lĩnh vực về thi hành án dân sự Luật thi hành án 2008 được ban hành và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2008, các văn bản hướng dẫn như Nghị định
Trang 3158/2008/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật thi hành án dân sự 2008 Thông tư liên tịch 14/2010/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC hướng dẫn về thủ tục thi hành án dân sự và phối hợp liên ngành trong thi hành án dân sự, Nghị định 74/2009/NĐ-CP ngày 09/9/2009 qui định chi tiết và hướng dẫn thi hành một
số điều của Luật thi hành án dân sự về cơ quan quản lý thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự và công chức làm công tác thi hành án dân sự, Nghị định 17/2010/NĐ-CPcủa chính phủ về bán đấu giá tài sản, Thông tư 23/2010/TT -BTPQuy định chi tiết và hướng dẫn thực hiện, Thông tư liên tịch 144/2010/TTLT-BTC-BTP hướng dẫn chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí thi hành án dân sựcũng đươc ban hành kèm theo nhằm đảm bảo cho việc thực hiện luật thi hành án được kịp thời và thuận lợi hơn
Trên cơ sở kế thừa Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004, Luật thi hành án dân sự 2008 là một đạo luật mới gồm 9 chương, 183 điều, Luật có nhiều điểm mới hơn so với Pháp lệnh 2004 như : về hệ thống tổ chức thi hành
án dân sự, về ngạch chấp hành viên, về tiêu chuẩn bổ nhiệm chấp hành viên, quy định mới về thời hạn bổ nhiệm chấp hành viên, về việc chấp hành viên được sử dụng công cụ hỗ trợ khi thi hành công vụ, bổ sung quy định về cưỡng chế đối quyền sở hữu trí tuệ, giấy tờ có giá của người phải thi hành án (mục 4, mục 5) và bổ sung biện pháp cưỡng chế khai thác đối với tài sản để thi hành
án (mục 7), các thủ tục áp dụng từng biện pháp cưỡng chế thi hành án cụ thể cũng quy định chi tiết, chặt chẽ hơn, đặc biệt biện pháp kê biên quyền sử dụng đất đảm bảo thi hành án được qui định cụ thể, chi tiết trong mục 8 (gồm
4 điều từ điều 110 đến điều 113) và các qui định chung ở một số điều tại mục
6 qui định rõ về cách thức tiến hành kê biên, xử lý tài sản là quyền sử dụng đất đã kê biên ,bên cạnh đó Luật thi hành án đã xác định rõ địa vị pháp lý của
Cơ quan thi hành án, điều này đã tạo nên bước chuyển biến tích cực, tạo động lực nâng cao hơn nữa hiệu quả trong công tác thi hành án dân sự của nước ta trong tình hình mới
Trang 32Với sự ra đời của Luật thi hành án dân sự 2008 trong đó có các qui định mới về kê biên quyền sử dụng đất và các biện cưỡng chế thi hành án khác đã góp phần tạo chuyển biến cơ bản trong công tác thi hành án dân sự, khắc phục tình trạng tồn đọng án kéo dài; nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án, kỷ cương phép nước và tính nghiêm minh của pháp luật, bảo vệ tốt hơn quyền của người được thi hành án, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức
và Nhà nước theo bản án, quyết định của Toà án và các quyết định khác Tạo
cơ sở pháp lý vững chắc cho việc từng bước thực hiện xã hội hoá công tác thi hành án như Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã đề ra
Luật Thi hành án dân sự ra đời năm 2008, có hiệu lực thi hành ngày 01/07/2009, là văn bản pháp lý cao nhất trong lĩnh vực thi hành án dân sự ở thời điểm hiện tại Sau bốn năm áp dụng Luật Thi hành án dân sự, nhận thấy công tác thi hành án dân sự đã có những chuyển biến thực sự tích cực Bộ máy tổ chức các cơ quan Thi hành án dân sự địa phương nhanh chóng được kiện toàn, số lượng cán bộ, công chức thi hành án dân sự tăng kể cả về số và chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự được minh chứng qua kết quả thi hành án dân sự của từng năm, năm sau luôn cao hơn năm trước, đã được chính quyền các cấp và quần chúng nhân dân tin tưởng, ghi nhận Tuy nhiên, qua quá trình áp dụng Luật Thi hành án dân sự năm 2008 nhận thấy Luật cũng còn một số điểm hạn chế, tồn tại cần sửa đổi hoàn thiện
Cho nên, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân
sự được Quốc hội Khóa XIII, kỳ họp thứ 8 đã được thông qua ngày
