Trong xu thế hôi nhập kinh tế quốc tế ngày một sâu rộng như hiện nay không một quốc gia nào có thể đứng ngoài quá trình này và việc không ngừng đẩy mạnh xuất khẩu cả về sản lượng, giá trị và mở rộng thị trường là một yêu cầu tất yếu, Việt Nam cũng không nằm ngoài quá trình này Việt Nam vốn nổi tiếng là cái nôi của nghề trồng lúa đã vươn lên trở thành một nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới trong những năm qua và việc mở rộng và đa dạng hóa thị trường trong đó Châu Phi là một trong những thị trường mục tiêu do nhưng điểm phù hợp về nhiều năng lực sản xuất cũng như yêu cầu chất lượng là một xu hướng phát triển đúng đắn. Chính vì lý do đó em chọn đề tài: “Thực trạng và giải pháp thúc đẩy xuất khẩu gạo sang thị trường Châu Phi” làm đề tài cho đề án môn học Kinh tế thương mại. Kết cấu của đề án ngoài lời mở đầu và kết luận còn có những nội dung chính sau: Chương 1: Cơ sở lý luận chung về hoạt động xuất khẩu gạo Chương 2: Thực trạng xuất khẩu gạo Việt Nam sang Châu Phi Chương 3: Một số biện pháp kinh tế mở rộng và thức đẩy xuất khẩu gạo sang thị trường Châu Phi
Trang 1ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ THƯƠNG MẠI
Sinh viên thực hiện: Văn Thị Nhung
Giáo viên hướng dẫn: Lê Thanh Ngọc
Tên đề tài: “Thực trạng và giải pháp thúc đẩy xuất khẩu gạo sang thị trường Châu Phi”
Phần I: Lời nói đầu
Trong xu thế hôi nhập kinh tế quốc tế ngày một sâu rộng như hiện nay không một quốc gia nào có thể đứng ngoài quá trình này và việc không ngừng đẩy mạnh xuất khẩu cả về sản lượng, giá trị và mở rộng thị trường là một yêu cầu tất yếu, Việt Nam cũng không nằm ngoài quá trình này
Việt Nam vốn nổi tiếng là cái nôi của nghề trồng lúa đã vươn lên trở thành một nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới trong những năm qua và việc mở rộng và đa dạng hóa thị trường trong đó Châu Phi là một trong những thị trường mục tiêu do nhưng điểm phù hợp về nhiều năng lực sản xuất cũng như yêu cầu chất lượng là một xu hướng phát triển đúng đắn
Chính vì lý do đó em chọn đề tài: “Thực trạng và giải pháp thúc đẩy xuất khẩu gạo sang thị trường Châu Phi” làm đề tài cho đề án môn học Kinh tế
thương mại
Kết cấu của đề án ngoài lời mở đầu và kết luận còn có những nội dung chính sau:
Trang 2Chương 1 : Cơ sở lý luận chung về hoạt động xuất khẩu gạo
Chương 2: Thực trạng xuất khẩu gạo Việt Nam sang Châu Phi
Chương 3: Một số biện pháp kinh tế mở rộng và thức đẩy xuất khẩu gạo sang thị trường Châu Phi
Em xin trân thành cảm ơn sự giúp đỡ của thấy Lê Thanh Ngọc đã giúp
đỡ em hoàn thành đề án này
Trang 3Phần II: Nội dung
Chương 1 : Cơ sở lý luận chung về hoạt động xuất khẩu gạo
I Vai trò của xuất khẩu gạo trong nền kinh tế
Xuất khẩu luôn là một động lực to lớn để thúc đấy tăng trưởng kinh tế
và từ lâu nước ta đã đề ra những mục tiêu cơ bản để thúc đấy xuất khẩu trong đó xuất khẩu nông sản luôn được coi là trọng điểm trong cơ cấu ngành hàng xuất khẩu Gạo một trong những mặt hàng chủ lực của xuất khẩu nông sản, trong câu lạc bộ xuất khẩu 1 tỷ USD trở lên thì gạo đứng thứ 8 với kim ngạch xuất khẩu năm 2007 là 1.454 tỷ USD
Năm 1989, lần đầu trong lịch sử, nước ta xuất khẩu 1,4 triệu tấn gạo, đạt kim ngạch 310 triệu USD Và liên tiếp trong mười năm sau, sản lượng
Trang 4lương thực nước ta mỗi năm tăng một triệu tấn Cho đến năm 2005, Việt Nam xuất khẩu đạt mức kỉ lục 5,2 triệu tấn giá trị đạt 1,4 tỷ USD Đến năm
2007 xuất khẩu 4,53 triệu tấn đạt 1.46 tỷ USD và trong 2 tháng đầu năm
2008 xuất khẩu được 381.000 tấn gạo đạt kim ngạch 150 triệu USD tăng 78% về giá trị
Gạo luôn là một mặt hàng chiếm tỷ trọng cao trong kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng nông lâm thủy sản, từ đó ta có thể thấy được vị trí của xuất khẩu gạo trong cơ cấu ngành hàng xuất khẩu của Việt Nam góp phần đưa nước ta từ một nước nhập khẩu lương thực trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ 2 trên thế giới
2 Lợi thế của gạo Việt Nam
a Lợi thế về sản xuất lúa gạo
Đất đai: Tư liệu sản xuất quan trọng hàng đầu trong canh tác sản xuất
lúa gạo chính là đất đai Độ phì nhiêu của đất chi phối sâu sắc đến khả năng thâm canh và giá thành sản phẩm gạo, diện tích trồng lúa trong tổng diện tích tự nhiên cả nước là khoảng hơn 4 triệu ha Tuy diện tích bình quân đất theo đầu người của nước ta thấp nhưng quỹ đất có khả năng trồng lúa lại chiếm tỷ lệ cao trong quy đất nông nghiệp chiếm 8,5/10 triệu ha đất có khả năng sản xuất nông nghiệp (Theo khảo sát của Viện quy hoạch và thiết kế nông nghiệp thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn)
Khí hậu: Với những nghiên cứu về các yếu tố của điều kiện sinh thái
cho thấy khí hậu lý tưởng đối với cây lúa do có sự hết hợp chặt chẽ của những yếu tố như nguồn năng lượng, mấy, mưa, độ ẩm không khí…Ở Việt
Trang 5năm nay và canh tác, sản xuất lúa gạo vẫn còn phụ thuộc nhiều vào các điều kiện tự nhiên thì vấn đề này lại càng được coi trọng Theo khảo sát thì điều kiện khí hậu của nước ta rất thích hợp cho việc canh tác sản xuất lúa gạo nhất là ở Đồng bằng Nam Bộ và Đồng bằng Bắc Bộ chế độ thâm canh và luân canh tối ưu để khai thác triệt để những lợi thế đó.
