1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu Việt Nam sang EU

43 241 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những Giải Pháp Nhằm Đẩy Mạnh Hoạt Động Xuất Khẩu Việt Nam Sang EU
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Đề Tài Nghiên Cứu
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 244,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngày nay trước xu hưỡng vận động của nền kinh tế thế giới là toàn cầu hoá và tự do hoá thương mại. Thì các nước đang phát triển trong quá trình thực hiện Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nước, đang gặp phải những khó khăn lớn về vốn, công nghệ, kỹ thuật... Và Việt Nam cũng là một trong những nước đang phát triển đó. Do đó để thực hiện mục tiêu của mình, Đảng và nhà nước ta đã khẳng định "Chiến lược phát triển kinh tế Việt Nam trong giai đoạn này là hướng về xuất khẩu và thay thế nhập khẩu". Để thực hiện được chiến lược phát triển này chúng ta phải phát triển nhanh mạnh, vững chắc các ngành công nghiệp, trước hết là công nghiệp chế biến, có khả năng cạnh tranh cao, đặc biệt là phát triển các ngành công nghiệp sử dụng ít vốn, thu hút nhiều lao động, thực hiện nhất quán, lâu dài thu hút các nguồn lực bên ngoài, tích cực chủ động, mở rộng thâm nhập thị trường quốc tế. Với ngành dệt may Việt Nam là một ngành hàng truyền thống, lâu đời ở Việt Nam và là một ngành công nghiệp mũi nhọn, đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế nước ta. Sản xuất tăng trưởng nhanh, kim ngạch xuất khẩu không ngừng gia tăng với nhịp độ cao, thị trường luôn được mở rộng, tạo mọi điều kiện cho kinh tế phát triển, góp phần cân bằng cán cân xuất nhập khẩu, thu hút nhiều lao động và đóng góp ngày càng nhiều cho ngân sách nhà nước. Bên cạnh đo EU là một thị trường rộng lớn, có vai trò quan trọng trong Thương mại quốc tế, với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và tương đối ổn định. Vì vậy, việc đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường EU là vấn đề cần thiết và lâu dài trong sự phát triển kinh tế của Việt Nam. Tuy nhiên hoạt động xuất khẩu này trong thời gian qua vẫn còn nhiều bất cập vì thế mà hiệu quả kinh tế mang lại chưa cao. Để góp phần tháo gỡ những khó khăn này: Đề tài " Đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường EU" đã được chọn làm đề tài nghiên cứu. *Mục đích nghiên cứu của đề tài : Là thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường EU. * Đối tượng nghiên cứu: Là hoạt động xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam. * Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Các doanh nghiệp xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam và thị trường EU. Nội dung nghiên cứu: * Phân tích thực trạng xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam vào thị trường EU. * Đưa ra các giải pháp đối với doanh nghiệp và kiến nghị đối với nhà nước. * Phương pháp nghiên cứu: Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu phân tích, so sánh.. Kết cấu đề tài gồm 3 chương: Chương I: Khái quát chung về hoạt động Xuất khẩu dệt may sang EU. Chương II. Thực trạng hoạt động xuất khẩu dệt may Việt Nam sang EU. Chương III. Những giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu Việt Nam sang EU. Mặc dù đã có nhiều cố gắng song do trình độ nghiên cứu còn hạn chế nền đề tài nghiên cứu này có thể còn thiếu sót và nhược điểm. Vì vậy em rất mong nhận được sự chỉ bảo, góp ý của thầy cô và các bạn để em có thể hoàn thiện đề tài nghiên cứu hơn.

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Ngày nay trước xu hưỡng vận động của nền kinh tế thế giới là toàn cầu hoá và tự do hoá thương mại Thì các nước đang phát triển trong quá trình thực hiện Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nước, đang gặp phải những khó khăn lớn về vốn, công nghệ, kỹ thuật Và Việt Nam cũng là một trong những nước đang phát triển đó Do đó để thực hiện mục tiêu của mình, Đảng và nhà nước ta đã khẳng định "Chiến lược phát triển kinh tế Việt Nam trong giai đoạn này là hướng về xuất khẩu và thay thế nhập khẩu"

Để thực hiện được chiến lược phát triển này chúng ta phải phát triển nhanh mạnh, vững chắc các ngành công nghiệp, trước hết là công nghiệp chế biến, có khả năng cạnh tranh cao, đặc biệt là phát triển các ngành công nghiệp sử dụng ít vốn, thu hút nhiều lao động, thực hiện nhất quán, lâu dài thu hút các nguồn lực bên ngoài, tích cực chủ động, mở rộng thâm nhập thị trường quốc tế

Với ngành dệt may Việt Nam là một ngành hàng truyền thống, lâu đời ở Việt Nam và là một ngành công nghiệp mũi nhọn, đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế nước ta Sản xuất tăng trưởng nhanh, kim ngạch xuất khẩu không ngừng gia tăng với nhịp độ cao, thị trường luôn được mở rộng, tạo mọi điều kiện cho kinh tế phát triển, góp phần cân bằng cán cân xuất nhập khẩu, thu hút nhiều lao động và đóng góp ngày càng nhiều cho ngân sách nhà nước

Bên cạnh đo EU là một thị trường rộng lớn, có vai trò quan trọng trong Thương mại quốc tế, với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và tương đối

ổn định Vì vậy, việc đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường EU là vấn đề cần thiết và lâu dài trong sự phát triển kinh tế của Việt Nam Tuy nhiên hoạt động xuất khẩu này trong thời gian qua vẫn còn nhiều bất cập vì thế mà hiệu quả kinh tế mang lại chưa cao Để

Trang 2

góp phần tháo gỡ những khó khăn này: Đề tài " Đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường EU" đã được chọn làm đề tài nghiên cứu.

