Trong xu thế hội nhập kinh tế như hiện nay, đặc biệt là khi Việt Nam đã ra nhập WTO thì việc phát triển cơ sở hạ tầng nói chung và cơ sở hạ tầng đô thị nói riêng một cách đồng bộ, đạt trình độ tiên tiến, tiêu chuẩn hiện đại đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội, vừa là điều kiện vừa là một nội dung cơ bản của sự nghiệp CNH – HĐH đất nước và tạo cơ sở quan trọng cho sự nghiệp đổi mới và phát triển bền vững nền kinh tế đất nước. Nó là động lực để phát triển kinh tế, hội nhập kinh tế quốc tế và rút ngắn khoảng cách với bên ngoài. Hệ thống cơ sở hạ tầng tiên tiến và đồng bộ tạo điều kiện phát triển đồng đều giữa các địa phương, các vùng lãnh thổ, làm giảm sự chênh lệch về mức sống và dân trí giữa các khu vực dân cư. Tốc độ đô thị hóa ngày càng tăng, dân số đô thị cũng tăng lên với tốc độ chóng mặt, điều này sẽ đồng nghĩa với sự gia tăng các nhu cầu. Một trong những nhu cầu đó là nhu cầu tiêu thụ nước sạch ở đô thị. Để giải quyết vấn đề trên thì yêu cầu đặt ra là đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước. Do vậy, vấn đề về vốn để đầu tư cho cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị là rất lớn, cần phải đa dạng hóa các nguồn vốn cho việc đầu tư phát triển. Nhưng khi mà các nguồn vốn Ngân sách nhà nước, nguồn vốn ưu đãi quốc tế như ODA có xu hướng giảm thì việc đẩy mạnh thu hút đầu tư tư nhân đang ngày càng trở nên có vai trò quan trọng hơn. Tuy nhiên trong giai đoạn hiện nay thì việc thu hút vốn đầu tư tư nhân còn chiếm tỷ trọng nhỏ. Vì vậy vấn đề đặt ra là làm thế nào để thu hút đầu tư tư nhân vào cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị? Và đó cũng là lý do vì sao em chọn đề tài : “ Một số giải pháp thu hút đầu tư tư nhân vào phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị đến năm 2015 ở Việt Nam ”.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài.
Trong xu thế hội nhập kinh tế như hiện nay, đặc biệt là khi Việt Nam
đã ra nhập WTO thì việc phát triển cơ sở hạ tầng nói chung và cơ sở hạ tầng
đô thị nói riêng một cách đồng bộ, đạt trình độ tiên tiến, tiêu chuẩn hiện đạiđáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội, vừa là điều kiện vừa là một nộidung cơ bản của sự nghiệp CNH – HĐH đất nước và tạo cơ sở quan trọng cho
sự nghiệp đổi mới và phát triển bền vững nền kinh tế đất nước Nó là độnglực để phát triển kinh tế, hội nhập kinh tế quốc tế và rút ngắn khoảng cách vớibên ngoài Hệ thống cơ sở hạ tầng tiên tiến và đồng bộ tạo điều kiện phát triểnđồng đều giữa các địa phương, các vùng lãnh thổ, làm giảm sự chênh lệch vềmức sống và dân trí giữa các khu vực dân cư
Tốc độ đô thị hóa ngày càng tăng, dân số đô thị cũng tăng lên với tốc
độ chóng mặt, điều này sẽ đồng nghĩa với sự gia tăng các nhu cầu Một trongnhững nhu cầu đó là nhu cầu tiêu thụ nước sạch ở đô thị Để giải quyết vấn đềtrên thì yêu cầu đặt ra là đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước Do vậy, vấn
đề về vốn để đầu tư cho cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị là rất lớn, cần phải đadạng hóa các nguồn vốn cho việc đầu tư phát triển Nhưng khi mà các nguồnvốn Ngân sách nhà nước, nguồn vốn ưu đãi quốc tế như ODA có xu hướnggiảm thì việc đẩy mạnh thu hút đầu tư tư nhân đang ngày càng trở nên có vaitrò quan trọng hơn Tuy nhiên trong giai đoạn hiện nay thì việc thu hút vốnđầu tư tư nhân còn chiếm tỷ trọng nhỏ Vì vậy vấn đề đặt ra là làm thế nào đểthu hút đầu tư tư nhân vào cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị? Và đó cũng là lý do
vì sao em chọn đề tài : “ Một số giải pháp thu hút đầu tư tư nhân vào phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị đến năm 2015 ở Việt Nam ”.
Trang 22 Đối tượng nghiên cứu của đề tài.
Đề tài sẽ tập trung nghiên cứu vấn đề đầu tư phát triển cơ sở hạ tầngcấp nước và đầu tư tư nhân trong phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị
3 Phương pháp nghiên cứu.
Phương pháp chủ đạo trong đề tài là sử dụng phương pháp duy vật biệnchứng, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh
4 Kết cấu của đề tài.
Đề tài được trình bày trong 3 chương :
Chương I Cơ sở hạ tầng đô thị và sự cần thiết của đầu tư tư nhân vàocơ
Trang 3Chương 1 : Cơ sở hạ tầng đô thị và sự cần thiết của đầu tư
tư nhân vào phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị
1.1 Cơ sở hạ tầng và cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị
1.1.1 Cơ sở hạ tầng và phân loại cơ sở hạ tầng
1.1.1.1 Khái niệm chung về cơ sở hạ tầng.
Trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất, năng lực sản xuất hay sứcsản xuất được quyết định bởi lực lượng sản xuất Đến lượt mình, toàn bộ lựclượng sản xuất chỉ có thể hoạt động bình thường trên cơ sở nền tảng hoànchỉnh hay có đầy đủ các điều kiện Điều kiện đó là lao động, tư liệu lao động,
tư liệu sản xuất và công nghệ Trong tư liệu sản xuất, có một bộ phận thamgia vào quá trình sản xuất với tính cách là những cơ sở, phương diện chung
mà nếu thiếu nó thì quá trình sản xuất và những dịch vụ trong sản xuất sẽ trởnên khó khăn hay không thể diễn ra được Tòan bộ những phương diện đóđược đề cập trong khái niệm cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng là toàn bộ những hệ thống cấu trúc, thiết bị và các công trình vật chất, kỹ thuật được tạo lập tồn tại và phát huy tác dụng trong mỗi quốc gia, khu vực hay vùng lãnh thổ, đóng vai trò là nền tảng và điều kiện chung cho các hoạt động kinh tế - xã hội, cho quá trình sản xuất và nâng cao đời sống dân cư.
