1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Kiểm toán trách nhiệm kinh tế của cán bộ quản lý do Kiểm toán nhà nước Việt Nam thực hiện.PDF

199 159 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 199
Dung lượng 2,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

GI ỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1.1. Tính cấp thiết của Đề tài Từ khi có Nghị quyết Trung ương 4 (Khóa XI), các cấp uỷ đảng, lãnh đạo các bộ, ban, ngành Trung ương đã chỉ đạo, triển khai công tác đánh giá cán bộ, đạt được một số kết quả nhất định. Tuy nhiên, công tác kiểm tra, đánh giá cán bộ vẫn còn nhiều bất cập, chưa sát thực tế do công tác đánh giá của một số cấp ủy đảng còn nể nang vì là người trong nội bộ đơn vị khó đánh giá. Công tác đánh giá cán bộ chỉ thực sự hiệu quả khi được thực hiện bởi một cơ quan độc lập, có chuyên môn toàn diện do KTNN chủ trì. Chiến lược phát triển KTNN đến năm 2020 là phát triển KTNN thành công cụ trọng yếu và hữu hiệu của Đảng và Nhà nước trong kiểm tra, kiểm soát việc quản lý và sử dụng tài chính công, tài sản công; hỗ trợ, phục vụ đắc lực cho hoạt động của Quốc hội, HĐND các cấp trong thực hiện chức năng giám sát và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, của các địa phương. Nâng cao năng lực hoạt động, hiệu lực pháp lý, chất lượng và hiệu quả hoạt động của KTNN như một công cụ hữu hiệu của Nhà nước trong kiểm tra, giám sát quản lý và sử dụng tài chính công, tài sản công; xây dựng KTNN có trình độ chuyên nghiệp cao, từng bước hiện đại, trở thành cơ quan kiểm tra tài chính công có trách nhiệm và uy tín, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Theo kinh nghiệm quốc tế, KTTNKT đối với cán bộ lãnh đạo các cấp, các DNNN là một biện pháp quan trọng để kiểm tra, đánh giá một cách xác đáng nhất trách nhiệm kinh tế người đứng đầu đơn vị; đồng thời đây cũng là một biện pháp tốt để làm tốt công tác bảo vệ cán bộ. Qua nghiên cứu các vấn đề lý luận, nhất là nghiên cứu về KTTNKT đối với cán bộ lãnh đạo ở Trung Quốc cũng như tình hình thực tiễn của nước ta hiện nay trong công tác cán bộ và công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, thất thoát, lãng phí cho thấy kinh nghiệm của Trung Quốc có thể giúp chúng ta tiếp thu có chọn lọc để áp dụng phù hợp với thực tiễn và yêu cầu của Việt Nam (tại Trung Quốc, KTTNKT của các nhà quản lý đã và đang phát triển rất mạnh. Theo quy định của Luật KTNN Trung Quốc thì KTNN thực hiện KTTNKT của các nhà lãnh đạo ở cấp tỉnh, cấp bộ và người phụ trách của đơn vị thuộc đối tượng giám sát của KTNN Trung Quốc (CNAO) (Kiểm toán nhà nước, 2015). Bên cạnh thực hiện các cuộc kiểm toán tuân thủ, kiểm toán BCTC và kiểm toán hoạt động, CNAO thường tổ chức các cuộc KTTNKT của các cán bộ quản lý; đồng thời tiến hành bàn giao hồ sơ truy tố cho cơ quan tư pháp và hồ sơ kỷ luật cho các cơ quan kỷ luật của Đảng Cộng sản Trung Quốc). Biện pháp này nếu được thực hiện sẽ tạo ra một bước đột phá trong công tác kiểm tra, đánh giá cán bộ để ngăn ngừa, răn đe và đấu tranh chống tham nhũng;... chắc chắn sẽ được các tầng lớp nhân dân đồng tình, ủng hộ, đồng thời là căn cứ quan trọng trong đánh giá, bố trí, sử dụng cán bộ được đúng đắn. KTTNKT đối với cán bộ lãnh đạo là một bổ sung quan trọng cho phương pháp đánh giá cán bộ nhằm đánh giá đúng cán bộ làm cơ sở và góp phần nâng cao chất lượng công tác quy hoạch, luân chuyển và đào tạo cán bộ đáp ứng yêu cầu thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Ngày 8/03/2008, KTNN đã ban hành Hướng dẫn Số 165/HĐ-KTNN Hướng dẫn đánh giá, kết luận về trách nhiệm và kiến nghị xử lý vi phạm theo kết luận kiểm toán qua kết quả kiểm toán. Tuy nhiên KTNN chưa có quy trình KTTNKT của cán bộ qu ản lý do KTNN thực hiện. Mặt khác qua khảo sát sơ bộ cho thấy công tác KTTNKT c ủa cán bộ quản lý (được lồng ghép thực hiện tại các cuộc kiểm toán tài chính, kiểm toán hoạt động, kiểm toán chuyên đề…) còn chưa được quan tâm đúng mức hoặc đã được quan tâm nhưng chưa có tác động lớn đến xã hội. Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến KTTNKT c ủa cán bộ quản lý nhưng chưa có nhiều đề tài nghiên cứu về nội dung này. Qua th ực tế công tác cho thấy các chủ tài khoản, người đứng đầu các đơn vị được kiểm toán rất sợ các kết luận có liên quan đến đánh giá trách nhiệm kinh tế đối v ới người đứng đầu (các đơn vị sẵn sàng thực hiện thu hồi nộp NSNN hoặc giảm chi theo ki ến nghị của KTNN đối với các sai phạm nhưng đều đề xuất KTNN không kiến nghị kiểm điểm trách nhiệm kinh tế người đứng đầu). Qua thực tế theo dõi việc kiểm tra, thực hiện kiến nghị kiểm toán thì những nơi KTNN đã có kiến nghị kiểm điểm trách nhiệm kinh tế người đứng đầu thì việc tái diễn các sai phạm thường không xảy ra hoặc nếu có thì việc tái diễn không nhiều. Việc thực hiện kiến nghị kiểm toán tại các đơn vị KTNN đã có kiến nghị kiểm điểm trách nhiệm kinh tế người đứng đầu thì có k ết quả cao hơn những nơi không có kiến nghị kiểm điểm. Mặt khác công tác KTTNKT của cán bộ quản lý hiện nay đã được kiểm toán nhưng chưa thực sự tốt, các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến KTTNKT của cán bộ quản lý còn chưa nhiều, đặc biệt trong phạm vi KTNN. Là một KTV nhà nước, bản thân Tác giả đã nhiều năm nghiên cứu thực hiện Đề tài: “Ki ểm toán trách nhiệm kinh tế của cán bộ quản lý do Kiểm toán Nhà nước Việt Nam th ực hiện” với mục tiêu sử dụng những kiến thức đã được nghiên cứu góp phần nâng cao v ị thế, vai trò của KTNN, nâng cao tính minh bạch, hiệu quả trong việc quản lý tài chính công, tài s ản công.

Trang 1

- -PH¹M TIÕN DòNG

KIÓM TO¸N TR¸CH NHIÖM KINH TÕ CñA C¸N Bé QU¶N Lý DO KIÓM TO¸N NHµ N¦íC VIÖT NAM THùC HIÖN

Chuyªn ngµnh: KÕ to¸n (KÕ to¸n, kiÓm to¸n vµ ph©n tÝch)

Chuyªn ngµnh: KÕ to¸n (KÕ to¸n, kiÓm to¸n vµ ph©n tÝch)

M· sè:

M· sè: 62340301 62340301 62340301

Ng−êi h−íng dÉn khoa häc:

1 TS MAI VINH

2 PGS.TS NGUYỄN THỊ PHƯƠNG HOA

Hµ Néi - 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

DANH MỤC SƠ ĐỒ

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1

1.1 Tính cấp thiết của Đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.3 Câu hỏi quản lý, câu hỏi nghiên cứu 3

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

1.5 Phương pháp nghiên cứu 4

1.5.1 Khái quát chung về phương pháp nghiên cứu 4

1.5.2 Thiết kế nghiên cứu 4

1.5.3 Dữ liệu nghiên cứu và phương pháp thu thập dữ liệu 5

1.5.4 Thiết kế bảng hỏi đối với việc xác định các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển kiểm toán trách nhiệm kinh tế của cán bộ quản lý 7

1.5.5 Phương pháp xử lý, phân tích dữ liệu và trình bày kết quả nghiên cứu 11

1.6 Đóng góp mới của đề tài 12

1.7 Kết cấu của Luận án 12

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 13

2.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài 13

2.2 Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam 15

CHƯƠNG 3 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KIỂM TOÁN TRÁCH NHIỆM KINH TẾ CỦA CÁN BỘ QUẢN LÝ 19

3.1 Cán bộ quản lý và trách nhiệm kinh tế của cán bộ quản lý 19

3.1.1 Cán bộ quản lý 19

3.1.2 Trách nhiệm kinh tế của cán bộ quản lý 20

3.2 Kiểm toán trách nhiệm kinh tế của cán bộ quản lý 24

3.2.1 Khái quát chung về kiểm toán trách nhiệm kinh tế đối với cán bộ quản lý 24

3.2.2 Sự cần thiết kiểm toán trách nhiệm kinh tế đối với cán bộ quản lý 28

3.2.3 Chủ thể kiểm toán trách nhiệm kinh tế của cán bộ quản lý 31

Trang 3

quản lý 32

3.2.5 Thời điểm kiểm toán trách nhiệm kinh tế 33

3.2.6 Loại hình kiểm toán trách nhiệm kinh tế 33

3.2.7 Quy trình kiểm toán trách nhiệm kinh tế đối với cán bộ quản lý 33

3.3 Bài học kinh nghiệm kiểm toán trách nhiệm kinh tế của cán bộ quản lý 35

3.3.1 Kinh nghiệm các kiểm toán nhà nước trên thế giới đối với đánh giá trách nhiệm kinh tế của cán bộ quản lý 35

3.3.2 Kiểm toán trách nhiệm kinh tế tại Kiểm toán Nhà nước Trung Quốc 37

3.3.3 Bài học kinh nghiệm về kiểm toán trách nhiệm kinh tế của cán bộ quản lý do Kiểm toán Nhà nước thực hiện cho Việt Nam 42

3.4 Mô hình nghiên cứu xác định các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển kiểm toán trách nhiệm kinh tế 45

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 46

CHƯƠNG 4 THỰC TRẠNG KIỂM TOÁN TRÁCH NHIỆM KINH TẾ CỦA CÁN BỘ QUẢN LÝ DO KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC THỰC HIỆN 47

4.1 Kiểm toán Nhà nước Việt Nam và các nội dung kiểm toán do Kiểm toán Nhà nước Việt Nam thực hiện 47

4.1.1 Vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Kiểm toán Nhà nước Việt Nam với kiểm toán trách nhiệm kinh tế 47

4.1.2 Các loại hình kiểm toán do Kiểm toán Nhà nước Việt Nam thực hiện với kiểm toán trách nhiệm kinh tế 50

4.2 Thực trạng kiểm toán trách nhiệm kinh tế đối với cán bộ quản lý do Kiểm toán Nhà nước thực hiện 52

4.2.1 Thực trạng pháp lý và các quy trình, hướng dẫn của Kiểm toán Nhà nước về trách nhiệm kinh tế của cán bộ quản lý hiện nay 52

4.2.2 Thực trạng kiểm toán trách nhiệm kinh tế qua kết quả kiểm toán giai đoạn 2011-2015 61

4.2.3 Thực trạng các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển kiểm toán trách nhiệm kinh tế của cán bộ kinh tế do Kiểm toán Nhà nước Việt Nam thực hiện 67

4.3 Đánh giá thực trạng kiểm toán trách nhiệm của cán bộ quản lý trong các tổ chức công do Kiểm toán Nhà nước thực hiện 90

4.3.1 Đánh giá thực trạng việc kiểm toán trách nhiệm kinh tế người đứng đầu qua các buổi kết luận kiểm toán 90

4.3.2 Đánh giá thực trạng việc thực hiện kiến nghị kiểm toán và tái diễn các sai phạm sau kiểm toán 92

Trang 4

kết quả kiểm toán 94

KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 97

CHƯƠNG 5 HOÀN THIỆN KIỂM TOÁN TRÁCH NHIỆM KINH TẾ CỦA CÁN BỘ QUẢN LÝ DO KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC THỰC HIỆN 98

5.1 Quan điểm định hướng về kiểm toán trách nhiệm kinh tế của cán bộ quản lý do Kiểm toán Nhà nước thực hiện 98

5.2 Một số giải pháp hoàn thiện kiểm toán trách nhiệm kinh tế đối cán bộ quản lý do Kiểm toán Nhà nước Việt Nam thực hiện 99

5.2.1 Nâng cao chất lượng, năng lực kiểm toán viên thực hiện kiểm toán trách nhiệm kinh tế đối với cán bộ quản lý 99

5.2.2 Tăng cường khả năng triển khai kiểm toán trách nhiệm kinh tế đối với cán bộ quản lý trong các tổ chức công 101

5.2.3 Tăng cường yêu cầu Kiểm toán trách nhiệm kinh tế đối với cán bộ quản lý trong các tổ chức công 106

5.2.4 Xây dựng chiến lược phát triển Kiểm toán trách nhiệm kinh tế đối với cán bộ quản lý trong các tổ chức công 107

5.3 Kiến nghị thực hiện các giải pháp 108

5.4 Các kiến nghị với Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan có liên quan 116

5.4.1 Đối với Quốc hội 116

5.4.2 Đối với Chính phủ và các cơ quan khác có liên quan 116

5.4.3 Kiến nghị đối với Tổng Kiểm toán Nhà nước 117

KẾT LUẬN CHƯƠNG 5 124

KẾT LUẬN 125

DANH MỤC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ 127

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 129

PHỤ LỤC 137

PHỤ LỤC 01 138

PHỤ LỤC 02 142

PHỤ LỤC 03 146

PHỤ LỤC 04 147

PHỤ LỤC 05 152

PHỤ LỤC 06 173

Trang 5

ASOSAI Asian Organization of Supreme Audit Institutions (Cơ quan Kiểm toán

Tối cao Châu Á) BCTC Báo cáo tài chính

CNAO The National Audit Office of the People's Republic of China (Kiểm

toán Nhà nước Trung Quốc) CQHC Cơ quan hành chính

DNNN Doanh nghiệp nhà nước

HĐND Hội đồng nhân dân

INTOSAI International Organization of Supreme Audit Institutions (Tổ chức

Quốc tế các cơ quan Kiểm toán tối cao) KHKT Kế hoạch kiểm toán

KTNN Kiểm toán nhà nước

KTTNKT Kiểm toán trách nhiệm kinh tế

KTV Kiểm toán viên

NS Ngân sách

NSĐP Ngân sách địa phương

NSNN Ngân sách nhà nước

SAI Supreme Audit Institution (Kiểm toán tối cao)