*Mục đích nghiên cứu của đề tài : Là thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường EU

* Đối tượng nghiên cứu: Là hoạt động xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam

* Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Các doanh nghiệp xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam và thị trường EU

Nội dung nghiên cứu:

* Phân tích thực trạng xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam vào thị trường EU

* Đưa ra các giải pháp đối với doanh nghiệp và kiến nghị đối với nhà nước

* Phương pháp nghiên cứu: Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu phân tích, so sánh

Kết cấu đề tài gồm 3 chương:

Chương I: Khái quát chung về hoạt động Xuất khẩu dệt may sang EU.Chương II Thực trạng hoạt động xuất khẩu dệt may Việt Nam sang EU.Chương III Những giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu Việt Nam sang EU

Mặc dù đã có nhiều cố gắng song do trình độ nghiên cứu còn hạn chế nền đề tài nghiên cứu này có thể còn thiếu sót và nhược điểm Vì vậy em rất mong nhận được sự chỉ bảo, góp ý của thầy cô và các bạn để em có thể hoàn thiện đề tài nghiên cứu hơn

Em xin chân thành cảm ơn Thầy giáo chỉ dẫn và giúp đỡ, để em được nghiên cứu và hoàn thành để tài này

Trang 3

CHƯƠNG I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT

KHẨU DỆT MAY SANG EU.

I Hoạt động xuất khẩu dệt may Việt Nam

1) Khái niệm về hoạt động xuất khẩu dệt May

Xuất khẩu là một bộ phận cơ bản của hoạt động ngoại thương, trong

đó hàng hoá và dịch vụ được bán, cung cấp cho nước ngoài nhằm thu đổi ngoại tệ

Vì vậy khi nghiên cứu dưới góc độ các hình thức kinh doanh quốc tế thì xuất khẩu là hình thức cơ bản đầu tiên mà các doanh nghiệp áp dụng khi bước vào lĩnh vực kinh doanh quốc tế

Mọi công ty luôn hướng tới xuất khẩu những sản phẩm và dịch vụ của mình ra nước ngoài Do vậy mà xuất khẩu được xem như chiến lược kinh doanh quốc té quan trọng của các công ty Xuất khẩu còn tồn tại ngay

cả khi công ty đã thực hiện được các hình thức cao hơn trong kinh doanh

Có nhiều nguyên nhân khuyến khích các công ty thực hiện xuất khẩu trong đó có thể là:

- Sử dụng khả năng vượt trội ( hoặc những lợi thế) của công ty

- Giảm được chi phí cho một đơn vị sản phẩm do nâng cao khối lượng sản xuất

- Nâng cao được lợi nhuận của công ty

- Giảm được rủi ro tối thiểu hoá sự dao động của nhu cầu

Khi một thị trường chưa bị hạn chế bởi các quy định, rào cản , hay năng lực của các doanh nghiệp kinh doanh quốc tế chưa đủ thực hiện các hình thức cao hơn, thì các hình thức cao hơn, thì hình thức xuất khẩu được lựa chọn, vì ở xuất khẩu lượng vốn ít hơn, rủi ro thấp hơn và thu được hiệu quả kinh tế trong thời gian ngắn

2 Các hình thức của hoạt động xuất khẩu dệt may

a) Xuất khẩu trực tiếp

Trang 4

Xuất khẩu trực tiếp là việc xuất khẩu các hàng hoá và dịch vụ mà doanh nghiệp sản xuất ra hoặc thu mua từ các đơn vị sản xuất trong nước, xuất khẩu ra nước ngoài thông qua các tổ chức của mình.

Ưu điểm của hình thức này là lợi nhuận thu được của các doanh nghiệp thường là cao hơn các hình thức khác, có thể nâng cao uy tín của mình thông qua quy cách và phẩm chất hàng hoá, có thể tiếp cận trực tiếp thị trường, nắm bắt được nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng

Bên cạnh đó đòi hỏi các doanh nghiệp phải ứng trước một lượng vốn lớn để sản xuất hoặc thu mua và rủi ro kinh doanh là rất lớn

b) Xuất khẩu gia công uỷ thác.

Theo hình thức này các doanh nghiệp kinh doanh hàng xuất khẩu đứng ra nhập nguyên liệu hoặc bán thành phẩm cho các doanh nghiệp gia công, sau đó thu hồi thành phẩm để xuất khẩu cho bên nước ngoài Doanh nghiệp này sẽ được hưởng phí uỷ thác theo thoả thuận với các doanh nghiệp trực tiếp chế biến,

Hình thức này có ưu điểm là không cần bỏ vốn vào kinh doanh nhưng vẫn thu được lợi nhuận, ít rủi ro, việc thanh toán được bảo đảm vì đầu ra chắc chắn Bên cạnh nó đòi hỏi nhiều thủ tục xuất khẩu và nhập khẩu do đó cần phải có những cán bộ kinh doanh có kinh nghiệm và thông thạo nghiệp vụ xuất nhập khẩu

c Xuât khẩu uỷ thác.

Đây là hình thức mà các doanh nghiệp kinh doanh hàng xuất khẩu đứng ra đóng vai trò trung gian xuất khẩu làm thay cho các đơn vị sản xuất những thủ tục cần thiết để xuất khẩu hàng và hưởng phần trăm theo giá trị hàng xuất khẩu đã đựơc thoả thuận

Ưu điểm của hình thức này là mức độ rủi ro thấp, ít trách nhiệm, người đứng ra xuất khẩu không phải là người chịu trách nhiệm cuối cùng

Đặ biệt là không cần bỏ vốn ra để mua hàng , nhận tiền nhanh, ít thủ tục và tương đối tin cậy

Trang 5

d) Xuất khẩu theo nghị định thư:

Đây là hình thức xuất khẩu hàng hoá được ký kết theo nghị định thư giữa hai chính phủ

Ưu điểm của hình thức này là tiết kiệm được các khoản chi phí trong việc nghiên cứu thị trường, tìm kiếm bạn hàng, đảm bảo được thanh toán

f) Xuất khẩu tại chỗ.

Đây là hình thức mà hàng và dịch vụ có thể chưa vượt ra ngoài biên giới quốc gia nhưng ý nghĩa kinh tế của nó cũng giống như hoạt động xuất khẩu Đó là việc cung cấp hàng hóa dịch vụ cho các đoàn ngoại giao, khách

du lịch quốc tế vv

Hoạt động này có thể đạt hiệu quả kinh tế cao do giảm bớt chi phí bao bì, đóng gói, bảo quản chi phí vận tải, thời gian thu hồi vốn nhanh

g) Gia công quốc tế.

