Nghiên cứu tiến hành đánh giá ảnh hưởng của biến đổi khí hậu (BĐKH) và nhận thức cộng đồng trong các hoạt động sản suất cà phê tại tỉnh Gia Lai. Nhìn chung, nhiệt độ trung bình có xu hướng gia tăng trong giai đoạn 19852015. Lượng mưa có sự phân bố không đồng đều, giảm sút rõ rệt ở khu vực phía Tây và Đông Nam. Tình trạng thiếu nước sản xuất trong mùa khô và ảnh hưởng tiêu cực của lũ lụt trong mùa mưa. Mức độ thiệt hại về diện tích và năng suất cà phê khá nghiêm trọng. Sự thay đổi thất thường của thời tiết không chỉ tác động trực tiếp lên cây cà phê mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều loại sâu bệnh hại gây ảnh hưởng đến năng suất và sản lượng cà phê. Để đáp ứng với tình trạng thiếu nước, nông hộ ứng phó bằng hình thức tưới trực tiếp vào gốc cà phê (69 %). Phương án sử dụng tưới phun mưa bằng hệ thống giàn tưới (23 %) cũng được quan tâm thực hiện. Về lâu dài cần có chính sách hỗ trợ người dân ứng phó với những tác động tiêu cực của BĐKH.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOTRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HCM
*********
LÊ THỊ HẰNG
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ NHẬN THỨC CỘNG ĐỒNG TRONG CÁC HOẠT ĐỘNG
SẢN XUẤT CÀ PHÊ TỈNH GIA LAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
Thành phố Hồ Chí Minh – Tháng 09/2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOTRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HCM
*********
LÊ THỊ HẰNG
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ NHẬN THỨC CỘNG ĐỒNG TRONG CÁC HOẠT ĐỘNG
SẢN XUẤT CÀ PHÊ TỈNH GIA LAI
Chuyên ngành : Quản Lý Môi Trường Và Tài Nguyên
Trang 3NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ NHẬN THỨC CỘNG ĐỒNG TRONG CÁC HOẠT ĐỘNG
SẢN XUẤT CÀ PHÊ TỈNH GIA LAI
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Luận văn “Nghiên cứu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và nhận thức cộngđồng trong các hoạt động sản xuất cà phê tỉnh gia lai” là công trình nghiên cứu củatôi Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực
Tôi cam đoan đây là nghiên cứu của riêng tôi và chưa được công bố trongbất kỳ nghiên cứu nào khác
Tp Hồ Chí Minh, ngày tháng 09 năm 2017
Tác giả luận văn
Lê Thị Hằng
Trang 6LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian học tập, hoàn thành nghiên cứu này, tôi xin chân thành cảm
ơn trường đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh, phòng Sau đại học, khoa MôiTrường và Tài Nguyên; quý thầy cô trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ tôi trong suốt quátrình học tập tại trường
Tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy hướng dẫn khoa học – TS NguyễnTri Quang Hưng, người đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này, tôi
vô cùng biết ơn và trân trọng những ý kiến quý báu của Thầy đã giúp tôi trong suốtthời gian qua
Tôi xin chân thành cảm ơn Sở Tài Nguyên và Môi Trường, Sở Nông Nghiệp
và Phát Triển Nông Thôn tỉnh Gia Lai cùng các phòng Môi Trường, Nông Nghiệp
và trung tâm Quan Trắc tại địa bàn thành phố Pleiku, huyện Chư Sê, Chư Pưh, ĐăkĐoa, Chư Prông đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian thu thập các sốliệu nghiên cứu
Tp Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Lê Thị Hằng
Trang 7TÓM TẮT
Nghiên cứu tiến hành đánh giá ảnh hưởng của biến đổi khí hậu (BĐKH) vànhận thức cộng đồng trong các hoạt động sản suất cà phê tại tỉnh Gia Lai Nhìnchung, nhiệt độ trung bình có xu hướng gia tăng trong giai đoạn 1985-2015 Lượngmưa có sự phân bố không đồng đều, giảm sút rõ rệt ở khu vực phía Tây và ĐôngNam Tình trạng thiếu nước sản xuất trong mùa khô và ảnh hưởng tiêu cực của lũlụt trong mùa mưa Mức độ thiệt hại về diện tích và năng suất cà phê khá nghiêmtrọng Sự thay đổi thất thường của thời tiết không chỉ tác động trực tiếp lên cây càphê mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều loại sâu bệnh hại gây ảnh hưởng đếnnăng suất và sản lượng cà phê Để đáp ứng với tình trạng thiếu nước, nông hộ ứngphó bằng hình thức tưới trực tiếp vào gốc cà phê (69 %) Phương án sử dụng tướiphun mưa bằng hệ thống giàn tưới (23 %) cũng được quan tâm thực hiện Về lâu dàicần có chính sách hỗ trợ người dân ứng phó với những tác động tiêu cực củaBĐKH
Từ khóa: Biến đổi khí hậu, cà phê, Gia Lai, ảnh hưởng, sản xuất.
Trang 8The purpose of study aims to assess effects of climate change and publicawareness of coffee production activities in Gia Lai province In general, Gialaiannual average temperature tends to increase in periods from 1985 to 2015 Anannual precipitation shown a different distribution as well as decreasing in West andSoutheast The studying results shown that a lack of water resources during dryseason for production activities and a negative effects of floods in rainy season Thesurvey shows an damage of area changing and coffee productivity are serious Theunusual change of weather not only directly affects on coffee trees but also makesrelevant conditions for diseases which effects on coffee productivity In response tolack of water supply, almost of farmers adapted by directly irrigation methods intocoffee plant’s ground (about 69 %) Besides, the different solution like rainyirrigation system is also considered (23 %) In the future, however, the appropriatepolicies should be developed to help public coping with the negative effects ofclimate change
Keywords: Climate change, coffee, Gialai, effect, production.
Trang 9MỤC LỤC
TRANG Trang tựa
Trang chuẩn y i
LÝ LỊCH CÁ NHÂN ii
LỜI CAM ĐOAN iii
LỜI CẢM ƠN iv
TÓM TẮT v
ABSTRACT vi
MỤC LỤC vii
DANH MỤC CÁC BẢNG xi
DANH MỤC CÁC HÌNH xiii
MỞ ĐẦU 1
Tính cấp thiết của đề tài 1
Mục tiêu của đề tài 2
Ý nghĩa của luận văn 3
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Tổng quan về biến đổi khí hậu 4
1.1.1 Khái niệm 4
1.1.2 Biểu hiện của BĐKH (IPCC, 2007) 5
1.1.3 Nguyên nhân gây BĐKH 5
1.2 Yêu cầu sinh thái của cây cà phê 5
1.2.1.Yêu cầu khí hậu của cây cà phê vối 6
1.2.2 Điều kiện đất đai và nguồn nước 8
1.3 Biến đổi khí hậu ảnh hưởng ngành cà phê trên thế giới và Việt Nam 9
1.3.1 Biến đổi khí hậu ảnh hưởng ngành cà phê trên thế giới 9
1.3.2 Biến đổi khí hậu ảnh hưởng ngành cà phê ở Việt Nam 11
1.4 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu 11
Trang 101.4.1.1 Khí hậu và thời tiết 12
1.4.1.2 Đất đai 15
1.4.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 18
1.4.2.1 Tăng trưởng kinh tế 18
1.4.2.2 Đặc điểm xã hội 20
1.5 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam 22
1.5.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 22
1.5.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 23
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1 Nội dung nghiên cứu 25
2.2 Phương pháp nghiên cứu 26
2.2.1 Phương pháp điều tra thu thập số liệu 26