25-11-2014, có hiệu lực thi hành từ ngày 01-7-2015 Luật sửa đổi, bổ sung 47 Điều; bãi bỏ Điều 32, 33, 34, 51, 138 139, điểm b Khoản 1 Điều 163, các khoản 3
và 4 Điều 179 của Luật thi hành án dân sự năm 2008 Theo đó, có một số nội dung sửa đổi, bổ sung về biện pháp kê biên quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất mà chủ yếu về giai đoạn xử lý tài sản kê biên
Trang 33Tóm lại, sau một thời gian dài pháp luật về thi hành án dân sự cũng như pháp luật về kê biên quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày càng hoàn thiện Việc hoàn thiện Luật thi hành án dân sự đã góp phần rất lớn vào việc đẩy mạnh công tác thi hành án dân sự trong đó có công tác kê biên quyền
sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất để thi hành án làm cho công tác này ngày càng đạt được hiệu quả
Kết luận chương 1
Kê biên quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sự là biện pháp cưỡng chế áp dụng với người phải thi hành án sau khi đã hết thời gian tự nguyện thi hành án, đây là một giai đoạn trong quá trình thực thi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật góp phần đảm bảo những bản án, quyết định của
cơ quan nhà nước có thẩm quyền được ban hành được thực thi trên thực tế, góp phần bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và Nhà nước, góp phần giữ vững ổn định chính trị -xã hội, tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước
Trình tự, thủ tục để tiến hành kê biên quyền sử dụng đất để thi hành án dân sự gồm rất nhiều bước như: Xác minh điều kiện thi hành án, ra quyền định cưỡng chế, xây dựng kế hoạch cưỡng chế, tổ chức cưỡng chế kê biên, thẩm định giá tài sản, bán đấu giá tài sản, giao tài sản cho người mua trúng đấu giá tài sản Từ đó có thể nhận thấy biện pháp kê biên quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sự là một biện pháp khó khăn phức tạp đòi hỏi sự phối hợp của nhiều cơ quan, cá nhân mới có thể đạt được kết quả cao nhất
Trang 34Chương 2 ĐÁNH GIÁ THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ KÊ BIÊN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TRÊN ĐỊA
BÀN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 2.1 Thực trạng pháp luật về kê biên quyền sử dụng đất trong Thi hành án dân sự
2.1.1 Thẩm quyền quyết định và tổ chức thực hiện kê biên quyền sử dụng đất trong Thi hành án dân sự
Chấp hành viên mới có quyền quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế, ra quyết định cưỡng chế và tổ chức thực hiện cưỡng chế kê biên quyền
sử dụng đất [21] Theo qui định của luật thi hành án 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014: Chấp hành viên phải là công dân Việt Nam có phẩm chất chính trị vững vàng, đạo đức tốt, có bằng cử nhân luật, được đào tạo lớp nghiệp vụ Chấp hành viên và phải qua kỳ thi tuyển Chấp hành viên Chấp hành viên gồm Chấp hành viên sơ cấp, Chấp hành viên trung cấp và Chấp hành viên cao cấp; Chấp hành viên được Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm; Chấp hành viên là người được Nhà nước giao nhiệm vụ thi hành các bản án, quyết định của toà án
Một Chấp hành viên được giao nhiệm vụ thi hành quyết định thi hành
án của thủ trưởng cơ quan thi hành án ban hành và là người có thẩm quyền quyết định áp dụng các biện pháp kê biên quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với vụ việc thi hành án đó Dựa trên kết quả sự tự nguyện của người phải thi hành án và điều kiện về tài sản hiện có là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của người phải thi hành án Chấp hành viên ra quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất để đảm bảo thi hành án nghĩa vụ theo bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền Cũng giống như các biện pháp cưỡng chế khác, kê biên quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất được Chấp hành viên quyết định khi đã hết thời gian tự nguyện thi hành của người phải thi hành án mà họ vẫn