Gia công quốc tế là hình thức kinh doanh trong một bên nhập nguồn nguyên liệu bán thành phẩm (bên nhận gia công) của bên đặt gia công để chế biến thành phẩm giao lại cho bên đặt gia công và qua đó thu được phí gia công

Ưu điểm của hình thức này là giúp bên nhận gia công tạo công ăn việc làm cho người lao động, nhận được các thiết bị công nghệ tiên tiến để phát triển sản xuất

3 Vai trò của hoạt động xuất khẩu dệt may

* Tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Trang 6

Đối với một nước nghèo và chậm phát triển như ở nứơc ta thì việc lựa chọn bước đi công nghiệp hoá là con đường thích hợp nhất Để thực hiện công nghiệp hoá đất nước trong thời gian ngắn đòi hỏi phải có một số vốn rất lớn để nhập khẩu máy móc, thiết bị, kỹ thuật công nghệ tiên tiến.

Nhập khẩu cũng như vốn đầu tư của một nước thường dựa vào các nguồn chủ yếu: viện trợ, vay nợ, đầu tư nước ngoài, Tất cả các nguồn đó đều phải hoàn trả lại dưới các hình thức khác nhau, còn phát triển xuất khẩu là sự đảm bảo, quyết định quy mô và tốc độ tăng của nhập khẩu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

* Xuất khẩu có vai trò tác động vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển

Đây là yếu tố then chốt trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá Đồng thời sự phát triển của các ngành công nghiệp chế tạo và chế biến hàng xuất khẩu đựoc áp dụng kỹ thuật tiên tiến, sản xuất ra hàng hoá có tính cạnh tranh cao trên thị trường thế giới, giúp ta có nguồn lực công nghiệp mới, tăng sản xuất cả về số lượng và chất lượng sản phẩm, tăng năng suất lao động, tiết kiệm chi phí lao động xã hội Bên cạnh đó tạo khẳ năng mở rộng thị trường, tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào, góp phần cho sản xuất, phát triển kinh tế ổn định

* Xuất khẩu có tác động tích cực giải quyết công ăn việc làm, cải thiện đời sống nhân dân

Sự phát triển của các ngành công nghiệp hướng vào xuất khẩu sẽ thu hút rất nhiều lao động vào việc làm, với mức sống ổn định Ngoài ra xuất khẩu còn tạo ra nguồn vốn để nhập khẩu vật phẩm tiêu dùng thiết yếu phục

vụ đời sống và đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiêu dùng của con người

* Xuất khẩu là nền tảng trong việc thúc đẩy quan hệ kinh tế đối ngoại

Trang 7

Xuất khẩu có vai trò tăng cường sự hợp tác quốc tế giữa các nước, nâng cao vai trò của nhà nước ta trên thị trường quốc tế Nhờ có những hàng xuất khẩu mà đã có nhiều nước đã, đang và sẽ thiết lập quan hệ quan

hệ buôn bán và đầu tư với nước ta

* Xuất khẩu góp phần quan trọng vào việc giải quyết các vấn đề sử dụng có hiệu quả hơn các nguồn tài nguyên thiên nhiên

Việc đưa các nguồn tài nguyên thiên nhiên tham gia vào sự phân công lao động quốc tế, thông qua việc phát triển các ngành chế biến, xuất khẩu đã góp phần nâng cao giá trị hàng hoá, giảm bớt những thiên tai do điều kiện thiên nhiên ngày càng trở lên bất lợi cho hàng hoá và nguyên liệu cho xuất khẩu

II.Hoạt động xuất khẩu hàng dệt may sang EU.

1 Đặc điểm thị trường EU.

a Thị trường EU

Để đảm bảo cho người tiêu dùng Eu kiểm tra ngay từ nơi sản xuất và có

hệ thống báo động về chất lượng hàng hoá giữa các nước trong khối Hiện nay

ở Châu Âu có 3 tiêu chuẩn định chuẩn là Uỷ ban Châu Âu về chuẩn định tử; Viện định chuẩn viễn thông Châu Âu Tấtcả các sản phẩm để có thế bán ở thị trường này đều phải đảm bảo thực hiện tiêu chẩn chung Eu

EU tích cực tham gia chống nạn hàng giả bằng cách không nhập khẩu những sản phẩm đánh cắp bản quyền Nhu cầu tiêu dùng là tìm kiếm những thị trường có mặt hàng rẻ, đẹp song cũng đảm bảo chất lượng họ yêu cầu

c.Kênh phân phối

Hệ thống phân phối Eu là một bộ phận gắn liền với hệ thống mậu dịch thương mại toàn cầu Mặt khác EU là một trong 3 khối liên kết kinh tế lớn nhất thế giới với mức sống cao, đồng đều của người dân trong khối Eu cho thấy một thị trường rộng lớn và phát triển không những thế Eu ngày càng hoàn thiện hơn hệ thống pháp luật, các tiêu chuẩn và chính sách thuế

Trang 8

áp dụng vào trong pháp luật từng bước làm cho việc đưa sản phẩm vào Eu ngày càng có quy mô hơn.

Hệ thống phân phối là yếu tố quan trọng trong khâu lưu thông và xuất khẩu hàng hoá vì thế nó có các hình thức sau; Các trung tâm Châu Âu, các đơn vị chế biến dây chuyền phân phối, các nhà bán buôn, bán lẻ và người tiêu dùng Trong đó tập trung chủ yếu vào hình thức các trung tâm thu mua Châu Âu hoá với quy mô ngày càng rộng khắp Từ đó ra đời các trung tâm thu mua Châu Âu, các trung tâm Châu Âu mua chung sản phẩm sản xuất trên thế giới và phân phối cho nhiều nhà phân phối quốc gia Những trung tâm này thường tập hợp trên 50 nhà phân phối trở lên hoạt động trên phạm vi toàn cầu Châu Âu, làm trung gian giữa nhà sản xuất và nhà phân phối sản phẩm

d Chính sách thương mại nội khối:

* Lưu thông tự do hàng hoá với các biện pháp: xoá bỏ hoàn toàn mọi loại thuế quan đánh vào hàng hoá XNK giữa các nước thành viên, xoá bỏ hạn ngạch áp dụng trong thương mại nội khối: xoá bỏ tất cả các biện pháp tương

tự hạn chế về số lượng, các rào cản về thuế giữa các nước thành viên

Tự do đi lại, cư trú trên toàn lãnh thổ liên minh như tự do đi lại về địa

lý, di chuyển về nghề nghiệp, nhất thể hoá về xã hội

* Lưu chuyển tự do các dịch vụ như: tự do cung cấp các dịch vụ, tự

do chuyển tiền bằng điện tín công nhận lẫn nhau về các văn bằng

* Lưu chuyển tự do vốn: được áp dụng chính sách tháo dỡ tất cả các hạn chế về ngoại hối, thống nhất luật pháp và nguyên tắc quản lý thị trường vốn của các nước thành viên, thanh toán tự do

e Chính sách ngoại thương.