Nước tưới tiêu: Một trong những lợi thế nổi bật của nghể trồng lúa ở
Việt Nam đó là có một nguồn tài nguyên nước rất dồi dào Với lượng mưa trung bình vào khoảng 120 – 140 ngày/năm ở hai đồng bằng lớn đã cung cấp lượng nước tưới tiêu quý giá cho cây lúa đồng thời còn cung cấp lượng phân đạm thiên nhiên dễ hấp thụ nhất mà đạm nhân tạo không thể sánh bằng Không chỉ có lượng nước mưa mà dòng chảy mặt đất còn sản sinh trên lãnh thổ nước ta vào khoảng 300 tỷ m3 nước cũng góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất lúa gạo
Nhân lực: Lịch sử sản xuất lúa gạo của nước ta đã trải qua quá trình
lâu dài từ thời cộng đồng nguyên thuỷ tới khi ra đời nhà nước Văn Lang và cho tới ngày nay đã được lớp lớp con cháu thế hệ người Việt đúc rút và để lại nhiều kinh nghiệm quý báu Kho tàng kinh nghiệm đó là một lợi thế đặc biệt giúp cho những người nông dân nước ta có được sự tinh thông, am hiểu
về việc canh tác và sản xuất lúa gạo
b Vị trí địa lý và cảng khẩu
Trong thương mại quốc tế ngày nay việc xuất khẩu và buôn bán gạo hầu hết đều được vận chuyển bằng đường biển (chiếm khoảng trên 80%) So với các phương thức vận chuyển bẳng đường bộ và đường hàng không thì vận chuyển bằng đường biển có nhiều ưu thế rõ rệt như: tiện lợi, thông dụng,
có mức phí hợp lý…
Trang 6Với vị trí địa lý đặc thù nên giao thông đường biển thuận lợi của Việt Nam có rất nhiều ưu thế Hệ thống cảng biển nói chung đều nằm trên những tuyến đường hàng hải quốc tế và có thể hành trình theo nhiều tuyến đi khắp các châu lục: đi Đông Bắc Á, Đông Nam Á, Thái Bình Dương, Trung cận Đông, Châu Âu, Châu Phi, Châu Mỹ…
Với nguồn lao động dồi dào có kinh nghiệm trong sản xuất cùng những ưu đãi từ thiên nhiên nên gạo Việt Nam có những lợi thế mà không một quốc gia sản xuất gạo nảo trên thế giới có được từ đó tạo ra ưu thế lớn cho khả năng cạnh tranh của việc sản xuất và xuất khẩu gạo ra thị trường thế giới
3 Vai trò của xuất khẩu gạo
a Xuất khẩu để tích luỹ vốn
Công nghiệp hoá và hiện đại hoá là mục tiêu cơ bản và lâu dài của Đảng và Nhà nước, như vốn luôn là một trong những vấn đề cấp bách cần được giải quyết Xuất khẩu là một trong những nguồn thu ngoại tệ mạnh mẽ
để tích luỹ vốn cho cho quá trình này và gạo đã vươn lên mạnh mẽ trở thành một trong số những mặt hàng xuất khẩu chủ lực và thu về nguồn ngoại tệ to lớn trong những năm vừa qua
Chỉ tính riêng trong giai đoạn từ năm 1991 – 1999 xuất khẩu gạo đã thu về cho nước ta 5.742 tỷ USD đến giai đoạn 2000 – 2007 giá trị thu về là 7.825 tỷ USD Những con số trên đã nói rõ vai trò to của việc xuất khẩu gạo trong vai trò thu về nguồn ngoại tệ để đổi mới đất nước
Trang 7b Cải thiện đời sống và giải quyết việc làm cho nhân dân
Trong sáu mục tiêu (tăng trưởng nhanh, lạm phát thấp, thất nghiệp ít, cán cân thanh toán có số dư, tỷ lệ hộ nghèo giảm, môi trường được bảo vệ
và cải thiện) có 2 mục tiêu trực tiếp liên quan đến con người là thất nghiệp
ít, giảm tỷ lệ hộ nghèo Việc thực hiện thắng lợi các mục tiêu trên có một phần đóng góp không nhỏ của nghành nông nghiệp trong đó việc canh tác và sản xuất lúa gạo đóng một vai trò to lớn Với khoảng gần 80% trong số hơn
10 triệu hô nông dân có tham gia sản xuất lúa gạo đã góp phần cải thiện và nâng cao đời sống của hàng vạn hộ nông dân trong những năm qua Thu nhập bình quân của người lao động tại nông thôn đã tăng gấp 2.2 lần từ năm
1995 đến năm 2004
Năm 2007 lần đầu tiên, giá gạo VN xuất khẩu ngang bằng với gạo Thái Lan cùng cấp các loại, từ 5% tấm, 10%, 15% đến 20% tấm, và mới đây, gạo loại25% tấm của VN đã trúng thầu cao hơn gạo Thái Lan 8USD/tấn Giá trúng thầu rất cao 350 USD/tấn, so với Thái Lan là 342 USD/tấn
Thu nhập bình quân đầu người 1 tháng của khu vực nông thôn
(Đơn vị tính: nghìn đồng)
Thu
(Thời báo kinh tế Việt Nam)
Việc hàng năm năng suất và sản lượng lúa gạo liên tục tăng đã đưa nước ta trở thành một nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới và thu lại một nguồn lợi đáng kể cho những hộ nông dân Từ đó từng bước xây dựng nông
Trang 8thôn ngày một giàu mạnh và tăng thêm thu nhập, giải quyết việc làm cho nhiều lao động ở nông thôn