SAV Kiểm toán Nhà nước Việt Nam

UBND Ủy ban nhân dân

VBQPPL Văn bản quy phạm pháp luật

XHCN Xã hội chủ nghĩa

Trang 6

Bảng 4.1 Các cuộc kiểm toán do KTNN thực hiện giai đoạn 2011-2015 61

Bảng 4.2 Tổng số kiến nghị xử lý tài chính giai đoạn 2011-2015 của KTNN 62

Bảng 4.3 Tổng hợp các kiến nghị kiểm điểm trách nhiệm giai đoạn 2011-2015 của KTNN 64

Bảng 4.4 Kết quả phỏng vấn theo mẫu độ tuổi về các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển kiểm toán trách nhiệm cán bộ quản lý 67

Bảng 4.5 Kết quả khảo sát theo mẫu nghiên cứu trình độ học vấn của cán bộ kiểm toán tại Kiểm toán Nhà nước về các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển kiểm toán trách nhiệm quản lý 68

Bảng 4.6 Kết quả nghiên cứu theo ngạch công chức về các nhân tố ảnh hưởng tới kiểm toán trách nhiệm kinh tế của cán bộ quản lý 69

Bảng 4.7 Mẫu nghiên cứu theo hệ số lương tại Kiểm toán Nhà nước về các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển kiểm toán trách nhiệm của cán bộ quản lý 70

Bảng 4.8 Kết quả khảo sát các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển kiểm toán trách nhiệm kinh tế của các cán bộ quản lý theo mẫu thời gian công tác 71

Bảng 4.9 Thống kê mô tả các nhân tố chính trị, kinh tế, xã hội 72

Bảng 4.10 Các nhân tố thuộc về năng lực của Kiểm toán Nhà nước 74

Bảng 4.11 Các nhân tố thuộc về đối tượng kiểm toán 76

Bảng 4.12 Các nhân tố thuộc về kiểm toán trách nhiệm kinh tế đối với cán bộ quản lý do Kiểm toán Nhà nước thực hiện 77

Bảng 4.13 Độ tin cậy của thang đo kinh tế, chính trị, xã hội 78

Bảng 4.14 Độ tin cậy của thang đo năng lực kiểm toán 80

Bảng 4.15 Độ tin cậy của thang đo đặc điểm đối tượng kiểm toán 82

Bảng 4.16 Độ tin cậy của thang đo kiểm toán trách nhiệm 83

Bảng 4.17 Kết quả kiểm định KMO 84

Bảng 4.18 Phương sai trích 84

Bảng 4.19 Ma trận nhân tố xoay 85

Bảng 4.20 Kết quả phân tích ANOVA 89

Bảng 4.21 Tổng hợp tình hình thực hiện kết luận kiểm toán giai đoạn 2011-2015 của KTNN 92

Trang 7

Biểu đồ 4.1 Số lượng các cuộc kiểm toán (theo lĩnh vực) giai đoạn 2011-2015 62Biểu đồ 4.2 Tổng số kiến nghị xử lý tài chính giai đoạn 2011-2015 của KTNN 63Biểu đồ 4.3 Cơ cấu các kiến nghị xử lý tài chính giai đoạn 2011-2015 của KTNN 63Biểu đồ 4.4 Kết quả phỏng vấn theo mẫu độ tuổi về các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát

triển kiểm toán trách nhiệm cán bộ quản lý 67Biểu đồ 4.5 Kết quả khảo sát theo mẫu nghiên cứu trình độ học vấn của các KTV tại

Kiểm toán Nhà nước về các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển kiểm toán trách nhiệm quản lý 68Biểu đồ 4.6 Kết quả nghiên cứu theo ngạch công chức về các nhân tố ảnh hưởng tới

kiểm toán trách nhiệm kinh tế của cán bộ quản lý 69Biểu đồ 4.7 Mẫu nghiên cứu theo hệ số lương tại Kiểm toán Nhà nước về các nhân tố

ảnh hưởng tới sự phát triển kiểm toán trách nhiệm của cán bộ quản lý 70Biểu đồ 4.8 Kết quả khảo sát các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển kiểm toán trách

nhiệm kinh tế của các cán bộ quản lý theo mẫu thời gian công tác 71

Trang 8

Sơ đồ 1.1 Quá trình nghiên cứu của Luận án 4

Sơ đồ 1.2 Mô hình nghiên cứu đề xuất 5

Sơ đồ 1.3 Khung phân tích mô hình đầu vào, đầu ra 15

Sơ đồ 3.1 Quy trình kiểm toán trách nhiệm kinh tế cán bộ quản lý 34

Sơ đồ 3.2 Mô hình hiệu chỉnh các nhân tố ảnh hưởng tới KTTNKT đối với cán bộ quản lý tại các tổ chức công do KTNN thực hiện 88

Trang 9

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1.1 Tính cấp thiết của Đề tài

Từ khi có Nghị quyết Trung ương 4 (Khóa XI), các cấp uỷ đảng, lãnh đạo các

bộ, ban, ngành Trung ương đã chỉ đạo, triển khai công tác đánh giá cán bộ, đạt được một số kết quả nhất định Tuy nhiên, công tác kiểm tra, đánh giá cán bộ vẫn còn nhiều bất cập, chưa sát thực tế do công tác đánh giá của một số cấp ủy đảng còn nể nang vì

là người trong nội bộ đơn vị khó đánh giá Công tác đánh giá cán bộ chỉ thực sự hiệu quả khi được thực hiện bởi một cơ quan độc lập, có chuyên môn toàn diện do KTNN chủ trì

Chiến lược phát triển KTNN đến năm 2020 là phát triển KTNN thành công cụ trọng yếu và hữu hiệu của Đảng và Nhà nước trong kiểm tra, kiểm soát việc quản lý và

sử dụng tài chính công, tài sản công; hỗ trợ, phục vụ đắc lực cho hoạt động của Quốc hội, HĐND các cấp trong thực hiện chức năng giám sát và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, của các địa phương Nâng cao năng lực hoạt động, hiệu lực pháp

lý, chất lượng và hiệu quả hoạt động của KTNN như một công cụ hữu hiệu của Nhà nước trong kiểm tra, giám sát quản lý và sử dụng tài chính công, tài sản công; xây dựng KTNN có trình độ chuyên nghiệp cao, từng bước hiện đại, trở thành cơ quan kiểm tra tài chính công có trách nhiệm và uy tín, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công

nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Theo kinh nghiệm quốc tế, KTTNKT đối với cán bộ lãnh đạo các cấp, các DNNN là một biện pháp quan trọng để kiểm tra, đánh giá một cách xác đáng nhất trách nhiệm kinh tế người đứng đầu đơn vị; đồng thời đây cũng là một biện pháp tốt để làm tốt công tác bảo vệ cán bộ Qua nghiên cứu các vấn đề lý luận, nhất là nghiên cứu

về KTTNKT đối với cán bộ lãnh đạo ở Trung Quốc cũng như tình hình thực tiễn của nước ta hiện nay trong công tác cán bộ và công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, thất thoát, lãng phí cho thấy kinh nghiệm của Trung Quốc có thể giúp chúng ta tiếp thu có chọn lọc để áp dụng phù hợp với thực tiễn và yêu cầu của Việt Nam (tại Trung Quốc, KTTNKT của các nhà quản lý đã và đang phát triển rất mạnh Theo quy định của Luật KTNN Trung Quốc thì KTNN thực hiện KTTNKT của các nhà lãnh đạo

ở cấp tỉnh, cấp bộ và người phụ trách của đơn vị thuộc đối tượng giám sát của KTNN Trung Quốc (CNAO) (Kiểm toán nhà nước, 2015) Bên cạnh thực hiện các cuộc kiểm toán tuân thủ, kiểm toán BCTC và kiểm toán hoạt động, CNAO thường tổ chức các cuộc KTTNKT của các cán bộ quản lý; đồng thời tiến hành bàn giao hồ sơ truy tố cho

Trang 10

cơ quan tư pháp và hồ sơ kỷ luật cho các cơ quan kỷ luật của Đảng Cộng sản Trung Quốc) Biện pháp này nếu được thực hiện sẽ tạo ra một bước đột phá trong công tác kiểm tra, đánh giá cán bộ để ngăn ngừa, răn đe và đấu tranh chống tham nhũng; chắc chắn sẽ được các tầng lớp nhân dân đồng tình, ủng hộ, đồng thời là căn cứ quan trọng trong đánh giá, bố trí, sử dụng cán bộ được đúng đắn KTTNKT đối với cán bộ lãnh đạo là một bổ sung quan trọng cho phương pháp đánh giá cán bộ nhằm đánh giá đúng cán bộ làm cơ sở và góp phần nâng cao chất lượng công tác quy hoạch, luân chuyển và đào tạo cán bộ đáp ứng yêu cầu thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Ngày 8/03/2008, KTNN đã ban hành Hướng dẫn Số 165/HĐ-KTNN Hướng dẫn đánh giá, kết luận về trách nhiệm và kiến nghị xử lý vi phạm theo kết luận kiểm toán qua kết quả kiểm toán Tuy nhiên KTNN chưa có quy trình KTTNKT của cán bộ quản lý do KTNN thực hiện Mặt khác qua khảo sát sơ bộ cho thấy công tác KTTNKT của cán bộ quản lý (được lồng ghép thực hiện tại các cuộc kiểm toán tài chính, kiểm toán hoạt động, kiểm toán chuyên đề…) còn chưa được quan tâm đúng mức hoặc đã được quan tâm nhưng chưa có tác động lớn đến xã hội Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến KTTNKT của cán bộ quản lý nhưng chưa có nhiều đề tài nghiên cứu về nội dung này

Qua thực tế công tác cho thấy các chủ tài khoản, người đứng đầu các đơn vị được kiểm toán rất sợ các kết luận có liên quan đến đánh giá trách nhiệm kinh tế đối với người đứng đầu (các đơn vị sẵn sàng thực hiện thu hồi nộp NSNN hoặc giảm chi theo kiến nghị của KTNN đối với các sai phạm nhưng đều đề xuất KTNN không kiến nghị kiểm điểm trách nhiệm kinh tế người đứng đầu) Qua thực tế theo dõi việc kiểm tra, thực hiện kiến nghị kiểm toán thì những nơi KTNN đã có kiến nghị kiểm điểm trách nhiệm kinh tế người đứng đầu thì việc tái diễn các sai phạm thường không xảy ra hoặc nếu có thì việc tái diễn không nhiều Việc thực hiện kiến nghị kiểm toán tại các đơn vị KTNN đã có kiến nghị kiểm điểm trách nhiệm kinh tế người đứng đầu thì có kết quả cao hơn những nơi không có kiến nghị kiểm điểm

Mặt khác công tác KTTNKT của cán bộ quản lý hiện nay đã được kiểm toán nhưng chưa thực sự tốt, các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến KTTNKT của cán bộ quản lý còn chưa nhiều, đặc biệt trong phạm vi KTNN

Là một KTV nhà nước, bản thân Tác giả đã nhiều năm nghiên cứu thực hiện Đề

tài: “Kiểm toán trách nhiệm kinh tế của cán bộ quản lý do Kiểm toán Nhà nước Việt

nâng cao vị thế, vai trò của KTNN, nâng cao tính minh bạch, hiệu quả trong việc quản

lý tài chính công, tài sản công

Trang 11

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát của Đề tài là phát triển lý luận về KTTNKT của các nhà quản lý, xác định các nhân tố ảnh hưởng sự phát triển KTTNKT và đưa các giải pháp hoàn thiện công tác KTTNKT của cán bộ quản lý do KTNN Việt Nam thực hiện Các mục tiêu cụ thể gồm:

KTTNKT) của cán bộ quản lý; xác định các nhân tố ảnh hưởng sự phát triển KTTNKT của cán bộ quản lý;

biệt tại KTNN Trung Quốc để rút ra bài học kinh nghiệm có giá trị tốt cho KTTNKT của cán bộ quản lý do KTNN Việt Nam thực hiện;

KTNN Việt Nam thực hiện trên khía cạnh pháp lý, các quy định, hướng dẫn hiện hành cũng như thực tế công tác KTNNKT hiện nay; nghiên cứu, khảo sát để xác định được các nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến sự phát triển công tác KTTNKT của cán bộ quản lý

do KTNN thực hiện và đề xuất hoàn thiện quy trình, hướng dẫn KTTNKT của cán bộ quản lý do KTNN Việt Nam thực hiện;

phủ, Tổng KTNN và các cơ quan liên quan để triển khai và phát triển công tác KTTNKT của cán bộ quản lý do KTNN thực hiện

1.3 Câu hỏi quản lý, câu hỏi nghiên cứu

- Thực trạng KTTNKT đối với cán bộ quản lý tại các tổ chức công do Kiểm toán nhà nước Việt Nam thực hiện có gì hạn chế?