* Trong sự nghiệp phát triển kinh tế của Eu, ngoại thương đã đóng góp một vai trò hết sức quan trọng Nó đã đem lại sự tăng trưởng kinh tế và tạo ra việc làm trong các ngành sản xuất, nghiên cứu, bảo hiểm, ngân hàng… Do

Trang 9

vậy chính sách này có nhiệm vụ chỉ đạo các hoạt động ngoại thương đi đúng hướng để phục vụ mục tiêu chiến lược kinh tế của liên minh.

* Chính sách ngoại thương của EU được xây dựng trên nguyên tắc sau:Không phân biệt đối sử, minh bạch, có đi có lại và cạnh tranh công bằng.Các biện pháp đựơc áp dụng phổ biến trong chính sách này là thuế quan và hạn chế về số lượng hàng rào kỹ thuật, chống bán phá giá và trợ cấp xuất khẩu

Từ 1951 đến nay EU có những cụm chính sách phát triển ngoại thương chủ yếu:

Chính sách khuyến khích xuất khẩu, chính sách thay thế nhập khẩu, chính sách tự do hoá thương mại và chính sách hạn chế xuất khẩu tự nguyện Việc ban hành và thực hiện các chính sách này có liên quan chặt chẽ đến tình hình phát triển kinh tế, tiến trình nhất thể hoá Châu Âu và khả năng cạnh tranh trong từng thời kỳ của các sản phẩm của Liên minh trên thị trường thế giới

Để đảm bảo cạnh tranh công bằng trong thương mại, Eu đã thực hiện các biện pháp chống bán phá giá và chống tự cấp xuất khẩu, không chỉ dừng lại ở việc áp dụng các biện pháp chống cạnh tranh không lành mạnh trong thương mại, EU còn sử dụng một biện pháp để đẩy mạnh thương mại với các nước đang phát triển Đó là hệ thống ưu đãi phổ cấp ( GSP)- Một công cụ quan trọng của EU để hỗ trợ các nước trên Bằng cách này EU có thể đảm bảo tính chính xác của việc xác định xuất xứ hàng khi xuất khẩu vào EU

2 Sơ lựơc quá trình xuất khẩu dệt may Việt Nam sang EU.

EU là thị trường xuất khẩu hàng dệt may theo hạn ngạch lớn nhất của Việt Nam Từ năm 1980, chúng ta đã xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang EU đặc biệt phát triển mạnh kể từ khi có Hiệp định buôn bán hàng dệt may Cụ thể, sau khi Hiệp định này được ký ngày 15/12/1992 và

có hiệu lực vào năm 1993, từ chỗ hầu như bị cấm vận, nhóm hàng này của

Trang 10

Việt Nam xuất khẩu vào EU đén năm 1999 đạt 555.1 triệu USD và năm

2000 tăng lên 609 triệu USD (theo số liệu thống kê của Tổng cục hải quan Việt Nam) Hiện nay, xuất khẩu hàng dệt may sang thị trường này chiếm 34%-38% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may hàng năm của Việt Nam

Hiệp định buôn bán hàng dệt may từ khi được thựchiện cho đến nay

đã 2 lần được gia hạn và điều chỉnh tăng hạn ngạch Theo Hiệp định này, hàng năm Việt Nam được xuất khẩu hàng dệt may vào thị trường EU với lượng hàng 21.938 tấn – 23.000 tấn Số cat chịu sự quản lý bằng hạn ngạch

ở một số cat “nong” và nâng mức chuyển đổi hạn ngạch giữa các cat lên 27% Tháng 3/2000, Việt Nam đã đàm phán với EU thay đổi thời hạn điều chỉnh Hiệp định dệt mayđến hết năm 2002 thay vì năm 2000 Đồng thời tăng hạn hàng dệt may 16 cat của Việt Nam xuất khẩu vào EU: trọng lượng tăng 4324 tấn, đạt mức trên 26% so với hạn ngạch cơ sở của 16 cat; đơn vị sản phẩm tăng khoảng 15 triệu, đạt mức tăng 25%; trị giá sản phẩm tăng khoảng 120 triệu USD, đạt khoảng 20% so với năm 1999; sẽ nâng kim ngạch xuất khẩu vào EU năm 2000 lên khoảng 750 triệu USD; tính tỷ lệ tăng bình quân 16 cat đạt 55%

Cùng với những ưu đãi ngày càng nhiều của phía EU dành cho Việt Nam trong Hiệp định buôn bán hàng dệt may sửa đổi, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may vào EU tăng nhanh, năm 1993 đạt 259 triệu USD, năm 1995 đạt 350 triệu USD, năm 1996 đạt 420 triệu USD và năm 1998 lên tới 650 triệu USD (theo số liệu thống kê của tổng cục hải quan Việt Nam) Thị trường EU chiếm tỷ trọng 46.7% trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam năm 1995, năm 1998 con số này là 48.1% Còn theo số liệu thống kê của EU, năm 1996 đạt 405,8 triệu USD, năm 1997 đạt 466,1 triệu USD, năm 1998 lên đến 578,7 triệu USD

Tỷ trọng các thị trường xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam trong Liên minh là Đức (49.9%), Pháp (10.8%), Hà Lan (10.3%), Anh (9.4%), Bỉ