c Phát huy tối đa lợi thế trong nước
Với những ưu đãi từ thiên nhiên như đất, nước, khí hậu, nguồn nhân lực, vị trí địa lý và cảng khẩu việc sản xuất và xuất khẩu gạo của nước ta có những lợi thế so sánh tĩnh mà không phải quốc gia nào cũng có được Một chiến lược phát triển đúng đắn phải là chiến lược khai thác triệt để tất cả các lợi thế so sánh đó nhằm đen lại hiệu quả cao nhất
II Những nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu gạo
1 Chất lượng gạo Việt Nam
Gạo là mặt hàng xuất khẩu nông sản chủ lực của Việt Nam và được xếp vào nhóm có khả năng cạnh tranh cao nhưng trên thị trường thế giới gạo Việt Nam lại kém cạnh tranh đứng về khía cạnh phẩm chất theo yêu cầu của thị trường và giá cả Gạo xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam chủ yếu là gạo tẻ thường và thường thấp hơn giá gạo cùng loại của Thái Lan từ 10 – 20 USD/tấn
Trong vòng 5 năm 2001-2005, Việt Nam tuy đẩy ra thị trường thế giới tổng cộng hơn 20 triệu tấn gạo và thu về gần 4,5 tỉ USD, nhưng trong khi giá xuất khẩu bình quân của 4 cường quốc còn lại so với giá bình quân của thế giới thấp nhất cũng là trên 91,6%, cao nhất là gần 120% thì giá của chúng ta chỉ bằng gần 80% giá bình quân của thế giới (220 USD/tấn) Đó là giá bán
Trang 9"bèo" nhất trong số 5 nước xuất khẩu gạo nhiều nhất thế giới (xét theo khối lượng) theo thứ tự là Thái Lan, Ấn Độ, Việt Nam, Mỹ và Pakistan.
Chính vì xuất khẩu với giá quá bèo như thế, nên trong bảng xếp hạng theo kim ngạch xuất khẩu theo số liệu thống kê của Trung tâm Thương mại thế giới, chúng ta bị đẩy xuống thêm một bậc, tức là chỉ đứng ở vị trí thứ 4, sau Thái Lan, Ấn Độ và Mỹ Trong đó, chúng ta xuất khẩu gạo nhiều hơn
Mỹ tới 21,5%, nhưng số tiền thu được lại ít hơn 11%; còn nếu so với Ấn Độ, trong khi khối lượng gạo xuất khẩu chỉ ít hơn rất không đáng kể, chỉ vỏn vẹn
có gần 3%, nhưng số tiền thu được kém một trời một vực tới gần 22%
Tỷ lệ một số loại gạo Việt Nam
Loại gạo Tỷ lệ 5% tấm 35%
đã bán với giá 3.600 – 3800đ/kg và còn có xu hướng tăng cao trong thời gian tới
Loại gạo có chất lượng trung bình tăng từ 22.4 % (năm 1996) lên đến 85% (năm 2003), loại gạo chất lượng thấp giảm từ 23% xuống còn 8% Tốc
độ tăng của các loại sản phẩm gạo 5% tấm đã tăng nhanh hơn so với tốc độ tăng trưởng xuất khẩu chung và hiện nay chiếm tỷ lệ khá cao trong tổng sản lượng gạo xuất khẩu
Trang 10Đây là kết quả của quá trình đầu tư cải tiến công nghệ trong khâu chế biến bảo quản, tuy nhiên xét một cách tổng thể thì chất lượng gạo xuất khẩu của nước ta vẫn còn ở mức thấp nên ảnh hưởng đến giá bán và thị trường xuất khẩu
2 Quy trình sản xuất : Gồm 03 công đoạn chính sau
a Công đoạn xử lý và xay xát lúa:
Thu hoạch: Lúa chín được thu hoạch đa phần bằng thủ công, sau đó qua máy đập lúa loại bỏ rơm và các tạp chất hữu cơ và vô cơ khác Nếu vụ Ðông – Xuân thì nông dân phơi lúa dưới nắng mặt trời, vụ Hè – Thu có thể phơi lúa dưới tấm nylon trắng hay sử dụng máy sấy xử lý độ ẩm sao cho còn khoảng 17 – 18% đem đi tiêu thụ
Thu mua & kiểm phẩm: Khi thu mua lúa đã được sơ chế phải thực hiện công việc lấy mẩu kiểm tra nguyện liệu đầu vào Mẩu lấy sau khi được phân tích các chỉ tiêu như độ ẩm, tạp chất, hạt trong nguyên, hạt bệnh, hạt xanh non… bằng các thiết bị phân tích thử nghiệm chuyên dùng để phân loại lúa Lúa loại 1 dùng để sản xuất các loại gạo có phẩm chất cấp thường như gạo: 20%, 25%, 35% tấm…
Sấy công nghiệp: Lúa chưa đạt ẩm độ cần thiết phải cho qua máy sấy
để xử lý độ ẩm; thường là loại máy sấy tầng sôi và loại máy sấy vĩ ngang
Cả hai loại đều cho không khí nóng đi qua và liên tục thay đổi với lưu lượng lớn không khí, nhằm làm giảm lượng nước trong lúa dần dần nên không ảnh
Trang 11Xay xát: Lúa đã xử lý được đưa vào hệ thống máy xay xát, hệ thống này gồm có sàng tạp chất để loại bỏ tạp chất Lúa sạch được đưa qua cối tách vỏ trấu Vỏ trấu lại được tách riêng khỏi gạo lức bằng máy hút rớt dựa theo nguyên lý trọng lượng, gạo lức qua gằng thóc để loại bỏ thóc còn lẫn, sau đó cối xát trắng bóc cám thành gạo trắng Lượng cám được tách bóc tùy theo yêu cầu sản xuất gạo nguyên liệu hay gạo thành phẩm tiêu phụ nội địa.