Thuật ngữ cơ sở hạ tầng ngày càng được sử dụng nhiều, tuy nhiên ngay
cả thuật ngữ này cũng còn nhiều ý kiến khác nhau, chúng ta có thể thấy có hailoại ý kiến khác nhau xuất phát từ hai quan niệm theo nghĩa rộng và theonghĩa hẹp về cơ sở hạ tầng
Theo nghĩa hẹp, cơ sở hạ tầng được hiểu là tập hợp các ngành phi sảnxuất vật chất thuộc lĩnh vực lưu thông bao gồm các công trình vật chất kỹ
Trang 4thuật phi sản xuất và các tổ chức dịch vụ có chức năng bảo đảm những điềukiện chung cho sản xuất, phục vụ những yêu cầu phổ biến của sản xuất và đờisống xã hội, theo cách hiểu này cơ sở hạ tầng chỉ bao gồm các công trìnhgiao thông, cấp thoát nước, cung ứng điện, hệ thống thông tin liên lạc…và cácđơn vị bảo đảm duy trì các công trình này Tuy nhiên, quan niệm cơ sở hạtầng theo nghĩa hẹp không cho chúng ta thấy mối quan hệ hữu cơ giữa các bộphận vốn không cùng tính chất nhưng lại có mối liên quan mật thiết với nhautrong một hệ thống thống nhất
Theo nghĩa rộng, cơ sở hạ tầng là tổng thể các công trình và nội dunghoạt động có chức năng đảm bảo những điều kiện “ bên ngoài” cho việc sảnxuất và sinh hoạt của dân cư Cơ sở hạ tầng là một phạm trù gần nghĩa với
“môi trường kinh tế” bao gồm các phân hệ : Phân hệ kỹ thuật (đường, giaothông, cầu cảng, sân bay, năng lượng, bưu chính viễn thông…), phân hệ tàichính ( hệ thống tài chính, tín dụng…), phân hệ thiết chế ( pháp luật…), phân
hệ xã hội ( giáo dục, y tế…) Theo cách hiểu này thì cơ sở hạ tầng rất rộng, nóbao gồm toàn bộ khu vực dịch vụ Theo nghĩa rộng thì cơ sở hạ tầng không có
sự đồng nghĩa và lẫn lộn giữa phạm trù “ khu vực dịch vụ” hoặc là “ môitrường kinh tế” bởi cơ sở hạ tầng tạo điều kiện cho các khu vực kinh tế khácnhau phát triển
Như vậy, cơ sở hạ tầng là tổng hợp các công trình vật chất kỹ thuật cóchức năng phục vụ trực tiếp cho sản xuất và đời sống của nhân dân, được bốtrí trên phạm vi lãnh thổ nhất định Các công trình vật chất kỹ thuật ở đây rất
đa dạng như các công trình giao thông vận tải (đường xá, cầu cống, sânbay…); các công trình của ngành bưu chính - viễn thông ( hệ thống đườngcáp quang, các trạm, vệ tinh…) hay các công trình của ngành điện (đườngdây, nhà máy phát điện…)… Các công trình này có vị trí hết sức quan trọng,
nó phục vụ trực tiếp và gián tiếp cho các hoạt động của xã hội
Trang 5Xét ở góc độ nào thì cơ sở hạ tầng cũng là một yếu tố, một chỉ số của
sự phát triển Hiện nay, xu thế hội nhập đang diễn ta mạnh mẽ thì tầm quantrọng của cơ sở hạ tầng ngày càng tăng lên, cơ sở hạ tầng là nền tảng trong đódiễn ra các quá trình phát triển mà thiếu nó ( ví dụ như: hệ thống thông tinviễn thông hiện đại, hệ thống giao thông vận tải, văn hóa, xã hội…) thì sựphát triển khó có thể diễn ra trôi chảy Chính vì điều đó mà việc xây dựng cơ
sở hạ tầng trở thành một nội dung quyết định của sự phát triển, nó đem lại sựthay đổi lớn về điều kiện vật chất của toàn bộ sinh hoạt trong kinh tế xã hội
1.1.1.2 Phân loại cơ sở hạ tầng
Để có thể nhận biết và có biện pháp tạo lập vốn phù hợp đối với từngloại sơ sở hạ tầng nhằm tạo điều kiện huy động tối đa các nguồn lực cho pháttriển cơ sở hạ tầng, có thể phân chia cơ sở hạ tầng theo nhiều tiêu thức khácnhau:
Theo tiêu thức ngành kinh tế quốc dân:
Dựa vào tiêu thức phân loại này, cơ sở hạ tầng được chia thành : Cơ sở
hạ tầng kinh tế : bao gồm cơ sở hạ tầng công nghiệp, nông nghiệp, giao thôngvận tải, bưu chính viễn thông…; Cơ sở hạ tầng xã hội: bao gồm cơ sở hạ tầnggiáo dục đào tạo, y tế, văn hoá, thể dục thể thao…
Theo đó, Cơ sở hạ tầng kinh tế là cơ sở hạ tầng phục vụ lĩnh vực kinh
tế, đó là hệ thống vật chất kỹ thuật cho sự phát triển của các ngành, các lĩnhvực kinh tế như cơ sở hạ tầng của ngành công nghiệp, nông nghiệp, hệ thốnggiao thông vận tải; mạng lưới chuyên tải và phân phối năng lượng điện; hệthống công trình và phương tiện thông tin liên lạc, bưu điện, viễn thông, cấpthoát nước…
Cơ sở hạ tầng phục vụ lĩnh vực xã hội ( Cơ sở hạ tầng xã hội) : Đó làtoàn bộ hệ thống vật chất kỹ thuật phục vụ cho các hoạt động văn hoá, xã hộiđảm bảo cho việc thoả mãn và nâng cao trình độ dân trí, văn hoá tinh thần cho
Trang 6dân cư, cho quá trình tái sản xuất sức lao động của xã hội như các cơ sở, thiết
bị và công trình phục vụ giáo dục đào tạo, nghiên cứu khoa học, các cơ sỏ y tếphục vụ chăm sóc sức khỏe…nó thường gắn với đời sống của các điểm dân
cư, góp phần ổn định nâng cao đời sống dân cư trên lãnh thổ
Sự phân chia này chỉ là tương đối vì trên thực tế, ít loại cơ sở hạ tầng nào hoàn toàn chỉ phục vụ kinh tế mà không phục vụ hoạt động xã hội vàngược lại Chẳng hạn như hệ thống mạng lưới điện mở rộng đến nông thôn,đến vùng sâu, vùng xa giúp cho việc phát triển sản xuất nhưng đồng thời nócòn phục vụ cho đời sống, ở những nơi có điện, người dân có thể sử dụng cácphương tiện hiện đại như đài, ti vi… để tiếp cận với những thông tin văn hóa
xã hôi, nâng cao trình độ dân trí
Sự phân chia này cho phép chúng ta xác định rõ vai trò, chức năng,nhiệm vụ, quyền hạn của từng ngành cụ thể, đồng thời xác lập mối quan hệliên kết và phối hợp đồng bộ giữa các ngành trong quá trình xây dựng kếhoạch huy động vốn đầu tư một cách cân đối và hợp lý
Theo khu vực lãnh thổ:
Cơ sở hạ tầng ở mỗi ngành , mỗi lĩnh vực hoặc liên ngành, liên lĩnh vựchợp thành một tổng thể hoạt động, phối hợp hài hòa nhằm phục vụ sự pháttriển của tổng thế kinh tế - xã hội-an ninh - quốc phòng trên từng vùng và cảnước Sự phát triển kinh tế - xã hội và cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội trên mộtvùng lãnh thổ có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Mà mỗi vùng lãnh thổ riêngbiệt lại có cơ sở hạ tầng riêng biệt, do đó phải có cơ sở hạ tầng phù hợp
Theo tiêu thức phân loại này, Cơ sở hạ tầng được phân chia thành: Cơ sở
hạ tầng đô thị và Cơ sở hạ tầng nông thôn
Trang 7 Theo cấp quản lý và đối tượng quản lý
Căn cứ vào tiêu chí này, Cơ sở hạ tầng được chia thành : Hệ thống cơ
sở hạ tầng kinh tế xã hội do trung ương quản lý, hệ thống cơ sở hạ tầng dođịa phương quản lý
Hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội do trung ương quản lý bao gồmnhững tài sản quan trọng, có giá trị lớn, có chiến lược quốc gia gồm : hệthống đường quốc lộ, đường sắt, sân bay, bưu chính viễn thông, điện, cáctrung tâm y tế, giáo dục lớn …
Hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội do địa phương quản lý, đó lànhững tài sản được nhà nước giao cho địa phương quản lý như : đường giaothông liên tỉnh, các trạm bơm tưới tiêu, hệ thống cơ sở vật chất các ngànhgiáo dục, y tế, văn hoá xã hội của địa phương
Cách phân loại này cho phép chúng ta xác định rõ trách nhiệm củatừng cấp chính quyền trong việc quản lý, khai thác và sử dụng các công trình
cơ sở hạ tầng Trên cơ sở đó để xây dựng kế hoạch huy động các nguồn vốnđầu tư theo quy hoạch, kế hoach đã đề ra
1.1.2 Cơ sở hạ tầng đô thị và phân loại cơ sở hạ tầng đô thị
1.1.2.1 Khái niệm cơ sở hạ tầng đô thị
Đô thị là một điểm tập trung dân cư với mật độ cao, chủ yếu là laođộng phi nông nghiệp, có hạ tầng cơ sở thích hợp là trung tâm tổng hợp haytrung tâm chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của
cả nước của một vùng lãnh thổ, một tỉnh, một huyện hay một vùng trong tỉnh,trong huyện
Cơ sở hạ tầng đô thị là một bộ phận của cơ sở hạ tầng kinh tế Cơ sở hạtầng đô thị là những tài sản vật chất và các hoạt động hạ tầng có liên quandùng để phục vụ các nhu cầu kinh tế - xã hội của cộng đồng dân cư đô thị Nóchính là tiêu chuẩn để phân biệt đô thị với nông thôn
Trang 8Cơ sở hạ tầng đô thị bao gồm toàn bộ các công trình giao thông vận tải,bưu điện, thông tin- liên lạc, dịch vụ xã hội như : đường sá, cấp thoát nước,sân bay, nhà ga, xe lửa, y tế, dịch vụ ăn uống công cộng, nghỉ ngơi, du lịch,vui chơi giải trí…phục vụ trực tiếp hoặc gián tiếp cho dân cư khu vực đô thị.