Trang 11

(6.1%), Tây Ban Nha (5.1%) Italia (4.4%), Đan Mạch (2.0%), Thuỵ Điển (1.9%), Áo (1.5%), Phần Lan (0.6%), Ailen (0.4%), Lucxembuorg (0.3%),

Hy Lạp (0.2%) và Bồ Đào Nha (0.1%)

Sau 5 năm thực hiện Hiệp định hàng dệt may, EU đã trở thành thị trường xuất khẩu hàng may mặc lớn nhất của Việt Nam Mặc dù kim ngạch xuất khẩu tăng lên rất nhanh, nhưng xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang EU lại đang gặp rất nhiều khó khăn: (1) Thiếu bạn hàng tiêu thụ trực tiếp, không ký được hợp đồng xuất khẩu trực tiếp với các bạn hàng EU mà phải thông qua trung gian nên gần 80% hàng dệt may xuất khẩu sang EU phải gia công qua nước thứ ba, hiệu quả kinh tế thấp Phần gia công cho các nước khác (không thuộc ASEAN) xuất sang EU thì không được hưởng

ưu đãi thuế quan dành cho Việt Nam; (2) Số lượng hàng hoá EU dành cho Việt Nam còn quá thấp so với nhiều nước và khu vực: chỉ bằng 5% của Trung Quốc, 10-20% của các nước ASEAN: (3) Số hạn ngạch bị hạn chế thành nhiều nhóm hàng so với các nước khác: Thái Lan có 20 nhóm hàng, Singapore có 8 nhóm hàng, trong khi đó Việt Nam 1993-1995 có 106 nhóm hàng, 1996-1998 có 54 nhóm, từ 1998 có 29 nhóm hàng; (4) Sản phẩm xuất khẩu chỉ tập trung vào một số sản phẩm truyền thống (hàng quen làm dễ thu lợi nhuận) như: Áo Jackét, áo sơmi và quần tây Các sản phẩm có yêu cầu kỹ thuật phức tạp, chất lượng cao thì Việt Nam chưa sản xuất được hoặc sản xuất với một tỷ lệ rất thấp

Cũng giống như mặt hàng giày dép, hàng dệt may của Việt Nam xuất khẩu vào thị trường EU chủ yếu theo hình thức gia công (chiếm tỷ trọng gần 80%) nên hiệu quả thực té rất nhỏ Nguyên nhân là do: (1) Ngành dệt vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu về nguyên phụ liệu của ngành may; (2) Sự

dễ dãi và ít rủi ro của phương thức gia công nên ngành may tuy phát triển rất nhanh nhưng vẫn là một khu vực sản xuất thiếu tác phong công nghiệp

và thiếu khả năng cạnh tranh; (3) Phương thức phân bổ hạn ngạch chưa hợp

lý cũng đã kìm hãm tính năng động và sáng tạo của các doanh nghiệp may;

Trang 12

(4) Những rào cản trong thương mại dệt may tại thị trường EU Để đẩy mạnh xuất khẩu sang EU trong thời gian tới, ngoài nỗ lực của chính phủ tạo điều kiện cho ngành dệt may phát triển, các doanh nghiệp dệt may Việt Nam cần phải cải tiến chất lượng cà đa dạng hoá sản phẩm để đáp ứng yêu cầu của thị trường và có thể cạnh tranh được với các sản phẩm của Trung Quốc và các nước ASEAN khác trên thị trường này khi EU huỷ bỏ chế độ hạn ngạch.

Nếu những năm tới chế độ hạn ngạch bị bãi bỏ, tuy không còn các hạn chế định lượng nhưng đồng thời Việt Nam cũng sẽ không được hưởng các ưu đãi về thuế quan, vì vậy đòi hỏi sản phẩm dệt may của ta phải nâng cao khả năng cạnh tranh để duy trì vị trí trên thị trường Bên cạnh đó, EU là một thị trường đòi hỏi cao về chất lượng và mẫu mốt Thời trang là một trong những yếu tố quyết định tiêu thụ sản phẩm trên thị trường này Xu hướng buôn bán nội khu vực giữa các nước EU cũng là một khó khăn cho Việt Nam trong khả năng tăng xuất khẩu sang thị trường này

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU

HÀNG DỆT MAY SANG EU.

I Những quy định hiện nay đối với hoạt động xuất khẩu dệt may Việt Nam sang EU

Bất chấp hệ thống điều hoà EU có thể tạo điều kiện cho thương mại tự do giữa các nước thành viên trong EU, mỗi thị trường thành viên có những yêu cầu khác nhau liên quan đến vấn đề chất lượng, loại vải, sợi, các tiêu chuẩn, kích cỡ, mầu sắc…

1 Chất lượng và các tiêu chuẩn phân loại

Khđng có tiêu chuẩn chung của EU cho các sản phẩm may mặc Đa

số các nhà nhập khẩu, đặc biệt là các tổ chức bán lẻ, làm việc trên cơ sở một số các yêu cầu tối thiểu Trên khía cạnh này, nhà nhập khẩu đã hình

Trang 13

thành và đưa ra những yêu cầu chất lượng tối thiểu liên quan đến cả vật liệu

b Các công cụ tài chính tại EU

Bên cạnh luật pháp, một trong những công cụ chính của EU trong việc xúc tiến các sản phẩm môi trưởng là hình thức thuởng ưu đãi giảm trên

‘thuế môi trường’ trên sản phẩm Ví dụ các hệ thống ưu đãi thường là những trợ giá thông thường và hỗ trợ kế hoạch tổ chức tuy nhiên các hệ thống thuế này cũng hỗ trợ hệ thống GSP xanh Hệ thống GSP hoạt động trên cơ sở giả định rằng những ưu đãi tăng thêm có thể được thưởng cho doanh nghiệp, cho những nhà sản xuất cam kết vấn đề môi trường và cho những công ty nghiên cứu các kỹ thuật sản xuất sạch hơn Ngoài ra nguyên tắc ‘tiền phạt đối với những người làm ô nhiễm’ trở nên hiển nhiên tại EU, các chi phí ngăn ngừa và dọn dẹp ô nhiễm được quy trách nhiệm cho người gây ô nhiễm Các nhà nhập khẩu đối mặt với vấn đề này thường muốn chia sẽ những chi phí phụ trội với các đối tác ở các quốc gia đang phát triển của họ

c Phát triển kinh doanh bền vững; phát triển các nhãn sinh thái và các tiêu chuẩn quản lý môi trường