b Công đoạn đánh bóng & đóng gói gạo:
Ðánh bóng gạo & giám định: Gạo nguyên liệu từ máy xay xát chuyển qua, hay gạo nguyên liệu thu mua từ các nhà máy xay xát cung ứng cho đơn
vị được đưa vào dây chuyền máy đánh bóng.Ðầu tiên gạo nguyên liệu qua sàng tạp chất và gằng tách thóc làm sạch gạo nguyên liệu Nếu là gạo trắng nguyên liệu thì đưa thẳng vào máy đánh bóng, nếu là gạo bóc cám chưa sạch phải cho qua máy xát trắng mới chuyển vào máy đánh bóng Quá trình này áp dụng công nghệ phun sương tạo ẩm kết hợp ma sát giữa các hạt gạo với nhau và với dao máy lau bóng, bằng lực ly tâm gạo được làm sạch và đánh bóng bề mặt Gạo lau bóng chuyển đến sàng tách tấm và trống chọn hạt để phân loại gạo theo tiêu chuẩn hợp đồng xuất khẩu, hay gạo bán thành phẩm chờ chế biến gạo đánh bóng 2 lần
Riêng các loại gạo Pass – 02 sẽ được cho qua hệ thống máy lau đánh bóng lần 2 – làm nguội – kiểm tra, phân loại - sau đó cho qua máy đấu trộn để đạt
Gạo thành phẩm đã giám định đạt được nạp vào bồ đài nạp liệu của máy đấu trốn và đóng góp gói gạo, bồ đài đưa gạo lên bồn chứa từng loại gạo riêng biệt (kết hợp đưa gạo qua sàng tạp chất và hệ thống máy hút bụi trong máy
Trang 12đấu) Từ các bồn chứa riêng qua bộ phận rải liệu xuống băng tải gạo được chuyển đến bồ đài tổng, đưa lên bồn chứa qua máy hút bụi làm sạch lần thứ hai.
Tùy theo thành phần và chất lượng gạo nguyên liệu mà phân ra thành nhiều loại khác nhau như: 5% tấm, 10% tấm, 15% tấm, 20% tấm, 25% tấm… và tùy thuộc vào độ ẩm phân loại để xử lý Trên cơ sở phân loại gạo nguyên liệu, theo từng loại nguyên liệu cho qua máy chế biến, thu loại thành phẩm tương ứng sẽ đạt được các thành phần chỉ tiêu chất lượng xuất khẩu
Ðóng gói: Nhằm tạo sự đồng nhất của sản phẩm và đạt các tiêu chuẩn trong hợp đồng xuất khẩu từ bồn chứa gạo thành phẩm được đóng gói bằng bao P.P qua cân đạt trọng lượng theo hợp đồng, miệng bao may hai đường chỉ coton song song với nhau để đảm bảo trong quá trình bốc xếp và vận chuyển
c Công đoạn bốc xếp và vận chuyển gạo thành phẩm đến Cảng xuất hàng
Vận chuyển & xuất hàng: Gạo thành phẩm sau khi đóng gói hoàn thành công nhân vác chuyển xuống sà lan Tùy theo yêu cầu có thể hun trùng tại kho hoặc dưới sà lan Sà lan vận chuyển đến Cảng xuất hàng không quá 24 giờ
3 Chính sách của nhà nước
Gạo là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam nên Đảng và Nhà
Trang 13động kinh doanh lúa gạo Đến nay Việt Nam đã có quan hệ thương mại với hơn 120 nước trên thế giới trong đó có hơn 80 nước đã kí hiệp định thương mại với Việt Nam Kể từ khi chuyển sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vai trò điều hành của Nhà nước trong việc tổ chức các hoạt động kinh doanh lúa gạo không hề giảm đi mà có sự chuyển biến về chất: Nhà nước không còn can thiệp quá sâu vào quá trình lưu thông của hàng hoá
mà chỉ thể hiện vai trò của mình thông qua sự điều hành và giám sát cân đối lương thực chung của cả nước và cảu mỗi vùng
Trong những năm 1989 – 1991 khi nước ta bắt đầu có thặng sư nhiều gạo, Chính phủ không hạn chế đầu mối xuất khầu gạo Tức là các đơn vị đầu mối được phép kinh doanh xuất nhập khẩu trực tiếp đều có quyền tham gia xuất khẩu gạo Hạn ngạch không được phân bổ cố định mà được xét cấp theo từng chuyến hàng nên có nhiều đơn vị tham gia vào hoạt động kinh doanh gạo
Các năm tiếp từ năm 1992 – 1995 Chính phủ cấp hạn ngạch xuất khẩu gạo cho một số đầu mối nhất định và việc phân chia hạn ngạch chỉ dựa vào