1.1.2.2 Phân loại cơ sở hạ tầng đô thị
Dựa vào các tiêu chí khác nhau, chúng ta có thể phân chia cơ sở hạ tầng
đô thị thành nhiều loại khác nhau, nhưng phân loại theo tính chất ngành làthông dụng nhất và có ý nghĩa nhiều nhất đối với công tác quy hoạch và pháttriển đô thị Theo tính chất này, cơ sở hạ tầng đô thị được phân chia thành: cơ
sở hạ tầng kỹ thuật đô thị, cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, cơ sở hạ tầng dịch vụ
xã hội
Cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị: đây là hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật
phục vụ cho sự phát triển của các ngành, các lĩnh vực kinh tế trong nền kinh
tế quốc dân bao gồm : hệ thống giao thông vận tải, cầu cống, sân bay, bếncảng, cấp thoát nước…Hệ thống cung ứng vật tư kỹ thuật, nguyên nhiên vậtliệu phục vụ sản xuất và đời sống; cơ sở hạ tầng môi trường phục vụ cho việcbảo vệ, giữ gìn và cải tạo môi trường sinh thái của đất nước và môi trườngsống của con người…
Cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội : Bao gồm toàn bộ các công trình như
nhà xưởng, kho bãi, khách sạn, khu thương mại (chơ, siêu thị ), trụ sở làmviệc của các cơ quan hành chính, kinh tế và các tổ chức xã hội…
Cơ sở hạ tầng dịch vụ xã hội : Đó là toàn bộ hệ thống cơ sở vật chất, kỹ
thuật phục vụ cho hoạt động văn hóa, xã hội, bảo đảm cho việc thỏa mãn vànâng cao trình độ lao động của người lao động, hệ thống này bao gồm các cơ
sở thiết bị và các công trình phục vụ cho giáo dục và đào tạo, nghiên cứukhoa học, các cơ sở y tế, văn nghệ, thể dục- thể thao…
Trang 91.1.3 Cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị
1.1.3.1 Khái niệm cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị
Trước hết, để hiểu được khái niệm về cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị,cần có một khái niệm chung nhất về cơ sở hạ tầng cấp nước Theo khái niệmchung nhất, cơ sở hạ tầng cấp nước là một bộ phận cấu thành cơ sở hạ tầng kỹthuật bao gồm một hệ thống các công trình kiến trúc và các phương tiện vậtchất kỹ thuật mang tính nền móng cho sự phát triển của cơ sở hạ tầng cấpnước, có chức năng phục vụ nhu cầu nước cho sản xuất và sinh hoạt của xãhội bao gồm hệ thống ống dẫn, các trạm bơm, các nhà máy nước…cùng vớicác cơ sở vật chất khác phục vụ cho người dân Xét về phạm vi lãnh thổ, nógồm có cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị và cơ sở hạ tầng cấp nước nông thôn
Từ khái niệm cơ sở hạ tầng cấp nước trên, chúng ta có thể định nghĩa
cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị như sau :
Cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị là một bộ phận cấu thành nên cơ sở hạ tầng cấp nước Nó bao gồm một hệ thống các công trình, nhà máy, đường ống, hệ thống ống dẫn, các trạm bơm…cùng những cơ sở vật chất khác ( hệ thống máy đếm nước…) phục vụ cho các đối tượng dân cư đô thị và đảm bảo cho họ được tham gia vào hệ thống cấp nước đô thị hoạt động một cách an toàn, thông suốt và liên tục.
1.1.3.2 Vai trò của cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị
Nhu cầu nước sạch là một trong những nhu cầu cơ bản của con người,trong quá trình phát triển nhu cầu của con người như nhu cầu ăn, mặc, nhucầu uống…Nước là một nhu cầu thiết yếu của con người Cơ thể con ngườichiếm tới 70% là nước Con người có thể sống một tuần mà không ăn nhưngkhông thể sống quá ba ngày nếu không có nước uống Vì vậy nước có thể coi
Trang 10là yếu tố không thể thiếu cho sự tồn tại và phát triển của con người Chỉ tiêungười dân được cung cấp nước sạch là một trong các chỉ tiêu phản ánh mức
độ cải thiện chất lượng cuộc sống con người trong quá trình phát triển
Việt Nam hiện nay có 708 đô thị với dân số 21,59 triệu người ( chiếm26,3% dân số toàn quốc) Cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị có vai trò quan trọngđối với sự phát triển bền vững của đô thị
Trước hết để biết được vai trò của cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị, ta tìmhiểu thế nào là nước sạch cũng như vai trò của nước sạch trong đời sống vàtrong sản xuất Nước sạch là nước phải trong, không có màu, không có mùi
vị, không chứa các mầm bệnh và các chất độc hại Chất lượng nước sạch sửdụng cho mục đích sinh hoạt phải đảm bảo theo quy chuẩn vệ sinh nước ănuống do Bộ trưởng Bộ Y Tế ban hành( Theo quyết định số1329/2002/BYT/QĐ ngày 18/04/2002 của Bộ trưởng Bộ Y Tế) Nước sạchphải đảm bảo chất lượng theo quy định trên toàn hệ thống từ sau công trình
xử lý đến người trực tiếp sử dụng
a/ Trong đời sống sinh hoạt cũng như trong sản xuất, nước sạch có vai trò
vô cùng quan trọng, nó đáp ứng nhu cầu số lượng và chất lượng cho sinh họat và sản xuất
Nhu cầu nước sạch trong đời sống sinh hoạt:
Nước là tài nguyên, là tư liệu thiết yếu cho cuộc sống con người.Không có nước thì không có sự sống Chúng ta cần nước cho sinh hoạt, bảo
vệ sức khoẻ và vệ sinh
Nước sạch có vai trò cực kì quan trọng trong đời sống của con người
Nó đáp ứng nhu cầu cơ bản của con người : ăn, uống Trong cơ thể con ngườichiếm tới 70% là nước, chúng ta có thể không ăn trong một tuần nhưng khôngthể sống không quá ba ngày mà không có nước Hàng ngày mỗi người cần tối
Trang 11thiểu 60 – 80 lít, tối đa tới 150 – 200 lít nước dùng cho sinh hoạt ; riêng lượngnước ăn uống vào cơ thể ít nhất cũng tới 1,5-2 lít mỗi ngày Ngoài ra, nướcdưới đất còn chứa 60 nguyên tố đa lượng, vi lượng rất cần thiết cho sự sống.
Nhu cầu nước sạch trong sản xuất:
Nước sạch không chỉ dùng trong ăn uống, sinh hoạt cho con người mà
nó càn rất cần cho sản xuất nông nghiệp (đảm bảo tưới tiêu nước đi đôi vớicải tạo đất lầy thụt, chua phèn, nhiễm mặn, bạc mầu, phục vụ thâm canh, tăngvụ), thuỷ sản, công nghiệp (góp phần quan trọng, bảo đảm các điều kiện đểphát triển ngành công nghiệp với nhịp độ cao, mở rộng quy mô và phân bố lạicác lĩnh vực sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại), dulịch và các ngành kinh tế khác Nước còn cần cho phát triển thuỷ điện và giaothông thuỷ
Xu hướng sử dụng nước sạch trong quá trình CNH – HĐH:
Tốc độ đô thị hóa ngày càng tăng nhanh, theo cùng tốc độ đó thì dân cư
đô thị ngày một tăng lên Mặc dù tốc độ tăng dân số tự nhiên ở các vùng đôthị thấp hơn so với ở nông thôn nhưng tốc độ tăng dân số cơ học của các vùng
đô thị lại cao hơn, do một bộ phận dân số chuyển từ các vùng nông thôn rathành thị tìm việc làm Do đó đòi hỏi nhu cầu về hệ thống cấp nước ngày càngcấp thiết
Thực tế cho chúng ta thấy, dân cư đô thị có nhu cầu chất lượng cao hơnnhững vùng khác Sở dĩ có những điều đó là do dân cư đô thị có mức sốngcao hơn so với dân cư khu vực nông thôn, do đó đòi hỏi về nước sạch cũngnhư mức độ sẵn sàng chi trả cho dịch vụ nước sạch của dân cư đô thị so vớidân cư nông thôn cũng cao hơn
Trang 12 Cơ sơ hạ tầng phát triển sẽ đảm bảo đáp ứng đủ và trên quy mô rộng cho các nhu cầu khác:
Việc phát triển cơ sở hạ tầng một cách đồng bộ dựa trên cơ sở quyhoạch tổng thể, quy hoạch đô thị và cơ sở hạ tầng đô thị sẽ góp phần giảmthiểu chi phí cho người tiêu dùng cũng như chi phí cho nhà kinh doanh nướcsạch
b/ Cơ sở hạ tầng nói chung và cơ sở hạ tầng cấp nước nói riêng phát triển
là yếu tố cần thiết tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, hấp dẫn để thu hút vốn đầu tư phát triển:
Cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị là điều kiện cho quá trình hình thành vàphát triển đô thị Nó là một trong những yếu tố cấu thành cơ sở hạ tầng đôthị , cung cấp những dịch vụ cơ bản, thiết yếu nhất cho các đô thị và phản ánhtrình độ phát triển của từng đô thị, trình độ văn minh của đô thị
Có thể nói, đối với các đô thị thì cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị cònđược coi là bộ mặt của đô thị, hơn thế nữa nó còn là bộ mặt của đất nước Dovậy chúng ta không thể không quan tâm đến cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị
Cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị là một trong những cơ sở hạ tầng rấtquan trọng, đáp ứng nhu cầu cần thiết của đời sống hàng ngày, quyết địnhviệc đảm bảo chất lượng vệ sinh môi trường sống cho người dân và góp phầntích cực phát triển và hiện đại hoá đô thị
1.2 Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị.
1.2.1 Một số quan niệm về đầu tư phát triển và đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị.
1.2.1.1 Khái niệm về đầu tư phát triển
Đầu tư là một hoạt động cơ bản tồn tại tất yếu và nó có vai trò quantrọng trong bất kì nền kinh tế xã hội nào Nói về khái niệm đầu tư, có rấtnhiều cách tiếp cận khác nhau
Trang 13Theo nghĩa rộng, đầu tư là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiếnhành các hoạt động nào đó nhằm thu về cho người đầu tư các kết quả nhấtđịnh trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được kết quả đó.