- Nhân tố nào tác động tới KTTNKT đối với cán bộ quản lý kinh tế tại các tổ chức công do Kiểm toán Nhà nước Việt Nam thực hiện?

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của Đề tài là KTTNKT của cán bộ quản lý (tập trung vào KTTNKT của các lãnh đạo chính quyền địa phương các cấp, lãnh đạo các DNNN trong việc quản lý tài chính công, tài sản công) và các nhân tố ảnh hưởng sự phát triển KTTNKT của cán bộ quản lý Phạm vi nghiên cứu được giới hạn trong các cuộc kiểm

toán NS, tiền và tài sản nhà nước do KTNN thực hiện trong giai đoạn 2011-2015 Do

định nghĩa về cán bộ quản lý khá rộng nên Đề tài tập trung vào các cán bộ quản lý

Trang 12

chủ yếu bao gồm cán bộ lãnh đạo quản lý nhà nước và cán bộ lãnh đạo quản lý DNNN

có liên quan đến việc quản lý sử dụng tài chính công và tài sản công

1.5 Phương pháp nghiên cứu

1.5.1 Khái quát chung về phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu được sử dụng để thực hiện Luận án là phương pháp nghiên cứu định lượng (để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển KTTNKT của cán bộ quản lý) và định tính Để thực hiện phương pháp này, tác giả tiến hành khảo sát ý kiến các cán bộ làm công tác kiểm toán tại KTNN, đầu tiên tác giả xây dựng Bảng hỏi khảo sát sau đó sàng lọc ý kiến, thực hiện phân tích kết quả nghiên cứu thông qua phần mềm SPSS Cỡ mẫu tối thiểu cần đạt được tính theo công thức là n ≥

50 + 8*m (m: số biến độc lập) (Tabachnick và Fidell, 1996), Với m là số lượng nhân

tố độc lập, trong nghiên cứu này tác giả lựa chọn là 300 Kiểm toán viên, với cỡ mẫu

300 người thỏa mãn công thức trên và đảm bảo được tính chính xác của nghiên cứu Chủ thể và khách thể nghiên cứu bao gồm những cán bộ quản lý, những KTV có thâm niên công tác từ 3 năm trở lên đang công tác tại KTNN

1.5.2 Thiết kế nghiên cứu

Quá trình nghiên cứu được thể hiện trong Sơ đồ 1.1 dưới đây:

Sơ đồ 1.1 Quá trình nghiên cứu của Luận án

Tổng quan nghiên cứu

Khoảng trống nghiên cứu

Xây dựng cơ sở lý luận về kiểm toán trách nhiệm kinh

tế do Kiểm toán Nhà nước thực hiện

Trang 13

Ngoài việc phát triển, làm rõ cơ sở lý luận về KTTNKT, bài học kinh nghiệm

về KTTNKT trên thế giới, Tác giả đánh giá thực trạng công tác KTTNKT đối với cán

bộ quản lý; xác định nguyên nhân và những nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển KTTNKT tại KTNN để đưa ra các kiến nghị, giải pháp trong thời gian sắp tới

Đối với việc xác định các nhân tố ảnh hưởng sự phát triển KTTNKT đối với cán bộ quản lý (nghiên cứu định lượng) Tác giả sử dụng mô hình lý thuyết của Polltit & Cộng sự (1999), sử dụng mô hình đầu vào - đầu ra (mô hình logic) trong nghiên cứu và kết quả nghiên cứu các đề tài trong nước để thiết lập mô hình các nhân tố tác động đến hoạt động KTTNKT đối với cán bộ quản lý trong các tổ chức

sử dụng tài chính công, tài sản công ở Việt Nam Mô hình nghiên cứu đề xuất xác

định các nhân tố ảnh hưởng sự phát triển KTTNKT của cán bộ quản lý là: Nhóm

nhân tố kinh tế, chính trị, xã hội; nhóm nhân tố khả năng của KTNN; nhóm nhân tố

về các đối tượng, khách thể được kiểm toán; nhóm nhân tố về quan điểm xây dựng

và phát triển kiểm toán

Sơ đồ 1.2 Mô hình nghiên cứu đề xuất

1.5.3 Dữ liệu nghiên cứu và phương pháp thu thập dữ liệu

chung có liên quan đến Đề tài, đặc biệt là các tài liệu, số liệu từ các báo cáo kiểm toán

do KTNN phát hành và đã công bố theo quy định của Luật KTNN;

Với dữ liệu sơ cấp: thu thập theo các phương pháp cụ thể sau:

Thứ nhất, Điều tra phỏng vấn các đối tượng, đơn vị được kiểm toán, các lãnh

Trang 14

phương các cấp trong việc quản lý tài chính công, tài sản công giai đoạn 2011-2015 do KTNN thực hiện (xác định những kiến nghị mà các nhà quản lý quan tâm nhất) Phỏng vấn sâu một số lãnh đạo các đoàn kiểm toán để xác định vai trò KTTNKT, đánh giá thực trạng KTTNKT, tìm nguyên nhân Phát phiếu điều tra các KTV để xác định các nhân tố ảnh hưởng sự phát triển KTTNKT để củng cố vai trò của KTTNKT đối với cán bộ kiểm toán trong thời gian sắp tới

Về lựa chọn mẫu kiểm toán

phương các cấp được kiểm toán; Hai là, các trưởng đoàn, phó đoàn KTNN; Ba là các KTV trong KTNN

từ 842 cuộc kiểm toán do KTNN thực hiện giai đoạn 2011-2015 (các cuộc kiểm toán

đã có kết luận và đã được công khai theo quy định của Luật KTNN)

Khảo sát thực tế và thu thập thông tin ở các chính quyền địa phương trong quá trình kiểm toán Nội dung khảo sát gồm đánh giá mức độ quan tâm của các nhà quản

lý trong các kết luận kiểm toán có liên quan đến kiến nghị kiểm điểm trách nhiệm, Tác động của những kiến nghị đó đến công tác quản lý và liệu sau khi có kiến nghị kiểm toán thì địa phương có khắc phục kịp thời hoặc vẫn tái diễn các sai phạm đó Khảo sát các tổ trưởng, trưởng đoàn kiểm toán trong các kiến nghị kiểm toán thi chủ tài khoản, lãnh đạo các đơn vị được kiểm toán quan tâm nhất là kiến nghị kiểm toán gì (kiến nghị

xử lý tài chính hay kiến nghị kiểm điểm trách nhiệm cá nhân)? Các sai phạm liên quan trách nhiệm cá nhân có được thực hiện kịp thời và các nhà quản lý có tiếp tục tái diễn các sai phạm đó không?

Phát phiếu phỏng vấn 300 KTV (chủ yếu các KTV có kinh nghiệm trên 3 năm) trong toàn ngành tại các cơ quan KTNN chuyên ngành, KTNN khu vực và các cơ quan tham mưu của KTNN (với số lượng KTV được phát phiếu phỏng vấn là 180 KTV); phát phiểu phỏng vấn các lãnh đạo cấp phòng trở lên và các KTV đang theo học các lớp bồi dưỡng đào tạo năm 2016 do Trường Đào tạo bồi dưỡng cán bộ KTNN (tổ chức trong năm 2016 tại Thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An với số lượng KTV được phát phiếu phỏng vấn là 120 KTV) để xác định các nhân tố ảnh hưởng sự phát triển KTTNKT của cán bộ quản lý (đây là các lớp đào tạo có đủ số lượng KTV có kinh nghiệm và phù hợp điều kiện phỏng vấn của tác giả, các KTV được phỏng vấn cung cấp thông tin tin cậy

do tác giả cũng tham dự các lớp đào tạo này với tư cách là học viên) Cụ thể;

Trang 15

TT Tên đơn vị Địa chỉ

2 KTNN Khu vực X TP Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên

5 KTNN Chuyên ngành II 68, Trần Thái Tông, Cầu Giấy, Hà Nội

6 KTNN Chuyên Ngành VI 68, Trần Thái Tông, Cầu Giấy, Hà Nội

7 Vụ Chế độ kiểm soát chất lượng kiểm toán 111 , Trần Duy Hưng

10 Lớp bồi dưỡng lãnh đạo cấp phòng tại Cửa Lò Thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An

11 Lớp bồi dưỡng KTV tại Cửa Lò Thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An

Thứ hai, trao đổi, tham khảo ý kiến các chuyên gia trong lĩnh vực kiểm toán

NSĐP Các chuyên gia trong nghiên cứu kế toán, kiểm toán, kinh tế lượng để hoàn thiện Luận án theo quy định

1.5.4 Thiết kế bảng hỏi đối với việc xác định các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển kiểm toán trách nhiệm kinh tế của cán bộ quản lý

Bảng hỏi phục vụ nghiên cứu Luận án được thực hiện theo mô hình thang đo Linkert với 5 mức độ được trình bày như sau:

Rất không đồng ý Không đồng ý Không có ý kiến Đồng ý Rất đồng ý

Bảng hỏi được sử dụng trong luận án được xây dựng bao gồm các thang đo dưới đây:

1.5.4.1 Thang đo các yếu tố về nhân tố kinh tế, chính trị, xã hội

Để thiết kế được thang đo này, tác giả căn cứ vào những lý do phát sinh trong thực tế là: (1) Trong các tổ chức công, tình trạng tham ô lãng phí xảy ra nhiều, do tổ chức công là tổ chức của Nhà nước, sử dụng NSNN để thực hiện các hoạt động Do đó trong quá trình hoạt động hay xảy ra hiện tượng cán bộ quản lý lợi dụng chức vụ và quyền hạn để làm giàu cho riêng cá nhân mình; (2) Hiện nay, những quy định về KTTNKT của cán bộ quản lý trong các tổ chức công còn chưa đầy đủ do KTTNKT đối với cán bộ quản lý trong các tổ chức công vẫn còn là một loại hình kiểm toán mới; (3) Kết quả KTTNKT đối với cán bộ quản lý tại các đơn vị công còn hạn chế với lý do vẫn có hiện tượng che dấu trong quá trình kiểm toán của KTV và hiện tượng KTTNKT vẫn chưa được thực hiện đầy đủ; (4) Hiện tượng thất thoát, lãng phí trong quản lý hiện nay còn nhiều nên cần yêu cầu triển khai KTTNKT của cán bộ quản lý để

Trang 16

tránh thất thoát; (5) Quốc hội là cơ quan lập pháp, là cơ quan quyền lực tối cao kiểm soát các hoạt động của chính phủ, hơn nữa KTNN là đơn vị trực thuộc Quốc hội và để kiểm soát những hoạt động của các cơ quan thông thường quốc hội phải kiểm soát được cán bộ quản lý trong các tổ chức công và để kiểm soát được các tổ chức công, Quốc hội yều cầu phải có KTTNKT với cán bộ quản lý để thực hiện chức năng kiểm soát Quốc hội; (6) KTNN là cơ quan thuộc Quốc hội, thực hiện các chức năng kiểm toán do đó khi kiểm toán vai trò của KTNN là phải thực hiện vai trò KTTNKT của cán

bộ quản lý; (7) Luật KTNN yêu cầu mọi tổ chức, cá nhân liên quan công tác quản lý tài chính công, tài sản công phải được kiểm toán để tránh gây nên hiện tượng tham ô, thất thoát trong quản lý gây thiệt hại cho Nhà nước Do đó chỉ KTTNKT mới có thể đáp ứng được yêu cầu này trong tình hình hiện nay; (8) Trong lĩnh vực KTTNKT đối với cán bộ quản lý sự giúp đỡ của các chuyên gia là cần thiết nhằm đảm bảo tính chính xác, hợp lý của những cuộc kiểm toán; (9) Công chúng cần sự minh bạch trong quản lý của cán bộ quản lý vì NSNN là do tiền thuế của dân đóng góp do đó người dân có quyền được biết, ngày nay yêu cầu về sự minh bạch này càng phải được thực hiện minh bạch hơn và chính xác hơn, do đó cần phải KTTNKT đối với cán bộ quản lý tại các tổ chức công Từ những lý do trên thang đo được thiết kế bao gồm những nội dung dưới đây:

1 Tham ô, lãng phí trong quản lý tại các tổ chức

công là phổ biến

Tác giả tham khảo từ nguồn của Wassily Leontief (1973), Trần Thị Bích Hậu (2012), trong nghiên cứu này tác giả đã nêu lên các nhân tố tác động đến chất lượng kểm toán trách nhiệm kinh tế đối với cán bộ kinh tế gồm: Tham ô lãng phí, thiếu quy định về trách nhiệm kinh tế của cán bộ quản lý, kết quả KTTNKT trong tổ chức công còn hạn chế, yêu cầu triển khai KTTNKT của cán bộ quản lý để tránh thất thoát lãng phí, yêu cầu từ quốc hội, vai trò của của KTNN, luật KTNN yêu cầu, sự giúp đỡ của các chuyên gia, yêu cầu từ sự minh bạch của công chúng

2 Thiếu quy định về trách nhiệm kinh tế của cán bộ

quản lý trong các tổ chức công

3 Kết quả KTTNKT của cán bộ quản lý tại các

đơn vị công còn hạn chế?