Khái niệm về phát triển bền vững được áp dụng hầu như ở tất cả các quốc gia sau Hội nghị Rio de Janeiro 1992, với ý nghĩa là sự phát triển kinh

Trang 14

tế nên tự động đưa vào vấn đề mơi trường, nhận thức thực tế cho thấy rằng các hoạt động ơ nhiễm hiện nay sẽ cĩ những tác động tiêu cực rất lớn cho thế hệ tương lai Tất cả các bên, gồm cả khu vực cơng và các nhà sản xuất được yêu cầu chịu trách nhiệm xã hội và giảm thiểu các ảnh hưởng về mơi trường từ các hoạt động của mình

Trong những năm gần đây, các vấn đề về mơi trường như Đánh giá Chu kỳ Sống của sản phẩm - Life Cycle Assessment of products, Sản xuất Sạch hơn – Cleaner Production (CP) và Ecodesign trở nên những cơng cụ quan trọng cho các cơng ty muốn chứng minh tiến trình mơi trường trên sản phẩm của họ và các tiến trình sản xuất (bằng cách phân tích những ảnh hưởng mơi trường lớn nhất và sử lý cải thiện các ảnh hưởng này) Điều này

cĩ thể dẫn tới cả những lợi ích mang tính chất nội bộ và bên ngồi

Các nhãn sinh thái Ecolabel

Nhu cầu cho các sản phẩm mang tính mơi trường ngày càng tăng, đặc biệt trong lãnh vực hàng tiên dùng; người tiêu dùng địi hỏi những sản phẩm dễ dàng được nhận diện và được gắn nhãn theo sự khuyến khích của luật pháp Những dấu xác nhận tiêu chuẩn cho sản phẩm mang tính mơi trường thường được biết đến như một nhãn sinh thái Những dấu xác nhận chỉ ra rằng sản phẩm giảm ảnh hưởng đến mơi trường so với các sản phẩm tương tự Các nhãn sinh thái mang tính chất tự nguyện tuy nhiên cĩ thể cho rằng đây là một cơng cụ cạnh tranh mạnh 4 nhãn hiệu quan trọng tại EU được áp dụng cho các sản phẩm may mặc thơng thường là EU Ecolabel, nhãn OKO-Tex, SKAL EKO và nhãn SG

- EU ecolabel: Nhãn hiệu EU Ecolabel được áp dụng cho drap trải dường và Aùo thun (Theo Quyết định 96/304/EC) EU Ecolabel được áp dụng cho áo thun dệt kim, áo thun trơn, cổ trịn, áo tay ngăn hoặc tay dài, được thiết kế để mặc ngồi trời Hàng thêu và hàng in, ngoại trừ hàng in nền nhựa Chỉ sử dụng chỉ may cho hàng thêu Aùo thun để bán khơng

Trang 15

được chỉnh sửa (Tham khảo về Eu ecolabel tại eu-c-3)

- Milieukeur: Dutch Stichting Milieuker (Nền tảng khảo sát môi trường – environmental Review Foundation) đã được xây dựng các tiêu chuẩn cho ngày dệt may Các tiêu chuẩn tập trung vào tiến trình chế biến/tinh chế các sản phẩm dệt Các yêu cầu quy định về chất thải vào không khí và nước Không cho phép sử dụng cloride trong tẩy sản phẩm Ngoài ra cũng quy định mức tối đa cho phép đối với các loại kim loại nặng

có trong sản phẩm cuối cùng và cũng có những giới hạn đối với thuốc trừ sâu orgnochloride, EOX, các chất tạo mầu và formaldehyde

- OKO-Tex: Nhãn tiêu chuẩn OKO- Tex 100’ (theo Các tiêu chuẩn Châu âu Điều hoà EN45014) không kiểm tra toàn bộ quá trình chế biến sản phẩm, chỉ tập trung vào sản phẩm cuối cùng Nhãn hiện này rất thông dụng tại Đức

- SKAL: SKAL là một cơ quan kiểm định quốc tế độc lập đối với các phương pháp sản xuất hữu cơ và cơ quan này sở hữu dấu xác nhận nhận đăng ký chính thức EKO SKAL được Chính phủ Hà Lan và Đức ủy quyền theo quy định ECC 2092/91 Hệ thống kiểm định của SKAL áp dụng trên toàn bộ dây truyền sản xuất từ thu hoạch bông cho đến sản xuất ra sợi Hệ thống tập trung vào các giai đoạn sản xuầt và kiểm tra giai đoạn nào được cho phép, giai đoạn nào không Và hệ thống cũng có những tiêu chuẩn cho các tiến trình hoàn tất được cho phép như sử lý không thấm nước, sử lý không co, phủ bên ngoài, tạo độ bền, thấm nước hoặc không thấm nước… SKAL cũng định rõ những yêu cầu đối với sản phẩm cuối cùng và đóng gói cho hàng dệt

- Nhãn SG: Nhãn SG (Schadstoffgepruft-Zeichen) viết tắt từ nghĩa

‘kiểm tra các chất nguy hiểm’, không chỉ áp dụng cho ngành dệt may, mà còn áp dụng cho nhiều nhóm sản phẩm khác Nó quy định những mức giới hạn cho các chất nguy hiểm như formaldehyde, pentachlorophenol (PC),

Trang 16

chlorified phenols (non –PCP), thuốc trừ sâu, arsen, chì, cadmium, thủy ngân, nickel, chromium…

Các điều kiện lao động :”Schone Keren Kampagne”/”Chiến dịch Quần áo Sạch”: Bên cạnh các nhãn hiệu sinh thái trên sản phẩm, EU cũng thực hiện những chương trình với nội dung cải thiện các điều kiện lao động trong ngành công nghiệp may Với mục đích này Quy tắc Đạo đức – Code

of Conduct đã được phát triển : the “Eerlijk Handels handvest voor kleding” – EHH, Các Quy định Thương mại Công Bằng cho ngành may mặc Các vấn đề được xem xét là:

- Thanh toán lương thực

- Tự do trong tổ chức và đàm phán lương tập thể

- Không bắt buộc làm thêm giờ

- Không phân biệt đối xử

- Không sử dụng lao động trẻ em

- Các điều kiện an toàn và sức khỏe tại nơi làm việc

Các tiêu chuẩn được đưa ra dựa trên cơ sử các hiệp định của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO)

d Các tiêu chuẩn về môi trường

Các tiến trình thực hiện nhãn sinh thái nhắm tới các sản phẩm và chỉ

ra rằng sản phẩm có nhãn có một hiệu ứng với môi trường thấp hơn so với các sản phẩm khác Nếu một nhà sản xuất muốn chỉ ra cho mọi người biết rằng mình sản xuất theo phương pháp bảo vệ môi trường, nhà sản xuất có thể tuân thủ theo các tiêu chuẩn được đặt ra cho mục đích này Hiện tại 2

hệ thống tiêu chuẩn mang tính chất tự nguyện và chung nhất là ISO 14001

và EMAS Cả hai tiêu chuẩn này đều dựa trên các tiêu chuẩn quản lý chất lượng ISO 9000

EMAS chủ yếu được áp dụng cho các công ty sản xuất tại EU vào EMAS chỉ được áp dụng rộng rãi tại Đức Hệ thống EMAS tương đối khó

Trang 17

đối với các doanh nghiệp và tốn nhiều chi phí do vậy các công ty nên sử dụng ISO 14001

e Các vấn đề liên quan đến sản phẩm

Các vật liệu chính sử dụng cho sản xuất các sản phẩm may mặc thông thường là bông và sợi nhân tạo Trong quá trình sản xuất nhiều chất độc hại được thải ra Quá trình sản xuất có nhiều ảnh hưởng đến môi trường:

Chế biến sản xuất: ảnh hưởng lớn nhất chủ yếu trong giai đoạn trồng trọt nguyên liệu thô và giai đoạn sản xuất vải Các quá trình này tiêu thụ một lượng nước rất lớn và nhiều hoá chất được sử dụng trong quá trình sử

lý ướt và tạo ra nhiều chất thải Rất nhiều nước được sử dụng trong quá trình chế biến tinh lọc vài Sau đó nước được bỏ đi dưới dạng nước thải sau khi đã qua nhiều tiến trình sử lý nhiều chất khác nhau Một lượng lớn các chất có oxygen được thải ra trong nước thải khi tạo khổ và làm sạch sợi vải Trong vài trường hợp, có một lượng nhỏ chất biocide được tìmthấy trong các nguyên liệu cotton thô Nhiều chất độc không thể hủy bằng phương pháp vi khuẩn cũng có thể tìm thấy trong quá trình giặt tẩy phi i-ong Các chất tẩy rửa này có thể là nguyên nhân gây nên các vấn đề trên bề mặt nước Chất ảnh hưởng đến môi trường quan trọng nhất là hypochloride thải

ra trong quá trình tẩy trắng Một lợi thế của quần áo bằng sợi nhân tạo là sử dụng ít hoá chất trong quá trình sản xuất Tuy nhiên điểm bất lợi là sử dụng nguồn dự trữ dầu mỏ

In và nhuộm: Nhuộm là 1 giai đoạn chính làm ô nhiễm nước thải trong quá trình in và nhuộm Tỉ lệ phần trăm nhuộm không cố định trên vải, thay đổi từ 1-2% đối với thuốc nhuộm mầu và crom và từ 30-40% đối với thuốc nhuộm phản ứng và phosphorus Trong 1 nghiên cứu trên 300 loại thuốc nhuộm, kết quả cho thấy 2% chất nhuộm vải rất độc khi kết hợp với nước Đa số các loại thuốc nhuộm có tính bền vững và có thể được coi là

Trang 18

không manh tính sinh thái hoặc khá nguy hiểm đối với môi trường Nhiều loại thuốc nhuộm cho cấu trúc hoá học có một số chất gây ung thư như hợp chất di, tri và poly-azo Một số loại thuốc nhuộm còn chứa các kim loại nặng như đồng, crom hoặc cobalt Các loại thuốc nhuộm phản ứng mầu và thuốc nhuộm trực tiếp thường không độc Các chất mang độc tố được tìm thấy trong phần dư của bồn nhuộm và trong nước thải; tuy nhiên các chất này được coi là

ít độc đối với các tổ chức nước tuy nhiên vẫn có tính bền vững

Nhuộm mang sắc thái môi trường hơn: Kế hoạch sản xuất và quy mô thích hợp sẽ tạo hiệu quả cao hơn trong quá trình nhuộm Một số hướng dẫn là:

- Cho nhiều sợi vào một bồn nhuộm

- Tránh sử dụng 1 bồn chứa đầy thuốc nhuộm cho 1 số nhỏ sợi

- Kiểm tra khả năng nhuộm những lô sau với cùng hoặc với mầu tối hơn Việc sử dụng lại bồn nhuộm là một phương pháp có thể được thực hiện nhằm giảm chi phí, tiết kiệm năng lượng và giảm sử dụng nguồn nước, trong một vài ứng dụng sử lý ướt đối với vải

Một phương pháp nhuộm cải tiến là nhuộm bồn đệm – pad batch dyeing (phương pháp chân không) Biện pháp này đã được thực hiện thành công đối với nhiều ứng dụng Đối với phương pháp này, sợi đã được chuẩn

bị được nhúng vào một dung dịch chứa thuốc nhuộm sợi phản ứng, được chộn trước với alkali Dung dịch dư sẽ được vắt ra khỏi bằng máy cán Sợi được xếp theo cuộn hoặc trong hộp và bọc trong bao film nhựa nhằm ngăn cản sự hấp thụ của carbon dioxide từ không khí hoặc sự bay hơi nước Tiếp theo sợi được giữ từ 2 đến 12 tiếng Sau đó sợi được rửa bằng nhiều phương pháp, phụ thuộc vào thiết bị sẵn có của từng nhà sản xuất

Thuốc nhuộm sạch: Các loại thuốc nhuộm từ thực vật mang tính môi trường hơn là các loại thuốc nhuộm từ nguyên liệu hoá thạch