Nguồn lực đó có thể là tiền, tài nguyên thiên nhiên, sức lao động haycông nghệ Những kết quả đó có thể là sự tăng thêm của các tài sản tài chính (tiền vốn ); tài sản vật chất (nhà máy, đường sá, các của cải vật chất khác…);tài sản trí tuệ ( trình độ văn hoá, chuyên môn, khoa học kỹ thuật…) và nguồnnhân lực có đủ điều kiện làm việc với năng suất cao hơn cho xã hội
Theo nghĩa hẹp, đầu tư chỉ bao gồm những hoạt động sử dụng cácnguồn lực hiện tại nhằm đem lại cho nền kinh tế - xã hội những kết quả trongtương lai lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng để đạt được kết quả đó
Như vậy, xét theo bản chất có thể chia hoạt động đầu tư trong nền kinh
tế ra làm 3 loại : Đầu tư tài chính ( là hình thức đầu tư mang lại lợi nhuận trựctiếp cho người bỏ tiền ra để cho vay hay mua bán các chứng chỉ có gia màkhông tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế) Đầu tư thương mại (đây là hìnhthức mà nhà đầu tư bỏ tiền ra để mua hàng hoá và sau đó bán với giá caonhằm thu lợi nhuận do chênh lệch giá khi mua và khi bán) Đầu tư tài sản vậtchất và sức lao động ( còn gọi là đầu tư phát triển )
Trong đó, đầu tư phát triển tài sản vật chất là hình thức đầu tư mà cácnhà đầu tư bỏ tiền và tài sản để tiến hành các hoạt động nhằm duy trì và tạo ratài sản mới cho nền kinh tế, nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh, góp phầntạo nên việc làm, nâng cao đời sống của mọi thành viên trong xã hội Trongđầu tư tài sản vật chất, có đầu tư các điều kiện cơ sở vật chất, kỹ thuật, kiếntrúc, thông tin, dịch vụ tài chính, tạo nền tảng cho các hoạt động kinh tế - xãhội ; đầu tư sức lao động bao gồm đầu tư công sức và đầu tư trí tuệ của ngườilao động
Trang 14Đầu tư phát triển là một chuỗi các hoạt động chi tiêu, hao phí cácnguồn lực : nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất (đất đai, máy móc, thiết
bị, nguyên nhiện vật liệu…), nguồn lực lao động và trí tuệ
Phương thức tiến hành các hoạt động đầu tư : xây dựng mới, sửa chữanhà cửa và cấu trúc hạ tầng mua sắm máy móc thiết bị và lắp đặt…, bồidưỡng, đào tạo nguồn nhân lực…
Kết quả đầu tư : hoạt động đầu tư không chỉ mang lại lợi ích cho chủđầu tư nói riêng ( doanh thu, lợi nhuận…) mà còn đem lại lợi ích cho toàn xãhội ( tạo thêm việc làm…) Đầu tư được tiến hành trong hiện tại và kết quảcủa nó được thu về trong tương lai
Từ những khái niệm về đầu tư phát triển ở trên thì đầu tư phát triển cơ
sở hạ tầng kinh tế - xã hội là bỏ ra một lượng tiền vào việc tạo mới hay tăngcường cơ sở vật chất, các điều kiện kỹ thuật, phương tiện, thiết chế, tổ chứclàm nền tảng cho kinh tế - xã hội phát triển
1.2.1.2 Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị.
Như đã nêu ở trên, đầu tư phát triển là khái niệm rất rộng, trong phạm
vi nghiên cứu của luận văn em xin tập trung đi sâu vào nghiên cứu đầu tư vềvốn để tăng thêm tài sản vật chất cho phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước
Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị là hình thức đầu tư choviệc khôi phục, nâng cấp, bảo dưỡng hay xây dựng mới các nhà máy nước, hệthống đường ống và năng lực cấp nước cho người dân nhằm đáp ứng nhu cầusinh hoạt và sản xuất cho người dân ở khu vực đô thị
Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị là một hoạt đồng đầu tưphát triển của Nhà nước, của các đơn vị kinh tế tư nhân hay của các địaphương vào các công trình cấp nước
Như vậy đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị bao gồm:
Trang 15- Đầu tư xây dựng cơ bản: là các khỏan đầu tư làm mới, mở rộng, cải tạo và nâng cấp các nhà máy nước, hệ thống đường ống… khoản đầu tư này làm tăng năng lực cấp nước cho người dân đô thị.
- Đầu tư (chi) thường xuyên : là đầu tư cho công tác duy trì, bảo dưỡng
hệ thống cấp nước… tuy không làm gia tăng năng lực cấp nước nhưng nó giúp phục hồi năng lực đã mất do tình trạng xuống cấp của hệ thống ống dẫn…
1.2.2 Đặc điểm của đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị
Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng nói chung và đầu tư xây dựng cơ sở hạtầng cấp nước đô thị nói riêng (là ngành sản xuất đặc biệt ), do nó có nhữngđặc điểm khác với các ngành sản xuất vật chất khác Đó là :
Đặc điểm về vốn và sử dụng vốn cho đầu tư CSHT cấp nước đô thị:
So với đầu tư vào cơ sở hạ tầng khác ( Ví dụ như : hệ thống giao thôngđường bộ, đường sắt… đầu tư vào hệ thống cấp nước có nhu cầu vốn khônglớn song vốn thường sử dụng không tập trung
Nhu cầu vốn đầu tư cho hệ thống cấp nước tập trung chủ yêu vào cácnhà máy lọc nước, các công nghệ xử lý nước, hệ thống đường dẫn…mà khiđầu tư vào đây thì có đặc điểm là vốn được đầu tư rộng khắp, từ nơi xử lýnước đến hộ tiêu dùng có một khoảng cách rất xa
Đặc điểm về hình thức đầu tư
Đầu tư vào cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị ở đây đầu tư để duy trì nănglực hoạt động và nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ nước, đầu tư mở rộngmạng lưới cung cấp, đầu tư nâng cao năng lực hoạt động, đầu tư tạo nguồnnước đảm bảo chất lượng cung cấp nước…do vậy cần phải đa dạng hóa cáchình thức đầu tư
Trang 16 Hiệu quả đầu tư gắn liền với hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngành nước
Nếu ngành hoạt động kinh doanh có hiệu quả, khi đó chi phí hoạt độngngành thấp, hay chi phí của các đối tượng sử dụng nước thấp cũng như lợinhuận kinh doanh của ngành tăng, mang lại hiệu quả cho nền kinh tế
Hiệu quả đầu tư ở đây còn được biểu hiện ở số lượng và chất lượngdịch vụ Chất lượng và số lượng dịch vụ ở đây phụ thuộc vào nhiều yếu tố, có
cả yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan Yếu tố chủ quan ở đây xuất phát từchính doanh nghiệp cung cấp dịch vụ nước; yếu tố khách quan xuất phát từtính đồng bộ trong công tác quy hoạch nước, thái độ của đối tượng sử dụngnước…
1.2.3 Nguồn vốn đầu tư trong phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị
Như chúng ta đã biết, trong đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng nói chung và
cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị nói riêng thì vốn đầu tư đóng vai trò đặc biệtquan trọng vì các dự án, các công trình cấp nước đô thị đòi hỏi lượng vốn đầu
tư lớn, thời gian thu hồi vốn chậm, hơn nữa việc cải tạo, nâng cấp, khôi phụccác công trình là thường xuyên, liên tục cho nên yêu cầu về vốn luôn được đặtlên hàng đầu với các chủ thể đầu tư
Vốn đầu tư được khai thác từ nhiều nguồn khác nhau: nguồn vốn trongnước và nguồn vốn nước ngòai Đối với cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị mà nói,vốn đầu tư bao gồm từ những nguồn vốn chủ yếu sau : vốn ngân sách Nhànước, vốn ODA, vốn tín dụng đầu tư phát triển và nguồn vốn tư nhân
1.2.3.1 Vốn Ngân sách Nhà nước
Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị được coi là một lĩnhvực đầu tư công ích Do đó, nguồn vốn Ngân sách Nhà nước có ý nghĩa quantrọng
Trang 17Nguồn vốn đầu tư từ Ngân sách nhà nước là tất cả các khoản Ngân sáchdùng để làm tăng thêm tài sản quốc gia, đối với hoạt động đầu tư phát triển cơ
sở hạ tầng cấp nước đô thị thì đó là các khoản đầu tư cho việc xây dựng mới,
mở rộng, nâng cấp các nhà máy nước sạch và các hệ thống đường ống dẫnnước…
Ở các nước đang phát triển như nước ta, nguồn vốn từ ngân sách Nhànước có ý nghĩa quan trọng trong việc quyết định xây dựng các công trìnhtrọng điểm quốc gia nói chung và cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị nói riêng Nó
có tác dụng làm đòn bảy phát triển kinh tế và là nguồn vốn đối ứng để thu hútcác nguồn vốn đầu tư khác
Nguồn vốn ngân sách Nhà nước bao gồm : Vốn ngân sách Trung ương
và Vốn ngân sách địa phương
Theo Luật ngân sách hiện nay, việc cung cấp tài chính cho các hệ thốngcấp nước đô thị thuộc trách nhiệm của các Uỷ ban nhân dân tỉnh Tuy nhiên,trong thực tế thì ngân sách tỉnh không đủ để đáp ứng những nhu cầu nâng cấpcần thiết, do đó chính phủ trung ương phải hỗ trợ cung cấp vốn đầu tư cho cơ
sở hạ tầng cấp nước đô thị
1.2.3.2 Vốn ODA
Vốn ODA là vốn hỗ trợ phát triển của các đối tác tài trợ nước ngoàidành cho các nước nhận viện trợ, thường là các nước đang phát triển VốnODA giữ vai trò rất quan trọng trong việc đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cấpnước đô thị, nó là nguồn chủ yếu cho đầu tư phát triển hệ thống cấp nước đôthị
Vốn ODA bao gồm tất cả các khoản viện trợ không hoàn lại và cáckhoản tín dụng ưu đãi ( cho vay với lãi suất thấp…) Một khoản vay được coi
là vốn ODA khi nó thỏa mãn các tiêu thức sau : một là, nó phải do chính phủhoặc các tổ chức điều hành trực thuộc chính phủ cung cấp Hai là, mục tiêu
Trang 18chủ yếu là thúc đẩy phát triển kinh tế và phúc lợi xã hội các nước đang pháttriển Ba là, với hình thức ODA cho vay ưu đãi phải có thành phần viện trợkhông hoàn lại không dưới 25 % giá trị khoản vay Việc huy động vốn ODAcho đầu tư phát triển chịu ảnh hưởng của những nhân tố như : quan hệ songphương và đa phương giữa Việt Nam và các bên tài trợ, việc thực hiện cácđiều kiện ràng buộc như giải ngân…
Các nhà cung cấp ODA cho cấp nước đô thị là Ngân hàng Thế giới(WB), Ngân hàng phát triển châu Á (ADB), các tổ chức DANIDA ( ThụyĐiển), JICA ( Nhật Bản)…
1.2.3.3 Vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước
Tín dụng nhà nước về thực chất có thể coi như một khoản chi của ngânsách nhà nước cho vay theo lãi suất ưu đãi ( lãi suất cho vay thường thấp hơnlãi suất trên thị trường tín dụng ), Nhà nước dành ra một phần ngân sách trợcấp bù lãi suất Song tín dụng nhà nước có những ưu thế riêng, phát triển hoạtđộng tín dụng nhà nước là đi liền với giảm bao cấp về chi ngân sách nhà nướctrong điều kiện ngân sách còn hạn hẹp, đồng thời nâng cao hơn nữa tráchnhiệm của người sử dụng vốn
Cơ chế của tín dụng là đi vay có hoàn trả kèm lãi suất, nên dưới áp lựcnày buộc các đối tượng vay vốn phải tăng cường hạch toán kinh tế, giám sátchặt chẽ việc sử dụng các khoản vay để bảo đảm khả năng thanh toán nợ Bêncạnh đó, khả năng điều tiết nền kinh tế của Nhà nước sẽ ngày càng được cảithiện khi các khoản vay được hoàn trả thay vì việc cấp phát không hoàn lạinhư trước đây, cho nên đầu tư của Nhà nước vào các ngành then chốt, cácvùng trọng điểm, các vùng khó khăn tăng lên sẽ góp phần nâng cao hiệu quảkinh tế, xã hội của toàn bộ nền kinh tế
Trang 191.2.3.4 Vốn đầu tư tư nhân:.