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu, khảo sát thực địa 28
2.2.3 Phương pháp phân tích tổng hợp số liệu 29
2.2.4 Phương pháp kế thừa 30
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 31
3.1 Thống kê sơ bộ đặc điểm nông hộ điều tra 31
3.1.1 Độ tuổi của chủ hộ 31
3.1.2 Trình độ học vấn của chủ hộ 32
3.1.3 Tình hình nhân khẩu và lao động của các hộ 32
3.1.4 Quy mô và kinh nghiệm trồng cà phê 33
3.1.5 Tuổi vườn 35
3.2 Thực trạng diễn biến BĐKH ở trên địa bàn tỉnh Gia Lai 36
3.2.1 Nhiệt độ 36
3.2.2 Lượng mưa 37
3.2.3 Số giờ nắng 39
3.2.4 Độ ẩm không khí 40
3.2.5 Hạn hán 41
Trang 113.3 Ảnh hưởng và thực trạng nhận thức BĐKH của cộng đồng trong các hoạt
động sản xuất cà phê ở Gia Lai 433.3.1 Nhận thức chung về BĐKH 43Đối với kênh thông tin nhận biết về BĐKH, quá trình điều tra cho thấy nguồn
thông tin về BĐKH là một trong những nguồn thông tin có ích cho quá trình sản xuất giúp người dân có thể chủ động được trong sản xuất, tìm giải pháp ứng phó để đảm bảo cho quá trình sản quá trình sản xuất lâu dài và bền vững 443.3.2 Ảnh hưởng và nhận thức của cộng đồng về BĐKH trong các hoạt động
sản xuất cà phê tỉnh Gia Lai 453.3.2.1 Ảnh hưởng của BĐKH đến hoạt động sản xuất cà phê tỉnh Gia Lai 45
Về những sự thay đổi yếu tố nhiệt độ được trình bày bảng 3.25 Nhiệt độ là
một dạng năng lượng thứ cấp của năng lượng mặt trời Chế độ nhiệt ở vùng nghiên cứu thể hiện khá đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa Nhiệt độ trung bình giữa các tháng giao động từ 21,9 – 25,70C 473.3.2.2 Nhận thức ảnh hưởng của BĐKH đến dịch bệnh trên cà phê 503.3.2.3 Nhận thức ảnh hưởng của BĐKH đến việc sử dụng phân bón trong sản
suất cà phê 523.3.2.4 Nhận thức ảnh hưởng của BĐKH đến tưới tiêu trong sản xuất cà phê 533.3.2.5 Nhận thức ảnh hưởng của BĐKH đến sự thay đổi thời tiết cực đoan và
tác động lên hoạt động sản xuất cà phê 56Ngoài ra, các hiện tượng thiên tai là hậu quả rất lớn mà BĐKH mang lại cho
con người đặc biệt là người nông dân mà cụ thể ở đây là người nông
dân trồng cà phê Thiên tai thường xảy ra bất ngờ và ít được dự báo, đặcbiệt người nông dân rất ít được tiếp xúc với các phương tiện truyền
thông nên việc nhận biết về các thiên tai còn rất hạn chế Vì thế họ
thường phải gánh chịu những hậu quả thiên tai lớn nhất 633.3.2.6 Nhận thức của cộng đồng về ảnh hưởng của BĐKH trong mối liên hệ
Trang 123.3.2.7 Hoạt động ứng phó biến đổi khí hậu của người dân địa phương 65
3.4 Dự báo tác động BĐKH đến sản xuất cà phê và đề xuất giải pháp ứng phó .66
3.4.1 Dự báo tác động của BĐKH đến hoạt động sản suất cà phê tỉnh Gia Lai .66
3.4.2 Đề xuất giải pháp ứng phó với các tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu .69
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 71
Kết luận 71
Kiến nghị 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
PHỤ LỤC 75
Trang 13DANH MỤC CÁC BẢNG
TRANG
Bảng 3.1 Độ tuổi của nông hộ điều tra 31
Bảng 3.2 Trình độ học vấn của hộ điều tra 32
Bảng 3.3 Tình hình nhân khẩu ở các hộ điều tra 33
Bảng 3.4 Tình hình lao động ở các hộ điều tra 33
Bảng 3.5 Quy mô trồng cà phê ở các hộ điều tra 34
Bảng 3.6 Tuổi vườn cà phê ở các hộ điều tra 35
Bảng 3.7 Nhiệt độ TB (0C) trong các thời kỳ tại một số địa điểm ở tỉnh Gia Lai 37
Bảng 3.8 Lượng mưa trung bình (mm) trong các thời kỳ ở tỉnh Gia Lai 39
Bảng 3.9 Sự thay đổi độ ẩm (%) trong các thời kỳ trên địa bàn tỉnh Gia Lai 40
Bảng 3.10 Tần suất (%) giá trị Sa.I > +1 ( tần suất xảy ra hạn khí tượng) 41
Bảng 3.11 Kết quả đánh giá mức độ khô hạn năm 2015 42
Bảng 3.12 Sự thay đổi của thời tiết 43
Bảng 3.13 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất cà phê 44
Bảng 3.14 Các kênh thông tin nhận biết về BĐKH của nông hộ 45
Bảng 3.15 Tỉ lệ giữa diện tích và sản lượng cà phê của nông hộ điều tra 46
Bảng 3.16 Nhiệt độ trung bình hàng tháng của tỉnh năm 2005 - 2015 (oC) 47
Bảng 3.17 Diễn biến độ ẩm qua các tháng trong năm (%) 48
Bảng 3.18 Số giờ nắng, tốc độ gió và lượng bốc hơi tại tỉnh Gia Lai 49
Bảng 3.19 Hình thức tưới cà phê ở các hộ điều tra 55
Bảng 3.20 Nhận thức của nông hộ về lượng mưa ảnh hưởng đến năng suất 57
Bảng 3.21 Ảnh hưởng của lượng mưa lên rụng quả cà phê 58
Bảng 3.22 Một số yếu tố thời tiết ảnh hưởng đến sinh trưởng cà phê tại vùng nghiên cứu 59
Bảng 3.23 Ảnh hưởng của hạn hán đến cây cà phê 61
Bảng 3.24 Ảnh hưởng của lũ lụt đến cây cà phê 62
Trang 14Bảng 3.26 Mức độ thiệt hại đến diện tích và năng suất 63
Bảng 3.27 Yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất đến năng suất cà phê 64
Bảng 3.28 Tuổi cây cà phê ảnh hưởng đến năng suất 65
Bảng 3.29 Cách ứng phó với BĐKH 66
Bảng 3.30 Dự báo diện tích (Ha) bị ảnh hưởng do hạn hán đến năm 2020 và 2030 67
Bảng 3.31 Dự báo diện tích (Ha) bị ảnh hưởng do lũ lụt đến năm 2020 và 2030 68
Trang 15DANH MỤC CÁC HÌNH TRANG
Hình 1.1 Bản đồ khu vực nghiên cứu 12
Hình 2.1 Sơ đồ các phương pháp nghiên cứu 26
Hình 3.1 Biểu đồ kinh nghiệm trồng cà phê của các hộ điều tra 35
Hình 3.2 Biểu đồ biểu diễn NĐTB năm ở tỉnh Gia Lai giai đoạn 1985 - 2015 .36
Hình 3.3 Biểu đồ diễn biến tổng lượng mưa năm tỉnh Gia Lai giai đoạn 1985-2015 38
Hình 3.4 Diễn biến diện tích trồng cà phê trong tỉnh Gia Lai 46
Hình 3.5 Các loại sâu, bệnh trên cà phê của các hộ điều tra 51
Hình 3.6 Biểu đồ tình hình sử dụng phân bón của các hộ điều tra 52
Hình 3.7 Biểu đồ nguồn nước tưới cà phê của các hộ điều tra 54
Hình 3.8 Biểu đồ nhu cầu nước trồng cà phê của các hộ điều tra 54
Trang 16MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Biến đổi khí hậu (BĐKH) hiện đang là một vấn đề được xã hội đặc biệt quantâm Việc phát sinh quá mức khí gây ra hiệu ứng khí nhà kính là nguyên nhân dẫnđến sự ấm lên của trái đất làm trầm trọng thêm quá trình biến đổi khí hậu – đâychính là hiểm họa và thách thức lớn đối với nhân loại Theo nghiên cứu mới nhấtcủa Liên hiệp quốc, nguyên nhân dẫn đến BĐKH 90 % do con người gây ra BĐKHlàm thay đổi điều kiện sống của các loài sinh vật, phá vỡ cân bằng sinh thái, làmbiến mất đi một số loài và nguy cơ xuất hiện nhiều loài bệnh dịch mới trong sảnxuất nông nghiệp BĐKH tác động đến thời vụ, làm thay đổi cấu trúc mùa vụ, tácđộng xấu đến chăn nuôi, trồng trọt của người dân…
Gia Lai là tỉnh miền núi thuộc khu vực Tây Nguyên Trong những năm gầnđây, diễn biến thời tiết ở Tây Nguyên nói chung cũng như tỉnh Gia Lai nói riêngđang có xu hướng cực đoan hơn Thiên tai xảy ra thương xuyên với các hiện tượng
lũ lụt, lũ quét vào mùa mưa; hạn hán, nắng nóng vào mùa khô; dông, lốc xoáy, mưa