Trang 35không thi hành bản án, quyết định theo quy định của pháp luật Nhưng trong trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án tẩu tán tài sản Chấp hành viên có thể ra quyết định kê biên tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của người phải thi hành án mà không phải chờ đến thời gian tự nguyện của người phải thi hành án Tuy nhiên thực tế để xác định được khi nào người phải thi hành án có ý định tẩu tán tài sản là rất khó vì vậy trong thực tiễn việc chấp hành viên quyết định kê biên quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thông thường được thực hiện sau khi đã hết thời gian tự nguyện của người phải thi hành án
2.1.2 Trình tự, thủ tục tiến hành kê biên quyền sử dụng đất
2.1.2.1 Xác minh điều kiện thi hành án
Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày hết thời hạn tự nguyện thi hành án
mà người phải thi hành án không tự nguyện thi hành thì Chấp hành viên tiến hành xác minh; trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì phải tiến hành xác minh ngay Cơ quan thi hành án dân sự có thể
ủy quyền cho cơ quan thi hành án dân sự nơi người phải thi hành án có tài sản, cư trú, làm việc hoặc có trụ sở để xác minh điều kiện thi hành án Trong quá trình xác minh Chấp hành viên có thể yêu cầu cơ quan chuyên môn hoặc mời, thuê chuyên gia để làm rõ các nội dung cần xác minh trong trường hợp
cần thiết Việc xác minh phải lập thành biên bản, có xác nhận của Ủy ban
nhân dân hoặc công an cấp xã hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân nơi tiến hành xác minh [21, tr.46] Mọi cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân nắm giữ thông tin hoặc quản lý quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất kê biên có trách nhiệm phối hợp, cung cấp thông tin về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án trong trường hợp Chấp hành viên xác minh trực tiếp hoặc trả lời bằng văn bản trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu của Chấp hành viên cũng như đối với người được thi hành án hoặc người đại diện theo ủy quyền của người được thi hành án có yêu cầu
Trang 36Theo đó xác minh điều kiện kê biên quyền sử dụng đất là xác định và tìm hiểu các thông tin liên quan đến quyền sử dụng đất của người phải thi hành án như: Hiện trạng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất thuộc sở hữu của ai, quyền sử dụng đất có thuộc trường hợp được kê biên hay không, các giao dịch đã hoặc đang được xác lập đối với quyền sử dụng đất Kết quả của việc xác minh quyền sử dụng đất sẽ kê biên là căn cứ để chấp hành viên lập
kế hoạch cưỡng chế và xác định được các chủ thể có liên quan, từ đó chấp hành viên thực hiện các thủ tục cần thiết để đảm bảo quyền và lợi ích của những người liên quan trong quá trình tổ chức thực hiện kê biên quyền sử dụng đất đó để đảm bảo thi hành án
2.1.2.2 Ra quyết định cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất
Để ra quyết định cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất Chấp hành viên tiến hành kiểm tra thực tế tài sản tại thực địa về diện tích, tờ bản đồ, số thửa đất, loại đất và vị trí ranh giới thửa đất được kê biên xem có khớp với giấy chứng nhận QSDĐ được cấp cho người phải thi hành án không? Sau đó Chấp hành viên tiến hành xác minh tại cơ quan đăng ký quyền sử dụng đất để biết thông tin về tài sản về giao dịch bảo đảm, xem quyền sử dụng đất của người phải thi hành án đã đăng ký giao dịch bảo đảm cho một nghĩa vụ nào đó hay chưa? Trên cơ sở đó Chấp hành viên ra quyết định kê biên quyền sử dụng đất của người phải thi hành án
Chấp hành viên chỉ kê biên quyền sử dụng đất của người phải thi hành
án thuộc trường hợp được chuyển quyền sử dụng theo quy định của pháp luật
về đất đai Người phải thi hành án chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà thuộc trường hợp được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai hoặc thuộc diện quy hoạch phải thu hồi đất, nhưng chưa có quyết định thu hồi đất thì vẫn được kê biên, xử lý quyền
sử dụng đất đó [21, tr.116]
Trang 37Trước khi kê biên quyền sử dụng đất, Chấp hành viên yêu cầu người phải thi hành án, người đang quản lý giấy tờ về QSDĐ phải nộp các giấy tờ