Bên cạnh nguồn vốn từ Ngân sách Nhà nước, vốn tín dụng đầu tư pháttriển và nguồn vốn ODA thì vốn đầu tư tư nhân cũng đóng một vai trò rất lớnvào cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị Nguồn vốn này có một tiềm năng rất lớn
nó bao gồm vốn của dân cư, vốn của các doanh nghiệp, tổ chức trong nướccũng như là Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), hiện nay nó cũng gópphần rất lớn vào cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị
1.3 Sự cần thiết của đầu tư tư nhân trong phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị.
1.3.1 Vai trò của khu vực tư nhân trong phát triển cơ sở hạ tầng.
Thực tế những năm qua cho thấy thành phần kinh tế tư nhân đảm nhiệm được rất nhiều hạng mục phát triển quan trọng của một thành phố, nhất là trong việc cung ứng các loại dịch vụ đô thị mà nhà nước không thể làm tốt hơn như thu gom và tái chế rác thải công nghiệp, các dịch vụ giao thông vận tải, dịch vụ buôn bán nhỏ, cung cấp nước sạch, an sinh xã hội, thông tin liên lạc, năng lượng và y tế, giáo dục
Có thể thấy vai trò của khu vực tư nhân ngày càng lớn và khó ai có thể phủ nhận được, khu vực tư nhân tạo công ăn việc làm cho đại đa số người lao động Mỗi năm chúng ta có thêm khoảng hơn 1 triệu người lao động mới, nếu không có khu vực tư nhân thì chắc chắn vấn đề công ăn việc làm, một vấn đề nổi cộm của xã hội, sẽ không thể được giải quyết thỏa đáng…
1.3.2 Sự cần thiết của đầu tư tư nhân trong phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị.
1.3.2.1 Đặc điểm của sản phẩm cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị
Cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị không trực tiếp tham gia trong việc tạo
ra sản phẩm vật chất nhưng nó là một nhân tố không thể thiếu trong quá trìnhsản xuất Trong nền kinh tế, vai trò của cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị có hai
Trang 20thuộc tính : Thứ nhất, nó có giá trị bởi trên thực tế, các cơ sở hạ tầng cấp nước
đô thị không tự nhiên sinh ra, mà nó phải trải qua quá trình đầu tư với mộtkinh phí nhất định và trong một thời gian dài Thứ hai, nó cũng có giá trị sửdụng theo đúng mục đích với khi quyết định đầu tư Bên cạnh đó, sản phẩm
cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị còn sẵn sàng tham gia trao đổi trên thị trườngnên nó thỏa mãn trở thành hàng hóa Không những thế, khác với những loạihàng hóa thông thường, sản phẩm cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị còn được coi
là hàng hóa công cộng vì nó có hai đặc tính quan trọng:
Thứ nhất là nó không có tính cạnh tranh trong tiêu dùng, tức là việctiêu dùng của người này sẽ loại trừ việc tiêu dùng của người kia, vì vậy chiphí tiêu dùng cận biên cao Còn đối với hàng hóa nước sạch thì khi có thêmmột người tiêu dùng sử dụng sẽ không làm giảm lợi ích tiêu dùng của nhữngngười đang tiêu dùng hiện có Ví dụ : Các vòi nước công cộng không có tínhcạnh tranh trong tiêu dùng, chúng có thể được rất nhiều người cùng sử dụngmột lúc Việc ai đó mở hay tắt vòi nước đều không ảnh hưởng đến mức độtiêu dùng của người khác
Thứ hai, nó không có tính loại trừ trong tiêu dùng có nghĩa là không thểloại trừ hoặc rất tốn kém nếu muốn loại trừ những cá nhân từ chối không chịutrả tiền cho việc tiêu dùng của mình Chẳng hạn không có ai có thể ngăn cảnnhững người không chịu trả tiền (đóng thuế) cho việc duy trì các vòi nướccông cộng khỏi việc hưởng thụ những lợi ích do vòi nước mang lại
1.3.2.2 Chủ trương đa dạng hóa nguồn lực cho đầu tư phát triển cơ sơ hạ tầng cấp nước đô thị.
Đa dạng hóa nguồn lực cho đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đôthị là chủ trương được triển khai dựa trên những căn cứ khoa học và kháchquan Điều đó được phân tích dựa trên những góc độ sau:
Trang 21 Xét dưới góc độ sở hữu :
Như trên đã trình bày, sản phẩm của cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị làhàng hóa công cộng Mà hàng hóa công cộng cũng như hàng hoá thôngthường, cũng có thể tách ra thành quá trình sản xuất và tiêu dùng Tuy nhiênhàng hóa công cộng khác hàng hóa thông thường ở chỗ, hàng hóa thôngthường được sản xuất để cá nhân tiêu dùng, còn hàng hóa công cộng đượcsản xuất ra cho cả cộng đồng sử dụng Hàng hóa thông thường được sản xuất
ra sau đó đem bán ra thị trường trao đổi nhằm kiếm lợi nhuận, phần lợi nhuậnnày lại được dùng để quay vòng sản xuất hay tái sản xuất mở rộng Còn vớihàng hóa công cộng, không thể bán ngay được mà để phục vụ chung cho cộngđồng Chính vì vậy, nguồn vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị chủyếu là từ nguồn tài chính công và từ sự đóng góp của xã hội hay nói cáchkhác là sự đa dạng hóa nguồn vốn trong phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đôthị
Xét dưới góc độ sử dụng:
Cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị có đặc điểm là được sử dụng chung,phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất của người dân khu vực đô thị Do vậy, dẫnđến mâu thuẫn đó là: Ai là việc khơi mào đầu tư, bỏ vốn, sửa chữa, quản lý điều đó sẽ phức tạp nếu không giải thoát bằng một biện pháp có tính nguyêntắc đó là : cả xã hội tham gia đầu tư và cộng đồng sử dụng
Xét về khả năng huy động vốn :
Trong năm 2005, trong số vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước
đô thị thì 30% nguồn vốn Ngân sách và gần 40% vốn ODA còn lại là mộtlượng lớn nguồn vốn được huy động từ các cá nhân, tổ chức và doanh nghiệptrong nước và ngoài nước, như vậy trên thực tế cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị
đã thu hút được toàn xã hội tham gia Cho dù tiếp cận theo cách nào đi chăng
Trang 22nữa thì cũng có thể khẳng định rằng, muốn xây dựng cơ sở hạ tầng cấp nước
đô thị một cách nhanh chóng thì phải có sự góp sức của cả xã hội
Xét về khía công bằng trong nghĩa vụ và quyền lợi của người dân:
Trong thời gian vừa qua, việc xây dựng và hưởng thụ cơ sở hạ tầng cấpnước ở hai khu vực đô thị và nông thôn có sự khác biệt rất lớn Các cơ sở hạtầng cấp nước đô thị được xây dựng với quy mô lớn, hiện đại, ở nông thôn thìcác công trình này thường có quy mô nhỏ hơn đặc biệt là các vùng miền núi.Nguồn vốn đầu tư cho phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị thường là vốnNgân sách nhà nước, còn cơ sở hạ tầng cấp nước nông thôn thì thường đượchuy động từ người dân, người dân ở khu vực thành thị thường không phảiđóng góp cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng cấp nước mà họ chỉ việc đóng gópcho khối lượng nước mà mình sử dụng, người dân ở khu vực nông thôn ngoàiviệc đóng góp cho khối lượng nước mà mình sử dụng phải bỏ ra tiền bạc,công sức để xây dựng Vì vậy, vấn đề đặt ra là việc huy động vốn và đầu tưxây dựng cơ sở hạ tầng cấp nước phải đảm bảo được sự công bằng xã hội
1.3.2.3.Yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh ngành nước.