đá xuất hiện ngày càng nhiều và bất thường hơn Đứng trước những thay đổi bấtthường của khí hậu, rất nhiều ngành, lĩnh vực đã bị tác động gây ảnh hưởng nghiêmtrọng Đáng chú ý nhất là ngành nông nghiệp của tỉnh đặc biệt là sản xuất cà phê.Theo thống kê năm 2015 toàn tỉnh có 79.732 ha cà phê, tổng sản lượng là 201.012tấn, năng suất bình quân thấp chỉ đạt 2,5 tấn nhân/ha, chất lượng chưa thật đảmbảo để cạnh tranh trên thị trường trong nước Hàng năm ngành sản xuất cà phê phảihứng chịu những tác động bất lợi của các hiện tượng thời tiết cực đoan và biến đổikhí hậu gây ra như những đợt mưa cuối vụ lớn, kéo dài và những đợt khô hạn đã tácđộng đến tình hình thu hái, chế biến, và sự ra hoa đậu quả của cây cà phê làm năngsuất cà phê giảm sút Dưới tác động của BĐKH năng suất, sản lượng cà phê ngày
Trang 17càng giảm; sản lượng biến động thường xuyên; nguy cơ dịch bệnh, mất mùa vànhững thiệt hại về kinh tế ngày càng tăng, gây rất nhiều khó khăn cho những ngườitrực tiếp sản xuất cà phê Mặt khác, cây cà phê nơi đây đa số được trồng từ năm
1982 với giống cây chủ yếu là tự ươm nên chất lượng giống cây không tốt, khảnăng chống chịu thời tiết và sâu bệnh thấp và cho đến nay tuổi của cây đang ở tronggiai đoạn già cỗi dẫn đến sản lượng quả không cao Chính những điều này làm chothu nhập của người dân nơi đây còn nhiều bấp bênh, đời sống không ổn định, ngườidân không an tâm sinh sống và kéo theo nhiều hệ lụy về kinh tế và xã hội khác
Vì vậy, việc nghiên cứu tác động của biến đổi khí hậu từ đó đề ra các giảipháp thích ứng với biến đổi khí hậu đối với nông nghiệp tỉnh Gia Lai đặc biệt là cây
cà phê là hết sức cấp thiết Xuất phát từ lý do đó, đề tài“Nghiên cứu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và nhận thức cộng đồng trong các hoạt động sản xuất cà phê tỉnh Gia Lai” được thực hiện để làm luận văn cao học
Mục tiêu của đề tài
Mục tiêu tổng quát
Nghiên cứu, đánh giá biến đổi khí hậu và nhận thức của cộng đồng trong cáchoạt động sản xuất cà phê tỉnh Gia Lai, đưa ra các nhóm giải pháp nhằm ứng phóvới biến đổi khí hậu theo hướng phát triển bền vững sản xuất cà phê
Xác định được diễn biến, xu hướng tác động và mức độ tổn thất/thiệt hại
do hậu quả của biến đổi khí hậu đến hoạt động sản xuất cà phê;
Đề xuất các giải pháp khả thi ứng phó với tác động của biến đổi khí hậuđến hoạt động sản xuất cà phê
Trang 18Phạm vi nghiên cứu
Không gian: Trên địa bàn tỉnh Gia Lai
Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2005 đến 2015
Đối tượng nghiên cứu: Cây cà phê
Ý nghĩa của luận văn
- Dự báo những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến đến hoạtđộng sản xuất cà phê đến năm 2020 và tầm nhìn 2030
Trang 19Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tổng quan về biến đổi khí hậu
1.1.1 Khái niệm
Thời tiết: Thời tiết là trạng thái của khí quyển tại một địa điểm vào thời điểmnhất định, được xác định bằng các yếu tố như nhiệt độ, áp suất, độ ẩm, tốc độ gió,mưa,… Thời tiết có thể được dự báo hàng giờ, hàng ngày hay dài hơn đến một tuần[3]
Khí hậu: Khí hậu là trạng thái trung bình của thời tiết tại một khu vực nào
đó, như một tỉnh, một nước, một châu lục hoặc toàn cầu trên cơ sở chuỗi số liệu dài(theo tổ chức khí tượng thế giới – WMO, thời gian thích hợp để đánh giá là 30năm), so với thời tiết, khi hậu thường ổn định hơn [3]
Các hiện tượng thời tiết khắc nghiệt/thời tiết cực đoan: TTCĐ là các hiệntượng trong số các yếu tố khí tượng nằm ở hai phía, thậm chí vượt ra ngoài các cựctrị của dao động thời tiết,… (các hiện tượng khí tượng dị thường và thiên tai nhưmưa lớn và không có mưa dài ngày, hạn hán và lụt lội, nắng nóng và rét hại, bão tố,
…) Các hiện tượng thời tiết cực đoan thực chất là các thiên tại xảy ra bất thường,gây ra các tổn hại to lớn cho tự nhiên và đời sống xã hội [3]
Biến đổi khí hậu: BĐKH là sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trungbình và/hoặc dao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường
là vài thập kỷ hoặc dài hơn BĐKH có thể là do các quá trình tự nhiên bên tronghoặc các tác động bên ngoài, hoặc do các hoạt động của con người làm thay đổithành phần khí quyển hay trong khai thác và sử dụng đất [3]
Trang 201.1.2 Biểu hiện của BĐKH (IPCC, 2007)
Sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển có hại cho môi trườngsống của con người và các sinh vật trên trái đất
Sự dâng cao mực nước biển do tan băng dẫn tới sự ngập úng của các vùngđất thấp, các đảo nhỏ trên biển
Sự di chuyển của các đới khí hậu tồn tại hàng nghìn năm trên các vùngkhác nhau của trái đất dẫn tới nguy cơ đe dọa sự sống của các loài sinh vật, các hệsinh thái và hoạt động của con người
Sự thay đổi cường độ hoạt động của quá trình hoàn lưu khí quyển, chutrình tuần hoàn nước trong tự nhiên và các chu trình sinh địa hoá khác
Sự thay đổi năng suất sinh học của các hệ sinh thái, chất lượng và thànhphần của thuỷ quyển, sinh quyển, các địa quyển [7]
1.1.3 Nguyên nhân gây BĐKH
Do quá trình tự nhiên: sự tương tác, vận động giữa trái đất và vũ trụ
Do hàm lượng khí CO2 tăng lên trong khí quyển
Do bức xạ của Mặt trời, động đất và núi lửa
Do trái đất đang nóng dần lên
Do tác động của con người: Dân số tăng đến mức báo động; phát triểnkinh tế quá nóng, do con người sử dụng quá nhiều nhiên liệu hóa thạch, sử dụngphân bón, các loại hóa chất bảo vệ thực vật và sinh hoạt, thuốc trừ sâu, khai thác sửdụng đất, rừng, chăn nuôi gia súc, khai thác và sử dụng tài nguyên nước
Do chiến tranh [7]
1.2 Yêu cầu sinh thái của cây cà phê
Cà phê là cây công nghiệp nhiệt đới lâu năm đòi hỏi những điều kiện sinhthái tương đối khắt khe Vì vậy cần nắm vững yêu cầu sinh thái của từng loại cà phê
để phân vùng quy hoạch cho thích hợp nhằm khai thác tốt nhất điều kiện tự nhiêncủa mỗi vùng Trong 2 yếu tố sinh thái chính của cây cà phê là khí hậu và đất đai thìyếu tố khí hậu đóng một vai trò mang tính quyết định Đối với đất đai ta có thể khắcphục được bằng các biện pháp kỹ thuật canh tác, cải tạo đất,… Nhưng đối với cácyếu tố khí hậu mặc dù có áp dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác cũng chỉ ít nhiềuhạn chế bớt tác hại của nó chứ không thể làm thay đổi được Vì vậy, khi quy hoạch
Trang 21vùng trồng phải đặc biệt xem xét đến các yếu tố khí hậu trước sau đó mới đến cácyếu tố đất đai.
1.2.1.Yêu cầu khí hậu của cây cà phê vối
Nhiệt độ:
Trong các yếu tố khí hậu, nhiệt độ là yếu tố quan trọng mang tính giới hạnđối với sự sinh trưởng và phát triển của cây cà phê Phạm vi nhiệt độ thích hợp phụthuộc vào từng loài, từng giống cà phê Cà phê i rất thích hợp đối với điều kiện khíhậu xích đạo điển hình Nhiệt độ thích hợp trung bình từ 22 - 26oC, ít thay đổi, mưanhiều và phân bố trên 9 tháng trong năm, độ ẩm không khí thường xuyên ở gần độ
ẩm bão hòa Cây cà phê vối chịu rét kém so với cây cà phê chè (Coffea arabica).Các rối loạnsinh lý xuất hiện ngay từ nhiệt độ 8 - 10oC và cây cà phê chết trướcđiểm đông giá Nhiệt độ cao cũng gây tác hại đối với cây cà phê vối, nhất là khôngkhí thiếu độ ẩm, làm cho lá rụng, các ngọn cành, các chồi héo đi và chết.[9]
Lượng mưa:
Sau nhiệt độ, lượng mưa là một trong những yếu tố khí hậu quyết định đếnkhả năng sinh trưởng, năng suất và kích thước của hạt cà phê Cây cà phê vốithường ưa thích với điều kiện khí hậu nóng ẩm ở những vùng có cao độ thấp.Lượng mưa thích hợp hàng năm từ 1.500 - 1.800mm và phân bố tương đối đềutrong khoảng 9 tháng Đối với cây cà phê vối là cây thụ phấn chéo bắt buộc nênngoài yêu cầu phải có thời gian khô hạn ít nhất là 2-3 tháng sau giai đoạn thu hoạch
để phân hóa mầm hoa thì vào giai đoạn lúc cây nở hoa yêu cầu phải có thời tiết khôráo, không có mưa, mưa phùn hoặc sương mù nhiều để quá trình thụ phấn đượcthuận lợi Khi lượng mưa dưới mức 800-1.000mm thì dù có được phân bố tốt,ngành trồng cà phê sẽ trở nên bấp bênh, khả năng sinh lợi giảm sút Ở nước ta nóichung và Tây Nguyên nói riêng lượng mưa phân bố không đều Lượng mưa tậptrung khoảng 70-80 % vào mùa mưa gây ra hiện tượng thừa nước Mùa khô thườngkéo dài từ 3 - 5 tháng, nhưng lượng nước mưa chỉ chiếm từ 20-30 %, do vậy có
Trang 22nhiều nơi cây cà phê thiếu nước nghiêm trọng Để khắc phục hiện tượng này, tướinước là biện pháp hàng đầu trong việc thâm canh tăng năng suất cà phê.[9]
Độ ẩm:
Ẩm độ không khí có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh trưởng của câytrồng vì nó liên quan trực tiếp đến quá trình bốc thoát hơi nước của cây Ẩm độkhông khí trên 70% mới thuận lợi cho sinh trưởng và phát triển của cây cà phê Ẩm
độ không khí cao sẽ làm giảm sự mất hơi nước của cây qua quá trình bốc thoát hơinước Tuy nhiên, nếu ẩm độ không khí quá cao lại là điều kiện thuận lợi cho nhiềuloại sâu bệnh hại phát triển Ngược lại nếu độ ẩm không khí quá thấp làm cho quátrình bốc thoát hơi nước tăng lên rất mạnh sẽ làm cho cây bị thiếu nước và héo, đặcbiệt là các tháng mùa khô có nhiệt độ cao và tốc độ gió lớn Ẩm độ quá thấp cùngvới điều kiện khô hạn, nhiệt độ cao dẫn tới hậu quả làm cho các mầm, nụ hoa bịthui, quả non bị rụng Ngoài độ ẩm không khí, quá trình bốc thoát hơi nước qua lá
cà phê còn phụ thuộc vào tốc độ gió, nhiệt độ môi trường, ẩm độ đất,… Tại KenyaWallis (1963); Blore (1966) đo được lượng bốc thoát hơi nước trên các vườn cà phê
đã kín tán vào mùa khô lạnh là 75 mm/tháng và vào mùa mưa nóng là 150mm/tháng [9]
Ánh sáng:
Trong điều kiện tự nhiên, tổ tiên của các loài cà phê đều sinh sống dướinhững tán rừng, vì vậy bản chất của cây cà phê là cây ưa che bóng Tuy nhiên trongquá trình ñược trồng trọt và chọn lọc, nhiều giống cà phê đã thích nghi dần với môitrường mới không có cây che bóng Cà phê vối là cây thích ánh sáng trực xạ yếu.Những nơi có ánh sáng trực xạ với cường độ mạnh thì cần có lượng cây che bóngvừa phải để điều hòa ánh sáng, điều hòa quá trình quang hợp của cây.[9]
Gió:
Trang 23Cây cà phê xuất xứ từ vùng nhiệt đới nên ưa khí hậu nóng ẩm và tương đốilặng gió Tuy nhiên, gió nhẹ là điều kiện thuận lợi cho sự lưu thông không khí, tăngkhả năng bốc thoát hơi nước, trao đổi chất của cây và quá trình thụ phấn Gió mạnhhoặc bão sẽ làm rụng lá, quả, gãy cành và thậm chí đỗ cả cây gây thiệt hại lớn đếnnăng suất vườn cây Nhìn chung, tất cả các vùng trồng cà phê ở nước ta đều bị ảnhhưởng của gió hoặc bão Vì vậy, cần phải có hệ thống cây đai rừng chắn gió chính
và phụ, cây che bóng để hạn chế tác hại của gió.[9]
1.2.2 Điều kiện đất đai và nguồn nước
Đất trồng cà phê đòi hỏi phải có tầng canh tác dày trên 0,7 m, tơi xốp, có khảnăng thoát nước và giữ ẩm tốt, thành phần cơ giới từ trung bình đến hơi nặng Vềhóa tính cây cà phê có thể trồng trên đất pH KCl từ 4,5 – 6,5, song thích hợp nhất là
từ 4,5 – 5,0 Hàm lượng mùn và các chất hữu cơ trong đất là yếu tố quan trọng ảnhhưởng tới chất lượng vườn cây, hàm lượng mùn thích hợp trong đất trồng cà phêphải trên 3%, nếu hàm lượng mùn < 3% vẫn có thể trồng được cà phê nhưng sinhtrưởng và năng suất bị ảnh hưởng xấu Đối với lân và kali thì hàm lượng dễ tiêu cótương quan chặt đến năng suất cà phê hơn hàm lượng tổng số Trong đất bazan có
độ phì cao (cấp I) đòi hỏi hàm lượng mùn > 3,5%, đạm tổng số >2%, lân dễ tiêu >6,0 mg/100g đất và kali dễ tiêu > 25 mg/100g đất Đất được xem có độ phì thấp(cấp III), ảnh hưởng đến sinh trưởng và năng suất cà phê thì hàm lượng hữu cơtrong đất chỉ đạt < 2,5%, đạm tổng số < 0,12%, lân dễ tiêu < 3 mg/100g đất, kali dễtiêu < 10 mg/100g đất [21] Đất giàu mùn và giàu dinh dưỡng thì cà phê sinh trưởngphát triển thuận lợi, tuy nhiên đất có dinh dưỡng trung bình nhưng biết áp dụng cácbiện pháp thâm canh phù hợp thì cà phê vẫn có khả năng cho năng suất cao [19].Trong điều kiện canh tác cà phê ở Tây Nguyên, ngoài các tiêu chuẩn về lý hóa tínhđất thì điều kiện nước tưới cũng rất quan trọng ảnh hưởng đến năng suất và chấtlượng cà phê Vùng được xem là thuận lợi là vùng có sông suối, ao, hồ không bị cạnkiệt ở mùa khô và có khoảng cách tưới từ nguồn nước đến nơi sử dụng không quá1.000 m [21]
Trang 241.3 Biến đổi khí hậu ảnh hưởng ngành cà phê trên thế giới và Việt Nam
1.3.1 Biến đổi khí hậu ảnh hưởng ngành cà phê trên thế giới
Sự diễn biến của khí hậu là yếu tố chính dẫn đến sự thay đổi của năng suất càphê trên thế giới Tuy nhiệt độ không khí, bức xạ mặt trời và độ ẩm tương đốikhông khí ảnh hưởng đến nhiều quá trình sinh lý của cây cà phê, nhưng các điềukiện về nhiệt và mưa được coi là những yếu tố quan trọng nhất để xác định năngsuất tiềm tàng của cây cà phê
Brasil
Do nhiệt độ tăng lên và sương giá giảm đi, việc trồng cà phê ở phía namnước này trở nên thích hợp hơn Theo cơ quan nghiên cứu nông nghiệp Brasil(EMBRAPA) thì nhiệt độ tăng lên 10 oC sẽ giảm 200.000 km2 vùng đất hiện đang
có tiềm năng sản xuất cà phê Nhiệt độ tăng lên 30 oC sẽ có 320.000 km2 cà phêphải di chuyển
Colombia
Trong điều kiện khí hậu thay đổi, giá thành sản phẩm sẽ tăng lên vì sự nảy
nở nhanh chóng của dịch bệnh Có nhiều loại sâu thường bị hạn chế bởi sự có mặtcủa các thiên dịch, một loại hình khí hậu không ổn định có thể làm thay đổi tìnhhình và tạo điều kiện thích hợp cho loại sâu này phát triển Ví dụ như loại mọt đục
quả, trong môi trường khô hơn có thể ảnh hưởng sự có mặt của nấm Beauveria bassiana, giảm bớt hiệu quả của chúng và hạn chế một cách tự nhiên hoặc làm
nhiễm độc một cách nhân tạo, vì xúc tiến việc gia tăng quần thể của loại sâu này.Nếu trong năm lượng mưa tăng lên, ngược lại với tác động hạn chế của thời kỳmưa, và vòng đời liên tục bị gián đoạn Hiệu quả tương tự cũng xảy ra do kết quảcủa nhiệt độ cao Sự tăng nhiệt độ ở độ cao trên mực nước biển và độ cao vĩ độmiền núi sẽ dẫn theo sự phát triển bệnh lây lan ra ở các vùng mà trước đây chưa có
Cà phê bị tác hại của bệnh gỉ sắt, nấm hồng và thối rễ, chúng sinh sôi nảy nở nhanhchóng do mưa dai dẳng, độ ẩm không khí cao của môi trường Thiếu nước không
Trang 25phải là hiện tượng chung của các vùng cà phê ở Colombia và do đó nông dân khôngcần tưới.
Tuy nhiên, nhiệt độ tăng cao dẫn đến bốc hơi nhiều, nước trong đất bị mất đidẫn đến sự đòi hỏi nước, và nông dân lại phải lo tưới cà phê gây nên sự nâng caogiá thành sản xuất Niên vụ cà phê 2010/2011 cho thấy mưa lớn do hiện tượng thờitiết La Nina bắt đầu vào cuối năm trước gây mưa lớn lụt lội sạt lở đất ảnh hưởngviệc vận chuyển,xuất khẩu cà phê Sản lượng 6 tháng đầu vụ cà phê 2011/2012cótăng lên chút ít nhưng thật bất hạnh sản lượng vụ (vụ Mitaca) của nước này lại bịmưa lớn ảnh hưởng đến sản lượng
Uganda
Có lẽ Uganda là nước cảm nhận thấy tầm quan trọng to lớn hơn của sự tổnthất do biến đổi khí hậu mang đến cho ngành cà phê nước này Trước hết là diệntích đất canh tác thích hợp bị thu hẹp Nếu nhiệt độ không khí trung bình toàn cầutăng lên 20oC hay hơn 20oC thì hầu như đất thích hợp cho cà phê không còn nữa
Đã có dấu hiệu mưa thất thường ở đất nước này Từ tháng 3 đến tháng 7 ít mưamang khô hạn đến làm sản lượng cà phê bị giảm Nhưng những trận mưa cuối nămlại bị lụt lội, gây xói mòn lở đất….Như thế ngành cà phê bị đe dọa nghiêm trọng.Nông dân trồng cà phê ở 1 số nơi đã bắt đầu thực hiện các biện pháp giảm nhẹ thiệthại như trồng nhiều cây để tạo bóng mát cho cà phê, áp dụng tủ gốc cho cà phê, chephủ mặt đất để giữ nước tưới, đào
Những mối quan hệ giữa các thông số khí hậu và sản xuất nông nghiệp là rấtphức tạp vì các yếu tố môi trường tác động lên sinh trưởng phát triển của cây theocác con đường khác nhau trong các giai đoạn tuần hoàn của cây cà phê Các môhình khí tượng nông nghiệp liên quan đến sinh trưởng, phát triển và năng suất cóthể cho ta các thông tin nhằm giám sát tình trạng nước ngầm trong đất và dự báonăng suất dựa trên nhiệt độ không khí và tình hình căng thẳng về nguồn nước, docân bằng nước ngầm trong các giai đoạn sinh trưởng của các loại cây trồng khácnhau, định hướng tác động của nước ngầm có thể sử dụng được lên việc giảm năng
Trang 26suất cây trồng Quá trình quang hợp bắt đầu bị hạn chế khi phát sinh sự căng thẳng
vì nước, do sự đóng các khí khổng.và giảm các hoạt động sinh lý của cây
Các yếu tố khí hậu khác có thể giảm năng suất cây trồng như nhiệt độkhông khí có hại trong các giai đoạn sinh trưởng khác nhau.[17]
1.3.2 Biến đổi khí hậu ảnh hưởng ngành cà phê ở Việt Nam
Tình hình khí hậu diễn biến thất thường trong mấy năm gần đây đã đem lạitổn thất cho ngành cà phê Việt Nam Những đợt mưa cuối vụ lớn và kéo dài vànhững đợt khô hạn đã tác động đến tình hình thu hái, chế biến, và sự ra hoa đậuquả của cây cà phê ở các tỉnh Tây Nguyên
Nghiên cứu của dự án Sáng kiến cà phê và khí hậu cũng nhận định BĐKHlàm hạn hán xảy ra liên tục những năm gần đây, nhiệt độ cao đã khiến sâu bệnh hạibùng phát mạnh trên cây cà phê… Năm 2016, diện tích cà phê cả nước đạt trên643.000 ha, năng suất khoảng 24 tạ/ha, thuộc mức cao của thế giới Cũng trongnăm 2016, Việt Nam đã xuất khẩu gần 1,8 triệu tấn cà phê nhân với kim ngạchtrên 3,36 tỷ USD
Tại Tây Nguyên, diện tích trồng cà phê đạt cao với khoảng 540.000 ha,vượt rất xa so với quy hoạch đến năm 2020 là 447.000 ha Riêng năm 2016, hạnhán làm thiệt hại trên 116.000 ha cà phê Đầu năm 2017, xuất hiện tình trạng mưatrái mùa làm cho hàng vạn ha cà phê ra hoa sớm, nên nguy cơ giảm khả năng đậuquả và giảm năng xuất đã hiện hữu
1.4 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu
1.4.1 Đặc điểm tự nhiên của tỉnh Gia Lai
Gia Lai là tỉnh miền núi thuộc Bắc Tây Nguyên, với diện tích tự nhiên15.536,9 km2 (theo Quyết định số 272/QĐ-TTg ngày 27/2/2007 của Thủ tướngChính phủ), có tọa độ địa lí từ 12058’20” đến 14036’30” vĩ độ Bắc và từ107027’23” đến 108054’40” kinh độ Đông Tỉnh có Gia Lai có 17 đơn vị hànhchính, gồm: Thành phố Pleiku, thị xã An Khê, thị xã Ayun Pa, các huyện: Kbang,Đăk Đoa, Chư Păh, Ia Grai, Mang Yang, Kông Chro, Đức Cơ, Chư Prông, Chư Sê,Đăk Pơ, Ia Pa, Phú Thiện, Krông Pa và huyện Chư Pưh
Trang 27Địa giới hành chính của Tỉnh:
Phía Bắc giáp tỉnh Kon Tum
Phía Đông giáp với tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định và Phú Yên
Phía Nam giáp với tỉnh Đăk Lăk
Phía Tây giáp với Campuchia với 90 km là đường biên giới quốc gia
Hình 1.1 Bản đồ khu vực nghiên cứu
Giao thông Gia Lai khá thuận lợi không những về đường bộ mà còn cảđường hàng không Tỉnh có Quốc lộ 14 nối các tỉnh Đắk Lắk, Kontum thông đến
Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh, đặc biệt tuyến đường Hồ Chí Minh đã rút ngắnkhoảng cách từ Gia Lai đến các trung tâm kinh tế chính trị lớn của cả nước Cáctuyến Quốc lộ 19 xuống thành phố Quy Nhơn, thuộc Bình Định, Quốc lộ
25 đến Tuy Hoà, thuộc địa phận tỉnh Phú Yên Ngoài ra, Sân bay Pleiku của GiaLai, có đường bay nối Pleiku với các thành phố lớn là Đà Nẵng, Hà Nội và thànhphố Hồ Chí Minh
1.4.1.1 Khí hậu và thời tiết
Nắng
Số giờ nắng trung bình năm biến đổi không lớn giữa các vùng trong Tỉnh:
2270 giờ tại Yaly, 2487 giờ tại AyunPa, 2476 giờ tại Pleiku và 2380 giờ tại An Khê
Trang 28Số giờ nắng trung bình tháng tương đối lớn trong các tháng mùa khô (từ tháng XIIcho đến tháng V) và nhỏ hơn trong các tháng mùa mưa (tháng VI - XI) Ở phần lớncác vùng, số giờ nắng trung bình tháng trong các tháng mùa khô đều trên 200 giờ,lớn nhất là vào tháng III (250 - 280 giờ), còn trong các tháng mùa mưa thì nhỏ hơn
200 giờ những cũng lớn hơn 150 giờ Riêng vùng phía Đông tỉnh, cho đến tận thángVIII, số giờ nắng trung bình tháng vẫn lớn hơn 200 giờ
Lượng mưa
Cũng như các nơi khác ở Tây nguyên, chế độ mưa ở tỉnh Gia Lai phụ thuộcvào sự hoạt động của các hệ thống hoàn lưu và chịu sự tác động mạnh mẽ của địahình, trong năm có 2 mùa: mùa mưa và mùa khô (mùa ít mưa) Từ cuối tháng IV,đầu tháng V, các đợt gió mùa Tây Nam đã gây mưa trên Tây, tháng XI thậm chí cónơi tới tháng XII ở các vùng giữa và phía Đông tỉnh Gia Lai Sự kết thúc mùa mưamuộn ở vùng trung tâm và vùng phía Đông là do hai vùng này chịu ảnh hưởngmạnh của các hình thế thời tiết gây mưa ở ven biển Trung Bộ
Cũng do ảnh hưởng của địa hình, đặc biệt là dãy Trường Sơn và sự hoạtđộng của các hệ thống thời tiết gây mưa nên dạng phân phối mưa trong năm cũng
có sự khác biệt giữa các vùng trong tỉnh Dạng phân phối mưa toàn lãnh thổ TâyNguyên Do đó, mùa mưa hàng năm thường bắt đầu từ tháng V, cũng có năm, cónơi từ tháng IV Mùa mưa kéo dài cho đến tháng X ở vùng phía
tháng trong năm thường có 2 đỉnh ở vùng phía Đông và vùng giữa, nhưngchỉ có 1 đỉnh ở vùng phía Tây Ở vùng phía Tây, lượng mưa trung bình tháng lớnnhất xuất hiện vào tháng VII hay tháng VIII, có nơi vào tháng IX (Ialy) Lượng mưatrung bình tháng trung bình thời kì quan trắc tại các trạm đo mưa và kèm theo làbản đồ phân phối mưa trong năm (dưới dạng tỉ số % lượng mưa tháng so với lượngmưa năm) tại một số trạm đại biểu: trạm An Khê và KrôngPa đại biểu cho vùngphía Đông, trạm Pleiku và Chư Prông đại biểu cho vùng phía tây, trạm AyunPa đạibiểu cho vùng trung tâm Lượng mưa trong mùa mưa chiếm tới 85 - 95% tổnglượng mưa năm, còn lượng mưa trong mùa khô chỉ chiếm 5 - 15%
Trang 29Ba tháng liên tục có lượng mưa lớn nhất thường xuất hiện vào các tháng
IX - XI ở vùng giữa và vùng phía Đông, các tháng VII - IX, hay VI - VIII (trạmChư Prông) ở vùng phía Tây Lượng mưa của ba tháng này chiếm tới 45 - 60% tổnglượng mưa năm
Trong mùa khô, ba tháng liên tục có lượng mưa nhỏ nhất xuất hiện vào cáctháng I - III Lượng mưa trung bình tháng thường dưới 10 mm, thậm chí không cómưa trong các tháng I và tháng II, tăng lên 15 - 30 mm trong tháng III Lượng mưacủa ba tháng này chỉ chiếm 1 - 3,5% tổng lượng mưa năm
Rõ ràng, mưa phân hoá theo mùa rất sâu sắc Đây chính là nguyên nhân gâynên lũ lụt trong mùa mưa lũ và hạn hán trong mùa khô
Gió
Gió ở Tây Nguyên nói chung và tỉnh Gia Lai nói riêng chịu sự chi phối củacác hoàn lưu gió mùa Đông Nam Á, luân phiên tác động theo mùa Trong mùađông, gió thịnh hành theo hướng Đông Bắc, còn trong mùa hạ là hướng Tây Nam
Do ảnh hưởng của địa hình, đặc biệt là dãy Trường Sơn, nên hướng gió và tốc độgió có sự khác biệt nhất định giữa các vùng Trong mùa đông (mùa khô), hướng gióthịnh hành ở hầu khắp các vùng trong tỉnh là thành phần hướng Bắc, trong đóhướng gió Đông Bắc có tần suất từ 65 - 75% Trong mùa hạ, gió hướng Tây chiếm
ưu thế trong thời kì đầu của nó, sau đó là hướng Tây Nam với tần suất tới 90%
Tốc độ gió trung bình tháng của các tháng trong năm dao động trong phạm
vi 2 - 3m/s, riêng tốc độ gió trung bình tháng VII tại An Khê lên tới 4 m/s Tuynhiên, ở các vùng khuất gió như thung lũng sông Ba, tốc độ gió giảm đáng kể so vớicác vùng khác trong Tỉnh
Độ ẩm không khí
Độ ẩm tương đối của không khí ít biến đổi giữa các vùng và dao động khôngnhiều giữa các tháng trong năm Độ ẩm không khí trung bình năm bằng khoảng 80 -83%
Trang 30Độ ẩm không khí trung bình tháng của các tháng mùa mưa cao hơn so vớicác tháng mùa khô Độ ẩm không khí trung bình tháng cao nhất có thể đạt từ trêndưới 90%, còn thấp nhất bằng khoảng 72 - 75%
Nhiệt độ không khí
Nhiệt độ không khí chịu sự ảnh hưởng khá rõ của địa hình: giảm theo sự tăngcao của địa hình và chênh lệch giữa các sườn núi Nhiệt độ không khí trong mùakhô, khi địa hình tăng 100 m độ cao sự giảm của nhiệt độ không khí là (0,7 - 0,8oC)đối với vùng phía Đông và (0,1 - 0,2oC) ở vùng phía Tây và vùng trung tâm Tỉnh;còn trong mùa hè, sự giảm của nhiệt độ không khí theo độ cao địa hình không có sựkhác biệt nhiều giữa các vùng Nhiệt độ không khí trung bình năm ở tỉnh Gia Laibiến đổi trong phạm vi từ dưới 20oC ở vùng núi cao đến khoảng 26oC ở vùng thunglũng hạ lưu sông Ba
Nhiệt độ không khí trung bình tháng tương đối đồng đều trong năm và giữacác nơi trong Tỉnh Trừ một vài nơi có nhiệt độ trung bình tháng I và tháng XII dưới
20oC, còn các tháng khác trong năm ở các nơi đều có nhiệt độ trung bình tháng trên
20oC Tháng IV và tháng V là hai tháng có nhiệt độ trung bình tháng cao nhất(24,4oC tại Pleiku và 28,2oC tại Ayunpa), tháng I là tháng có nhiệt độ trung bìnhtháng thấp nhất (19 - 22,5oC)
Nhiệt độ cao nhất tuyệt đối có thể lên tới trên 36oC: 36oC tại Pleiku; 38,3oCtại An Khê và 40,8oC tại Ayunpa
Nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối đã quan trắc được dưới 10oC: 5,6oC tại Pleiku,
9oC tại An Khê và 8,5oC tại Ayunpa
Biên độ dao động trong ngày của nhiệt độ không khí không lớn, bằng khoảng7,5 - 10oC trong các tháng VI - IX và 10 - 15oC vào các tháng khác trong năm Nhưvậy, biên độ dao động trong ngày của nhiệt độ không khí trong mùa khô lớn hơn sovới mùa hè
1.4.1.2 Đất đai
Nhóm đất phù sa: Đất phù sa toàn tỉnh có diện tích 56.076 ha, chiếm 3,61%diện tích tự nhiên Phân bố trên địa bàn ở thị xã Ayun Pa 9.726 ha; huyện Ia Pa
Trang 319.347 ha; huyện Krông Pa 10.197 ha; huyện Chư Sê 8.527 ha; huyện Chư Prông6.126 ha Nhóm đất phù sa phân bố ở nơi có địa hình bằng phẳng, thường là bãi bồicủa sông hay suối lớn, tầng đất dày Khác với phù sa ở các vùng đồng bằng, đất phù
sa ở tỉnh Gia Lai có nhiều dải đất hẹp ven sông suối hoặc từng khu vực nhỏ do ảnhhưởng của địa hình chia cắt mạnh Nhìn chung đất phù sa ở tỉnh Gia Lai thuộc loạiđất tốt, phù hợp với việc gieo trồng các cây lương thực như lúa, ngô, khoai, các loạicây công nghiệp như mía, các loại đậu đỗ, các loại rau quả
Nhóm đất xám và bạc màu: Có diện tích 345.399 ha, chiếm 22,23% diệntích tự nhiên, tập trung nhiều ở các huyện Krông Pa 55.963ha; Kbang 27.480 ha;Ayun Pa 26.859 ha Đất được hình thành trên nền trầm tích cổ, cát kết và magma.Đất có thành phần cơ giới nhẹ, dễ thoát nước, khả năng giữ chất dinh dưỡng kémnên nghèo dinh dưỡng Nhóm đất xám và bạc màu thường phân bố ở nơi chuyểntiếp giữa đồi núi và vùng bằng, có địa hình bằng hoặc lượn sóng Đất thích hợp chủyếu cho trồng cây công nghiệp ngắn ngày hoặc trồng rừng để bảo vệ đất
Nhóm đất đỏ vàng: Đây là nhóm đất có diện tích lớn nhất với 756.842 ha,chiếm 48,71% tổng diện tích tự nhiên Đây cũng là nhóm đất có nhiều loại đất có ýnghĩa rất quan trọng, đặc biệt là loại đất đỏ trên đá bazan Tập trung chủ yếu ở cáchuyện trên cao nguyên Pleiku và cao nguyên Kon Hà Nừng như Kbang 96.590 ha;
Ia Grai 105.373 ha; Chư Prông 85.098 ha; Chư Păh 82.071 ha; Chư Sê 71.194 ha.Đất thích hợp cho các loại cây công nghiệp dài ngày, yêu cầu độ phì cao như cà phê,chè, cao su và các loại cây ăn trái
Nhóm đất đỏ và xám nâu vùng bán khô hạn: Có diện tích 1.719 ha, phân bố
ở địa hình sườn thoải, khá bằng, trong vùng khí hậu bán khô hạn, tập trung ở thị xãAyun Pa 606 ha và huyện Krông Pa 1.113 ha Trong đất vừa có quá trình phá hủykhoáng sét và rửa trôi vào mùa mưa, vừa có quá trình di chuyển các muối hòa tan từcác lớp đất sâu hơn lên các lớp đất phía trên theo sự bốc thoát hơi nước vào mùakhô hơn quá trình rửa trôi chúng vào mùa mưa
Trang 32 Nhóm đất đen : Diện tích 26.957 ha, chiếm 1,74% diện tích tự nhiên toàntỉnh Nhóm đất này chủ yếu ở độ cao 300 - 700 m, độ dốc 30 - 80, phân bố chủ yếu
ở các huyện Chư Sê 12.674 ha; Chư Prông 8.234 ha… tại các hợp thủy hoặc thunglũng có địa hình thấp trũng, thoát nước tốt, tầng đất mỏng, nhiều đá lẫn và đá lộđầu, thích nghi cho gieo trồng nhiều loại cây nông nghiệp dài ngày như cây ăn trái
và các cây màu ngắn ngày như ngô, đậu đỗ, các loại rau, màu
Nhóm đất dốc tụ: Có diện tích 14.631 ha, phân bố rải rác ở tất cả cáchuyện, tập trung nhiều nhất ở huyện Đăk Đoa 7.727 ha và thành phố Pleiku 3.896
ha Đất dốc tụ hình thành và phát triển trên sản phẩm rửa trôi và bồi tụ của các loạiđất ở các chân, sườn đồi thoải và hoặc các khe dốc, do ở địa hình thấp, nước mặtđọng nên đất thường bị gẫy
Nhóm đất mùn vàng đỏ: Có diện tích 180.443 ha, chiếm 11,61% diện tích
tự nhiên, phân bố tập trung ở các huyện Kbang 57.383 ha; Mang Yang 33.504 ha; Ia
Pa 41.895 ha Đất được hình thành và phát triển trên độ cao nhất định (> 1.000 m),nơi có thảm thực vật là rừng hoặc rừng mới bị khai phá để đưa vào sản xuất nôngnghiệp Do đó đất ít có khả năng sử dụng cho phát triển nông nghiệp Hiện nay, đấtchủ yếu đang được che phủ bởi rừng, chỉ một bộ phận được khai phá làm nươngrẫy Việc bảo vệ rừng và tái tạo rừng là biện pháp sử dụng loại đất này có hiệu quảnhất
Nhóm đất xói mòn trơ sỏi đá: Diện tích 143.791 ha, chiếm 9,25% diện tích
tự nhiên Tập trung ở các huyện Phú Thiện, Krông Pa và thị xã An Khê Đất bị xóimòn nhiều nên tầng mặt bị trơ ra những lớp đá hoặc lớp kết vón Địa hình đồi hoặcnúi thấp nhưng lượn sóng mạnh và chia cắt sâu, ở độ cao từ 800 m trở xuống Đấtkhông có khả năng cho sản xuất nông nghiệp, cần giữ rừng và khoanh nuôi rừng đểbảo vệ đất
Nhóm đất lầy thụt và than bùn: Đây là loại đất được hình thành ven cácsông suối hoặc đầm lầy ngập nước thường xuyên Phân bố rải rác với diện tích nhỏkhông tập trung, hiện nay toàn tỉnh có 162 ha
Trang 331.4.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
1.4.2.1 Tăng trưởng kinh tế
Nông - Lâm nghiệp
Gia Lai có gần 500.000 ha diện tích đất sản xuất nông nghiệp, trong đó cóhơn 291.000 ha đất cho trồng cây hàng năm và hơn 208.000 ha cây lâu năm nên cótiềm năng rất lớn để phát triển sản xuất nông nghiệp
Do tính chất đặc trưng của đất đai và khí hậu, tỉnh Gia Lai có thể bố trí mộttập đoàn cây trồng, vật nuôi phong phú, đa dạng, có giá trị kinh tế cao; xây dựngcác vùng sản xuất nông nghiệp chuyên canh tập trung có quy mô lớn với những sảnphẩm hàng hóa có lợi thế cạnh tranh Đặc biệt, trong 7 nhóm đất chính của tỉnh,nhóm đất đỏ ba zan có 386.000ha, tập trung chủ yếu vùng tây Trường Sơn (thànhphố Pleiku và các huyện Mang Yang, Đăk Đoa, Chư Sê, Chư Pưh, Chư Prông, Đức
Cơ, Chư Păh, Ia Grai) có thể canh tác các loại cây công nghiệp như cao su, cà phê,
hồ tiêu, điều, bông vải Các huyện, thị xã phía đông của tỉnh (An Khê, Kbang,Kông Chro, Đăk Pơ, Ayun Pa, Ia Pa, Phú Thiện, Krông Pa), do chịu ảnh hưởng khíhậu của vùng đồng bằng giáp ranh (Bình Định, Phú Yên) nên thích hợp cho các loạicây trồng ngắn ngày và là vùng nguyên liệu mía chính cung cấp cho hai nhà máyđường An Khê và Ayun Pa với công suất 4.000 tấn mía cây/năm Riêng huyện Đăk
Pơ và thị xã An Khê còn là vựa rau, hàng ngày cung cấp trên 100 tấn rau các loạicho các tỉnh thuộc khu vực miền Trung và Tây Nguyên Các huyện phía đông namcủa tỉnh như Phú Thiện, Ia Pa và thị xã Ayun Pa, với lợi thế có hồ thuỷ lợi Ayun Hạ,
là một trong nhữngNhap chon de phong lon hinh anh! vựa lúa của cả khu vực TâyNguyên Với diện tích 1.112.452,8 ha đất lâm nghiệp, trong đó, có 773.447,7 ha đấtcho rừng sản xuất (chiếm 69,5% diện tích đất lâm nghiệp) nên tỉnh Gia Lai có tiềmnăng lớn phát triển lâm nghiệp Hàng năm, các sản phẩm gỗ khai thác từ rừng (kể
cả rừng tự nhiên và rừng trồng) làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến gỗ, bộtgiấy với quy mô lớn và chất lượng cao Gia Lai còn có quỹ đất lớn để phát triểnrừng trồng, rừng nguyên liệu giấy
Trang 34Công nghiệp
Trên cơ sở nguồn tài nguyên nông lâm nghiệp và khoáng sản, mở ra triểnvọng phát triển các ngành công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng và chế biến nônglâm sản với quy mô vừa và lớn
Trong sản xuất vật liệu xây dựng, trước hết với nguồn đá vôi tại chỗ có thểphát triển sản xuất xi măng phục vụ cho một phần nhu cầu các tỉnh phía Bắc TâyNguyên và các tỉnh Đông Bắc Campuchia Hiện có hai nhà máy sản xuất xi măngvới công suất 14 vạn tấn/năm, đến nay đã phát huy vượt công suất Với nguồn đágranit sẵn có, phong phú về màu sắc có thể chế biến ra các sản phẩm phục vụ nhucầu trong tỉnh và xuất khẩu
Trong chế biến nông lâm sản, với trữ lượng gỗ lớn trong tỉnh và khả năngnhập khẩu gỗ từ các nước Đông Nam Á đảm bảo ổn định nguyên liệu cho sản xuấtchế biến các mặt hàng gỗ lâu dài, chế biến song mây, sản xuất bột giấy Từ mủ cao
su có thể chế biến các sản phẩm cao su dân dụng và công nghiệp chất lượng cao;Chế biến cà phê xuất khẩu, chế biến đường, chế biến dầu thực vật, chế biến sắn, chếbiến hoa quả và súc sản đóng hộp Ngoài ra còn có thể phát triển các ngành côngnghiệp khai khoáng khi đã xác định được địa bàn và trữ lượng cho phép
Các khu kinh tế, khu công nghiệp trên địa bàn
- Khu công nghiệp Trà Đa với diện tích 124,5 ha, có 30 dự án đầu tư, lấpđầy trên 100% diện tích với tổng số vốn đăng ký 818 tỷ đồng Đến nay có 21 nhàmáy đã đi vào hoạt động
Tỉnh đang quy hoạch khu công nghiệp Tây Pleiku với diện tích 284 ha (tínhđến năm 2015 và mở rộng gần 400 ha tính đến năm 2020)
Ngoài ra, trên mỗi địa bàn huyện, thị xã, thành phố của tỉnh cũng đang quyhoạch xây dựng ít nhất một cụm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp có vị trí, điềukiện thuận lợi nhiều mặt cho các nhà đầu tư triển khai thực hiện dự án
Trang 35 Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Lệ Thanh với diện tích 110 ha và mở rộngđến 210 ha (tính đến 2020), hiện đã có 3 doanh nghiệp và 20 hộ kinh doanh Đếnnay cũng đang được tiếp tục đầu tư xây dựng để hoàn thiện cơ sở hạ tầng.
Du lịch - Dịch vụ
Gia Lai có nhiều hồ, ghềnh thác, đèo và những cánh rừng nguyên sinh tạonên những cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ thơ mộng, mang đậm nét hoang sơnguyên thủy của núi rừng Tây Nguyên Đó là rừng nhiệt đới Kon Ka Kinh và KonChư Răng nơi có nhiều động vật quí hiếm; thác Xung Khoeng ở huyện Chư Prông;thác Phú Cường thơ mộng ở huyện Chư Sê Nhiều danh thắng khác như suối Đá,bến Mộng trên sông Pa ở Ayun Pa, Biển Hồ (hồ Tơ Nưng) trên núi mênh mông vàphẳng lặng, được ví như là đôi mắt của thành phố Pleiku
Bên cạnh sự hấp dẫn của thiên nhiên hùng vĩ, ở Gia Lai còn có nền văn hóalâu đời đầm đà bản sắc núi rừng của đồng bào các dân tộc, chủ yếu là Jrai vàBahnar thể hiện qua kiến trúc nhà rông, nhà sàn, nhà mồ, qua lễ hội truyền thống,qua y phục và nhạc cụ
Các lễ hội đặc sắc ở Gia Lai: lễ Pơ Thi (Bỏ Mả), lễ hội đâm trâu, trangphục ngày hội được trang trí hoa văn nhiều màu sắc thần bí, các điệu múa xoang,múa dân gian trên nền âm thanh vang vọng của các loại nhạc cụ riêng của từng dântộc như cồng chiêng, tù và, đàn Trưng, đàn đá Đến Gia Lai du khách còn đượcxem những khu nhà mồ dân tộc với những bức tượng đủ loại và những nghi lễ theotín ngưỡng đa thần còn đậm nét nguyên thủy
Thêm vào đó, Gia Lai có bề dày lịch sử và truyền thống cách mạng hào hùngđược thể hiện qua các di tích lịch sử văn hóa như khu Tây Sơn thượng đạo, di tíchcăn cứ địa của anh hùng áo vải Tây Sơn Nguyễn Huệ; làng kháng chiến Stơr quêhương của anh hùng Núp, nhà lao Pleiku Nhiều địa danh chiến trường xưa của nhưPleime, Cheo Reo, Ia Răng, Đăk Pơ, Ka Nak đã đi vào lịch sử
1.4.2.2 Đặc điểm xã hội
Các đơn vị hành chính
Trang 36Gia Lai có 17 đơn vị hành chính, bao gồm: Thành phố Plieku, Thị xã AnKhê, Thị xã Ayun Pa và 14 huyện Thành phố Plieku là trung tâm kinh tế, chính trị,văn hóa và là trung tâm thương mại của tỉnh, nơi hội tụ của 2 Quốc lộ chiến lượccủa vùng Tây Nguyên là Quốc lộ 14 theo hương Bắc Nam và Quốc lộ 19 theohướng Đông Tây; là điều kiện thuận lợi để giao lưu phát triển kinh tế - xã hội vớivùng Duyên hải Nam Trung bộ, cả nước và Trung tâm khu vực tam giác phát triểnViệt Nam – Lào – Campuchia.
Dân số và lao động
Dân số trung bình năm 2009 của tỉnh là 1.227.400 người, trong đó đồng bàocác dân tộc thiểu số chiếm 44,46% Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 1,68%năm
Mật độ dân cư phân bố không đều, tập trung chủ yếu ở các thành phố, thị xã
và các trục đường giao thông như thành phố Plieku là 758 người/km2 , thị xã AnKhê 330 người/km2 Còn các vùng sâu, vùng xa dân cư thưa thớt, mật độ thấp như:huyện Kông Chro 27 người/ km2, huyện Krông Pa 40 người/ km2
Nguồn lao động có 711.680 người, trong đó số người trong độ tuổi lao động
là 653.140 người chiếm 92% tổng nguồn lao động là điều kiện thuận lợi để pháttriển kinh tế - xã hội của tỉnh
Giáo dục và Đào tạo:
Sự nghiệp Giáo dục – đào tạo được các cấp, các ngành và toàn xã hội quantâm; tỷ lệ xã đạt phổ cập trung học cơ sở là 92,8%; toàn tỉnh đầu năm học 2009-
2010 có 340.400 học sinh; có 723 trường học, 230 trường tiểu học, 230 trườngtrung học cơ sở, 39 trường trung học phổ thông và 01 trường tiểu học – trung học
cơ sở - trung học phổ thông Nguyễn Văn Linh mới đi vào hoạt động Ngoài ra toàntỉnh có 5 trường trung cấp , cao đẳng chuyên nghiệp và phân hiệu Đại học NôngLâm của thành phố Hồ Chí Minh, đến nay đã có 6 ngành đào tạo với khả năng đàotạo hàng năm 500-600 sinh viên
Y tế
Trang 37Công tác chăm sóc bảo vệ sức khỏe cho nhân dân các dân tộc trong tỉnhkhông ngừng được củng cố và phát triển, từng bước khắc phục tình trạng xuống cấp
về cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ y tế được tăng cường về số lượng và đào tạo bồidưỡng về chuyên môn nghiệp vụ; hiện nay đã có 5 bác sĩ/1 vạn dân; 48,2% trạm y
tế xã có bác sĩ; các chương trình y tế quốc gia được triển khai có hiệu quả nên dịchbệnh giảm nhiều Thực hiện chủ trương xã hội hóa, công ty Cổ phần Hoàng AnhGia Lai đang xây dựng bệnh viện chất lượng cao với quy mô 200 giường và khánhthành vào năm 2010
Văn hóa – Thể dục thể thao
Công tác xây dựng đời sống văn hóa hướng về cơ sở được đẩy mạnh Nhiềuphong trào văn hóa, văn nghệ, các cuộc thi liên hoan, hội diễn văn nghệ được tổchức Nhiều sự kiện văn hóa tiêu biểu được tổ chức như: Đại hội đoàn kết các dântộc Tây Nguyên, lễ đón bằng của UNESCO công nhận “Không gian văn hóa cồngchiêng Tây Nguyên” là “ Kiệt tác truyền khẩu và di sản văn hóa phi vật thể củanhân loại” và đã tổ chức thành công Festival cồng chiêng quốc tế lần thứ Nhất tạitỉnh Gia Lai
1.5 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam
1.5.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Dự án Canh tác Cà phê Thích ứng với tình hình biến đổi khí hậu chú trọngđến ảnh hưởng của Biến đổi khí hậu trong ngành cà phê Việt nam (Tổ chức UTZCertified và DE Foundation cùng hợp tác thực hiện dự án nhằm cải thiện hệ thốngsản xuất cà phê trong tình hình biến đổi khí hậu) [29]
Theo René Coste thì dường như cây cà phê không có những yêu cầu thậtxác định đối với bản chất các loại đất Cà phê có thể trồng trên đất sét pha cát cónguồn gốc đá hoa cương của vùng hạ xứ Côte d’Ivoire và Cameroon, trên đất cónguồn gốc núi lửa (đôlerit, tro, túp, basalt) hoặc cả trên đất bồi như ở bờ biển phíaĐông Madagaxca
Trang 38Theo W Krishnamurthy Rao, P.K Ramaiah đất trồng cà phê Ấn Độ gồmđất phát triển trên đá diệp thạch, gneiss, granit và một số loại đất khác có thànhphần cơ giới từ sét pha đến sét nặng.
Kết cấu đất và độ sâu của đất có tầm quan trọng rất lớn vì cây cà phê cónăng lực phát triển bộ rễ rất mạnh Ở Brazil, tại những vùng đất có độ màu mỡ dướitrung bình, nhưng có lý tính đặc biệt, cây cà phê đã có bộ rễ phát triển mạnh Ởnhững vùng đất chặt, bí hoặc nông, rễ cọc bị ngắn, các rễ khác chỉ lan rộng ở tầngđất mặt và không sâu quá 30 cm
1.5.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam, theo Đoàn Triệu Nhạn và cộng tác viên (1999) thì cây cà phê cóthể trồng trên các loại đất có sản phẩm phong hóa của đá gneiss, granit, phiến sét,
đá vôi, basalt Điểm cốt yếu của những loại đất này là phải có tầng đất sâu, kết cấutốt, tơi xốp, thoáng và đủ ẩm
Cà phê Việt Nam được trồng chủ yếu trên loại đất phát triển trên đá mẹbasalt (khoảng 80% diện tích) Theo Vũ Cao Thái đây là loại đất "thiên đường" củacây cà phê và một số cây công nghiệp dài ngày khác Số diện tích còn lại đượctrồng trên các loại đất phát triển trên đá phiến, gneiss và granite
Theo Nguyễn Tri Chiêm cây cà phê sinh trưởng tốt, cho năng suất cao khihàm lượng lân dễ tiêu trong đất lớn hơn 6mg/100g đất Nguyễn Tử Siêm, LươngĐức Loan thì cho rằng ngưỡng thích hợp về lân dễ tiêu đối với cà phê là 8,00-10,00mg P2O5 /100 g đất
Phạm Thị Thuỳ Vân (2011), có bài viết với chủ đề “Gia Lai ứng phó BĐKH”(Trên tạp chí môi trường số 6); dựa trên kịch bản BĐKH nước biển dâng cho ViệtNam, khu vực Tây Nguyên tác giả đã đưa ra những nhận xét, đánh giá sát thực vớitình hình và diễn biến khí hậu tỉnh Gia Lai Đối với tỉnh Gia Lai trong 20 năm qua(1990 – 2010) nhiệt độ năm tại các huyện, thị xã đều tăng trung bình khoảng0,0150C/năm Tuy nhiên nhiệt độ tăng hàng năm không cao nhưng cũng ảnh hưởnglớn đến sức khỏe, đời sống, sinh hoạt và sản xuất của con người, làm biến đổi cơcấu cây trồng, vật nuôi, hệ sinh thái sông suối, hệ sinh thái rừng
Trang 39Năm 2012, sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Gia Lai đã tiến hành xây dựng kếhoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu của tỉnh Gia Lai giai đoạn 2011 –
2020 và tầm nhìn 2030 Đây là hoạt động trong Chương trình Mục tiêu quốc giaứng phó với BĐKH nhằm ảnh hưởng đến khí hậu tỉnh Gia Lai
Năm 2014, sở Khoa học Công nghệ tỉnh Gia Lai chủ trì đề tài “Nghiêm cứuứng phó với biến đổi khí hậu cho ngành nông nghiệp tỉnh Gia Lai đến năm 2020 vàtầm nhìn 2030” Mục tiêu của đề tài nhằm đánh giá hiện trạng sản xuất nông nghiệptrên địa bàn trong 30 năm tới đây Qua đó, đánh giá những tác động của BĐKH đến
sự phát triển nông nghiệp, đưa ra những dự báo ảnh hưởng đến năm 2020 và 2030
Trang 40Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Nội dung nghiên cứu
1.Ảnh hưởng của BĐKH đến các hoạt động sản xuất cà phê tại tỉnh Gia Lai;
2.Điều tra, khảo sát thông tin hoạt động sản xuất, năng suất cà phê trên địa bànnghiên cứu:
- Đặc điểm của các hộ điều tra;
- Phát phiếu điều tra
3.Điều tra, đánh giá các yếu tố kỹ thuật ảnh hưởng đến năng suất cà phê;
4.Điều tra, đánh giá các tác động của biến đổi khí hậu đến hoạt động sản xuất càphê và nhận thức của cộng đồng tại tỉnh Gia Lai:
- Những tác động của yếu tố khí hậu ảnh hưởng đến năng suất cà phê;
- So sánh kịch bản của biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất càphê với thực trạng hiện nay;
- Dự báo tác động của biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất càphê tới tầm nhìn 2020, 2030
5.Đề xuất các nhóm giải pháp để thích ứng với biến đổi khí hậu
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp điều tra thu thập số liệu
Nghiên cứu sử dụng hai nguồn dữ liệu chính là sữ liệu sơ cấp và dữ liệu thứcấp Việc thu thập dữ liệu sơ cấp được thực hiện trong mùa mưa và mùa khô, dữliệu thứ cấp được thu thập từ các tài liệu liên quan đến việc nghiên cứu từ nhiềunguồn khác nhau