Xử lý nước: Sử dụng hiệu quả nước là một trong những yếu tố

Trang 19

quan trọng trong sản xuất sạch khi sử lý vải sợi Có nhiều phương pháp tái sử lý nước:

- Nhuộm hồ nước lạnh – cone-dye cooling water;

- Tái sử lý nước từ hệ thống điều hoà nhiệt độ;

- Cải thiện việc cải tạo lại nước cứng và dịch vụ;

- Kế hoạch bảo trì các cửa hơi;

Nhuộm Azo và các chất độc hại khác: Các loại thuốc nhuộm Azo được sử dụng trong quá trình tạo mầu cho vải sợi Một số chất tạo mầu azo

có chứa tính chất gây ung thư hoặc có thể hình thành các chất amin mà có các chất gây ung thư và các chất dễ biến đổi Nhiều loại thuốc nhuộm azo

bị cấm tại Đức, lệnh cấm các loại thuốc nhuộm azo được áp dụng cho tất cả các sản phẩm tiếp xúc với da trong thời gian dài Tại Hà Lan, lệnh cấm thuốc nhuộm azo chỉ áp dụng đối với giày dép, grap trải giuờng và quần áo Nhìn chung khoảng 120 loại thuốc nhuộm azo bị cấm Một số chất khác cũng bị cấm tại một số các quốc gia thành viên EU là pentachlorophenol, một số chất làm chậm cháy, PCB và PCT, asbestos, cadmium, formaldehyde và nickel

3 Đóng gói, nhãn hiệu và ghi nhãn

a Đóng gói

Cần phải quan tâm đến bao bì đóng gói sản phẩm khi xuất khẩu sang

EU Cần phải nghiên cứu kỹ vấn đề bao bì để đảm bảo bảo vệ hàng hoá trong quá trình vận chuyển qua nhiều quốc gia Các sản phẩm phải được bảo vệ chống lại thời tiết, những thay đổi nhiệt độ, sử lý không cẩn thận và

ăn cắp

Một số nhà nhập khẩu có những nhu cầu đặc biệt liên quan đến bao

bì Vì những lý do về môi trường, bao bì đóng gói từ những vật liệu như PVC… ít thông dụng đối với người tiêu dùng và trong vài trường hợp, chính phủ có thể cấm sử dụng loại vật liệu này Các nhà xuất khẩu từ

Trang 20

những quốc gia đang phát triển cần phải thảo luận về vấn đề này với các khách hàng tiềm năng của mình và nên dự trù trước các chi phí đóng gói đặc biệt trong giá bán sỉ nếu được yêu cầu

- Kích cỡ mark : Các số đo cho con người được sử dụng: chiều dài, vòng ngực, vòng hông 3 số đo cơ bản này xác định kích cỡ cho hàng may mặc

- Ghi nhãn: Việc ghi nhãn phải đảm bảo thông tin cho người tiêu dùng về tương lai và sản phẩm thực sự mua được Thông tin cung cấp được ghi trên nhãn từ thành phần sợi vải chính tạo nên sản phẩm cho đến thông tin an toàn tiêu dùng Thông thường có 2 lại phương pháp:

- Các yêu cầu bắt buộc như xuất xứ, thành phần sợi, khả năng cháy;

- Các yêu cầu tự nguyện như nhãn hiệu quan tâm/hướng dẫn giặt tẩy

và kích cỡ của nhãn

Chương trình nhãn hiệu quan tâm tự nguyện được sử dụng trên nhiều quốc gia tại EU Chương trình sử dụng 5 loại biểu tượng là mã mầu; các biểu tượng liên quan đến tính bền vững của mầu sắc, ổn định về kích cỡ, ảnh hưởng của cloren (trong chất tẩy), nhiệt độ ủi an toàn nhất và một vài đặc tính khác

Hệ thống GSP – Generalized System of Preferences áp dụng từ

1-1-1995 được thay thế bằng RGSP – Renewed Generalized System of Preferences

Hiệp định Lomé lần thứ 4 cho các quốc gia Châu Phi, Caribbean và Thái Bình Dương

Trang 21

RGSP: hiệp định này cho phép các sản phẩm từ các quốc gia có liên quan có thể nhập khẩu theo biểu suất thuế ưu đãi hoặc sản phẩm từ các quốc gia kém phát triển được miễn thuế nhập khẩu Nhà xuất khẩu phải điền vào ‘Chứng nhận Xuất xứ Form A’, được cơ quan có thẩm quyền ban hành Hệ thống thuế tình cờ và thuế trần không tồn tại

Hiệp định Lomé: Các sản phẩm có nguồn gốc từ các quốc gia ACP

có thể được nhập khẩu miễn thuế, khi nhà xuất khẩu điền vào “Chứng nhận Vận chuyển EUR.1” và do Hải quan của nước xuất khẩu cấp

II Tình hình xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang EU

Hoat đông xuất khâu hàng dệt may Việt Nam sang EU đang khá thuận lợi Theo số liệu thống kê, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang EU trong hai tháng đầu năm đạt 240 triệu USD, tăng 22% so với cùng kỳ năm ngoái Được đánh giá là năm khó khăn đối với hàng dệt may Việt Nam tại EU, do hàng dệt may của Trung Quốc được dỡ bỏ hạn ngạch

Nhưng với kết quả đã đạt được trong thời gian vưa qua đặc biệt là hai tháng đầu năm 2008 là một tín hiệu tốt cho việc đạt chỉ tiêu xuất khẩu vào thị trường EU Với đà tăng trưởng cao, được sự quan tâm của các cấp, các ngành cùng với sự thuận lợi về tỷ giá giữa các đồng tiền trong xuất khẩu của các Việt Nam, thì xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang EU sẽ giữ được mức tăng trưởng cao trong thời gian tới

- Đạt được mức tăng trưởng xuất khẩu cao trong 2 tháng qua là nhờ tăng xuất sang hầu hết các nước thành viên có mức nhập khẩu nhiều hàng dệt may từ Việt Nam như Anh, Pháp, Hà Lan, Tây Ban Nha với các mức tăng cụ thể:

+ Anh tăng 34%

+ Pháp tăng 27%

+ Tây Ban Nha tăng 25%

Ngày đăng: 26/07/2013, 15:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w