Từ thực tế cho thấy, trước kia các cơ quan Nhà nước cung cấp và quản
lý cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị thường là độc quyền, thiếu sự công khai vàchỉ chịu trách nhiệm trước chính quyền và bộ máy hành chính chứ không phảitrực tiếp trước người dân, những người sử dụng hay khách hàng Trong nềnkinh tế thị trường như hiện nay, đặc biệt trong bối cảnh cạnh tranh và hộinhập, một yêu cầu đặt ra là tổ chức kinh doanh nước sạch có hiệu quả hơn?Khi tư nhân tham gia vào phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị và cung cấpdịch vụ nước sạch đô thị cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ, một yêu cầu đặt ra làlàm cho các tổ chức này hoạt động có hiệu quả hơn, khi kinh tế tư nhân thamgia vào cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị có thể hoạt động tích cực, hiệu quả hơn.Mục tiêu của các thành phần kinh tế tư nhân khi tham gia và đây chủ yếu là
Trang 23tìm kiếm lợi nhuận cho những đầu tư của mình Do khả năng tiếp cận cácnguồn tài chính và năng lực quan lý hiệu qủa hơn nên họ có thể đóng một vaitrò trong việc cung cấp tài chính, dịch vụ, điều hành, bảo dưỡng, quản lý tốthơn.
Khi cơ hội tiếp cận các nguồn vốn vay ưu đãi quốc tế như ODA có xuhướng giảm thì việc đẩy mạnh thu hút đầu tư tư nhân đang ngày càng trở nên
có vai trò quan trọng hơn Bên cạnh đó, hiệu quả đầu tư từ khu vực tư nhânthường cao hơn so với khu vực Nhà nước do sự quản lý vốn của khu vực nàythường chặt chẽ, nhạy cảm hơn với những chính sách khuyến khích ưu đãiđầu tư của Nhà nước Đây có thể coi là những ưu điểm dễ nắm bắt để khaithác
Đứng trước nhu cầu ngày càng gia tăng về cơ sở hạ tầng cấp nước đôthị trong giai đoạn hiện nay, cùng với việc hạn chế về Ngân sách và Việt Namsắp hết hạn hưởng các nguồn tài trợ ưu đãi ( ODA) đồng nghĩa với việc ViệtNam phải tìm kiếm các nguồn cung cấp dịch vụ đa dạng hơn để đáp ứng đượcnhu cầu về cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị như kế hoạch và đạt được các mụctiêu đề ra, không còn nghi ngờ gì nữa, sự tham gia của khu vực tư nhân vàolĩnh vực đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị sẽ là một phần quantrọng trong việc đáp ứng các nhu cầu về cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị nóiriêng và cơ sở hạ tầng cấp nước nói riêng
Việc tư nhân tham gia đầu tư vào cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị cũng sẽgóp phần vào việc chống tham nhũng lãng phí, bởi nguồn vốn của tư nhânluôn được quản lý chặt chẽ nhằm mang lại hiệu quả cao nhất Đồng thời khiđầu tư tư nhân vào phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị sẽ giảm được sức
ép về nhu cầu vốn đầu tư và làm tăng thêm thu nhập cho Chính Phủ Khảnăng tiếp cận đến các nguồn vốn tài chính tư nhân nhất là khi các nguồn vốn
Trang 24đó có được từ việc bán các tài sản hiện có sẽ giúp Chính Phủ không phải thựchiện chi tiêu công cộng và vay nợ vào cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị nữa màtập trung vào các mục tiêu xã hội và y tế.
Đồng thời với sự tham gia của đầu tư tư nhân sẽ mang lại một số lượngviệc làm nhất định cho xã hội nhằm phục vụ cho việc xây dựng nhà mấy mớicũng như nâng cấp các nhà máy cũ, ngòai ra nó còn mang lại việc làm cho sốnhân công trong quá trình tiến hành hoạt động đầu tư Như vậy, với việc thamgia của đầu tư tư nhân vào cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị đã mang lại hiệu quảgiải quyết công ăn việc làm cho một số lượng không nhỏ nhân công
Một tác dụng nữa của đầu tư tư nhân trong cơ sở hạ tầng cấp nước đôthị đó là nó giúp nâng cao khả năng cạnh tranh của các ngành phụ trợ cho nó,
ví dụ như chế tạo ống dẫn, xây dựng và như thế thì càng thu hút thêm lượngvốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài
Kết luận : Theo như trên đã trình bày, đã thấy được cơ bản về sự cầnthiết của hoạt động đầu tư vào cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị, cũng như thấyđược sự cần thiết của đầu tư tư nhân nói riêng vào cơ sở hạ tầng cấp nước đôthị Muốn đưa ra các biện pháp nhằm thu hút đầu tư tư nhân vào phát triển cơ
sở hạ tầng cấp nước đô thị, tiếp theo ta xem xét thực trạng đầu tư vào cơ sở hạtầng nói chung và thực trạng đầu tư tư nhân vào cơ sở hạ tầng cấp nước đô thịnói riêng
Trang 25Chương II: Thực trạng đầu tư tư nhân trong phát triển
cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị ở Việt Nam
2.1 Tổng quan về vốn đầu tư và các dự án đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị
Trong những năm qua, tình hình cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị ở nước
ta đã được cải thiện đáng kể Hầu hết các thành phố, thị xã trong toàn quốcđều đã có được các dự án đầu tư cải tạo mở rộng và xây dựng mới các hệthồng cấp nước Kể từ năm 2000 đến nay, Việt Nam đã đầu tư xây dựngkhoảng 1 tỷ USD để phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị với mức độ đầu
tư khác nhau, tính tổng cộng trên toàn quốc có khoảng 240 nhà máy nước.Hầu hết các thành phố, thị xã trong toàn quốc đều đã có được các dự án đầu
tư cải tạo mở rộng và xây dựng mới các hệ thống cấp nước Các dự án cấpnước được đầu tư chủ yếu từ nguồn vốn Ngân sách nhà nước, vốn ODA, vốntín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, vốn từ các doanh nghiệp Chất lượng
và số lượng cấp nước được thực hiện bởi các dự án này đã đáp ứng phần nàonhu cầu nước sạch cho sản xuất và sinh hoạt của người tiêu dùng
2.1.1.Thực trạng vốn đầu tư trong phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị 2.1.1.1 Quy mô và tốc độ tăng của nguồn vốn đầu tư vào phát triển cơ sở
hạ tầng cấp nước đô thị:
Để không ngừng nâng cao chất lượng và đáp ứng nhu cầu ngày càngtăng về nước sạch ở đô thị, ngành kinh doanh nước sạch đô thị đã chú trọngquan tâm đặc biệt đến việc huy động tối đa các nguồn vốn đầu tư Kết quả thuhút đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị được phản ánh ở bảng sau:
Trang 26Bảng 2.1 : Vốn đầu tư cho phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị
Nguồn : Vụ tài chính - tiền tệ, Bộ kế hoạch và đầu tư
Trong thời gian qua, cùng với sự phát triển của đất nước, cơ sở hạ tầng
đô thị có những bước phát triển đáng kể đóng góp vào sự phát triển chung củatoàn xã hội Trong giai đoạn 2002 – 2007, nguồn vốn đầu tư vào cơ sở hạ tầng
đô thị có tốc độ tăng dần qua các năm, tốc độ tăng bình quân vốn đầu tư vàophát triển cơ sở hạ tầng đô thị đạt 17,5%, năm 2002 vốn đầu tư vào đây là
24498 tỷ đồng nhưng đến năm 2007 đã lên đến 79600 tỷ đồng, tức là tăng
55102 tỷ đồng, tương ứng với tốc độ tăng thêm là 224,92%, sở dĩ nguồn vốnđầu tư vào cơ sở hạ tầng đô thị tăng nhanh là do tốc độ đô thị hóa đang diễn ramạnh mẽ trong thời gian qua, do đó kéo theo nhu cầu về sử dụng cơ sở hạtầng đô thị nói chung ngày càng tăng
Từ số liệu thống kê ở bảng 1 cũng cho thấy, nhìn chung vốn đầu tư cho
cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị có xu hướng tăng dần qua các năm, tốc độ tăngbình quân giai đoạn 2002-2007 về nguồn vốn cho cơ sở hạ tầng cấp nước đôthị là 7,23%, so với tốc độ tăng bình quân của cơ sở hạ tầng đô thị thì tốc độtăng này nhỏ hơn 8,27% Năm 2004, vốn đầu tư vào cơ sở hạ tầng cấp nước