đó cho cơ quan THADS Việc kê biên quyền sử dụng đất có tài sản gắn liền với đất thuộc quyền sở hữu của người phải thi hành án thì kê biên cả quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất Trường hợp đất của người phải thi hành
án có tài sản gắn liền với đất mà tài sản đó thuộc quyền sở hữu của người khác thì Chấp hành viên chỉ kê biên quyền sử dụng đất và thông báo cho người có tài sản gắn liền với đất Việc kê biên quyền sử dụng đất phải lập biên bản ghi rõ vị trí, diện tích, ranh giới thửa đất được kê biên, có chữ ký của những người tham gia kê biên [21, tr.117]
2.1.2.3 Lập kế hoạch cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất
Trước khi tiến hành tổ chức cưỡng chế kê biên QSDĐ, Chấp hành viên phải lập kế hoạch cưỡng chế [21,tr.82], trừ trường hợp phải cưỡng chế trong trường hợp người phải thi hành án tẩu tán tài sản hoặc trong trường hợp khẩn cấp tạm thời thì kế hoạch cưỡng chế thi hành án bao gồm các nội dung chính như:
- Biện pháp cưỡng chế cần áp dụng ở đây là biện pháp kê biên quyền
sử dụng đất
- Thời gian, địa điểm tiến hành kê biên
- Phương án tiến hành cưỡng chế
- Yêu cầu về lực lượng tham gia và bảo vệ cưỡng chế bao gồm: Đại diện cơ quan quản lý đất đai thuộc ủy ban nhân dân cùng cấp, đại diện cơ quan tài chính cùng cấp, Đại diện Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất nơi
có đất bị kê biên, Đại diện ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất bị kê biên, cơ quan Công an cùng cấp (nếu cần)
- Dự trù chi phí cưỡng chế bao gồm các khoản: chi phí thông báo cưỡng chế, chi phí mua thiết bị, phương tiện cần thiết cho việc kê biên quyền
sử dụng đất, chi phí định giá, gián định, bán đấu giá quyền sử dụng đất, chi
Trang 38phí thuê, trông coi, bảo vệ tài sản kê biên, tiền bồi dưỡng cho người trực tiếp tham gia kê biên
Kế hoạch cưỡng chế phải được gửi ngay cho Viện kiểm sát nhân dân,
cơ quan Công an cùng cấp, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi tổ chức cưỡng chế và
cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc cưỡng chế thi hành án Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan có trách nhiệm thực hiện theo kế hoạch, yêu cầu của Chấp hành viên
Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được kế hoạch cưỡng chế của cơ quan THADS cùng cấp, cơ quan Công an có trách nhiệm xây dựng kế hoạch và lập phương án bảo vệ cưỡng chế Cơ quan Công an có trách nhiệm bố trí lực lượng, phương tiện cần thiết để giữ gìn trật tự, bảo vệ hiện trường, kịp thời ngăn chặn, xử lý hành vi tẩu tán tài sản, cản trở, chống đối việc thi hành án, tạm giữ người chống đối, khởi tố vụ án hình sự khi có dấu hiệu phạm tội
2.1.2.4 Thông báo về việc cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất
Trước khi tiến hành cưỡng chế thi hành án thì ít nhất là 03 ngày làm việc, Chấp hành viên thông báo cho đại diện chính quyền cấp xã hoặc đại diện tổ dân phố nơi tổ chức cưỡng chế, đương sự, người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan về thời gian, địa điểm, tài sản kê biên, tuy nhiên trong trường hợp cần ngăn chặn đương sự tẩu tán, huỷ hoại tài sản, trốn tránh việc thi hành
án thì không phải thực hiện thông báo này[21, tr.97]
Hình thức thông báo cụ thể như sau: Thông báo trực tiếp bằng văn bản
về việc kê biên quyền sử dụng đất cho người được thi hành án, người phải thi hành án, người nhận thế chấp, người nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất, người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến quyền sử dụng đất, các thành viên Hội đồng kê biên quyền sử dụng đất, Viện Kiểm sát nhân dân cùng cấp và ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất được kê biên; Thông báo công khai trên phương tiện thông tin đại chúng của địa phương và niêm yết việc kê biên
Trang 39quyền sử dụng đất tại trụ sở cơ quan thi hành án và ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất bị kê biên[3]
2.1.2.5 Tổ chức cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất
Đúng thời gian, địa điểm Chấp hành viên tập trung lực lượng cưỡng chế tại trụ sở UBND nơi có quyền sử dụng đất kê biên để họp bàn trước khi cưỡng chế nhằm mục đích đánh giá lại tình hình lần cuối trước khi cưỡng chế;
dự kiến những tình huống có thể sảy ra và phương án giải quyết những tình huống đó từ đó phân công nhiệm vụ cho từng thành viên trong đoàn cưỡng chế
để phối hợp nhịp nhành trong quá trình cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất
Sau khi họp bàn cưỡng chế xong, đoàn cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất xuống địa điểm tiến hành cưỡng chế Trước tiên Chấp hành viên phải giới thiệu thành phần cưỡng chế, sau đó công bố quyết định cưỡng chế
kê biên quyền sử dụng đất; chỉ đạo các thành phần cưỡng chế thực hiện công việc đã phân công Khi kê biên quyền sử dụng đất phải được lập biên bản, biên bản phải ghi rõ giờ, ngày, tháng, năm kê biên, họ, tên Chấp hành viên, các thành phần tham gia cưỡng chế, đương sự hoặc người được ủy quyền, người lập biên bản, người làm chứng và người có liên quan đến tài sản; diễn biến của việc kê biên; mô tả tình trạng từng tài sản, yêu cầu của đương sự và
ý kiến của người làm chứng Biên bản kê biên phải có chữ ký của đương sự hoặc người được uỷ quyền, người làm chứng, đại diện chính quyền cấp xã hoặc đại diện tổ dân phố nơi tổ chức cưỡng chế, thành phần tham gia cưỡng chế, Chấp hành viên và người lập biên bản Kết thúc buổi cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất, Chấp hành viên thông qua biên bản cưỡng chế
Sau khi kê biên, nếu quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đang
do người phải thi hành án quản lý, khai thác, sử dụng thì Chấp hành viên tạm giao diện tích đất và tài sản gắn liền với đất đã kê biên cho người đó Trong trường hợp diện tích đất đã kê biên đang do tổ chức hoặc cá nhân khác quản
lý, khai thác, sử dụng thì tạm giao cho tổ chức, cá nhân đó
Trang 40Trường hợp người phải thi hành án hoặc tổ chức, cá nhân đang khai thác, sử dụng trước khi kê biên không nhận thì Chấp hành viên tạm giao diện tích đất đã kê biên cho tổ chức, cá nhân khác quản lý, khai thác, sử dụng Trường hợp không có tổ chức, cá nhân nào nhận thì cơ quan thi hành án dân
sự tiến hành ngay việc định giá và bán đấu giá Việc tạm giao quản lý, khai thác, sử dụng đất đã kê biên phải được lập biên bản, trong đó ghi rõ các nội dung sau: Diện tích, loại đất, vị trí, số thửa đất, số bản đồ; Hiện trạng sử dụng đất; Thời hạn tạm giao quản lý, khai thác, sử dụng đất; Quyền và nghĩa vụ cụ thể của người được tạm giao quản lý, khai thác, sử dụng đất
Trong thời hạn tạm giao quản lý, khai thác, sử dụng đất đã kê biên, người được tạm giao không được chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, để thừa kế, thế chấp, hoặc góp vốn bằng quyền sử dụng đất, không được làm thay đổi hiện trạng sử dụng đất; không được sử dụng đất trái mục đích [21, tr.117]
Thông thường sau khi đã tiến hành đo đạc, lập biên bản kê biên xong, Chấp hành viên tạm giao diện tích đất kê biên đó cho người phải thi hành án, người đang khai thác sử dụng tạm quản lý Việc tạm giao được thể hiện trong quyết định cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất nhưng nếu người phải thi hành án không chịu nhận thì chấp hành viên sẽ thuê người khác trông coi và thanh toán tiền trông coi cho người đó Số tiền đó sẽ được tính vào chi phí cưỡng chế và do người phải thi hành án chịu
2.1.2.6 Định giá tài sản kê biên
Ngay khi kê biên tài sản mà đương sự thỏa thuận được về giá tài sản
hoặc về tổ chức thẩm định giá thì Chấp hành viên lập biên bản về thỏa thuận đó[21, tr.103] Giá tài sản do đương sự thỏa thuận là giá khởi điểm để bán đấu giá Trường hợp đương sự có thỏa thuận về tổ chức thẩm định giá thì Chấp hành viên ký hợp đồng dịch vụ với tổ chức thẩm định giá đó Trường hợp Đương sự không thoả thuận được về giá và không thoả thuận được việc lựa chọn tổ chức thẩm định giá; Tổ chức thẩm định giá do đương sự lựa chọn từ