4 Yêu cầu triển khai KTTNKT của cán bộ quản

lý để tránh thất thoát lãng phí

5 Yêu cầu từ Quốc hội

6 Vai trò của KTNN là phải thực hiện KTTNKT

đối với cán bộ quản lý

7 Luật KTNN yêu cầu phải KTTNKT đối với

cán bộ quản lý

8 Sự giúp đỡ của các chuyên gia trong lĩnh vực

KTTNKT đối với cán bộ quản lý

9 Yêu cầu từ sự minh bạch của công chúng đối

với trách nhiệm kinh tế của cán bộ quản lý

Trang 17

1.5.4.2 Thang đo năng lực kiểm toán

1 KTV có kiến thức đầy đủ về KTTNKT đối

Kỹ năng của KTV, Nguồn lực của KTNN, Nội dung kiểm toán đối với cán bộ quản lý kinh tế của KTNN

2 KTV có kiến thức chuyên sâu khi tham gia

KTTNKT của cán bộ quản lý

3 Trình độ và kinh nghiệm của KTV khi tham

gia KTTNKT cao

4 Năng lực xây dựng nên các tiêu chí KTTNKT

đối với cán bộ quản lý tại KTNN

5 Khả năng vận dụng các phương pháp kiểm

toán trong KTTNKT đối với cán bộ quản lý

tại KTNN

6 Các kỹ năng phân tích, tổng hợp và viết báo

cáo trong KTTNKT của KTV

7 Có đầy đủ nguồn lực để KTTNKT đối với cán

bộ quản lý hiện nay

8 Có phương pháp triển khai KTTNKT của cán

để tham gia KTTNKT đối với cán bộ quản lý của KTNN là cần thiết, vì thiếu nguồn lực cuộc kiểm toán sẽ thiếu minh bạch, không độc lập; Phương pháp triển khai KTTNKT của cán bộ quản lý trong các tổ chức công tốt hay không, nếu phương pháp triển khai tốt thì kết quả KTTNKT với cán bộ quản lý tốt còn không tốt thì kết quả kiểm toán có ngược lại, tầm ảnh hưởng của nhân tố này tốt hay xấu; Về nội dung

Trang 18

KTTNKT đối với cán bộ quản lý trong các tổ chức công đầy đủ hay thiếu, quyết định đến KTTNKT của cán bộ quản lý trong các tổ chức công Từ những lý do này xây dựng thang đo với những nội dung dưới đây:

1.5.4.3 Thang đo khách thể kiểm toán

Khách thể kiểm toán đóng một vai trò quan trọng trong việc KTTNKT đối với cán bộ quản lý trong tổ chức công, để thực hiện được yêu cầu này cần phải trả lời được những nội dung như sau: Quy mô và phạm vi của các tổ chức công hiện nay thông thường là rộng và khó kiểm soát, khó KTTNKT đối với cán bộ quản lý; Loại hình hoạt động của các tổ chức công đa dạng thông thường ngày nay các tổ chức công hoạt động

đa dạng nhiều lĩnh vực dẫn đến KTTNKT của các tổ chức công khó thực hiện; Các tổ chức công hiện nay chủ yếu do Nhà nước thành lập nên thông thường có một mối quan

hệ thân thiết và được Nhà nước bảo hộ dẫn đến hiện tượng khó KTTNKT đối với cán bộ quản lý trong các tổ chức công; Những cán bộ quản lý trong các tổ chức công thường là những người có quan hệ với cơ quan nhà nước một cách chặt chẽ trong mối quan hệ lợi ích nhóm nên khó KTTNKT đối với cán bộ quản lý trong các tổ chức công; Tổ chức công thông thường thực hiện các quy định và thủ tục riêng khá đầy đủ và kín kẽ nên khó KTTNKT đối với cán bộ quản lý trong các tổ chức công; Tổ chức công thường hiểu biết đầy đủ về trách nhiệm kinh tế của cán bộ quản lý nên có những biện pháp lách luật và từ

đó khó KTTNKT đối với cán bộ quản lý trong các tổ chức công Với những lý do này, xây dựng thang đo đối với khách thể kiểm toán trong việc KTTNKT như sau:

1 Quy mô và phạm vi của các tổ chức công thường rộng và

khó kiểm soát

Tác giả tham khảo nguồn

từ Nguyễn Văn Kiên (2010), Pollitt & cộng sự

1999, Trần Bích Hậu (2008), Nhân tố tác động tới kiểm toán TNKT đối với cán bộ quản lý gồm: Quy mô của tổ chức công, loại hình tổ chức công, cán

bộ quản lý của tổ chức công, quy định và thủ tục của tổ chức công, hiểu biết của tổ chức công

2 Loại hình hoạt động của các tổ chức công quá đa dạng

3 Các tổ chức công thường là các tổ chức được ủng hộ của

Nhà nước

4 Cán bộ quản lý của các tổ chức công được KTTNKT

thường là những người có quan hê phức tạp và được ủng

hộ của cơ quan chủ quản

5 Tổ chức công có những quy định và thủ tục khá đầy đủ

nên khó KTTNKT của cán bộ quản lý

6 Tổ chức công hiểu biết đầy đủ về trách nhiệm kinh tế của

cán bộ quản lý

Trang 19

1.5.4.4 Thang đo kiểm toán trách nhiệm kinh tế đối với cán bộ quản lý

Từ những ý kiến tổng hợp trong 3 thang đo đã xây dựng, mục đích cuối cùng là phải cho biết được hiệu quả của KTTNKT đối với cán bộ quản lý trong các tổ chức công tại KTNN Do đó 3 thang đo dưới đây được tổng hợp để thực hiện KTTNKT đối với cán bộ quản lý trong các tổ chức công như sau:

1 KTNN phải triển khai KTTNKT đối với

cán bộ quản lý trong các tổ chức công một

cách độc lập

Tác giả tham khảo từ Nguyễn Văn Kiên (2010), Pollitt & cộng sự

1999, Trần Bích Hậu (2008), hiệu quả của KTTNKT đối với cán bộ quản lý kinh tế đối với đơn vị tổ chức công được thể hiện qua công tác triển khai KTTNKT của KTNN, khả năng của KTNN, Mức độ hoàn thành nhiệm vụ của KTNN

2 KTNN có khả năng KTTNKT đối với cán

bộ quản lý trong các tổ chức công một cách

độc lập

3 KTNN có khả năng hoàn thành nhiệm vụ

KTTNKT đối với cán bộ quản lý trong các

tổ chức công

1.5.4.5 Mô hình hồi quy

Mô hình nghiên cứu được đề xuất là:

F = α + βi(Fi)

Trong đó F là biến phụ thuộc thể hiện sự phát triển KTTNKT;

Fi là các biến độc lập thể hiện các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển KTTNKT đối với cán bộ quản lý

1.5.5 Phương pháp xử lý, phân tích dữ liệu và trình bày kết quả nghiên cứu

Việc phân tích dữ liệu: Tác giả tổng hợp những kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước về KTTNKT của các nhà quản lý đối với việc quản lý tài chính công, tài sản công; kinh nghiệm của KTNN Trung Quốc và một số nước trên thế giới; cơ sở, điều kiện áp dụng KTTNKT tại KTNN Việt Nam; phân tích các tình huống, thực trạng KTTNKT đối với cán bộ quản lý tại KTNN hiện nay; phân tích các trường hợp điển hình để đưa ra nguyên nhân, quy luật để kiến nghị giải pháp thực hiện

Để có được bộ số liệu cho việc kiểm định các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển KTTNKT của cán bộ quản lý được tiến hành điều tra mã hóa các câu hỏi phỏng vấn dưới dạng định tính và dùng phần mềm SPSS, dùng Excel để liệt kê, tổng hợp, lựa

Trang 20

chọn, so sánh thông tin để kiểm định xem các yếu tố này (tỷ trọng) để kiểm định xem việc nhân tố nào ảnh hưởng đến KTTNKT của cán bộ quản lý

Đề trình bày kết quả nghiên cứu, Tác giả sử dụng các phương pháp: phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, suy luận

1.6 Đóng góp mới của đề tài

Để tài có những đóng góp mới như sau:

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về KTTNKT đối với cán bộ quản lý;

- Xây dựng được mô hình các nhân tố ảnh hưởng tới KTTNKT đối với cán bộ quản lý do Kiểm toán Nhà nước Việt Nam thực hiện;

- Đưa ra được 4 giải pháp hoàn thiện KTTNKT đối với cán bộ quản lý do Kiểm toán Nhà nước Việt Nam thực hiện

1.7 Kết cấu của Luận án

Tên Luận án: “Kiểm toán trách nhiệm kinh tế của cán bộ quản lý do Kiểm toán

Sau phần giới thiệu, Bố cục Luận án gồm 05 chương:

Chương 1: Giới thiệu Đề tài nghiên cứu

Chương 2: Tổng quan tình hình nghiên cứu;

Chương 3: Những vấn đề lý luận cơ bản về kiểm toán trách nhiệm kinh tế của

cán bộ quản lý;

Chương 4: Thực trạng kiểm toán trách nhiệm kinh tế của cán bộ quản lý tại

Kiểm toán Nhà nước hiện nay;

Chương 5: Hoàn thiện kiểm toán trách nhiệm kinh tế của cán bộ quản lý do KTNN Việt Nam thực hiện

Trang 21

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài

Tôn Hiểu Nham (2005) với công trình nghiên cứu “Kiểm toán trách nhiệm

các đơn vị Nhà nước là quan trọng vì các đơn vị công là những đơn vị sử dụng NSNN nên việc xảy ra hiện tượng tiêu cực là dễ thấy Do đó khi kiểm toán, KTNN phải kiểm toán TNKT đối với cán bộ quản lý Ông nêu ra rằng kiểm toán TNKT phải kiểm toán được tình trạng tham ô, lãng phí và tình trạng tha hóa đạo đức của những cán bộ quản

lý trong các tổ chức công

Liu Bei (2004) với công trình nghiên cứu ''Vai trò Kiểm toán Nhà nước Trung

trọng trong việc cất nhắc và sử dụng cán bộ lãnh đạo và là nhiệm vụ quan trọng KTNN phải thực hiện trong nhiệm vụ hàng năm (Đoàn học tập kinh nghiệm kiểm toán tại KTNN Trung Quốc, 2005)

ZhangQi (2004) với công trình nghiên cứu "Chuẩn mực Kiểm toán Nhà nước

quyền kiểm tra, xử lý xử phạt của KTNN đối với các hành vi gian lận, phạm pháp nghiêm trọng KTNNN phải có thẩm quyền tiến hành xử lý xử phạt đối với hành vi gian lận, phạm pháp nghiêm trọng và có biện pháp trong việc tìm kiếm manh mối hành

vi gian lận, phạm pháp nghiêm trọng KTTNKT là nghiệp vụ chuyên môn để đối chiếu với với các mục tiêu liên quan, đưa ra đánh giá xem xét liệu những công chức đặc biệt

có hành thành đúng chức trách, nghĩa vụ của mình không, đồng thời xác định rõ gianh giới trách nhiệm của cán bộ, viên chức trong những vấn đề do KTNN phát hiện (Đoàn học tập kinh nghiệm kiểm toán tại KTNN Trung Quốc, 2005)

Crawbath (2001), trong công trình nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng tới

khó thực hiện với lý do các nhân tố ảnh hưởng tới kiểm toán đặc biệt là trách nhiệm kinh tế của cán bộ quản lý như: Nhân tố kinh tế, xã hội, đối tượng kiểm toán làm cho kết quả KTTNKT của cán bộ quản lý trở nên ít chính xác vì nó tác động lớn đến các cán bộ kiểm toán làm cho KTV dễ nhận định sai

Smarth Jhon (2000), “Kiểm toán trách nhiệm kinh tế của cán bộ quản lý trong

Trang 22

nước xã hội chủ nghĩa, hiện tượng cán bộ quản lý để xảy ra tình trạng thiếu trách nhiệm trong quản lý là xuất phát từ hiện tượng tư lợi cá nhân và lợi ích riêng nên dễ xảy ra hiện tượng tiêu cực làm cho hậu quả là các tổ chức kém phát triển gây lãng phí

và thất thoát cho nhà nước làm ảnh hưởng lớn tới sự phát triển của đất nước do đó phải tăng cường công tác thanh kiểm tra các đơn vị khu vực công nhằm mục đích minh bạch tài chính, giảm thất thoát tiền, tài sản nhà nước

Nath (2005) chỉ ra có 8 nhân tố được phân loại thành nhóm nhân tố kinh tế, chính

trị và xã hội có ảnh hưởng tới việc hình thành kiểm toán trong các tổ chức công gồm: Vai trò Tổng KTNN; yêu cầu từ các cấp chính quyền; chính sách tài khóa; áp lực từ các nhóm lợi ích (chính trị gia, phương tiện truyền thông ); vai trò của các ủy ban trong quốc hội; thay đổi luật và quy định; tác động của nghề nghiệp kế toán, kiểm toán; thay đổi cơ cấu tổ chức của SAI Trong số 8 nhân tố trên, có 3 nhân tố (gồm ủy ban kế toán công, quốc hội

và phương tiện truyền thông) đóng vai trò quan trọng trong tiến trình phát triển Kiểm toán, các nhân tố này có ảnh hưởng làm tăng cầu về Kiểm toán

Pollit và Cộng sự (1997, 1999) đưa ra quan điểm chức năng kiểm toán trong

các tổ chức công không chỉ đơn giản là áp dụng những kỹ thuật kiểm toán phù hợp mà còn bao hàm khía cạnh quản lý được áp dụng trong mô hình quản trị công mới Pollit cho rằng thay đổi trên phương diện kỹ thuật kiểm toán trong các tổ chức công quyết định loại hình kiểm toán và tiến trình phát triển, nhưng những thay đổi kỹ thuật kiểm toán chỉ xuất hiện cùng với những thay đổi trong cải cách quản trị công Trên bằng chứng thực nghiệm khảo sát tại 05 quốc gia khác nhau bao gồm Phần Lan, Pháp, Hà Lan, Thủy Điển và Anh (thông qua nghiên cứu tình huống), Pollitt & cộng sự (1999)

đã đưa ra mô hình đầu ra, đầu vào (mô hình logic) để thiết lập mô hình các nhân tố tác động đến hoạt động kiểm toán

Trang 23

Sơ đồ 1.3 Khung phân tích mô hình đầu vào, đầu ra

Pollit và Cộng sự (1997, 1999) nhấn mạnh đến các nhân tố ảnh hưởng đến chiến lược kiểm toán là: các nhân tố kinh tế, chính trị, xã hội; khả năng các SAI (trình