đô thị là 3200 tỷ đồng, so với năm 2002 tăng 1002 tỷ đồng, tương ứng với tốc
độ tăng thêm là 45,58% Năm 2005 tăng thêm 2302 tỷ đồng so với năm 2002,
Trang 27tăng 104,73% Năm 2007 số vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị là
4600 tỷ đồng, so với năm 2002 tăng 2402 tỷ đồng, tương ứng với tốc độ tăng
là 10,92%
Vốn đầu tư vào cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị năm sau so với nămtrước có tốc đô tăng tương đối đều, tuy nhiên so với năm 2005 thì năm 2006tốc độ này lại có xu hướng giảm, năm 2006, tổng vốn đầu tư vào cơ sở hạtầng cấp nước đô thị là 3900 tỷ đồng, giảm 700 tỷ đồng so với năm 2005 hay
là giảm 13,33% Nguyên nhân của tình hình này sẽ được làm rõ ở phân tíchsau
2.1.1.2 Tình hình thực hiện các dự án đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị
Việc đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng nói chung cũng như đầu tư vào cơ
sở hạ tầng cấp nước đô thị nói trên thường được thực hiện qua các dự án.Thời gian vừa qua, các dự án cấp nước đô thị được phản ánh ở bảng sau:
Trang 28Bảng 2.2 : Quy mô và cơ cấu dự án đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cấp
nước đô thị giai đoạn 2001- 2007
Tổng Dự án nhóm A Dự án nhóm B Dự án nhóm C
Số lượng
Tỷ trọng (%)
Số lượng
Tỷ trọng (%)
Số lượng
Tỷ trọng (%)
Số lượng
Tỷ trọng (%) Tổng dự án 703 100 85 100 190 100 431 100
Các dự án khởi công
Các dự án hoàn thành 245 34,85 27 31,76 66 34,74 152 35,27 Các dự án chuyển tiếp 168 23,90 19 22,53 49 25,79 100 23,20
Nguồn : Vụ kết cấu hạ tầng và đô thị
Qua bảng số liệu trên, ta thấy các dự án nhóm C là chiếm số lượng dự
án lớn nhất, với số lượng là 431 dự án và chiếm 61,3% tổng số dự án, dẫn đầu
về cả các dự án khởi công mới, các dự án hoàn thành cũng như các dự ánchuyển tiếp Dự án nhóm A có số lượng các dự án nhỏ hơn, chỉ có 85 dự án,chiếm tỷ trọng 12,09% tổng số dự án Tổng số dự án nhóm B có số lượng 190
dự án, tương ứng với tỷ trọng 26,61% trong số tổng số dự án Như vậy so với
số dự án nhóm C và dự án nhóm A thì dự án nhóm C đứng vị trí thứ 2 về sốlượng Điều này cũng dễ hiểu vì đầu tư vào cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị theocác dự án nhóm C thì số vốn đầu tư là nhỏ hơn, thường là dưới 20 tỷ đồng,
mà thời gian triển khai là ngắn hơn, đó cũng là lý do tại sao mà con số dự ánnhóm C đầu tư cho cơ sở hạ tầng cấp nước là nhiều hơn cả Trong khi đó, dự
án nhóm A với số vốn cần đầu tư là lớn hơn 200 tỷ đồng nên việc đầu tư vào
cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị theo các dự nhóm nhóm A thường ít hơn Với
dự án nhóm B, thì số vốn đầu tư vào là từ 20 tỷ đồng đến 200 tỷ đồng, do vậy
mà việc đầu tư cho các dự án này chiếm vị trí thứ 2 trong số 3 loại dự án đầu
tư vào cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị
Trang 29Nhìn vào bảng ta cũng nhận thấy, số các dự án khởi công mới ở cả các
dự án nhóm A, B, C đều chiếm tỷ trọng lớn nhất trong giai đoạn 2001-2007.Năm 2007, chiếm tỷ trọng là 41,25% , tiếp theo là số các dự án hoàn thànhchiếm tỷ trọng 34,85%, đứng ở vị trí thứ hai Số dự án chuyển tiếp sang kỳsau chiếm tỷ trọng nhỏ nhất khoảng 23,90% tổng số dự án Số các dự ánchuyển tiếp này là các dự án mới triển khai trong giai đoạn nhưng chưa kịphoàn thành trong cùng kỳ nên phải chuyển sang giai đoạn sau
Qua phân tích ở trên đã phần nào sơ lược thực trạng vốn đầu tư và các
dự án đầu tư vào cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị hiện nay, qua đó cũng chothấy phần nào sự đóng góp của vốn đầu tư tư nhân vào tổng số vốn đầu tưchung, vậy cụ thể thực trạng đầu tư tư nhân vào cơ sở hạ tầng cấp nước đô thịnhư thế nào?
2.2 Thực trạng đầu tư tư nhân trong phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước
đô thị.
2.2.1 Thực trạng quy mô và tốc độ tăng của vốn đầu tư tư nhân trong đầu
tư phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị
Việc mở rộng quy mô và gia tăng thêm tốc độ của vốn đầu tư cho pháttriển cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị là do kết qủa đa dạng hóa các nguồn vốn.Điều này được thể hiện ở bảng 2.3:
Bảng 2.3: Quy mô và tốc độ tăng của vốn đầu tư tư nhân trong tổng vốn
đầu tư vào CSHT CNĐT ở Việt Nam giai đoạn 2001- 2007
Trang 30Đơn vị : tỷ đồng,
%
Tổng số 1864 2198 2631 3200 4500 3900 4600 Vốn Ngân sách Nhà
nước
Quy mô 423 509 610 658 600 350 690 Tốc
độ tăng
Định gốc - 20.33 44.21 55.56 41.84 -17.26 63,12 Liên hoàn - 20.33 19.84 7.87 -8.18 -41.67 97,14
Vốn tín dụng ĐTPT
của Nhà nước
Quy mô 23 87 195 417 878 1138 1860 Tốc
độ tăng
Định gốc - 278.26 747.83 1713.04 3717.39 4847.83 7986,95 Liên hoàn - 278.26 124.14 113.85 110.55 29.61 63,44
Vốn ODA
Quy mô 1332 1338 1434 1611 1722 1698 1360 Tốc
độ tăng
Vốn đầu tư tư nhân
Quy mô 86 264 392 514 1300 714 690 Tốc
độ tăng
Định gốc - 206.98 355.81 497.67 1411.63 730.23 702.3 Liên hoàn - 206.98 48.48 31.12 152.92 -45.08 -3,36
Nguồn : Vụ kết cấu hạ tầng và đô thị
Qua bảng số liệu trên, ta có thể rút ra nhận xét Trong 4 năm từ năm
2001 đến năm 2004, hầu như có sự gia tăng đồng thời của các nguồn vốn đầu
tư vào cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị, nhưng giai đoạn từ năm 2005 đến năm
2007 lại có sự biến động khác nhau giữa các nguồn vốn (có nguồn vốn tiếptục tăng song có nguồn vốn lại giảm đi ), cụ thể như sau:
Trong 4 năm 2001- 2004, quy mô của 4 nguồn vốn đầu tư vào cơ sở hạtầng cấp nước đô thị đều tăng, vốn ngân sách nhà nước tăng từ 423 tỷ đồngvào năm 2001 và tăng lên đến 658 tỷ đông vào năm 2004 tương ứng với tốc
độ tăng là 55,56%, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước có quy môvốn 23 tỷ đồng ở năm 2001, đến năm 2004 thì quy mô nguồn vốn này là 878
tỷ đồng, tức là tăng 3717,39% so với năm 2001…
Đến năm 2005, riêng chỉ có quy mô nguồn vốn Ngân sách nhà nước làgiảm so với năm 2004, nguồn vốn này giảm từ 658 tỷ đồng vào năm 2004xuống chỉ còn 600 tỷ đồng vào năm 2005, tương ứng với giảm 8,18% Còncác nguồn vốn khác vẫn tiếp tục tăng, nên tổng nguồn vốn đầu tư vào cơ sở hạ
Trang 31tầng cấp nước đô thị vẫn tiếp tục tăng Tiếp đến năm 2006, ta thấy quy mô vàtốc độ tăng của nguồn vốn đầu tư vào cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị lại giảmxuống chỉ còn 3900 tỷ đồng, tức là giảm 600 tỷ đồng so với năm 2005, tươngứng với tốc độ giảm là 13,33% Sở dĩ trong năm 2006 quy mô và tốc độ tăngvốn có xu hướng chậm lại là do khi cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị đã đạt đếnmột trình độ nhất định thì vấn đề đặt ra là cơ sở hạ tầng cấp nước nông thôn vìhiện nay cở sở hạ tầng cấp nước nông thôn còn lạc hậu và thiếu thốn nhiều,trước chủ trương đa dạng hóa các nguồn vốn cho cơ sở hạ tầng cấp nước đôthị thì đến năm 2005 cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị đã thu hút được nguồn vốnlớn từ tư nhân Vì vậy sau năm 2005, với sự ra đời của một loạt các nghị định,văn bản mới thì nguồn vốn Ngân sách nhà nước và vốn ODA có sự chuyểndịch sang cơ sở hạ tầng cấp nước nông thôn Thực tế hai nguồn vốn nàychiếm tỷ trọng cao trong tổng vốn Do đó khi hai nguồn vốn này chuyển sang