tỷ lệ và khổi lượng gạo xuất khẩu của năm trước của các đơn vị mà không phân biệt lượng gạo xuất khẩu uỷ thác so với lượng gạo xuất khẩu thực sự của đơn vị đó là bao nhiêu nên vẫn còn một số đơn vị có hiện tượng mua bán quota và xuất khẩu uỷ thác để hưởng tỷ lệ nhất định trên giá trị kim ngạch xuất khẩu gạo làm phát sinh nhiều tiêu cực Ngoài ra việc cấp quota theo quý cũng phát sinh nhiều điều bất cập sau năm 1996 chính phủ đã điều chỉnh cấp quota theo năm nhưng vẫn có nhiều vấn đề phát sinh
Năm 1998 trong quyết đinh 12/1998 QĐCP ngày 23/1/1998 Thủ tướng Chính phủ giao cho Bộ Thương mại “cho phép thí điểm” một số doanh nghiệp quốc doanh chế biến xay xát lúa gạo được phép xuất khẩu trực tiếp “nếu có điều kiện” Cũng trong năm này nghị ddinh số 57/1998/NĐ –
Trang 14CP đã xoá bỏ hoàn toàn chế độ giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu từ đó lạo bỏ nhiều rào cản tạo môi trường pháp lý thông thoáng hơn, bình đẳng hơn và tạo ra sự chuyển biến về chất cho cơ chế quản lý xuất nhập khẩu, tôn trọng quyển bình đẳng và tự chủ của doanh nghiệp Từ đó giảm thiểu cơ chế xin cho, hầu hết hang hoá được làm thủ tục xuất nhập khẩu trực tiếp tại Hải quan và chỉ chịu sự điều tiết của thuế, biện pháp phi thuế chỉ còn áp dụng với một số ít mặt hàng
Công tác quản lý giá cả, giá mua gạo nội địa do Ban vật giá Chính phủ hướng dẫn bằng cách căn cứ vào giá thành sản xuất để quy định giá sàn
và giá trần sao cho đảm bảo được quyền lợi của người nông dân Giá gạo xuất khẩu do Bộ Thương mại căn cứ diễn biến tình hình trên thị trường thế giới đề đưa ra khung gia tối thiểu cho từng mặt hang và các doanh nghiệp phải đạt được mức giá tối thiểu này trở nên thì mới được cấp giấy phép xuất khẩu nhằm khống chế hợp đồng xuất khẩu gạo
Từ năm 1999 luật thuế giá trị gia tăng ra đời càng khuyến khích các doanh nghiệp tích cực hơn trong việc tìm kiếm thị trường và tham gia vào xuất khẩu gạo Hơn nữa Chính phủ còn kí kết các Hiệp định, Nghị định thư trao đổi hang hoá với Chính phủ các nước hoặc hợp đồng bán gạo cho các tổ chức phi chính phủ nước ngoài Đây là phương pháp buôn bán đạt hiệu quả cao nhất do giá cao và rủ do ít
Nghị đinh số 44/2001/NĐ – CP ngày 2/8/2001 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định số 57/1998/NĐ – CP và quyết định số 46/2001/QĐ – TTg ngày 4/4/2001 của Thủ tướng chính phủ về quản
lý xuất nhập khẩu hàng hoá thời kì 2001 – 2005 là một bước tiến lớn trong việc tự do hoá thương mại và mớ cửa thị trường Hai nghị định này đã tạo cho doanh nghiệp quyền chủ động cho các chủ thể tham gia vào xuất nhập
Trang 15khẩu, đồng thời mở rộng quyền kinh doanh xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp FDI góp phần mở rộng và đẩy mạnh thi trường xuất khẩu gạo
4 Các yếu tố khác
a Yếu tố mùa vụ trong xuất khẩu
Do tính mùa vụ của sản xuất lúa, nên xuất khẩu gạo cũng mang đậm tính thời vụ Thời điểm thu hoạch lùa Đông Xuân và Hè Thu là thời gian xuất khẩu gạo chủ yếu của Việt Nam Đồng thời khoảng thời gian từ tháng 1 – 2 là thời điểm xuất khẩu gạo thấp nhất của nước ta
b Giá cả trong nước và thế giới
Với nhiều lợi thế do thiên nhiên ban tặng nên chi phí sản xuất
lùa ở Việt Nam thấp hơn nhiều so với Thái Lan (chi phí lao động bằng 1/3, hệ số quay vòng đất gấp 1.33 lần, các chỉ tiêu lien quan về giá vật
tư đầu vào bằng 50% – 80% chi phí của Thái Lan)
Nhưng do chi phí dịch vụ xuất khẩu gạo của nước ta cao (chi phí bốc xếp của Thái Lan bằng ½ Việt Nam, tốc độ bốc của ta châm hơn Thái 6 lần), tổn thất sau thu hoạch lớn (tổng tổn thất lên từ 12% – 15%) Đồng thời là hệ thống marketing lúa gạo cũng như thương hiệu
gạo của nước ta còn yếu kém dẫn đến giá thành xuất khẩu luôn thua thiệt so với Thái Lan
c Bao gói, quy cách và mẫu mã sản phẩm
Trang 16Bao bì xuất khẩu của nước ta chưa đảm bảo yêu cầu: chất lượng không đổng đều, mật độ sợi thấp, độ bền sợi không cao, đóng miệng chưa chắc chắn, đường khâu 2 bên lỏng nên khi vận chuyển rất dễ bị
vỡ và khó bảo quản Mẫu mã sản phẩm cũng chưa đáp ứng được nhu cầu cơ bản của gạo xuất khẩu như: chiều dài phải đạt 7mm, tỷ lệ dài rộng, hạt gạo phải trog, tỷ lệ hạt tấm, hạt ẩm, hạt đỏ… hầu như gạo Việt Nam chưa đáp ứng được các yêu cầu trên
d Vận chuyển
Vận chuyển gạo của nước ta chủ yếu là bằng đường biển, dịch vụ này
ở Việt Nam tương đối đắt đỏ do thiệt bị cảng lạc hây, năng lực bốc xếp thấp,
lệ phí cảng cao, năng lực vận tải thấp
Do năng lực vận tải biển thấp nên đa số các doanh nghiệp xuất khẩu
sử dụng phương thức xuất khẩu FOB chỉ có một số lô hàng theo kí kết của Chính phủ mới sử dụng tàu của các công ty tàu biển trong nước
e Tiếp cận thị trường
Đa số các quan hệ giao dịch buôn bán gạo thường được người mua nước ngoài hoặc là trực tiếp hoặc là thông qua các cơ quan Chính phủ Các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam chưa tự chủ động tìm kiếm thị trường, chưa có được các hợp đồng lớn ổn định, các hợp đồng của Chính phủ chiếm
½ lượng gạo xuất khẩu
Các hoạt động xúc tiến xuất khẩu gạo cũng chưa được quan tâm đầy
đủ, chưa tận dụng được các phương tiện thông tin, văn phòng đại diện hay
Trang 17tham tán thương mại, người Việt Nam ở nước ngoài đề quảng bá hình ảnh gạo Việt Nam đến với người tiêu dùng nước ngoài
III Tình hình xuất khẩu gạo Việt Nam
1 Kim ngạch
Bắt đầu từ năm 1989 khi nước ta xuất khẩu được những tấn gạo đầu tiên cho đến nay nước ta đã xuất khẩu được 59.325 nghìn tấn đạt giá trị 14.125 triệu đô Năm 2005 là năm đạt kim ngạch xuất khẩu gạo cao nhất 5.25 triệu tấn còn năm 2007 là năm đạt giá trị cao nhất 1.46 tỷ USD tuy kim ngạch có thấp hơn nhưng do giá tăng nên đạt giá trị cao hơn
Kết thúc năm 2007 nước ta xuất khẩu được 4.53 triệu tấn gạo đạt 1.46
tỷ USD đứng thứ 2 trên thế giới sau Thái Lan trong đó riêng gạo15% tấm đạt kim ngạch cao nhất 1.512 triệu tấn với giá trị là 501,5 triệu đô tăng 15,04% về lượng và tăng 37,96% về giá so với năm 2006 Loại gạo này chủ yếu được xuất sang Indonesia (900.225 tấn trị giá 281 triệu USD) Cuba (407.460 tấn trị giá 160 triệu USD) Malaixia (50.490 tấn trị giá 15 triệu USD) So với năm 2006 thì lượng gạo xuất khẩu giảm 3% nhưng lại tăng 15% về giá trị xuất khẩu, đáng chú ý là năm qua giá gạo xuất khẩu bình quân của nước ta đạt 295USD/tấn tăng 41$/tấn so với năm 2006 Nhiều loại gạo cao cấp đã có giá bán ngang bới giá gạo Thái Lan Đặc biệt năm 2007 các doanh nghiệp đã xuất khẩu được khoảng 230.000 tấn gạo nếp với giá bình quân đạt 400$/tấn Việc giá gạo tăng cao đã giúp cho bà con nông dân được hưởng lợi
Trang 18Kim ngạch xuất khẩu gạo so với kim ngạch xuất khẩu nông sản
năm 2007
(Tổng cục thống kê)
Kim ngạch và giá trị xuất khẩu gạo
(Thời báo kinh tế Việt Nam)
Bước sang năm 2008 theo chỉ đạo Thủ tướng Chính phủ nước ta vẫn chỉ xuất khẩu 4,5 triệu tấn gạo nhưng số tiền thu về sẽ là 1,7 tỉ USD Đó là những con số được nêu ra tại hội nghị tổng kết hoạt động xuất khẩu gạo năm
2007 và triển khai kế hoạch năm 2008 vừa diễn ra chiều 18-1 Theo Thứ trưởng Bộ Công thương Nguyễn Thành Biên, sản lượng gạo XK năm 2008 sẽ
Năm 1989 – 1990 1991 – 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 Kim ngạch
(nghìn tấn) 2.830 23.488 3.746 3.729 3.236 3.810 4.063 5.250 4.643 4.530 Trị giá (Triệu
Trang 19được phân bổ thời gian ký hợp đồng như sau: quí 1: 700.000 tấn, quí 2: 1,5 triệu tấn, quí 3: 1,5 triệu tấn và quí 4: 800.000 tấn.
Cũng theo ông Biên, trong tổng số 4,5 triệu tấn gạo XK năm nay, sản lượng gạo ký hợp đồng thương mại là 2 triệu tấn, tăng 500.000 tấn so với năm trước, và hợp đồng tập trung 2,5 triệu tấn, giảm 500.000 tấn Và đến đầu tháng 3-2008, hoạt động XK gạo sẽ được điều hành theo qui chế mới
Kim ngạch xuất khẩu gạo bắt đầu gia nhập Câu lạc bộ trên 1 tỷ USD xuất khẩu năm 2005 và từ đó cho đến nay liên tục có mặt trong Câu lạc bộ xuất khẩu trên 1 tỷ USD Năm 2007 gạo đứng vị trí thứ 7/10 thành viên của CLB xuất khẩu trên 1 tỷ USD, còn trong cơ cấu xuất khẩu hàng nông sản lâm thủy sản thì gạo đứng vị trí thứ 4
Đơn vị: tỷ USD
http://www.agroviet.gov.vn
Trang 202 Cơ cấu thị trường
Thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam ngày càng được mở rộng, nếu như năm 1991 gạo nước ta mới chỉ xuất khẩu sang 20 nước thì đến năm
1993 – 1994 đã tăng lên trên 50 nước và hiện nay đã xuất khẩu sang đến 80 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới trải đều cả 5 châu Trong đó Châu Á
và Châu Phi là hai thị trường nhập khẩu gạo lớn nhất của Việt Nam với tỷ lệ lần lượt là 58,8% và 18,8% trong suốt giai đoạn từ 1991 – 2000 Các thị trường nhập khẩu chính của Việt Nam là Philipine, Indonesia, Cu Ba, Malaysia, Irac
Đứng đầu về thị trường nhập khẩu gạo của Việt Nam năm 2007 là Philippine với 1,454 triệu tấn, trị giá 464,87 triệu USD,giảm 3,71% về lượng nhưng tăng 8,3% về trị giá so với năm 2006 Xuất khẩu sang thị trường này chủ yếu là gạo 25% tấm
Xuất khẩu sang Indonesia năm 2007 tăng khá mạnh, đạt 1,11 triệu tấn gạo với trị giá 360,66 triệu USD, tăng tới 226,6% về lượng và tăng 244,75%
về trị giá so với năm 2006; còn so với năm 2005 tăng 1029,39% về lượng và tăng 1220,74% về trị giá Thị trường này chủ yếu nhập khẩu gạo 15% tấm
Trang 21USD, tăng 4,76 lần về lượng và tăng 5,13 lần về trị giá so với tháng 1/07; tăng 105 lần về lượng và tăng 93,65 lần về trị giá so với cùng kỳ năm ngoái Hai 2 tháng đầu năm 2008 xuất khẩu gạo sang thị trường Indonêsia là lớn nhất đạt 189,9 nghìn tấn với trị giá 61,8 triệu USD.
Một số thị trường nhập khẩu gạo Việt Nam năm 2006 – 2007
Lượng (Tấn) Trị giá (USD) Lượng (%) Trị giá (%)
a Xuất khẩu trực tiếp
Khái niệm: Xuất khẩu trực tiếp là hình thức xuất khẩu mà nhà xuất khẩu gia
trức tiếp với khách hàng nước ngoài ở khu vực thị trường nước ngoài thông qua tổ chức của mình
Các hình thức: các tổ chức bán hàng trực tiếp của nhà sản xuất
o Cơ sở bán hàng trong nước
o Gian hàng xuất khẩu
Trang 22o Phòng xuất khẩu
o Chi nhánh bán hàng xuất khẩu
o Chi nhánh bán hàng tại nước ngoài
Nhược điểm:
o Tăng rủi do trong kinh doanh
o Phải trực tiếp khảo sát thị trường nước ngoài
o Phải lo khâu vận tải hàng hóa từ nơi sản xuất sang thị trường tiêu thụ và đảm bảo các thủ tục giấy tờ liên quan
Điều kiện áp dụng: áp dụng cho doanh nghiệp có đủ tiềm năng về tài chính,
quy mô lớn, phát triển đủ mạnh để thành lập riêng những kênh phân phối tại thị trương nước ngoài
b Xuất khẩu gián tiếp
Trang 23Khái niệm: Là hình thức xuất khẩu khi doanh nghiệp thông qua dịch vụ của
các tổ chức độc lập đặt ngay tại nước xuất khẩu để tiến hành xuất khẩu sản phẩm của mình ra nước ngoài
Các hình thức: sử dụng các chung gian phân phối
o Hãng buôn xuất khẩu
o Các công ty quản lý xuất khẩu
o Đại lý xuất khẩu
Nhược điểm:
Do không trực tiếp được tiếp xúc với bạn hàng và khách hàng nên thông tin về thị trường, mức tiêu thụ mặt hàng của mình, tâm lý khách hàng, phản ứng của khách hàng đổi với hàng hóa của mình… hầu như là không có
• Nhà xuất khẩu không thể chọn kênh phân phối sao cho có lợi nhất cho mình
Trang 24• Không kiểm soát được giá bán
• Không tạo được uy tín với khách hàng nước ngoài
Điều kiện áp dụng: áp dụng cho các doanh nghiệp mới tham gia vào thị
trường quốc tế, doanh nghiệp có khả năng tài chính hạn chế, doanh nghiệp vừa và nhỏ
c. Một số hình thức xuất khẩu khác
Xuất khẩu uỷ thác: là các đơn vị giao dịch, đàm phán, kí hợp đồng để
xuất khẩu cho một đơn vị khác (bên uỷ thác)
Xuất khẩu tại chỗ: đây là hình thức mới và đang được sử dụng rộng rãi
hiện nay Hình thức xuất khẩu này không bắt buộc hàng hoá phải vượt qua biên giới quốc gia mới đến tay khách hàng Do vậy giảm được chi phí cũng như rủi ro trong quá trình vận chuyển và bảo quản hàng hoá Các thủ tục trong quá trình giao nhận cũng đơn giản không nhất thiết phải có các hợp đồng phụ trợ như: Hợp đồng vận chuyển hàng hoá, hợp đồng bảo hiểm, thủ tục hải quan
Buôn bán đối lưu: là hình thức giao dịch mà trong đó xuất khẩu kết
hợp chặt chẽ với nhập khẩu, người bán đồng thời là người mua hàng, trao đổi có giá trị tương đương nhau Mục đích xuất khẩu không phải thu về ngoại tệ mà nhằm thu về một lượng hàng hoá có giá trị xấp xỉ giá trị lô hàng xuất
Xuất khẩu theo nghị định thư: là hình thức xuất khẩu hàng hoá được kí
theo nghị định thư giữa hai chính phủ
Trang 25Tạm nhập tái xuất và tạm xuất tái nhập: tạm nhập tái xuất là hình thức
xuất khẩu trở lại ra nước ngoài những hàng hoá trước đây đã nhập khẩu chưa qua chế biến ở nước tái xuất và ngược lại là tạm xuất tái nhập
Chuyển khẩu: là hình thức mua hàng của nước này bán cho nước khác
mà không phải làm thủ tục xuất nhập khẩu
IV Sự cần thiết phải xuất khẩu gạo sang thị trường Châu
Phi
1 Yêu cầu tất yếu của việc mở rộng thị trường xuất khẩu
Trong định hướng phát triển các nghành kinh tế và các vùng của nước
ta trong giai đoạn 2001 – 2010 cũng đã đề ra mục tiêu: “mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản trong và ngoài nước, tăng đáng kể thị phần của các nông san chủ lực trên thị trường thế giới”
Sau sự tan rã của Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu kéo theo sự sụp đổ của hệ thống thị trường truyền thống của Việt Nam Cùng với đó xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, xu hướng tự do hóa thương mại là xu thế khách quan trong kinh tế thế giới Tính cạnh tranh cao trong môi trường toàn cầu
đã đặt ra nhiều thách thức cho hàng hóa của Việt Nam khi cạnh tranh tại các thị trường khó tính như Mỹ, EU, Nhật… từ đó buộc chúng ta phải có giải pháp tìm kiếm và phát triển xuất khẩu sang các thị trường mới mà ở đó hàng hóa của chúng ta có cơ hội thâm nhập và phát triển thị trường
Theo ước tính mỗi năm trung bình nước ta thừa khoảng 4.5 triệu tấn gạo nếu không tổ chức giải quyết tốt đầu ra cho gạo thông qua xuất khẩu thì hậu quả đối với nền nông nghiệp nước ta là rất to lớn gây ảnh hưởng trực tiếp đến 2/3 số hộ dân cả nước
Trang 26Việc đẩy mạnh xuất nhập khẩu sang Châu Phi là việc làm không thể thiểu nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, gia tăng kim ngạch xuất khẩu phục vụ trực tiếp cho công cuộc phát triển kinh tế của nước
ta Đồng thời đây còn là bước tạo đà phát triển quan hệ hữu nghị giữa Việt Nam và các nước Châu Phi trên nhiều mặt như chính trị, ngoại giao, văn hóa giáo dục
2 Châu Phi một thị trường tiềm năng
Châu Phi là một châu lục lớn thứ 3 trên thế giới (sau Châu Á và Châu Mỹ) với diện tích rộng 30 triệu km2 với 54 quốc gia dân số khoảng 850 triệu người (2005) chiếm 13% dân số thế giới đứng thứ 2 sau châu Á Sau những cuộc cải cách kinh tế đầu những năm 1990 kinh tế các nước châu Phi đã có những chuyển biến đáng kể, tốc độ tăng GDP hàng năm từ 1993 – 1995 là 2% và gần 5% từ 2000 – 2005 Tính chung toàn châu lục, năm 2006, các nền kinh tế châu Phi tiếp tục duy trì sự năng động về tăng trưởng của những năm trước, với mức tăng trưởng chung GDP là 5,7% trong khi năm 2005 là 5,3%
và năm 2004 là 5,2%
Đối với châu Phi, nông nghiệp kém phát triển là một trong những nguyên nhân làm cho lục địa này không thể phát huy hết những tiềm năng sẵn có trong nền kinh tế thế giới Theo Tổ chức NEPAD, châu Phi không những phải nhập khẩu thực phẩm mà có 30 triệu người luôn trong tình trạng cần hỗ trợ khẩn cấp, 200 triệu người thường xuyên bị đói Tính theo đầu người, các sản phẩm nông nghiệp của châu Phi đã giảm 5% trong vòng 20 năm so với sự phát triển 40% của nhiều nước
Do trình độ phát triển còn thấp và không thể tự cung tự cấp được về
Trang 27cao đặc biệt là gạo (tổng khối lượng gạo nhập khẩu của châu Phi đã tăng từ 3,2 triệu tấn năm 1990 lên đến 5 triệu tấn năm 2000 rồi 9,6 triệu tấn năm
2006, xuống còn 9,3 triệu tấn năm 2007 và dự báo còn tăng cao trong những năm tới Hơn nữa nhu cầu gạo của Châu Phi chủ yếu là các sản phẩm chất lượng trung bình hoặc thấp và từ sau khi Việt Nam gia nhập WTO thì các
rào cản thương mại với 41/54 (2004) nước châu Phi là thành viên của WTO
đã được giảm bớt Do đó việc thị trường gạo châu Phi là một thị trường tiềm năng to lớn với các doanh nghiệp xuất khẩu gạo Việt Nam
Chương 2: Thực trạng xuất khẩu gạo Việt Nam sang Châu Phi
I Khái quát chung về thị trường gạo Châu Phi
Thị trường gạo châu Phi luôn là một thị trường hấp dẫn vơi các nhà xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới như Thái Lan, Ấn Độ, Việt Nam, Trung Quốc… Với nhu cầu liên tục tăng và theo dự báo năm 2008 này Châu Phi
sẽ nhập khoảng 9.1 triệu tấn
Thái Lan là thị xuất khẩu gạo lớn nhất vào châu Phi với gần 3.89 triệu tấn chiếm 41% tổng lượng gạo xuất khẩu của Thái Lan năm 2007 chủ yếu là gạo đồ trong đó Nigieria, Senegan, Nam Phi là những khách hàng lớn nhất
Mozambique, Angola, Senegal, Togo và Ghana là những quốc gia hàng đầu nhập khẩu gạo trắng của Thái , với tốc độ tăng trưởng rất lớn, đặc biệt là Senegal đã nhập trên 136.000 tấn với mức tăng 3.488% so với năm
2006 Gạo sấy được khách hàng vùng ven biển miền tây như Benin, Nam