độ, kỹ năng KTV và khả năng thực hiện nhiệm vụ của các SAI); đặc điểm của đối

Nhìn chung các công trình nghiên cứu đã chỉ ra sự cần thiết phải thực hiện KTTNKT của cán bộ quản lý đối với lĩnh vực công nhằm mục tiêu phòng chống tham nhũng, minh bạch tài chính công; các công trình đã tập trung nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng chất lượng công tác kiểm toán và đã chỉ ra được một số nhóm nhân tố ảnh hưởng chất lượng công tác kiểm toán: như yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội; yếu tố về đặc thù của đơn vị được kiểm toán; yếu tố về năng lực của các SAI…

2.2 Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam

GS.TS Vương Đình Huệ (2003, 2012) Đề tài khoa học cấp bộ đã đưa ra lý luận

chung ban đầu về KTTNKT và có xây dựng sơ bộ quy trình KTTNKT đối với cán bộ quản lý Đề tài đã đưa ra được cơ sở lý luận cùng mô hình KTTNKT đối với cán bộ quản lý và có đưa ra lộ trình từ 2003 đến 2010 đưa hoạt động KTTNKT vào nền nếp Đây là Đề tài nghiên cứu khoa học đầu tiên về KTTNKT tại Việt Nam, đặt nền móng

về khái niệm, đặc trưng, xây dựng cơ sở lý luận, quy trình KTTNKT đối với cán bộ

quản lý

Nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang (2007), Tạp chí Kiểm toán (KTNN

Việt Nam góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng,

Trang 24

phải KTTNKT đối với cán bộ được đề bạt, mãn nhiệm kỳ nhằm chống tham nhũng, lãng phí NS, tài sản nhà nước Có thể nói đây là tuyên bố bước đầu cho quyết tâm đặt nền móng KTTNKT của một thành viên của Bộ Chính trị Tiếp đến, ngày 18/07/2009, tại cuộc họp giữa Ủy ban Thường vụ Quốc hội và KTNN bàn về Đề án Chiến lược Phát triển KTNN đến 2015 và tầm nhìn 2020 có đặt ra mục tiêu sẽ nghiên cứu ban hành cơ sở pháp lý thực hiện KTTNKT trước khi bổ nhiệm và mãn nhiệm đối với cán

bộ lãnh đạo

Nguyễn Đình Hựu (2015) KTTNKT và vai trò của cơ quan KTNN đối với

phòng, chống tham nhũng ngày 22/7/2015 tại KTNN Việt Nam, có nhiều bài tham luận của các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý của KTNN Việt Nam; KTNN Trung Quốc Các bài phát biểu của các CNAO đã giới thiệu cụ thể về khái niệm KTTNKT đối với cán bộ quản lý, đặc trưng, vai trò, lịch sử hình thành, phát triển của KTTNKT; những bài học kinh nghiệm của CNAO đối với việc xây dựng, phát triển KTTNKT đối

với cán bộ quản lý

Phạm Tiến Dũng (2016) Tạp chí Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương Số 477 -

tháng 9/2016 (tr35 - 37) đã có bài viết nghiên cứu về KTTNKT của cán bộ quản lý, đưa ra khái niệm, đặc trưng của KTTNKT của cán bộ quản lý

Phạm Tiến Dũng (2016) Tạp chí Tài chính - tháng 9/2016 (tr23-25) đã có bài viết

nghiên cứu đề xuất các giải pháp hoàn thiện KTTNKT tại Việt Nam và đề xuất các giải pháp để triển khai KTTNKT của cán bộ quản lý do KTNN Việt Nam thực hiện

Phạm Tiến Dũng (2016) Tạp chí Kinh tế và Dự báo và Tạp chí nghiên cứu Khoa học Kiểm toán (tháng 10/2016) đã có bài viết về kinh nghiệm của Trung Quốc

đối với KTTNKT với cán bộ quản lý

Phạm Tiến Dũng, Nguyễn Thị Hạnh Duyên (2017) trên Tạp chí Kinh tế và Dự

báo (tháng 02/2017) đã có bài viết về các nhân tố ảnh hưởng sự phát triển KTTNKT của cán bộ quản lý do KTNN Việt Nam thực hiện Trong bài viết đã chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển của KTTNKT là đặc thù của các tổ chức công, năng lực kiểm toán, khả năng KTTNKT của KTNN, yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội

Đặng Thị Hoàng Liên (2013) đã có bài viết nghiên cứu về địa vị pháp lý của

KTNN Trung Quốc, những loại hình kiểm toán của KTNN Trung Quốc, những thay đổi trong hoạt động KTNN của Trung Quốc từ khi gia nhập WTO và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Đề tài cũng nêu những nét tương đồng về thể chế, các bài học kinh nghiệm của CNAO để Việt Nam học tập, trong đó có đề cập đến loại hình

Trang 25

KTTNKT là hoạt động kiểm toán cần thiết trong việc thay đổi hoạt động từ khi gia nhập WTO với mục tiêu minh bạch hóa nền tài chính công

Nguyễn Đình Hựu (2002), Nghiên cứu về vị trí, chức năng và phương thức

hoạt động của Tòa Kiểm toán Pháp trong đó đặc biệt nhất mạnh đến hình thức kiểm toán tài phán Tòa Kiểm toán được thành lập dưới hình thức một tòa án tư pháp, có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm kinh tế của các nhân viên kế toán công trong trường hợp có vi phạm và có quy chế thẩm phán xét xử và có quyền tài phán

Phạm Anh Tuấn (2014) Tạp chí Kiểm toán, Số Xuân - tháng 1/2014 (tr10 - 11)

có để xuất tăng cường chức năng khởi tố vụ án cho KTNN Việt Nam để tăng cường công tác phòng chống tham nhũng vì các hành vi tham nhũng ngày càng phức tạp, tinh

vi, thô bạo với quy mô lớn, liên quan nhiều cấp, nhiều ngành

Bùi Thị Thúy (2014), Luận án tiến sĩ kinh tế với Đề tài: "Nghiên cứu các nhân

tố ảnh hưởng tới chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính các doanh nghiệp niêm yết

nhân tố này có thể kế thừa trong Luận án) tới chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam hiện nay, được chia thành 3 nhóm, gồm: Nhóm nhân tố bên ngoài, nhóm nhân tố về kiểm toán viên và nhóm nhân tố công ty kiểm toán Trong số này, tác giả phát triển 12 tiêu chí

đo lường 3 nhân tố thuộc nhóm Bên ngoài (Môi trường pháp lý, Doanh nghiệp niêm yết

và Kiểm soát bên ngoài và khác) phù hợp với tình hình thực tế tại Việt Nam

Đặng Anh Tuấn (2015) Luận án tiến sĩ kinh tế đã nghiên cứu những nhân tố

ảnh hưởng đến kiểm toán trong lĩnh vực công tại Việt Nam (các nhân tố này có thể kế thừa trong Luận án) Có thể nói, đây là một trong những công trình đầu tiên trong nước có nghiên cứu định lượng về các nhân tố ảnh hưởng đến kiểm toán trong lĩnh vực công tại Việt Nam do KTNN Việt Nam thực hiện Kết quả nghiên cứu cho thấy có 04 nhóm nhân tố ảnh hưởng hoạt động kiểm toán trong lĩnh vực công là: (1) Nhân tố chính trị; (2) Nhân tố khả năng của KTNN; (3) Nhân tố kỹ năng của KTV; (4) Nhân tố kinh tế Trong các nhân tố đó quan trọng nhất là phát hiện việc phát triển công tác kiểm toán phụ thuộc vào nhân tố nội tại (khả năng nội tại của KTNN, kỹ năng của KTV) hơn là các nhân tố bên ngoài (nhân tố chinh trị, kinh tế) Mặt khác nghiên cứu cũng chỉ ra rằng tại những nước đang phát triển, mức độ minh bạch và trách nhiệm giải trình chưa cao thì nhu cầu về KTTNKT là rất cao do khả năng "cung" còn thấp, chưa đáp ứng nhu cầu

Trang 26

Nhìn chung các đề tài trong và ngoài nước mới chỉ bước đầu xây dựng cơ sở lý luận chung về KTTNKT; bước đầu xây dựng khái niệm KTTNKT đối với cán bộ quản

lý, đặc trưng, vai trò, lịch sử hình thành, phát triển của KTTNKT; những bài học kinh nghiệm của các SAI trên thế giới đối với KTNN Việt Nam việc xây dựng, phát triển KTTNKT đối với cán bộ quản lý Tuy nhiên KTNN hiện nay chưa tiến hành một cuộc KTTNKT riêng biệt đối với các cán bộ quản lý mà chỉ tiến hành đánh giá trách nhiệm

và kiến nghị kiểm điểm trách nhiệm khi phát hiện thấy các sai sót, hạn chế trong quá trình kiểm toán tài chính hoặc kiểm toán chuyên đề Thực tế với 15 năm kinh nghiệm kiểm toán NSĐP và các DNNN của tác giả, khi tiến hành các cuộc kiểm toán hiện nay, tại các báo cáo kiểm toán có đánh giá trách nhiệm kinh tế của cán bộ quản lý và qua thực tế tại một số hội nghị thông qua kết luận kiểm toán cho thấy các cán bộ quản lý chỉ quan tâm đến các kiến nghị kiểm điểm trách nhiệm cá nhân chứ không quan tâm nhiều đến các kiến nghị xử lý tài chính (các chủ tài khoản rất sợ đánh giá trách nhiệm kinh tế đối với các sai phạm) Mặt khác các công trình mới chỉ đề cập đến cơ sở lý luận cho thực hiện KTTNKT đối với cán bộ quản lý nhưng chưa xác định được vai trò quan trọng của KTTNKT đối với việc chấp hành pháp luật trong việc minh bạch công tác quản lý tài chính công, tài sản công và là công cụ răn đe với mọi hành vi tham nhũng, lãng phí gây thất thoát tài chính công, tài sản công Chưa có công trình nào nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng sự phát triển của KTTNKT đối với cán bộ quản

lý hoặc thực trạng công tác KTTNKT, vai trò của KTTNKT đối với việc thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán và tái diễn các sai phạm Chưa có các khảo sát tầm quan trọng của các kiến nghị xử lý trách nhiệm cá nhân người quản lý đối với các sai phạm được phát hiên qua quá trình kiểm toán Các đề tài cũng chưa đưa ra các giải pháp cụ thể, đặc biệt chưa có giải pháp đưa KTTNKT vào Nghị quyết của Trung ương Đảng; quy trình, hướng dẫn kiểm toán còn khá đơn giản và chưa tính đến sử dụng lực lượng liên ngành của các cơ quan hành pháp, tư pháp…

Trang 27

CHƯƠNG 3 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KIỂM TOÁN TRÁCH NHIỆM

KINH TẾ CỦA CÁN BỘ QUẢN LÝ 3.1 Cán bộ quản lý và trách nhiệm kinh tế của cán bộ quản lý

3.1.1 Cán bộ quản lý

"Cán bộ" là thuật ngữ chỉ những người được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan nhà nước thuộc biên chế của một cơ quan, đơn vị và được hưởng lương từ NSNN "Cán bộ" là thuật ngữ chung cho những người mang trọng trách, công vụ và có những quyền hạn nhất định Trong quân sự, cán bộ được dùng như từ đồng nghĩa với sĩ quan Cán bộ cũng là danh xưng thường được những người dân chỉ về những người có quyền hành hay đang thụ lý giải quyết một vụ việc cho người dân (thuộc dịch vụ công cộng) (Bách khoa toàn thư, 2016)

Cán bộ quản lý là người đứng đầu chỉ huy mọi hoạt động của từng đơn vị Cán

bộ quản lý có thể là một cá nhân, một tập đoàn, một ban lãnh đạo Dù là một cá nhân, một tập đoàn hay một ban lãnh đạo thì từng cá nhân trong hoạt động lãnh đạo đều có vai trò và trách nhiệm trước tập thể về công việc quản lý của mình (Từ điển kinh tế học hiện đại, 1999)

Với những khái niệm trên thì định nghĩa về cán bộ quản lý rất rộng Trong

phạm vi của Đề tài thì khái niệm cán bộ quản lý chủ yếu bao gồm cán bộ lãnh đạo quản lý nhà nước tại địa phương và cán bộ lãnh đạo quản lý DNNN có liên quan đến việc quản lý sử dụng tài chính công và tài sản công.

Cán bộ lãnh đạo quản lý nhà nước: Quản lý nhà nước là quản lý vĩ mô gắn liền với hệ thống chính sách, luật lệ, thanh tra, kiểm tra, kiểm toán Quản lý nhà nước cũng được phân loại theo vị trí, cấp bậc từ Trung ương đến địa phương Sự lãnh đạo, quản

lý nhà nước xuyên suốt từ Trung ương đến địa phương (tỉnh, thành phố, huyện, quận,

xã, phường) Tất cả cán bộ lãnh đạo quản lý nhà nước từ trung ương đến địa phương

có trách nhiệm rất lớn trong quản lý kinh tế của đất nước Hầu hết các cơ quan quản lý nhà nước từ Trung ương đến địa phương đều quản lý một nguồn lực lớn về tài sản và NSNN Cán bộ quản lý nhà nước gồm: ở cấp trung ương, bộ, ngành, cơ quan ngang bộ

là bộ trưởng, thứ trưởng, vụ trưởng, lãnh đạo cấp phòng, ban ; ở các cấp địa phương

có lãnh đạo tỉnh thành, lãnh đạo các sở, lãnh đạo cấp phòng, ban thuộc quyền quản lý của sở; ở cấp huyện có lãnh đạo cấp huyện, lãnh đạo các phòng chức năng trực thuộc huyện; ở cấp xã có lãnh đạo cấp xã

Trang 28

Cán bộ quản lý DNNN là một bộ phận quan trọng trong đội ngũ cán bộ quản lý,

đó là những người trực tiếp điều hành hoạt động của DNNN với mục tiêu đạt được hiệu quả sản xuất kinh doanh và hiệu quả kinh tế - xã hội tối đa; đồng thời chịu sự quản lý của nhà nước Cán bộ quản lý DNNN gồm: thành viên hội đồng quản trị (hoặc hội đồng thành viên); giám đốc, kế toán trưởng và những chức danh lãnh đạo cấp phòng (ban) trong doanh nghiệp Trong quá trình mở rộng cổ phần hóa DNNN, thì những cán bộ được giao đại diện phần vốn của nhà nước tại các doanh nghiệp cổ phần cũng thuộc đội ngũ này Trong đội ngũ cán bộ quản lý DNNN thì giám đốc có vai trò đặc biệt quan trọng và có ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển và tồn tại của doanh nghiệp Vai trò của giám đốc trong DNNN chính là sự kết hợp được mọi nguồn lực trong hệ thống thuộc quyền quản lý để đạt được mục tiêu chung của doanh nghiệp Giám đốc doanh nghiệp hiện nay là một nghề và phải có những tiêu chuẩn riêng về phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực chuyên môn, năng lực tổ chức quản

lý doanh nghiệp, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay

3.1.2 Trách nhiệm kinh tế của cán bộ quản lý

Trách nhiệm là việc phải làm, phải gánh vác và phải nhận lấy về mình Trách nhiệm là phần việc được giao, nếu kết quả công việc được giao không tốt hoặc gây tổn thất thì phải đền bù thiệt hại do lỗi của mình (Từ điển kinh tế học hiện đại, 1999) Trách nhiệm có thể hiểu theo nghĩa chung nhất là ý thức và thực hiện tốt những việc, nhiệm vụ được giao Nếu kết quả không tốt thì người được giao nhiệm vụ phải gánh chịu hậu quả Như vậy chế độ trách nhiệm trong các trường hợp cụ thể phải trả lời các câu hỏi sau: ai chịu trách nhiệm? chịu trách nhiệm trước ai? trách nhiệm về cái gì? cơ chế đánh giá trách nhiệm như thế nào? ai đánh giá trách nhiệm? hậu quả của việc thực hiện trách nhiệm không tốt…(Từ điển kinh tế học hiện đại, 1999) Trước thế kỷ XIX, trách nhiệm bồi thường thiệt hại nhà nước không được thừa nhận tại các quốc gia ở châu Âu Thời đó, mọi quan điểm bị chi phối bởi tư tưởng nhà nước không thể làm sai, không làm gì trái pháp luật và không có trách nhiệm phải bồi thường Lúc này, những hành vi phạm luật của cơ quan công quyền được coi là hành vi của cá nhân công chức

đó Nếu có thiệt hại xảy ra trong quá trình thi hành công vụ thì công chức đó phải bồi thường thiệt hại với tư cách cá nhân Đến đầu của thế kỷ 20, trách nhiệm bồi thường nhà nước được nhiều quốc gia thừa nhận và có luật điều chỉnh riêng các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực bồi thường nhà nước như: Mỹ năm 1946 có Luật Liên bang về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước; Đức năm 1909 có Luật Liên bang về trách nhiệm bồi thường nhà nước; năm 1994, Trung Quốc ban hành Luật Nhà nước bồi

Trang 29

thường thiệt hại Về lý luận, hiện nay tồn tại hai lý thuyết về trách nhiệm bồi thường, đó là: lý thuyết về trách nhiệm trực tiếp và lý thuyết về trách nhiệm thay thế (Trịnh Đức Thảo, 2008)

Về trách nhiệm trực tiếp: Lý thuyết về trách nhiệm trực tiếp cho rằng, hành vi của công chức là hành vi của nhà nước Vì vậy, nếu công chức có hành vi gây hại thì chính là nhà nước gây hại và đương nhiên trong trường hợp đó trách nhiệm thuộc về nhà nước Ưu điểm của lý thuyết này là: Đơn giản, xác định nhanh chóng trách nhiệm của nhà nước và bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại mà không cần xác định thuộc về cơ quan, tổ chức và cá nhân nào Ví dụ, nếu dịch bệnh về gia súc lây lan trên diện rộng thì người dân bị thiệt hại có thể kiện chính quyền vì đã không có biện pháp

dự phòng, cảnh báo thích hợp (người phải bồi thường là nhà nước); phạm vi áp dụng rộng ngay cả khi công chức có sai hay không, đồng thời cho phép quy trách nhiệm cho nhà nước chỉ cần dựa trên cơ sở hành vi trái pháp luật và hậu quả gây ra Tuy nhiên

lý thuyết này có một số hạn chế như: Nhà nước có thực sự là một thực thể pháp lý thực

sự không? hành vi sai do nhà nước thực hiện? cần cụ thể hóa trách nhiệm hoàn trả của công chức đối với nhà nước Hiện nay lý thuyết này đang được áp dụng ở nhiều quốc gia trên thế giới, ngay cả các nước đang áp dụng lý thuyết trách nhiệm thay thế cũng đang đặt hướng sửa đổi luật bồi thường nhà nước theo lý thuyết về trách nhiệm trực tiếp như Nhật Bản, Đức (Trịnh Đức Thảo, 2008)

Trách nhiệm kinh tế

Bên cạnh trách nhiệm chính trị, trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm hành chính, trách nhiệm hình sự, dân sự…được đề cập trong việc thiết lập đầy đủ chế độ trách nhiệm nhằm ngăn ngừa, phát hiện, xử lý các hành vi tham nhũng thì trách nhiệm kinh

tế của cán bộ quản lý cũng cần phải được quan tâm nghiên cứu cho thỏa đáng Cụ thể trách nhiệm kinh tế của cán bộ quản lý hiện nay chưa được quan tâm một cách thấu

đáo Trách nhiệm kinh tế bao hàm trách nhiệm quản lý, sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực kinh tế để thực hiện nhiệm vụ được giao Trong lĩnh vực quản lý nhà

nước về kinh tế, trách nhiệm kinh tế được hiểu là trách nhiệm trong việc nghiên cứu, ban hành chính sách để quản lý, sử dụng hiệu quả nhất nguồn lực của đất nước để phát triển kinh tế Trong các lĩnh vực khác (y tế, giáo dục, an ninh, quốc phòng…) thì trách nhiệm

kinh tế là sử dụng hiệu quả nhất nguồn lực kinh tế như nhân lực, NS, đất đai, tài nguyên

Trong hoạt động kinh tế người đứng đầu một tổ chức, đơn vị phải có trách nhiệm trong việc tổ chức, quản lý và sử dụng tài sản, tài chính, tiền tệ được giao một cách có hiệu quả và tiết kiệm kể cả việc bảo vệ, cải tạo và tái sinh các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong phạm vi quản lý của mình Người lãnh đạo phải chịu trách

Trang 30

nhiệm về sự thất thoát, lãng phí nguồn tài chính, tài sản, tài nguyên thiên nhiên trong

phạm vi quản lý được giao

Như vậy, trách nhiệm kinh tế của cán bộ quản lý là trách nhiệm cá nhân cán bộ quản lý trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị Để tăng cường trách nhiệm kinh tế phải xây dựng chế độ trách nhiệm kinhh tế bao gồm các quy định xác định rõ trách nhiệm kinh tế của từng cá nhân, tổ chức trong hệ thống cơ quan quản lý nhà nước

Trách nhiệm kinh tế của cán bộ quản lý và việc KTTNKT đối với cán bộ lãnh đạo là một vấn đề lớn, nên ở đây chỉ giới hạn cán bộ quản lý liên quan đến kinh tế

trong các tổ chức của nhà nước là chủ yếu

Quản lý kinh tế là một phạm trù rộng, trong đó quản lý sử dụng NSNN là một yếu tố quan trọng Cán bộ quản lý trong các tổ chức sử dụng nguồn tài chính từ NSNN

bao gồm các cán bộ lãnh đạo trong bộ máy nhà nước và các DNNN

Trách nhiệm kinh tế của cán bộ quản lý liên quan đến KTNN có một nội dung quan trọng là việc phân bổ, quản lý, sử dụng, quyết toán NSNN mà cán bộ lãnh đạo các cấp phải có trách nhiệm đầy đủ

Trách nhiệm kinh tế của cán bộ quản lý trong bộ máy quản lý nhà nước

Trách nhiệm kinh tế của cán bộ quản lý trong bộ máy nhà nước là nghĩa vụ và chức trách của cán bộ quản lý đơn vị trên chức vụ được phân giao để thực hiện đúng việc quản lý và sử dụng hiệu quả về kinh tế và xã hội nguồn vốn tài chính công, tải sản quốc gia, nguồn vốn quốc gia, nguồn vốn xã hội cố liên quan và các hoạt động kinh tế khác Cụ thể là: (1) Điều hành và duy trì sự ổn định, tăng trưởng của nền kinh tế vĩ

mô Sử dụng các biện pháp kinh tế, hành chính, tổ chức, giáo dục, luật pháp nhằm tạo môi trường thuận lợi và khung pháp luật cho hoạt động kinh doanh Hoạch định các chiến lược, quy hoạch, chính sách, kế hoạch, chế độ, tiêu chuẩn, định mức kinh tế - kỹ thuật phù hợp để phát triển kinh tế - xã hội và cơ chế quản lý có cơ sở pháp lý ổn định Thường xuyên kiểm tra, kiểm soát tính thực thi của các chính sách trong thực tiễn để kịp thời điều chỉnh đáp ứng yêu cầu thực tiễn; (2) Ban hành các chính sách để duy trì, phát triển các doanh nghiệp; tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh để các doanh nghiệp tăng trưởng, tự chủ trong môi trường cạnh tranh; (3) Quản lý sử dụng có hiệu quả các nguồn tài chính công, tài sản công Tăng cường kiểm toán, kiểm tra, kiểm soát NSNN chống thất thoát, lãng phí, tham nhũng; (4) Các cán bộ được giao nhiệm vụ quản lý trong bộ máy nhà nước phải chịu trách nhiệm cho những sai sót và phải bồi thường thiệt hại đối với những sai sót đó theo quy định của pháp luật khi để xảy ra sai sót hoặc

để cấp dưới của mình xảy ra sai sót

Trang 31

Trách nhiệm kinh tế của cán bộ quản lý trong các doanh nghiệp do nhà nước chi phối

Nhà nước quản lý kinh tế qua nhiều công cụ, trong đó có hệ thống các doanh nghiệp do nhà nước đầu tư hoặc chi phối Nhà nước cử người hoặc có cơ chế giám sát, theo dõi, quản lý vốn và các hoạt động của doanh nghiệp Do đó cần có cơ chế giám sát các cá nhân được nhà nước cử để quản lý, giám sát, theo dõi các cá nhân này

Theo tuyên bố Lima về các chỉ dẫn kiểm toán của INTOSAI tại Hội nghị lần

thứ X tổ chức tại Lima thì: "Việc tăng cường các hoạt động kinh tế của chính phủ có

thể ở dạng các xí nghiệp được thành lập theo tư pháp Các xí nghiệp diện này cũng sẽ

là đối tượng kiểm toán của Cơ quan Kiểm toán Tối cao nếu chính phủ thực sự có sự tham gia - đặc biệt là khi sự tham gia này chiếm tỉ lệ lớn hay có ảnh hưởng quyết định Cuộc kiểm toán dạng này được thực hiện ở dạng kiểm toán sau là thích hợp nhất; nó xem xét đến cả tính kinh tế, hiệu quả và hiệu năng Báo cáo với Nghị viện và công chúng về các xí nghiệp này đều phải tuân theo những quy định về bảo vệ bí mật công

DNNN theo quy định của Luật DNNN năm 2001 là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn Doanh nghiệp có cổ phần, vốn góp chi phối của Nhà nước là doanh nghiệp mà cổ phần hoặc vốn góp của Nhà nước chiếm trên 50% vốn điều lệ, Nhà nước giữ quyền chi phối đối với doanh nghiệp đó

Tiêu chí phân loại DNNN đã có sự thay đổi quan quan trọng Kể từ 01/7/2015, theo Luật Doanh nghiệp năm 2014 được Quốc hội thông qua ngày 26/11/2014 thì các doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ mới được xem là DNNN, thay

vì chỉ 51% quy định tại Luật DNNN năm 2001 đã hết hiệu lực

Hiện nay, theo quy định tại Nghị định 71/2013/NĐ-CP ngày 11/7/2013 của Chính phủ thì Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ được Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập hoặc các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định thành lập Bao gồm: công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là công ty mẹ của các tập đoàn kinh tế; công ty mẹ của tổng công ty nhà nước; công ty

mẹ trong mô hình công ty mẹ - công ty con; Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên độc lập Người đại diện theo ủy quyền tại doanh nghiệp do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và người đại diện phần vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp khác

Trang 32

Các tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động đầu tư vốn nhà nước, quản lý tài chính đối với doanh nghiệp do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và quản lý phần vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp khác

Nguyên tắc đầu tư và quản lý các công ty một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ là: (1) Đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp để tạo ra ngành, lĩnh vực cung cấp sản phẩm, dịch vụ công ích thiết yếu cho xã hội; đảm bảo phục vụ quốc phòng, an ninh; thực hiện điều tiết nền kinh tế và ổn định kinh tế vĩ mô mang tính chiến lược trong từng giai đoạn; (2) Đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp phải đúng mục tiêu, có hiệu quả, phù hợp với từng dự án đầu tư và phải thực hiện công khai, minh bạch; (3) Đầu tư vốn nhà nước để góp vốn thành lập doanh nghiệp, hợp tác kinh doanh với các thành phần kinh tế khác phải được cơ quan có thẩm quyền thẩm định và chấp thuận; (4) Đầu tư vốn nhà nước phải thực hiện đúng quy định của pháp luật, đúng tiến độ, đảm bảo chất lượng; tránh dàn trải, lãng phí, thất thoát; (5) Gia tăng giá trị vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp

Khác với việc quản lý nhà nước, cán bộ lãnh đạo quản lý các doanh nghiệp là những người trực tiếp điều hành, quản lý sản xuất kinh doanh trực tiếp Các tổ chức kinh doanh là những đơn vị kinh tế có chức năng trực tiếp thực hiện các hoạt động kinh doanh như sản xuất, xây dựng, vận tải, thương nghiệp, dịch vụ, ngân hàng nhằm tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội

Các tổ chức kinh doanh có nhiệm vụ xây dựng và cụ thể hoá chiến lược và kế hoạch kinh tế xã hội của đơn vị mình, thực hiện các tiêu chuẩn, định mức nhà nước, chịu sự kiểm tra và kiểm soát của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Các tổ chức kinh doanh nhà nước là đơn vị sản xuất hàng hoá có quyền tự chủ,

có tư cách pháp nhân, và bình đẳng trước pháp luật trong hoạt động kinh doanh

Nội dung việc quản lý nhà nước và quản lý DNNN có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Tuy nhiên trách nhiệm quan trọng nhất hiện nay của các DNNN chi phối là bảo toàn vốn, tài sản nhà nước và thực hiện được các mục tiêu do nhà nước đặt hàng, giao nhiệm vụ

3.2 Kiểm toán trách nhiệm kinh tế của cán bộ quản lý

3.2.1 Khái quát chung về kiểm toán trách nhiệm kinh tế đối với cán bộ quản lý

Khái niệm về kiểm toán

Mặc dù kiểm toán đã xuất hiện từ rất lâu, nhưng đến nay có nhiều khái niệm về

kiểm toán Có thể khái quát khái niệm kiểm toán một cách chung nhất là: Hoạt động

Trang 33

kiểm toán là việc kiểm tra, đánh giá và xác nhận tính trung thực, hợp lý của các thông tin; kiểm tra, đánh giá tính tuân thủ pháp luật và tính kinh tế, hiệu quả, hiệu lực đối với việc quản lý, sử dụng các nguồn lực do một chủ thể độc lập, có năng lực chuyên môn phù hợp (kiểm toán viên, tổ chức kiểm toán) thực hiện trên cơ sở các quy định

hai cách phân loại phổ thông là: phân loại theo đối tượng kiểm toán và phân loại theo chủ thể kiểm toán (phân loại theo tổ chức bộ máy thực hiện kiểm toán)

Phân loại kiểm toán theo đối tượng kiểm toán gồm: Kiểm toán BCTC, kiểm toán tuân thủ và kiểm toán hoạt động

Kiểm toán BCTC: được tiến hành để xác định sự phù hợp của BCTC với các quy định về kế toán và thông lệ quốc tế Các bản khai tài chính thường có các bảng trình bày tình hình tài chính, trình bày thu nhập và luồng tiền với những chú thích kèm theo,

mà theo thông lệ quốc tế các doanh nghiệp phải công bố chúng trước công chúng Thông thường, tiêu chuẩn đặc thù là các nguyên tắc kế toán được thừa nhận chung

Kiểm toán tuân thủ: được tiến hành để xác định liệu bên được kiểm toán có tuân theo các thủ tục hoặc nguyên tắc quản lý mà các cơ quan có thẩm quyền cấp trên

đã đề ra hay không Các bước tiến hành kiểm toán tuân thủ dựa vào sự tồn tại của các

dữ liệu có thể kiểm tra với các chuẩn mực hoặc tiêu chuẩn được đề ra như: các điều luật, quy tắc hoặc các chính sách và thủ tục của một tổ chức

Kiểm toán hoạt động: là hoạt động trong đó chủ thể kiểm toán hướng đến việc kiểm tra, đánh giá tính kinh tế, hiệu quả, hiệu lực trong quá trình quản lý và sử dụng các nguồn lực cho một hoạt động cụ thể của đơn vị được kiểm toán Tính kinh tế, hiệu quả và hiệu lực có mối quan hệ mật thiết, phản ánh tính thống nhất trong toàn bộ quá trình thực hiện một hoạt động

Phân loại kiểm toán theo chủ thể kiểm toán thì kiểm toán bao gồm: kiểm toán nội bộ, kiểm toán độc lập và KTNN

Kiểm toán nội bộ được hình thành và phát triển xuất phát từ các lý do khách quan của nhu cầu quản lý của các đơn vị và tổ chức kinh tế Kiểm toán nội bộ là chức năng đánh giá độc lập, khách quan hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị Phạm vi của kiểm toán nội bộ bao gồm tất cả các hoạt động của đơn vị đối với toàn bộ các cấp quản

lý khác nhau Kiểm toán nội bộ đánh giá, xem xét và báo cáo về thực trạng của hệ thống kiểm soát nội bộ và những tài liệu, thông tin và báo cáo kế toán; đưa ra những phân tích, kiến nghị tư vấn chuyên nghiệp để các nhà quản lý có cơ sở tin cậy đối với việc quản lý các hoạt động của đơn vị, hướng tới hiệu quả, chất lượng và phù hợp với

Trang 34

các quy tắc và định chế của pháp luật Lĩnh vực chính của kiểm toán nội bộ là kiểm toán hoạt động, tiếp đến là kiểm toán tuân thủ chứ không phải là kiểm toán BCTC doanh nghiệp

Kiểm toán độc lập được tiến hành bởi các KTV độc lập của các công ty làm dịch vụ kiểm toán chuyên nghiệp Kiểm toán độc lập là loại hoạt động dịch vụ tư vấn được pháp luật thừa nhận và bảo hộ, được quản lý chặt chẽ bởi Nhà nước hoặc các hiệp hội chuyên ngành về kiểm toán Kiểm toán độc lập hoạt động theo chế định của Luật Doanh nghiệp và có mục tiêu cơ bản là lợi nhuận Kiểm toán độc lập chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kiểm toán BCTC

KTNN được hình thành và phát triển gắn liền với sự hình thành, ra đời và phát triển của tài chính công mà chủ yếu là NSNN; ra đời từ yêu cầu, đòi hỏi của việc kiểm tra, kiểm soát việc chi tiêu NSNN và công quỹ quốc gia từ phía nhà nước KTNN trên thế giới đã có lịch sử phát triển hàng trăm năm nay nhất là ở các nước phát triển Kinh nghiệm nhiều năm của các nước cho thấy sự hiện diện và hoạt động của cơ quan KTNN đã góp phần quan trọng đối với việc thiết lập và giữ vững kỷ cương, kỷ luật tài chính, chấp hành luật NSNN, ngăn chặn và phát hiện các hành vi tham nhũng, lạm dụng, tiêu xài phung phí tiền của nhân dân và Nhà nước Với vai trò trên, KTNN thực

sự đã trở thành bộ phận hợp thành không thể thiếu trong hệ thống kiểm soát, kiểm tra của Nhà nước Vị trí, vai trò của KTNN đã được xã hội công nhận và không thể thay thế được trong việc tăng cường kiểm soát, thực hiện mục đích sử dụng hợp lý và có hiệu quả các nguồn lực tài chính công, tài sản công của các cơ quan công quyền, các tổ chức, đơn vị sử dụng tiền và tài sản của nhà nước KTNN được khẳng định như một chức năng, một công cụ quan trọng không thể thiếu được của hệ thống quyền lực nhà nước hiện đại

Như vậy, có thể khẳng định hoạt động KTNN là hoạt động do cơ quan KTNN thực hiện để kiểm tra, đánh giá và xác nhận tính trung thực, hợp lý của BCTC; việc tuân thủ pháp luật; tính kinh tế, hiệu lực và hiệu quả trong quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công

Theo quy định tại Luật KTNN năm 2005 có quy định: Mục đích kiểm toán góp phần thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng, thất thoát, lãng phí, phát hiện và ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật (Điều 3) Báo cáo kiểm toán của KTNN là một trong những căn cứ để Tòa án Nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân và cơ quan điều tra

sử dụng trong quá trình xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về kinh tế, tài chính (Điều 9) KTNN có nhiệm vụ chuyển hồ sơ cho cơ quan điều tra và các cơ quan khác của

Trang 35

Nhà nước có thẩm quyền kiểm tra, xử lý những vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật của tổ chức, cá nhân đã được phát hiện thông qua hoạt động kiểm toán (Điều 15)

Luật KTNN năm 2015 có hiệu lực từ ngày 01/01/2016 thì KTNN có chức năng đánh giá, xác nhận, kết luận và kiến nghị đối với việc quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công (Điều 9); có nhiệm vụ chuyển hồ sơ cho cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát nhân dân và cơ quan khác của Nhà nước có thẩm quyền xem xét, xử lý những vụ việc

có dấu hiệu tội phạm, vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân đã được phát hiện thông qua hoạt động kiểm toán (Điều 10); Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát nhân dân có trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết theo thẩm quyền các vụ việc có dấu hiệu của tội phạm do KTNN phát hiện và kiến nghị (Điều 65)

Theo Luật Phòng Chống tham nhũng thì trong phạm vi, nhiệm vụ, quyền hạn, KTNN có trách nhiệm tổ chức thực hiện việc kiểm toán nhằm phòng ngừa, phát hiện

và phối hợp xử lý hành vi tham nhũng; trường hợp phát hiện hành vi tham nhũng thì chuyển hồ sơ cho cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân và cơ quan khác của Nhà nước có thẩm quyền xử lý (Điều 77)

KTTNKT đối với cán bộ quản lý là hoạt động kiểm tra và đánh giá của cơ quan KTNN về trách nhiệm kinh tế của cán bộ quản lý trong nhiệm kỳ công tác thông qua việc kiểm tra, đánh giá tính trung thực, hợp pháp và hiệu quả trong quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công và các hoạt động kinh tế liên quan khác của địa phương, đơn vị do họ lãnh đạo

Cán bộ quản lý các đơn vị phải chịu trách nhiệm kinh tế về việc ra các quyết định gây thiệt hại lớn về kinh tế; về hành vi trực tiếp vi phạm quy tắc của nhà nước về tài chính kinh tế; về hành vi bật đèn xanh, ra lệnh, dung túng bao che nhân viên cấp dưới vi phạm quy tắc của nhà nước về kinh tế tài chính; về hành vi tắc trách không làm tròn bổn phận và các hành vi khác vi phạm kỷ luật của nhà nước về kinh tế tài chính

Một số đặc trưng của KTTNKT đối với cán bộ quản lý:

Thứ nhất, KTTNKT là một loại hình kiểm toán hỗn hợp, chủ yếu là kiểm toán

tài chính công, tài sản công gắn với trách nhiệm quản lý, điều hành của cán bộ lãnh đạo (tùy mục đích của KTTNKT có thể xác nhận tính trung thực, hợp lý của BCTC, báo cáo quyết toán để quy trách nhiệm người đứng đầu);

Thứ hai, KTTNKT là loại hình kiểm toán phức tạp, phải được thực hiện bởi các

KTV có kinh nghiệm; phải phối hợp nhiều cơ quan để thực hiện; có tính "nhạy cảm

Trang 36

vụ (nhiều trường hợp phải thực hiện bí mật theo yêu cầu của các cơ quan chức năng do ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả, mục tiêu của cuộc kiểm toán)

Thứ ba, KTTNKT có thể coi là một dạng kiểm toán hỗn hợp, được thực hiện trong cùng một cuộc kiểm toán các nội dung kiểm toán BCTC, kiểm toán tuân thủ và kiểm toán hoạt động nếu xét về nội dung kiểm toán

Thứ tư, KTTNKT đối với cán bộ lãnh đạo có phạm vi chủ yếu chỉ liên quan đến lĩnh vực quản lý tài chính công, tài sản công của đơn vị có liên quan đến trách nhiệm quản lý của người cán bộ lãnh đạo quản lý Trách nhiệm này được xác định trên cơ sở chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ có thẩm quyền, trong thời gian nhiệm kỳ

mà người cán bộ đó giữ chức vụ lãnh đạo đơn vị

Thứ năm, cơ quan KTNN và KTV nhà nước là đơn vị thực hiện chính công việc này do đây là loại hình đặc thù liên quan đến kiểm tra, đánh giá cán bộ của nhà nước nên chủ thể kiểm toán chỉ có thể là KTNN (trong thực tế còn phải phối hợp nhiều cơ quan khác của đảng, chính quyền…), không thể uỷ thác cho KTV độc lập và KTV nội

bộ của đơn vị

Thứ sáu, Mục đích của KTTNKT đối với cán bộ lãnh đạo là thông qua xem xét,

kiểm tra để đánh giá, quy trách nhiệm kinh tế đối với cán bộ lãnh đạo quản lý Do đó,

loại hình kiểm toán này được coi như một hình thức đặc biệt để các cơ quan chức năng

có căn cứ đánh giá cán bộ lãnh đạo Đồng thời, do mục đích đánh giá cán bộ nên có sự

khác biệt giữa chủ thể kiểm toán và người yêu cầu kiểm toán Trong mọi trường hợp,

chủ thể kiểm toán là KTNN nhưng người yêu cầu, người “đặt hàng” là cơ quan có thẩm quyền trong quản lý và đánh giá cán bộ Vì vậy, trong quy trình kiểm toán phải

có sự tham gia của nhiều bên và phải có cơ chế cụ thể trong việc phối hợp giữa KTNN

và các cơ quan có liên quan khác

3.2.2 Sự cần thiết kiểm toán trách nhiệm kinh tế đối với cán bộ quản lý

KTTNKT là một công cụ quan trọng để giám sát, đánh giá cán bộ lãnh đạo trước khi bổ nhiệm và được giao các vị trí quan trọng; là một trong các thước đo đánh giá năng lực, trình độ và bản lĩnh cán bộ để bồi dưỡng, đào tạo, đề bạt, khen thưởng,

kỷ luật, cách chức và luân chuyển cán bộ; đồng thời là biện pháp quan trọng để bảo

vệ cán bộ

Con người là nhân tố quan trọng hàng đầu trong một tổ chức Sự thành công hay thất bại của một tổ chức (nói rộng ra của một DNNN, chính quyền các cấp…) phụ thuộc rất lớn vào người đứng đầu và nhân sự chủ chốt trong bộ máy Đánh giá cán bộ

là một nội dung quan trọng, theo chốt của công tác cán bộ Về lý luận cũng như trong

Trang 37

thực tiễn có thể áp dụng nhiều phương pháp đánh giá cán bộ khác nhau (cho điểm theo các tiêu chuẩn; bỏ phiếu nhận xét cán bộ ) Tuy nhiên, do đặc thù của việc kiểm toán

là mọi nhận xét, kết luận và kiến nghị kiểm toán đều phải dựa trên cơ sở các bằng chừng kiểm toán đầy đủ và tin cậy, công việc kiểm toán được tiến hành bởi các KTV

có kiến thức, kinh nghiệm được đào tạo tương xứng với yêu cầu nghề nghiệp, lại được thực hiện theo một quy trình và phương pháp khoa học, được quy định chặt chẽ nên kết quả đánh giá là rất đáng tin cậy và thuyết phục Thông qua kết quả kiểm toán do cơ quan KTNN cung cấp, các cơ quan quản lý và kiểm tra cán bộ của Đảng và Nhà nước

sẽ có thêm những luận cứ quan trọng và xác đáng khi bổ nhiệm, đề bạt, cách chức hoặc luân chuyển cán bộ Đồng thời, kết quả KTTNKT cũng sẽ góp phần làm rõ đúng sai, bảo vệ những cán bộ, đảng viên trung thực, liêm khiết, trong sáng trước các hành vi bè phái, cục bộ, mất đoàn kết, kiện cáo không mang tính chất xây dựng

Để tuyển chọn sử dụng cán bộ chất lượng phải có phương pháp kiểm tra khoa

học và cơ chế giám sát hoàn thiện và phải có đánh giá qua một quá trình công tác lâu

bộ trong thời gian qua còn nhiều bất cập, tuy qua nhiều khâu, qua kiểm soát của nhiều

cơ quan từ trung ương đến địa phương; đúng quy trình nhưng vẫn "để lọt" và bổ nhiệm nhiều cán bộ quản lý cấp cao không đáp ứng yêu cầu công việc và chỉ khi báo chí và các cơ quan chức năng vào cuộc thì mới phát hiện sai phạm (Ví dụ: bổ nhiệm ông Trịnh Xuân Thanh tại Bộ Công Thương và tỉnh Hậu Giang; Vũ Quang Hải tại TCT Sabeco; bổ nhiệm ông Dương Chí Dũng tại Cục Hàng Hải…hoặc gần nhất là tại Hội nghị Trung ương lần thứ năm (khóa XII) ngày 7/5/2017, Ban chấp hành Trung ương Đảng đã thông báo quyết định thi hành kỷ luật cảnh cáo và cho thôi chức Ủy viên Bộ Chính trị với ông Đinh La Thăng (Bí thư Thành ủy TP HCM) Nếu đã thực hiện KTTNKT đối với cán bộ quản lý trước khi bổ nhiệm thì sẽ giảm thiểu được việc bổ nhiệm không đúng người, không đúng năng lực hoặc có khuyết điểm lớn vào vị trí quan trọng; không bổ nhiệm những lãnh đạo quản lý yếu kém vào vị trị những tập đoàn lớn của nhà nước hoặc vào những vị trị quan trọng trong bộ máy nhà nước vì chỉ

có KTTNKT đối với cán bộ quản lý trong cả một quá trình mới có đánh giá đầy đủ, toàn diện, sát thực tế đối với cán bộ đó (đây là một ưu điểm mà kiểm toán BCTC, kiểm toán tuân thủ và kể cả kiểm toán hoạt động không làm được)

Tìm hiểu thành tích, năng lực, đạo đức của cán bộ một cách toàn diện trên nhiều mặt, vận dụng chế độ pháp chế thiết thực, hữu hiệu, ràng buộc và tiêu chuẩn hoá hành vi cán bộ lãnh đạo, KTTNKT lấy việc thu chi tài chính, kế toán của đơn vị được kiểm toán làm cơ sở; thông qua thẩm tra, xem xét tình hình hoàn thành chỉ tiêu kinh tế;

Trang 38

tình hình đưa ra các quyết sách, quyết định lớn trong kinh doanh, trong quản lý; tình hình chấp hành quy định kinh tế - tài chính của Nhà nước; tình hình tuân thủ kỷ luật liêm chính của cán bộ lãnh đạo trong nhiệm kỳ công tác, có thể đánh giá được ở một mức độ nhất định cán bộ lãnh đạo có tố chất chính trị và trình độ quyết sách cần có ở một người làm công tác quản lý, công tác kinh tế hay không Thông qua KTTNKT cũng có thể đánh giá chính xác cán bộ lãnh đạo có thực hiện đúng chức trách kinh tế của mình hay không, có chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, quy định hiện hành về kinh tế, tài chính của Nhà nước hay không Kết quả KTTNKT là căn cứ tham khảo quan trọng để cơ quan quản lý cán bộ tuyển chọn và sử dụng cán bộ một cách đúng đắn, chính xác Vì vậy, việc kiểm tra chính xác trách nhiệm kinh tế của cán bộ lãnh

đạo cũng trở thành một khâu quan trọng của công tác giám sát cán bộ Đồng thời, việc

KTTNKT còn có tác dụng giáo dục, cảnh cáo, răn đe đối với số đông cán bộ, từ đó có thể thực hiện được mục đích không chỉ “chống” mà còn “phòng ngừa” trong quá trình tuyển chọn, quản lý, sử dụng cán bộ theo chính sách cán bộ của Đảng và Nhà nước

KTTNKT là một công cụ quan trọng ngăn ngừa phòng, chống và xử lý tham nhũng ngay từ trong trứng nước

Trong giai đoạn hiện nay, nhiệm vụ của cán bộ lãnh đạo quản lý ngày càng nặng nề, trách nhiệm ngày càng cao và càng được xác định cụ thể Vấn đề cán bộ lãnh

đạo có quán triệt đúng đắn phương châm phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm, xây

quản lý và sử dụng vốn, kinh phí, tài sản nhà nước hợp lý, hiệu quả và đúng pháp luật hay không là vấn đề quan trọng liên quan đến việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội hàng năm, từng thời kỳ cũng như đường lối, chiến lược công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Hiện tại, trật tự kỷ cương trong quản lý tài chính nhà nước và tài sản nhà nước nhất là chi tiêu NS, quản lý đầu tư xây dựng cơ bản, quản lý đất đai, tài sản công còn nhiều bất cập, sai sót và có lúc, có nơi còn nghiêm trọng Một trong các nguyên nhân chính của tình trạng trên có liên quan đến việc thực thi chức trách, nhiệm vụ và quyền hạn của cán bộ lãnh đạo Các biểu hiện chủ yếu là: (1) vi phạm quy chế dân chủ và trình tự xử lý công việc, cá nhân hoặc một nhóm nhỏ cán bộ tự quyết, đưa ra các quyết định sai lầm làm thất thoát, lãng phí vốn, kinh phí và tài sản nhà nước; (2) tắc trách trong công việc, buông lỏng quản lý tạo kẽ hở cho nhiều

kẻ xấu lợi dụng, gây thiệt hại đến lợi ích của nhà nước, của tập thể; (3) chạy theo thành tích, làm việc bất chấp quy luật khách quan, thậm chí làm ăn gian dối, hạch toán lãi giả, lỗ thật, dùng các thủ đoạn không chính đáng để mạo nhận thành tích; (4) không quan tâm đến lợi ích nhà nước và quần chúng nhân dân, cục bộ, bản vị, địa phương

Trang 39

chủ nghĩa, chiếm dụng vốn, lập quỹ trái phép; thậm chí còn tham ô, nhận hối lộ, đi sâu

vào con đường phạm pháp…

Từ tình hình nói trên, nếu thực hiện chế độ KTTNKT đối với cán bộ quản lý có thể ngăn ngừa, tăng cường hơn nữa việc giám sát cán bộ lãnh đạo; kiểm tra, xử lý cương quyết những cán bộ coi thường các định chế tài chính - kinh tế, vi phạm pháp luật; góp phần nâng cao trình độ quản lý cán bộ, nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật và khả năng tự điều chỉnh của cán bộ lãnh đạo, quan tâm đến cán bộ về mặt chính trị, rèn luyện đạo đức, tác phong cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư; góp phần quan trọng

vào công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng và cuộc đấu tranh chống tham nhũng

KTTNKT là công cụ hữu hiệu để xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN, đôn đốc bộ máy lãnh đạo hoạt động theo nguyên tắc thượng tôn pháp luật

Việc cán bộ lãnh đạo có nghiêm túc tuân thủ các quy định pháp luật của Nhà nước hay không, có chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước hay không, có làm việc quyết sách, xử lý vấn đề theo đúng luật pháp hay không phản ảnh trực tiếp năng lực và trình độ quản lý theo pháp luật của cán bộ lãnh đạo Điều này cũng quan hệ đến chiến lược xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN, quản lý nhà nước bằng pháp luật Điều quan trọng của việc quản lý nhà nước bằng pháp luật là nghiêm chỉnh chấp hành, quản lý đúng pháp luật, làm việc theo pháp luật - khâu quan trọng nhất của pháp chế XHCN Thực hiện chế độ KTTNKT đối với cán bộ lãnh đạo

có tác dụng thiết thực cho giám sát nghiêm ngặt và hữu hiệu việc thực thi quyền lực của cán bộ lãnh đạo, khắc phục được tình trạng tắc trách, vượt quyền hay lạm dụng quyền lực được giao; thúc đẩy cán bộ lãnh đạo tự giác nâng cao nhận thức về pháp chế

và ý thức pháp luật, học hỏi và vận dụng thành công các phương pháp pháp luật để lãnh đạo công tác kinh tế, quản lý xã hội, tiêu chuẩn hoá hành vi hành chính của bản

thân, hướng dẫn cán bộ lãnh đạo quản lý và sử dụng quyền hạn đúng cách

Như vậy, KTTNKT đối với cán bộ quản lý là một công cụ quan trọng, mang tính đột phá để ngăn ngừa, đấu tranh chống tham nhũng; là loại hình kiểm toán mới mà KTNN phải triển khai thực hiện để nhằm mục tiêu minh bạch hóa quá trình quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công; bồi dưỡng và xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo đủ năng lực, đủ tài, có đức và chắc chắn sẽ được Đảng, Nhà nước và đông đảo các tầng lớp nhân dân và quần chúng đồng tình ủng hộ

3.2.3 Chủ thể kiểm toán trách nhiệm kinh tế của cán bộ quản lý

Chủ thể tiến hành KTTNKT của cán bộ quản lý phải là cơ quan có thẩm quyền của nhà nước; hoạt động độc lập, chỉ tuân theo pháp luật, có hành lang pháp

Trang 40

lý và cơ chế rõ ràng Hoạt động này chủ yếu do cơ quan KTNN thực hiện và có quy trình cụ thể, rõ ràng, chịu sự giám sát của cơ quan quyền lực cao nhất theo mục

tiêu, phạm vi cụ thể Với đặc thù là người được “uỷ thác” từ các cơ quan có thẩm quyền của Đảng lãnh đạo, chính quyền các cấp trong quản lý cán bộ, kiểm tra và

đánh giá cán bộ, KTNN là người được đặt hàng để đánh giá, KTTNKT của các cán

bộ quản lý Sau khi kết thúc kiểm toán, trên cơ sở kết quả kiểm toán và báo cáo kiểm toán của cơ quan KTNN, các cơ quan có thẩm quyền nói trên sử dụng để đánh giá, đề bạt, luân chuyển, miễn nhiệm, cách chức hoặc xử lý kỷ luật cán bộ ở các hình thức khác nhau

3.2.4 Đối tượng, mục tiêu và nội dung kiểm toán trách nhiệm kinh tế của cán

bộ quản lý

lãnh đạo quản lý tại các cơ quan đảng, chính quyền và đoàn thể của trung ương và các cấp địa phương (gọi chung là cán bộ lãnh đạo các cơ quan nhà nước); cán bộ

yêu cầu, điều kiện, năng lực của cơ quan KTNN, các nước có thể thực hiện kiểm toán toàn bộ các đối tượng trên hoặc tiến hành kiểm toán thí điểm một số đối tượng cụ thể

để nhân rộng khi có điều kiện

bộ quản lý trong các tổ chức công là để đánh giá toàn diện năng lực, phẩm chất, khả năng của cán bộ quản lý nhằm tránh hiện tương tham ô, lãng phí gây thất thoát tài sản của Nhà nước, góp phần đẩy mạnh hiệu quả hoạt động của các tổ chức công hiện nay

nhà nước thì nội dung kiểm toán gồm công tác quản lý tài chính công, tài sản công; (2) đối với cán bộ lãnh đạo DNNN thì nội dung kiểm toán bao gồm: Tính trung thực, hợp pháp về tài sản, nguồn vốn; kết quả kinh doanh; Sự bảo toàn và gia tăng vốn chủ của nhà nước ở doanh nghiệp; kết quả góp vốn liên doanh, liên kết; tình hình thực hiện nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với NSNN; Tình hình chấp hành các luật, chính sách, chế độ quản lý kinh tế, tài chính, kế toán ở doanh nghiệp Ngoài ra, trong điều kiện hiện nay, trong những trường hợp cần thiết, hoàn toàn có thể kết hợp kiểm toán công tác cán bộ; kiểm toán cả bản kê khai tài sản của cán bộ lãnh đạo theo quy định (có thể đối chiếu xem xét và yêu cầu giải trình việc chênh lệch hoặc tăng bất thưởng đối với các tải sản của cán bộ lãnh đạo quản lý hoặc tài sản của vợ, chồng, con của các lãnh đạo quản lý với bản kê khai thu nhập, tài sản hàng năm của họ…)

Ngày đăng: 08/12/2017, 10:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w