cơ sở hạ tầng cấp nước nông thôn thì đó là nguyên nhân chính dẫn đến việcgiảm sút về tổng nguồn vốn cho cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị
` Nhưng đến năm 2007, do chính sách huy động của Nhà nước trong việcthu hút vốn đã phát huy hiệu quả, nên nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triểntăng với quy mô và tốc độ rất cao, do đó nó đóng góp lớn vào việc tăng quy
mô tổng nguồn vốn cho cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị
So sánh với tốc độ tăng của nguồn vốn cho thấy, trong giai đoạn
2001-2007, nguồn vốn tín dụng là có tốc độ tăng cao nhất So với năm 2001, năm
2002 tốc độ tăng là 278,26%, năm 2007 tốc độ tăng là 7986,95% Tiếp đến làđến tốc độ tăng của vốn đầu tư tư nhân So với năm 2001, thì năm 2002 tốc
độ tăng là 206,98%, đến năm 2005 tốc độ tăng còn đạt đến 1411,63% Sau đó
là đến tốc độ tăng của vốn Ngân sách nhà nước và vốn ODA Điều này cũngphản ánh đúng chủ trương, chính sách của Nhà nước trong việc đa dạng hóa
Trang 32và tăng cường thu hút các nguồn vốn đầu tư ngòai Ngân sách nhà nước cho cơ
sở hạ tầng cấp nước đô thị
Dựa vào bảng 2.3 ta thấy nguồn vốn đầu tư tư nhân vào cơ sở hạ tầngcấp nước đô thị nhìn chung là tăng dần lên qua các năm, năm 2001 nguồn vốnđầu tư tư nhân vào cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị còn rất thấp, mới chỉ đầu tư
86 tỷ đồng, năm 2002 tăng lên 264 tỷ đồng tức là tăng 178 tỷ đồng, tương ứngvới tốc độ tăng 206,98% (so với năm 2001), và con số này liên tục tăng vàocác năm 2003, năm 2004 Đến năm 2005, số vốn đầu tư tư nhân vào cơ sở hạtầng cấp nước đô thị đạt mức 1300 tỷ đồng, tức là gấp gần 15 lần so với năm
2001, và tăng 786 tỷ đồng so với năm 2004, tương ứng với mức tăng152,925% Sở dĩ có sự tăng nhanh vậy là do trong năm này chính sách xã hộihóa đầu tư được triển khai khá tốt, mở rộng về quy mô các kênh như pháthành trái phiếu, việc phát triển nhanh chóng của thị trường chứng khóan vìvậy đã thu hút được một nguồn lực đáng kể cho đầu tư, đã có một số dự ánlớn được triển khai như dự án cấp nước của nhà máy nước Bình An, nhà máynước Thủ Đức…
Tuy nhiên, đến năm 2006, nguồn vốn đầu tư tư nhân vào cơ sở hạ tầngcấp nước đô thị lại giảm, so với năm 2005 số vốn đầu tư tư nhân giảm xuốngchỉ còn 714 tỷ đồng, tức là giảm 45, 08 % Và đến năm 2007 nguồn vốn nàylại giảm so với năm 2006 là 3,36% Nguyên nhân là do việc đa dạng hóa cácnguồn vốn cho đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị mới bắt đầuthực hiện, do đó có một số hạn chế trong việc thực thi Tuy trong 2006 vànăm 2007, nguồn vốn này có xu hướng giảm đi, nhưng cũng không thể khẳngđịnh là xu hướng trong thời gian tới nguồn vốn này lại tiếp tục giảm xuốngtiếp vì với những chính sách mà Chính phủ đưa ra như việc chuyển bớt đầu tưbằng vốn Ngân sách nhà nước cho cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị sang cơ sở
hạ tầng cấp nước nông thôn, đồng thời sự giảm đi của nguồn vốn ODA, xu
Trang 33hướng nguồn vốn đầu tư tư nhân có thể sẽ tăng lên, có thể nó còn vượt xa con
Bảng 2.4: Tỷ trọng vốn đầu tư tư nhân trong tổng vốn đầu tư phát triển CSHT
Nguồn : Bộ kế hoạch và đầu tư
Bảng 2.5: Cơ cấu nguồn vốn đầu tư phát triển Cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị 7
năm từ 2001- 2007
Đơn vị: tỷ đồng, %
Trang 34Nguồn : Bộ kế hoạch và đầu tư
Qua các năm, chúng ta xem xét xu hướng biến động của các nguồn vốnnày dựa vào hình:
Hình 2.1 : Cơ cấu nguồn vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô
thị 7 năm từ 2001 – 2007:
16.78
20.08 45.85
17.29
Vốn NSNN Vốn tín dụng ĐTPT Vốn ODA
Vốn khác
Nguồn : Vụ kết cấu hạ tâng và đô thị Bộ kế hoạch và đầu tư
Dựa vào bảng và hình trên, ta thấy nhìn chung tỷ trọng vốn đầu tư tưnhân so với tổng vốn đầu tư vào cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị có xu hướngtăng, con số này năm 2002 là 12,01%, đến năm 2004 tăng lên 16,06%, tăngthêm 4,05% và tăng cao nhất vào năm 2005, chiếm tới 28,89% Hai năm tiếptheo ( năm 2006 và năm 2007), tỷ trọng nguồn vốn này có sự giảm sút, năm
2006 chiếm 18,3%, giảm 10,59% so với năm 2005, đến năm 2007 tỷ trọng lạigiảm xuống mức 15%, so với năm 2006 thì giảm đi là 3,3% Nguyên nhân có
sự biến động đó như đã phân tích ở trên, đó là do cơ chế chính sách của Nhà
Trang 35nước trong việc thu hút đầu tư tư nhân còn kém hiệu quả, bên cạnh đó còn dođặc điểm hoạt động kinh doanh và đầu tư trong ngành nước
Qua bảng số liệu trên cho thấy, vốn đầu tư vào phát triển cơ sở hạ tầngcấp nước đô thị là 22893 tỷ đồng, trong đó nguồn vốn ODA chiếm tỷ trọngcao nhất là 45,85 %, vốn Ngân sách Nhà nước là 20.08%, vốn tín dụng đầu tưphát triển là 17,29%, vốn đầu tư tư nhân là 16,68% Cụ thể tỷ trọng số vốnđầu tư vào cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị là :
Trong 4 năm đầu từ năm 2001 đến năm 2004 hai nguồn vốn Ngân sáchNhà nước và vốn ODA là hai nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn, còn hai nguồnvốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước và các nguồn vốn của các doanhnghiệp, tư nhân …chiếm tỷ trọng rất nhỏ, nhưng đến mấy năm gần đây từnăm 2005 đến năm 2007, hai nguồn vốn này giảm dần, ngược lại hai nguồnvốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước và các nguồn vốn của các doanhnghiệp, tư nhân… có xu hướng tăng dần Như vậy có thể thấy được sự chuyểnbiến về cơ cấu nguồn vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị Cụthể sự chuyển biến thế nào, ta xem xét qua phân tích cụ thể sau:
Qua bảng và qua biểu đồ trên ta quan sát thấy tỷ trọng của vốn ODAngày càng giảm dần, năm 2001 nguồn vốn này chiếm 71,46% về tỷ trọngnhưng đến năm 2007 nó giảm rất nhanh xuống còn 29,57% Nguồn vốn ngânsách cũng giảm nhanh, từ 22,69% vào năm 2001, giảm xuống còn 15% vàonăm 2007
Nhưng nguồn vốn tín dụng ĐTPT của Nhà nước và các nguồn vốn củacác doanh nghiệp tư nhân thì lại khác Năm 2001, tổng hai nguồn vốn nguồnvốn tín dụng ĐTPT của Nhà nước và các nguồn vốn của các doanh nghiệp, tưnhân là 109 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 5,68%, tỷ trọng này rất nhỏ Nhưng đếnnăm 2007 tổng hai nguồn vốn này đã lên tới 2550 tỷ đồng chiếm 55,43% tổng
số vốn Có thể dự đoán xu hướng hai nguồn vốn này còn tiếp tục tăng nữa do
Trang 36chính sách xã hội hóa đầu tư, cùng với việc chuyển dịch vốn Ngân sách vàvốn ODA về cho vùng nông thôn.
Việc đầu tư của tư nhân vào cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị được thựchiện dưới nhiều hình thức khác nhau, mỗi hình thức thì hiệu quả thu được làkhác nhau, tiếp theo ta xem xét xem thực trạng thu hút vốn đầu tư tư nhân rasao? và hiệu quả đạt được từ việc thu hút thêm vốn đầu tư tư nhân như thếnào?
2.2.3 Thực trạng đầu tư tư nhân vào cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị theo các hình thức đầu tư.
2.2.3.1 Thực trạng đầu tư tư nhân vào cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị theo các dự án.
Trong những năm qua, việc đầu tư tư nhân vào cơ sở hạ tầng cấp nước
đô thị thường được thực hiện qua các dự án Cụ thể tình hình thực hiện các dự
án được thể hiện ở bảng 5: