Xếp hạng và giải thưởng dành cho các DN là một điều cần thiết và là nhu cầu thực tế của xã hội. Gần đây, khi quá trình cổ phần hoá diễn ra mạnh mẽ, đồng thời thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam tăng trưởng mạnh, một nhu cầu mới đang đặt ra với các nhà đầu tư là cần một thước đo cho DN để họ có thể tham khảo trước khi đầu tư. Nhưng để có được một tổ chức xếp hạng tín nhiệm các DN Việt Nam thật sự khoa học, khách quan, độc lập và uy tín nhất thì cũng là vấn đề khó khăn. Trong thời kỳ mở cửa và hội nhập, nền kinh tế Việt Nam có sự phát triển mạnh mẽ không ngừng. Các doanh nghiệp đang đứng trước những cơ hội và khó khăn thách thức mới. Tuy nhiên để có thể vượt qua các khó khăn và thách thức để mà nắm lấy được các cơ hội, đòi hỏi các doanh nghiệp phải tìm ra cho mình một hướng đi đúng, qua đó mới có thể đứng vững và phát triển trong nền kinh tế thị trường phát triển như ngày nay Tuy nhiên đẻ có thể vượt qua các khó khăn và thách thức để mà nắm lấy được các cơ hội đòi hỏi các doanh nghiệp phải tìm ra cho mình một hướng đi đúng, qua đó mới có thể đứng vững và phát triển trong nền kinh tế thị trường như ngày nay. Trong đó, điều kiện tiền đề các doanh nghiệp có thể thực hiện được các hoạt động sản xuất kinh doanh là phải có một lượng vốn nhất định. Nếu không có vốn thì không thể nói đến bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nào. Hơn nữa, mục đích cảu sản xuất kinh doanh là thu được lợi nhuận cao. Do vậy, nhiệm vụ đặt ra cho các doanh nghiệp là phải tổ chức huy động và sử dụng vốn sao cho hiệu quả nhất trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc quản lý tài chính và chính sách, chế độ của nhà nước. Từ đó việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh là một trong những nhiệm vụ hang đầu của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Tổ chức huy động vốn và sử dụng vốn trong sản xuất kinh doanh có ý nghĩa quan trọng, là điều kiện tiền đề để doanh nghiệp khẳng định vị thế trên thị trường. Chính vì thế nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh là vấn đề bức xúc đặt ra đối với các doanh nghiệp nói chung. Từ những hiểu biết và những kiến thức đã học ở trường đồng thời qua thời gian đi sâu tìm hiểu tình hình thực tế tại công ty, em đã nghiên cứu về “HOÀN THIỆN PHƯƠNG PHÁP XẾP HẠNG TÍN NHIỆM CỦA CÁC TỔ CHỨC KINH TẾ TRONG QUAN HỆ TÍN DỤNG TẠI CONG TY VIETNAMCREDIT”
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Xếp hạng và giải thưởng dành cho các DN là một điều cần thiết và lànhu cầu thực tế của xã hội Gần đây, khi quá trình cổ phần hoá diễn ramạnh mẽ, đồng thời thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam tăng trưởngmạnh, một nhu cầu mới đang đặt ra với các nhà đầu tư là cần một thước đocho DN để họ có thể tham khảo trước khi đầu tư Nhưng để có được một tổchức xếp hạng tín nhiệm các DN Việt Nam thật sự khoa học, khách quan,độc lập và uy tín nhất thì cũng là vấn đề khó khăn
Trong thời kỳ mở cửa và hội nhập, nền kinh tế Việt Nam có sự pháttriển mạnh mẽ không ngừng Các doanh nghiệp đang đứng trước những cơhội và khó khăn thách thức mới Tuy nhiên để có thể vượt qua các khókhăn và thách thức để mà nắm lấy được các cơ hội, đòi hỏi các doanhnghiệp phải tìm ra cho mình một hướng đi đúng, qua đó mới có thể đứngvững và phát triển trong nền kinh tế thị trường phát triển như ngày nayTuy nhiên đẻ có thể vượt qua các khó khăn và thách thức để mà nắmlấy được các cơ hội đòi hỏi các doanh nghiệp phải tìm ra cho mình mộthướng đi đúng, qua đó mới có thể đứng vững và phát triển trong nền kinh
tế thị trường như ngày nay Trong đó, điều kiện tiền đề các doanh nghiệp
có thể thực hiện được các hoạt động sản xuất kinh doanh là phải có mộtlượng vốn nhất định Nếu không có vốn thì không thể nói đến bất kỳ hoạtđộng sản xuất kinh doanh nào Hơn nữa, mục đích cảu sản xuất kinh doanh
là thu được lợi nhuận cao Do vậy, nhiệm vụ đặt ra cho các doanh nghiệp làphải tổ chức huy động và sử dụng vốn sao cho hiệu quả nhất trên cơ sở tôntrọng các nguyên tắc quản lý tài chính và chính sách, chế độ của nhà nước
Từ đó việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh là một trong nhữngnhiệm vụ hang đầu của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường
Tổ chức huy động vốn và sử dụng vốn trong sản xuất kinh doanh có ýnghĩa quan trọng, là điều kiện tiền đề để doanh nghiệp khẳng định vị thế
Trang 2trên thị trường Chính vì thế nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh làvấn đề bức xúc đặt ra đối với các doanh nghiệp nói chung Từ những hiểubiết và những kiến thức đã học ở trường đồng thời qua thời gian đi sâu tìmhiểu tình hình thực tế tại công ty, em đã nghiên cứu về “HOÀN THIỆN PHƯƠNG PHÁP XẾP HẠNG TÍN NHIỆM CỦA CÁC TỔ CHỨC KINH TẾ TRONG QUAN HỆ TÍN DỤNG TẠI CONG TY VIETNAMCREDIT”
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, báo cáo thực tế gồm các phầnsau:
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ XẾP HẠNG TÍN
NHIỆM VÀ THỰC TRẠNG VIỆT NAM CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XẾP HẠNG TÍN NHIỆM CÁC
TỔ CHƯC KINH TẾ TRONG QUAN HỆ TÍN DỤNG TẠI CÔNG TY VIETNAMCREDIT.
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ TRONG VIỆC
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỊNH MỨC TÍN NHIỆM TẠI CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
Dù đã có nhiều cố gắng nhưng do hạn chế về thời gian, kiến thức,kinh nghiệm thực tiễn, những thông tin em thu thập được mới chỉ là nhữngthông tin sơ lược nhất về công tác và cách giải quyết các vấn đề thực tiễnđặt ra vẫn chưa hoàn toàn thấu đáo
Trong quá trình thực tập tại công ty, em đã nhận được sự hướng dẫnnhiệt tình, chu đáo của cô Cao Ý Nhi và của các cán bộ công nhân viêncông ty Vietnamcredit
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 3
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ XẾP HẠNG TÍN NHIỆM VÀ THỰC TRẠNG VIỆT NAM
1.1.Một số vấn đề lý luận chung về xếp hạng tín nhiệm
1.1.1.Rủi ro trong quan hệ tín dụng
a Khái niệm rủi ro trong kinh doanh
Trong hoạt động của con người, luôn có một yếu tố bất định do không
ai có thể biết được chính xác về những điều sẽ xảy ra trong tương lai.Trong hoạt động của con người luôn tồn tại yếu tố ngẫu nhiên bất định.Trong hoạt động kinh tế yếu tố này càng thể hiện rõ rệt bởi vì không mộtnhà DN nào dám khảng định diễn biến kinh tế thị trường diễn ra xungquanh mình Việc ra quyết định trong môi trường như vậy rất khó khăn,thông thường thì người ta sẽ bỏ qua tính chất bất định trong tương lai vàgiả định là mọi việc sẽ diễn ra như đã hoạch định và sãn sàng thích ứngvới những biến đổi có thể có trong nền kinh tế thị trường rủi ro luôn luônxảy ra Dù muốn hay không rủi ro vẫn là thách đố của mmọi hoạt động củacon người Như vậy rủi ro đứng trên góc độ làm thế nào để giảm thiểu cáctổn thất trong hoạt động kinh doanh nói chung thì rủi ro được coi là bất cứkết qủa nào dãn tới thiệt hại về thu nhập hoặc mất vốn trong kinhdoanh.Định lượng rủi ro trong kinh doanh: khi xét đến rủi ro để định lượng
nó, các nhà nghiên cứu đều dùng phương pháp toán học như xác xuất để đolường và không áp dụng các phương pháp cần thiết đến phương pháp dựđoán, phòng ngừa, thì rủi ro xảy ra sẽ gây thiệt hại lớn cho nhà kinh doanh,cho nên việc xem xét các hoạt động của tổ chức kinh tế trên nhiều mặt nhưmôi trường vĩ mô mà tổ chức kinh tế đang hoạt động, các yếu tố bên trong
mà tổ chức đang đối diện cùng với việc so sánh với các điều kiện tương
tự của tổ chức káhc trong cùng một nghành để dự đoán thành công và rủi ro
là cần thiết Như vậy trong kinh doanh cần thiết phải coi việc dự đoán rủi
Trang 4ro là điều kiện không thể thiếu để đưa ra một tổ chức kinh tế đến thànhcông Mặc dù điều này chỉ đạt ở mức tương đối nhưng điều quan trọng hơn
là giúp cho các nhà kinh doanh, nhà quản trị và nhà đầu tư đưa ra các quyếtđịnh phù hợp với yêu cầu đầu tư và quản trị
b Rủi ro tín dụng- rủi ro chính yếu trong các quan hệ tín dụng của các
tổ chức kinh tế
Rủi ro tín dụng gắn với hoạt động quan trọng nhất có qui mô lớn nhấtcủa ngân hàng thương mại- hoạt động tín dụng Khi thực hiện một hoạtđộng tài trợ cụ thể, ngân hang cố gắng phân tích các yếu tố của người vaysao cho độ an toàn là cao nhất Tuy nhiên không một nhà kinh doanh tài banào có thể dự đoán chính xác những bất thường có thể xảy ra Khả nănghoàn trả các khoản vay có thể bị thay đổi do nhiều nguyên nhân Hơn nữanhiều cán bộ tín dụng không có khả năng phân tích tín dụng thích đáng.Nhiều quan điểm tín dụng nhất trí rằng rủi ro tín dụng là bạn đường củakinh doanh có thể đề phòng hạn chế chứ không thể loại trừ Do vậy rủi ro
dự kiến luôn được xác định trước trong chiến lược hoạt động chung Có rấtnhiều nguyên nhân và dấu hiệu rủi ro tín dụng Có những nguyên nhânthuộc về bất khả kháng tác động tới người cho vay Những thay đổi nàythường xuyên xảy ra, tác động lien tục tới người vay Trong trường hợpkhác người vay có thể bị tổn thất song vẫn có khả năng trả nợ cho ngânhang đúng hạn, đủ gốc và lãi Tuy nhiên khi tác động của những nguyênnhân bất khả kháng đối với người vay là nặng nề, khả năng trả nợ của họ bịsuy giảm Hơn nữa có những nguyên nhân thuộc về chủ quan người vaynhư trình độ yếu kém của người vay trong dự đoán các vấn đề kinh doanh,yếu kém trong quản lý, chủ định lừa đảo cán bộ ngân hang, là nguyên nhângây rủi ro tín dụng Rất nhiều người vay sãn sang mạo hiểm với kỳ vọngthu được lợi nhuận cao Ngoài ra thì có nhiều nguyên nhân thuộc về ngânhang như chất lượng cán bộ kém, không đủ trình độ đánh giá khách hanghoặc đánh giá không tốt, cố tình làm sai… là một trong những nguyên nhân
Trang 5của rủi ro tín dụng để cho vay tốt họ phải am hiểu khách hang, lĩnh vực màkhách hang có khả năng có thể dự báo các vấn đề lien quan đến người vay Như vậy họ phải được đào tạo kĩ lưỡng, lien tục và toàn diện.
dư nợ Nợ khó đòi và tỷ lệ nợ khó đòi trên tổng dư nợ Nợ có vấn đề, tính
đa dạng hoá của tài sản và tình hình tài chính và phương án của người vay,đảm bảo tiền vay, quan hệ tín dụng giữa ngân hang và khách hang, môitrường hoạt động của người vay
Về nợ quá hạn: Nợ quá hạn là khoản nợ mà khách hang không trảđược khi đã đến hạn thoả thuận ghi trên hợp đồng tín dụng Khi một món
nợ không trả được vào kỳ hạn nợ, toàn bộ nợ gốc còn lại của hợp đồng sẽđược chuyển thành nợ quá hạn Nợ khó đòi và tỷ lệ nợ khó đòi là khoản nợquá hạn và kèm theo một số tiêu chí khác như quá một kì gia hạn nợ, hoặckhông có tài sản đảm bảo, hoặc tài sản không bán được, Các chỉ tiêu này
có quan hệ chặt chẽ lẫn nhau và phản ánh các mức rủi ro tín dụng khácnhau Đối với ngân hang, việc khách hang không trả đúng hạn có lien quanđến thanh toán và rủi ro thanh khoản : chi phí gia tăng để tìm nguồn mới đểchi trả tiền gửi và cho vay đúng hợp đồng Bên cạnh đó còn có các chỉ tiêukhác như: điểm của khách hang thông qua phân tích tài chính, năng lực sảnxuất, hiệu quả dự án… Các khoản cho vay có vấn đề: mặc dù chưa đến hạn
và chưa được coi là nợ quá hạn, song trong quá trình theo dõi, nhân viênngân hang nhận thấy nhiều khoản nợ quá hạn
Trang 61.1.2 Xếp hạng tín nhiệm- một công cụ để hạn chế rủi ro
1.1.2.1 Sự ra đời và phát triển của xếp hạng tín nhiệm
Việc xếp hạng tín nhiệm có rất lâu trong các giao dịch thương mạitrên thế giới Lịch sử ghi lại vào năm 1841 một thương gia buôn lụa người
Mỹ tên là Tappan đã tập hợp được nhiều lá thư giới thiệu từ một một sốngười buôn bán có tăm tiếng, ông đã thống kê và ghi lại khá nhiều mức độtín nhiệm của các đối tác bạn hàng và quyết định đổi sang nghề cung cấpthông tin thương mại, ông đã thành lập công ty Mercantile A Gllucy.Cũng vào năm 1849, một công ty cũng có chức năng tương tự được thànhlập, đó là công ty Bradstreet Công ty này xuất bản một cuốn sách được coi
là ấn phẩm đầu tiên trên thế giới về việc xếp hạng tín nhiệm Công ty R&GDun và Bradstreet đã sát nhập vào nhau năm 1938 để hình thành nên công
ty Dun and Bradstreet kỷ 20
Vào những năm đầu thế kỷ 20 nước Mỹ đang bước vào thời kỳ của sựtăng trưởng , cùng với sự tăng trưởng đó, sự phát triển về cơ sở hạ tầngcũng tăng theo dẫn đến nhu cầu về vấn đề tài trợ vốn rất lớn Thị trườngvốn ở Mỹ đã phát triển mainh trong thời gian này- với sự xuất hiện củanhiều loại cổ phiếu, trái phiếuđược giao dịch trên thị trường chứng khoán.tuy nhiên, các nhà đầu tư không có một cơ sở nào để đánh giá rủi ro đầu tưcũng như không có một căn cứ nào để so sánh mức độ rủi ro của các loạichứng khóan Do vậy vào năm 1909 Jonh Moody một nhà kinh tế ngườiMỹ- đã nghiên cứu và cho ra đời quyển” cẩm nang chứng khoán đườngsắt” trong đó ông công bố thứ hạng tín nhiệm cho 1500 loại trái phiếu của
250 công ty theo hệ thống tín nhiệm cho 1500 loại trái phiếu lần lượt từ ađến c xếp hạng tín nhiệm ( credit ratíng) là một thuật ngữ bắt nguồn từ đó Tuy nhiên, người được coi là đầu tiên tổ chức kinh doanh thông tinbằng các ấn phẩm chuyên nghiệp về xếp hạng tín nhiệm phục vụ cho nhàđầu tư đó là Henry Varnum Poor Ông là tổng biên tập của tờ báo chuyênnghành “ Nhật báo hoả xa Mỹ” đã tập hợp và công bố hệ số tín nhiệm về
Trang 7nghành đường sắt Sau đó, Ông cùng con trai phát hành các ấn phẩm xuấtbản hàng năm 1938.
Ban đầu hệ thống xếp hạng của Môdy chỉ áp dụng cho cac chiứngkhoán đường sắt, là một trong nh]ngx nhà phát hiành chớng khoán tích c ựclức bây giờ các thứ hạng và hệ thống xếp hạng của ông đã nhanh chóngđược nhà đầu tư ưa chuộng, do vậy ông đã xếp hạng tín nhiệm vào các tậpđoàn công nghiệp, các công ty tiện ích công cộng Năm 1928, ông bắt đầu
áp dụng các thứ hạng tín nhiệm đối với các trái phiếu chính phủ nước ngoài
đã phát hành nợ tại thị trường vốn Mỹ Trong 2 thập kỷ đầu, kể từ khi rađời , hoạt động xếp hạng tín nhiệm phát triển rất chậm và ít được để ý Giaiđoạn 1929-1933 đã nỏ ra một cuộc khủng hoảng lns, hàng loạt các nhà pháthành bị phá sản, vỡ nợ, ước chừng có khoảng 1/3 khối lượng chứng khaón
đẫ kết thúc trong tình trạng các khoản lãi và nợ gốc chưa được thanh toán.Chính thời kỳ này, chính phủ Mỹ đã ban hành một số quy định về đầu tưchứng khoán, trong đó có việc cầm các định chế đầu tư như quỹ hưu trí,quỹ bảo hiểm, nh dự trữ mua trái phiếu có độ tin cậy thấp dưới mức antoàn trong bảng xếp hạng tín nhiệm ucngx sau cn khủng hoảng đó, cá nhàđầu tư đã nhận thức được tầm quan trọng của rủi ro tín dụng và sự cần thiếtphải sử dụng cá thứ hạng được xếp hạng tín nhiệm như là bộ phận củatiwns trình đầu tư
Những quy định trên đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển chohoạt động xếp hạng tín nhiệm và công tu xếp hạng tín nhiệm Đáp ứng nhucầu của nhà đầu tư Standảd and Pổ một trong những tổ chức xếp hạng tínnhiệm có uy tín hiện nay chuyên xếp hạng trái phiếu các công ty và tráiphiếu địa phương đã ra đời
Trong những thập kỷ tiếp theo, xếp hạng tín nhiệm cũng chỉ phổ biến
ở Mỹ Mãi tới đầu thập kỷ 20, xếp hạng tín nhiệm mới được mở rộng vàphát triển ở nhiều nước, kể cả các thị trường mới nổi như Châu Á và Châu
Mỹ La tinh Năm 1972 công ty CBRC Canadian Bond Rating Service được
Trang 8thành lập và sau đó là Japanese Bon Rating Institude vào năm 1975, kể từ
đó cho đến nay, hàng loạt các công ty xếp hạng tín nhiệm ra đời và pháttriển Các tổ chức xếp hạng tín nhiệm ở Mỹ đã xếp hạng cho hàng loạt cáccông cụ nợ được giao dịch trên thị trường công cộng cũng như tư nhân.Ngày nay tiến trình toàn cầu hoá TTCK, các công ty xếp hạng tínnhiệm của Mỹ đã hoạt động ở các thị trường tài chính lớn trên thế giớicũng bành trướng sang thị trường chứng khoán mới nổi Vi dụ; vào năm
1995, công ty Standar and Poors đã xếp hạng khoảng 30.000 trái phiếu vàcác cổ phiếu ưu đãi được phát hành bởi hơn 4.000 công ty trên khắp thếgiới, ngoài ra nó còn xếp hạng khoảng 15.000 trái phiếu chính quyền địaphương, trái phiếu chính phủ và các tổ chức nước ngoài, tổ chức xuyênquốc gia
Hiện nay, hàng loạt các công ty xếp hạng tín nhiệm đã ra đời và pháttriển như IBCA Ltd của anh, Nippon Investors Service( Nhật), Nordiskratíng( thuỷ điển) Đồng thời, xếp hạng tín nhiệm hiện nay không chỉ ápdụng cho các trái phiếu công ty, trái phiếu chính phủ mà còn được áp dụng
cả trong hoạt động cho vay, tài trợ và đầu tư cổ phiếu
1.1.2.2 Khái niệm về xếp hạng tín nhiệm
Mặc dù việc xếp hạng tín nhiệm hiện nay rất phổ biến trên thị trườngvốn ở các quốc gia trên thế giới, tuy vậy khái niệm xếp hạng tín nhiệm lạiđược nhìn nhận dước các góc độ khác nhau:
- Theo Jonh A, viết trong cuốn “ phân tích rủi ro trên các thị trườngđang chuyển đổi thì xếp hạng tín nhiệm là : Sự đánh giá về khả năng củamột nhà phát hành có thể thanh toán đúng hạn cả lãi lẫn gốc đối với mộtloại chứng khoán nợ trong suốt thời gian tồn tại của nó” khái niệm này chothấy xếp hạng tín nhiệm là phải gắn liền với các nhà phát hành phaỉ gắnliền với các khoản vay nợ của nhà phát hành đó
- Theo định nghĩa của công ty chứng khoán Merill Lynch, xếp hạngtín nhiệm là: “ đánh giá hiện thời về chất lượng tín dụng được xem xét
Trang 9trong hoàn cảnh tương lai, phản ánh sự sẵn sàng và khả năng phát hành cóthể thanh toán gốc và lãi đúng hạn.
- Theo công ty Môdy’s thì” Xếp hạng tín nhiệm là ý kiến về khả năng
và sự sẵn sàng của nhà phát hành trong việc thanh toán đúng hạn cho mộtkhoản nợ nhất định trong suốt thơi gian tồn tại của khoản nợ “
Như vậy đặc trưng của khái niệm này là xếp hạng tín nhiệm chỉ có giátrị trong một khoản thời gian nhất định
Từ những định nghĩa trên ta có thể khái quat về xếp hạng tín nhiệm và
có thể được định nghĩa như sau: Xếp hạng tín nhiệm là sự đánh giá mộtcách khách quan về khả năng và mức độ sẵn sàng trả nợ gốc và lãi hiệnthời của một tổ chức kinh tế đi vay đối với mỗi nghĩa vụ tài chính nhất địnhtrong suốt thời hạn hiệu lực của nghĩa vụ tài chính đó, điều này có nghĩa làcác tổ chức xếp hạng tín nhiệm độc lập sẽ đưa ra cá ý kiến về tổng khảnăng tài chính hiện tại của các tổ chức phát hành nợ ( giá trị tín dụng) cóđáp ứng được nghĩa vụ tài chính ở hiện tại và tương lai hay không
Về mặt nào đó, xếp hạng tín nhiệm được xem là tư vấn đầu tư chứngkhoán, song đây không phải là lời khuyên nên mua hay nên bán bất kỳ mộtloại chứng khoán nào vì các tổ chức, công ty xếp hạng tín nhiệm chỉ đưa ra
và đúng hạn, đồng thời đánh giá chất lượng tín nhiệm đối với các nhà pháthành nợ đó mà thôi
1.1.2.3 Tầm quan trọng của xếp hạng tín nhiệm
Xếp hạng tín nhiệm có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của thịtrường vốn hiện nay, vì nó thực sự cần thiết cho rất nhiều đối tượng: ngânhàng, nhà đầu tư, nhà phát hành hay nhà quản lý
Hiện nay, xếp hạng tín nhiệm thường áp dụng với công cụ tài chínhcủa thị thường tiền tệ và thị trường vốn và bản thân các tổ chức kinh tế pháthành nợ Tổ chức xếp hạng tín nhiệm còn thực hiện một số dịch vụ kháccũng phục vụ cho công việc tài chính của họ là xếp hạng tín nhiệm
Trang 10Việc công bố kết quả xếp hạng tín nhiệm được thực hiện theo nguyêntắc chung, theo quy ước quốc tế và thể hiện bằng một bảng xếp hạng trên
đó thể hiện một thứ tự giảm dần và có sự phân biệt rất rõ ràng đối với nợngắn hạn và dài hạn
Để có thể công bố được hạn tín nhiệm của một công cụ nợ hay của tổchức phát hành nợ, thường công ty xếp hạng tín nhiệm phải thực hiện mộtquy trình gồm 6 bước sau:
Hướng dẫn khi phát hành
Thu thập thông tin
Trình báo cáo dự thảo mức xếp hạng sơ bộ trước uỷ ban đánh giáxếp hạng
Công bố thứ hạng được xếp hạng
Giám sát sau xếp hạng
Về phương pháp xếp hạng tín nhiệm, qua quá trình tìm hiểu em nhậnthấy rằng theo thông lệ, có khá nhiều phương pháp được sử dụng Chúngđược chia thành 3 nhóm: Mô hình kinh tế lượng là phương pháp dựa trên lýthuyết kinh tế lượng để lượng hoá quá trình kinh tế - xã hội thông quaphương pháp thống kê Tiếp đó, Mô hình nhân tố là phương pháp phân tíchtương quan giữa các chỉ tiêu ( tương quan) với nhau và lượng hoá mốiquan hệ này và cuối cùng là Nhóm phương pháp chuyên gia: sử dụng trongtrường hợp số liệu thực nghiệm không đáp ứng được yêu cầu nghiên cứuhoặc đối tượng xếp hạng là môt dấu hiệu chất lượng không thể định lượngđược, hoặc có thể định lượng được nhưng rất tốn kém chi phí Người tacũng có thể xếp hạng tín nhiệm bằng cách kết hợp nhiều phương pháp Tuynhiên nguyên tắc chung phải tuân thủ là phải đạt được sự định chuẩn tức làxác định các yếu tố quy chiếu hay là các yếu tố làm cơ sở để so sánh vớikết quả mong muốn và có thể đánh gia tức là để đánh giá tổng hợp cần phảilượng hoá chuẩn Định lượng hoá chuẩn biểu hiện mối quan hệ giữa cáctiêu chí hoặc nhóm các tiêu chí trong chuẩn Tiếp đó là xếp loại được tức là
Trang 11tương ứng với các cách đánh giá người ta cũng có thể đặt nhiều ngưỡng cấp
độ để xếp loại các tiêu chí và kết quả công bố đạt được tính thuyết phục vớihầu hết các đối tượng có liên quan
1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến nội dung xếp hạng tín nhiệm
Nếu xét trên góc độ vĩ mô thì nguyên nhân của tổn thất hay lợi ích cóthể được chia thành các nhóm sau:
Nguyên nhân từ môi trường tự nhiên: bao gồm từ ảnh hưởng của thiênnhiên như môi trường sinh thái, bão, các vụ nổ phá huỷ hoặc hư hỏng tàisản
Nguyên nhân từ môi trường xã hội: trong các yếu tố về chính trị nhưđiều tiết bằng luật pháp của nhà nước, nền kinh tế thị trường Yếu tố vănhoá như thái độ của con người đối với bản thân mình, đối với người khác,đối với thế giới tồn tại trong xã hội, đối với toàn xã hội, tự nhiên và vũ trụNguyên nhân từ môi trường kinh tế: Có thể là nhân tố bên trong hoặcbên ngoài như khủng khoảng kinh tế hoặc do quản trị chưa tốt từ bên trong
tổ chức
Nguyên nhân từ môi trường công nghệ: công nghệ là nguồn thay đôỉnăng động nhất trong kinh doanh Sự thay đổi này mang lại những tháchthức cũng như đe doạ đối với tổ chức kinh tế Ảnh hưởng của công nghệđối với kinh doanh như vòng đời sản phẩm, xuất hiện nhiều phương phápchế biến mới, tự động hoá và tăng năng suất
Nguyên nhân từ môi trường chính trị: sự ổn định về chính trị sẽ tạo ramôi trường thuận lợi đối với hoạt động kinh doanh, một chính phủ mạnh vàsẵn sàng đáp ứng những đòi hỏi chính đáng của xã hội sẽ đem lại lòng tin
và thu hút đầu tư trong và ngoài nước
Nguyên nhân từ môi trường pháp luật: Các đạo luật các chính sáchbảo vệ cho người tiêu dùng, các tổ chức kinh tế, bảo vệ môi trường , bảo vệ
sự cạnh tranh, chống độc quyền sẽ tạo ra những phạm vi hoạt động rộng rãi
Trang 12cho các tổ chức kinh tế hoặc các chính sách pháp luật có thể làm nguy cơđối khi áp dụng những chính sách mới.
Những nguyên nhân trên có thể tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đếncác tổ chức kinh tế và tầm ảnh hưởng của chúng mang tinh quốc tế, vì thếgiới hiện nay đã chuyển hướng từ nền kinh tế với quôc gia riêng biệt đếnnền kinh tế vượt qua biên giới truyền thông của một quốc gia
Trên là những nhân tố thuộc môi trường vĩ mô Khi các tổ chức kinh
tế tiến hành hoạt động kinh doanh thì tất yếu hoạt động đó cũng phải gắngliền với rủi ro trong kinh doanh Rủi ro kinh doanh là những điều kiệnkhông chắc chắn có thể hiện huữ ở hiện tại hoặc ở một thừ điểm nào trongtrương lai có thể gây tác động tiêu cực đến khả năng hoạt động kinh doanhcủa doanh nghiệp Để có thể nhận dạng và quản lý rủi ro mà các tổ chứckinh tế có thể đối mặt ở hiện tạ và tương lai thì điều cần làm là đánh gianguyên nhân của tổn thất hay lợi ích trong quá trình kinh doanh Khi đánhgiá rủi ro kinh doanh cần phân tích các chỉ số:
Các chỉ số luân chuyển: Đưa ra những đo lường về năng lức của tổchức kinh tế trong việc đáp ứng những nghĩa vụ tài chính ngắn hạn:
- Khả năng thanh toán hiện thời
- Khả năng thanh toán nhanh
Các chỉ số về đòn bẩy: Biểu thj về rủi ro tài chính của tổ chức kinh tế,cho thấy phạm vi được tài trợ bằng các khoản nợ của tổ chức đó bao gồm:
- Nợ trên toàn bộ tài sản
- Nợ trên vốn cổ phần thường
- Khả năng thanh toán lãi vay
Các chỉ số hoạt động: phản ánh hiệu quả sử dụng các nguồn lực của tổchức kinh tế, gồm:
- Hệ số vòng quay hàng tồn kho
- Hệ số vòng quay vốn cố định
- Kỳ thu tiền binh quân
Trang 13Các tỉ số về năng lực lợi nhuận: Đưa ra những thông tin biểu thị hiệuquả chung về quản lý, cho thấy lợi nhuận, doanh thu tiêu thụ và do đầu tư,bao gồm:
- Lợi nhuận tế gộp
- Lợi nhuận biên tế hoạt động
- Doanh lợi toàn bộ vốn( ROA)
- Doannh lợi cổ phần thường( ROE)
- Lợi nhuận một cổ phần
Các chỉ số tăng trưởng: Cho thấy khả năng vị trí kinh tế của tổ chứckinh tế trong mức tăng trưởng của nền kinh tế và của nghành gồm: tỷ lệtăng trưởng về doanh thu; tỷ lệ tăng trưởng về lợi nhuận; tỷ lệ tăng trưởngtiền lãi cổ phần; chỉ số giá trên lợi nhuận cổ phần
1.2 Kinh nghiệm về xếp hạng của một số nước trên thế giới và thực trạng ở Việt Nam.
1.2.1 Tổ chức xếp hạng tín nhiệm của một số quốc gia trên thế giới
Nếu như trên thế giới, việc lựa chọn của nhà đầu tư khi định làm ănvới DN nào đó trở nên rất đơn giản, với việc tham khảo các mô hình đánhgiá và xếp hạng sẵn có, thì ở Việt Nam, đây vẫn là câu hỏi chưa được giảiđáp thấu đáo
Tại Mỹ, với S&P 500 - chỉ số đo lường 500 mã cổ phiếu có mức vốnhoá lớn nhất của Hoa Kỳ được tính toán và công bố bởi Công ty Standard
& Poors thì nhà đầu tư có thể lựa chọn được trong phạm vi hẹp đó, để đầu
tư nhanh chóng, thay vì tự khảo sát điều tra một cách không chuyên nghiệp.S&P là một chỉ số đáng tin cậy luôn được các quỹ đầu tư tin dùng S&P
500 gồm 500 công ty, trong đó 400 công ty ngành công nghiệp, 20 công tyngành giao thông vận tải, 40 công ty ngành phục vụ, 40 công ty ngành tàichính
Hoặc Fortune 500 - Danh sách xếp hạng top 500 công ty đại chúnghàng đầu của Hoa Kỳ dựa trên tổng doanh thu do tạp chí Fortune đưa ra
Trang 14Fortune 500 là danh hiệu đo lường sức mạnh của các DN dựa trên doanhthu, nên có hạn chế trong việc phản ánh thực chất của các DN cũng nhưtương quan thứ hạng Bên cạnh đó, Fortune cũng có công bố các danh sáchxếp hạng khác nhau dựa trên các chỉ tiêu cụ thể như: top 100 về doanh thu,top các công ty có tốc độ tăng trưởng doanh thu cao (top revenue growth),
DN có số nhân công cao (big employer), công ty có tốc độ tăng trưởng lợinhuận cao (high profit growth)…
Tại Nhật Bản, công ty dịch vụ tài chính thuộc uỷ ban chứng khoán;Tại Hàn Quốc, công ty giám sát tài chính (cơ quan tiền thân là Uỷ banChứng khoán Hàn Quốc); Tại Malaysia, Uỷ ban Chứng khoán Malaysia làcác cơ quan chịu trách nhiệm quản lý hoạt động của các CRV Như vậy, doxếp hạng tín nhiệm gắn liền với các khoản vay nợ, trong đó quan trọng nhất
là hoạt động phát hành trái phiếu nên các nước đều giao nhiệm vụ quản lýhoạt động của các CRV cho các cơ quan hành chính quản lý hoạt động củaTTCK Và bắt buộc phải có xếp hạng tín nhiệm: Tại Nhật Bản không bắtbuộc điều này, nhưng trên thực tế các công ty vẫn cần có xếp hạng tínnhiệm khi muốn huy động vốn từ các nhà đầu tư Còn tại Hàn Quốc vàMalaysia thì bắt buộc vấn đề này
1.2.1.1 Mô hình xếp hạng tín nhiệm ở Mỹ
Hiện nay có rất nhiều công ty xếp hạng tín nhiệm từ Mỹ trong đó có 2công ty nổi tiếng lâu đời như Standard and Poor( S&P) và Moody’s Haicông ty này cùng một số công ty nữa đã xếp hạng cho nhiều công cụ nợđược giao dịch trên thị trường tài chính Mỹ cũng như nhiều nước trên thếgiới Tập đoàn xếp hạng tín nhiệm S&P được tổ chức thành 6 ban theohướng chuyên môn hoá, phù hớp với ngành hoặc các loại nợ Mỗi ban đứngđầu là giám đốc điều hành, quản lý các ban này là hội đồng quản trị, có chủtịch và các trưởng ban sẽ chịu trách nhiệm về phong cách chỉ đạo và quản
lý Trong mỗi ban còn chia ra là các bộ phận thực hiện các công việcchuyên môn như: Bộ phận hỗ trợ quản lý, bộ phận thông tin, bộ phận
Trang 15nghiên cứu, bộ phận định mức, bộ phận hỗ trợ quản lý và bộ phân thôngtin.
Dich vụ S&P cung cấp rất đa dạng, nhưng chủ yếu bao gồm các dịch
vụ liên quan đến xếp hạng tín nhiệm và các dịch vụ thông tin tài chính, đầutư- chủ yếu thông tin về tình hình tài chính các công ty, đưa ra dự báo trênthị trường tài chính cho một hoặc một khúc thị trường Quy trình xếp hạngtín nhiệm của S &P như sau
1.2.1.2 Mô hình xếp hạng tín nhiệm tại Thái Lan
Năm 1993 cơ quan xếp hạng tín nhiệm tại Thái Lan được hình thành
có tên gọi là Tha Rating and Information sercice Đây là công ty duy nhấtduy nhất ở Thái Lan làm nhiệm vụ xếp hạng tín nhiệm, được hỗ trợ kỹthuật ban đầu của S&P Hiên nay, TRIS hoạt động dưới sự chỉ đạo của uyban hối đoái và chứng khoán quốc gia
Sản phẩm của TRIS là xếp hạng các công cụ nợ có đảm bảo và khôngđược bảo đảm như: trái phiếu, lệnh phiếu, hối phiếu và các chứng chỉ tiềngửi Ở Thái, luật quy đinh các công cụ nợ không có đẩm bảo phải xếp hạngtín nhiệm và có 2 loại xếp hạng tín nhiệm đó là xếp hạng của công ty, xếphạng được phát hành Phương pháp chủ yếu mà công ty TRIS chủ yếu sửdụng là phương pháp phân tích, so sánh và cả phương pháp chuyên gia Cụthể gồm các bước sau:
B1; Đánh giá khả năng trả nợ và tình hình phát triển của các đối tượngxếp hạng thông qua hệ thống các chỉ tiêu định lượng
Trang 16B2: Cũng như bước 1 nhưng dùng những chỉ tiêu phân tích hướng đếntương lai.
B3: Lựa chọn những chỉ tiêu quan trọng, có khả năng phát triển trongtương lai của nhà phát hành, chủ yếu dùng các chỉ tiêu định lượng mangtính chất tài chính để xác định trọng số
B4: Căn cứ vào các số liệu thu thập được, các chuyên gia sẽ sắp sếplại theo từng chỉ tiêu phân tích Để Chính xác hơn các nhà phân tích sẽ sosánh các chỉ tiêu vừa phân tích với những chỉ tiều tương tự của nhà pháthành khác
B5: Tổng hợp và công bố thứ hạng xếp hạng
1.2.2.3 Mô hình xếp hạng tín nhiệm tại Hàn Quốc
Tổ chức xếp hạng tại Hàn Quổc ra đời sớm hơn các nước Châu Ákhác Năm 1986, Bộ Tài Chính Và Kinh Tế Hàn Quốc đã cấp giấy phéphoạt động cho công ty xếp hạng tín nhiệm và thông tin quốc gia (NationalInformation and Credit Evaluation- NICE) , nhưng đây chưa phải là công
ty đầu tiên Năm 1985, tổ chức xếp hạng tín nhiệm có tên Công ty Dịch Vụđầu tư Hàn Quốc ra đời Đây là tập đoàn lớn nhất tại Hàn Quốc về xếphạng tín nhiệm Các công ty xếp hạng tín nhiệm Hàn Quốc xếp hạng trên 2loại hình: Đánh giá xếp hạng đợt phát hành và Đánh giá xếp hạng công ty.Đối với công ty NICE phương pháp mà công ty tiến hành là phương phápphân tích chủ yếu trên 3 lĩnh vực:
Phân tích môi trường kinh doanh: thường đánh giá những đối tượngxếp hạng trong tương lai của môi trường, trên cơ sở đó xác định những cơhội và nguy cơ mà môi trường có thể đem lại cho DN
Phân tích hoạt động kinh doanh: Trong bước này, NIEC phân tíchhoạt động quản trị trong doanh nghiệp, vì mục tiêu quản tri là nhằm nângcao chất lượng sản phẩm, giảm chi phí và thu hut nhiều khách hàng, nângcao khả năng cạnh thanh
Trang 17Phân tích hoạt động tài chính: NICE tiến hành phân tích đánh giá tìnhhình tài chính của công ty phát hành để đo lường thành tích, mức độ rủi rotài chính, trên cơ sở đó có thể đưa ra những nhận định, những dự báo vềtriển vọng tài chính của DN trong tương lai.
1.2.2.4 Mô hình xếp hạng tín nhiệm của Malaysia
Năm 1990, để kích thích sự phát triển của thị trường trái phiếu chínhphủ Malýia đã thành lập công ty xếp hạng tín nhiệm có tên là Ratingagency ò maláyỉâM Các sản phẩm của RAM xếp hạng bao gồm:
Các công cụ nợ mà công ty phát hành bao gồm các công cụ nợ dàihạn, công cụ nợ ngắn hạn chủ yếu của việc xếp hạng này là đánh giá vềđợt phát hành chứ không phải đánh giá về tổ chức phát hành Xếp hạng chocác định chế tài chính bao gồm các công ty tài chính, tổ chức tài chính vàcác ngân hàng: mục đích là xác định mức độ an toàn cao nhất về khả năngthanh toán các trách nhiệm tài chính, về sức mạnh và mức độ hoàn thành kếhoạch của các tổ chức này Phương pháp chủ yếu mà RAM phân tích làphương pháp phân tích và phương pháp chuyên gia Tiến trình phân tíchbắt đầu từ khi nhà phát hành chính thức yêu cầu RAM để xếp hạng chomình Sau khi thu thạp thông tin các nhà phân tích chia thành những lĩnhvực sau:
Phân tích theo nghành: Mỗi sự phân tích xếp hạng bắt đầu bằng sựđánh giá về môi trường hoạt động của công ty, RAM tiến hành phân tíchnhững năng động của nghành kinh doanh đó Triển vọng của nghành tậptrung phân tích sự tăng trưởng của nghành, công việc, lao động và môitrường pháp lý
Phân tích về hoạt động kinh doanh: Việc phân tích hoạt động kinhdoanh sẽ hướng về việc đánh giá khả năng thanh toán đúng hạn trong tươnglai nên sự phân tích sẽ nhấn mạnh đến thành tích trong tương lai, việc đánhgiá khả năng tạo ra tiên mặt, nhưng không phải giá trị ghi trên báo cáo mà
là so sánh chi phí tạo ra trong tương lai
Trang 181.2.2 Thực trạng rủi ro tín dụng và đánh giá rủi ro tín dụng
1.2.2.1 Rủi ro tín dụng hiện nay:
Rủi tín dụng ở Việt Nam hiên nay được chia thành :
Các rủi ro trong các quan hệ tín dụng trực tiếp: xuất phát từ sự hìnhthành và phát triển của thị trường chứng khoán với vai trò tương dương hệthống ngân hàng trong việc cung cấp nguồn vốn cho nền kinh tế Rủi ro tíndụng trực tiếp của nước ta hiện nay có thể là do rủi ro lãi xuất sinh lời trênvốn thấp hơn lãi suất tiền gửi NH, hoặc lãi suất mong đợi; rủi ro chậm trảlãi
Quá trình tự do hoá tài chính và hội nhập quốc tế có thể làm cho nợxấu gia tăng khi tạo ra một môi trường cạnh tranh gay gắt, khiến hầu hếtcác doanh nghiệp, những khách hàng thường xuyên của ngân hàng phải đối
mặt với nguy cơ thua lỗ và quy luật chọn lọc khắc nghiệt của thị trường
Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng, các tổ chứctín dụng và các tổ chức kinh tế, cá nhân theo nguyên tắc hoàn trả Việchoàn trả được nợ gốc trong tín dụng có nghĩa là việc thực hiện được giá trịhàng hoá trên thị trường, còn việc hoàn trả được lãi vay trong tín dụng làviệc thực hiện được giá trị thặng dư trên thị trường Do đó, có thể xem rủi
ro tín dụng cũng là rủi ro kinh doanh nhưng được xem xét dưới góc độ củangân hàng
Trong quan hệ tín dụng có hai đối tượng tham gia là ngân hàng chovay và người đi vay Nhưng người đi vay sử dụng tiền vay trong một thờigian, không gian cụ thể, tuân theo sự chi phối của những điều kiện cụ thểnhất định mà ta gọi là môi trường kinh doanh, và đây là đối tượng thứ ba cómặt trong quan hệ tín dụng Rủi ro tín dụng xuất phát từ môi trường kinhdoanh gọi là rủi ro do nguyên nhân khách quan Rủi ro xuất phát từ ngườivay và ngân hàng cho vay gọi là rủi ro do nguyên nhân chủ quan
Trang 191.2.2.2 Rủi ro tín dụng do nguyên nhân khách quan
a Rủi ro do môi trường kinh tế không ổn định
* Sự biến động quá nhanh và không dự đoán được của thị trường thếgiới:
Nền kinh tế VN vẫn còn lệ thuộc quá nhiều vào sản xuất nông nghiệp
và công nghiệp phục vụ nông nghiệp (nuôi trồng, chế biến thực phẩm vànguyên liệu), dầu thô, may gia công,… vốn rất nhạy cảm với rủi ro thời tiết
và giá cả thế giới, nên dễ bị tổn thương khi thị trường thế giới biến độngxấu
Ngành dệt may trong một số năm gần đây đã gặp không ít khó khăn vì
bị khống chế hạn ngạch làm ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanhcủa các doanh nghiệp nói riêng và của các ngân hàng cho vay nói chung.Ngành thủy sản cũng gặp nhiều lao đao vì các vụ kiện bán phá giá vừaqua
Không chỉ xuất khẩu, các mặt hàng nhập khẩu cũng dễ bị tổn thươngkhông kém Mặt hàng sắt thép cũng bị ảnh hưởng lớn của giá thép thế giới.Việc tăng giá phôi thép làm cho một số doanh nghiệp sản xuất thép trongnước phải ngưng sản xuất do chi phí giá thành rất cao trong khi không tiêuthụ được sản phẩm
* Rủi ro tất yếu của quá trình tự do hóa tài chính, hội nhập quốc tế: Quá trình tự do hoá tài chính và hội nhập quốc tế có thể làm cho nợxấu gia tăng khi tạo ra một môi trường cạnh tranh gay gắt, khiến hầu hếtcác doanh nghiệp, những khách hàng thường xuyên của ngân hàng phải đốimặt với nguy cơ thua lỗ và quy luật chọn lọc khắc nghiệt của thị trường.Bên cạnh đó, bản thân sự cạnh tranh của các ngân hàng thương mại trongnước và quốc tế trong môi trường hội nhập kinh tế cũng khiến cho các ngânhàng trong nước với hệ thống quản lý yếu kém gặp phải nguy cơ rủi ro nợxấu tăng lên bởi hầu hết các khách hàng có tiềm lực tài chính lớn sẽ bị cácngân hàng nước ngoài thu hút
Trang 20*Sự tấn công của hàng nhập lậu:
Với hàng trăm km biên giới trên bộ và trên biển cùng địa hình địa lýphức tạp và tình hình đời sống nghèo khó của dân cư vùng biên giới, cuộcchiến đấu với hàng lậu đã kéo dài dai dẳng từ rất nhiều năm nay mà kết quả
là hàng lậu vẫn tràn lan tại các thành phố lớn, làm điêu đứng các doanhnghiệp trong nước và các ngân hàng đầu tư vốn cho các doanh nghiệp này.Các mặt hàng kim khí điện máy, gạch men, đường cát, vải vóc, quần áo,
mỹ phẩm,… là những ví dụ tiêu biểu cho tình hình hàng lậu ở nước ta
*Thiếu sự quy hoạch, phân bổ đầu tư một cách hợp lý đã dẫn đếnkhủng hoảng thừa về đầu tư trong một số ngành:
Nền kinh tế thị trường thị trường tất yếu sẽ dẫn đến cạnh tranh, cácnhà kinh doanh sẽ tìm kiếm ngành nào có lợi nhất để đầu tư và sẽ rời bỏnhững ngành không đem lại lợi nhuận cho họ và do đó có sự chuyển dịchvốn từ ngành này qua ngành khác và đây cũng là một hiện tượng kháchquan Tuy nhiên ở nước ta thời gian qua, sự cạnh tranh đã phát triển mộtcách tự phát, hoàn toàn không đi kèm với sự quy hoạch hợp lý, hợp tác,phân công lao động, chuyên môn hoá lao động, sự bất lực trong vai trò củacác hiệp hội nghề nghiệp và sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước Điều này dẫnđến sự gia tăng quá đáng vốn đầu tư vào một số ngành, dẫn đến khủnghoảng thừa, lãng phí tài nguyên quốc gia
1.3 Rủi ro do môi trường pháp lý chưa thuận lợi
1.3.1 Sự kém hiệu quả của cơ quan pháp luật cấp địa phương:
Trong những năm gần đây, Quốc hội, Ủy ban thường vụ quốc hội,Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước (NHNN)và các cơ quan liên quan đã banhành nhiều luật,văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành luật liên quan đếnhoạt động tín dụng ngân hàng Tuy nhiên, luật và các văn bản đã có songviệc triển khai vào hoạt động ngân hàng thì lại hết sức chậm chạp và còngặp phải nhiều vướng mắc bất cập như một số văn bản về việc cưỡng chếthu hồi nợ Những văn bản này đều có quy định: Trong những hợp khách
Trang 21hàng không trả được nợ, NHTM có quyền xử lý tài sản đảm bảo nợ vay.Trên thực tế, các NHTM không làm được điều này vì ngân hàng là một tổchức kinh tế, không phải là cơ quan quyền lực nhà nước, không có chứcnăng cưỡng chế buộc khách hàng bàn giao tài sản đảm bảo cho ngân hàng
để xử lý hoặc việc chuyển tài sản đảm bảo nợ vay để Tòa án xử lý qua conđường tố tụng… cùng nhiều các quy định khác dẫn đến tình trạng NHTMkhông thể giải quyết được nợ tồn đọng, tài sản tồn đọng
1.3.2 Sự thanh tra, kiểm tra, giám sát chưa hiệu quả của NHNN:
Bên cạnh những cố gắng và kết quả đạt được, hoạt động thanh trangân hàng và đảm bảo an toàn hệ thống chưa có sự cải thiện căn bản vềchất lượng Năng lực cán bộ thanh tra, giám sát chưa đáp ứng được yêucầu, thậm chí một số nghiệp vụ kinh doanh và công nghệ mới Thanh trangân hàng còn chưa theo kịp Nội dung và phương pháp thanh tra, giám sátlạc hậu, chậm đựơc đổi mới Vai trò kiểm toán chưa đựơc phát huy và hệthống thông tin chưa được tổ chức một cách hữu hiệu Thanh tra tại chỗvẫn là phương pháp chủ yếu, khả năng kiểm soát toàn bộ thị trường tiền tệ
và giám sát rủi ro còn yếu Thanh tra ngân hàng còn hoạt động một cáchthụ động theo kiểu xử lý vụ việc đã phát sinh, ít có khả năng ngăn chặn vàphòng ngừa rủi ro và vi phạm Mô hình tổ chức của thanh tra ngân hàngcòn nhiều bất cập Do vậy mà có những sai phạm của các NHTM khôngđược thanh tra NHNN cảnh báo, có biện pháp ngăn chặn từ đầu, để đến khihậu quả nặng nề đã xảy ra rồi mới can thiệp Hàng loạt các sai phạm về chovay, bảo lãnh tín dụng ở một số NHTM dẫn đến những rủi ro rất lớn, cónguy cơ đe dọa sự an toàn của cả hệ thống lẽ ra có thể đã được ngăn chặnngay từ đầu nếu bộ máy thanh tra phát hiện và xử lý sớm hơn
1.3.3 Hệ thống thông tin quản lý còn bất cập:
Hiện nay ở VN chưa có một cơ chế công bố thông tin đầy đủ về doanhnghiệp và ngân hàng Trung tâm thông tin tín dụng ngân hàng (CIC) củaNHNN đã hoạt động đã quá một thập niên và đã đạt được những kết quả
Trang 22bước đầu rất đáng khích lệ trong việc cung cấp thông tin kịp thời về tìnhhình hoạt động tín dụng nhưng chưa phải là cơ quan định mức tín nhiệmdoanh nghiệp một cách độc lập và hiệu quả, thông tin cung cấp còn đơnđiệu, thiếu cập nhật và ngoài ra việc kết nối thông tin với trang Web – CICqua đường X25 của Chi cục tin học ngân hàng còn nhiều trục trặc, chưađáp ứng được đầy đủ yêu cầu tra cứu thông tin tại TP.HCM Đó cũng làthách thức cho hệ thống ngân hàng trong việc mở rộng và kiểm soát tíndụng cho nền kinh tế trong điều kiện thiếu một hệ thống thông tin tươngxứng Nếu các ngân hàng cố gắng chạy theo thành tích, mở rộng tín dụngtrong điều kiện môi trường thông tin không cân xứng thì sẽ gia tăng nguy
cơ nợ xấu cho hệ thống ngân hàng
1.4 Rủi ro tín dụng do nguyên nhân chủ quan
1.4.1 Rủi ro do các nguyên nhân từ phía khách hàng vay
1.4.1.1 Sử dụng vốn sai mục đích, không có thiện chí trong việc trả nợvay:
Đa số các doanh nghiệp khi vay vốn ngân hàng đều có các phương ánkinh doanh cụ thể, khả thi Số lượng các doanh nghiệp sử dụng vốn sai mụcđích, cố ý lừa đảo ngân hàng để chiếm đoạt tài sản không nhiều Tuy nhiênnhững vụ việc phát sinh lại hết sức nặng nề, liên quan đến uy tín của cáccán bộ, làm ảnh hưởng xấu đến các doanh nghiệp khác
1.4.1.2 Khả năng quản lý kinh doanh kém:
Khi các doanh nghiệp vay tiền ngân hàng để mở rộng quy mô kinhdoanh, đa phần là tập trung vốn đầu tư vào tài sản vật chất chứ ít doanhnghiệp nào mạnh dạn đổi mới cung cách quản lý, đầu tư cho bộ máy giámsát kinh doanh, tài chính, kế toán theo đúng chuẩn mực Quy mô kinhdoanh phình ra quá to so với tư duy quản lý là nguyên nhân dẫn đến sự phásản của các phương án kinh doanh đầy khả thi mà lẽ ra nó phải thành côngtrên thực tế
Trang 231.4.1.3 Tình hình tài chính doanh nghiệp yếu kém, thiếu minh bạch:
Quy mô tài sản, nguồn vốn nhỏ bé, tỷ lệ nơ so với vốn tự có cao là đặcđiểm chung của hầu hết các doanh nghiệp VN Ngoài ra, thói quen ghi chépđầy đủ, chính xác, rõ ràng các sổ sách kế toán vẫn chưa được các doanhnghiệp tuân thủ nghiêm chỉnh và trung thực Do vậy, sổ sách kế toán màcác doanh nghiệp cung cấp cho ngân hàng nhiều khi chỉ mang tính chấthình thức hơn là thực chất Khi cán bộ ngân hàng lập các bản phân tích tàichính của doanh nghiệp dựa trên số liệu do các doanh nghiệp cung cấp,thường thiếu tính thực tế và xác thực Đây cũng là nguyên nhân vì sao ngânhàng vẫn luôn xem nặng phần tài sản thế chấp như là chỗ dựa cuối cùng đểphòng chống rủi ro tín dụng
1.5 Rủi ro do các nguyên nhân từ phía ngân hàng cho vay
1.5.1 Lỏng lẻo trong công tác kiểm tra nội bộ các ngân hàng:
Kiểm tra nội bộ có điểm mạnh hơn thanh tra NHNN ở tính thời gian vì
nó nhanh chóng, kịp thời ngay khi vừa phát sinh vấn đề và tính sâu sát củangười kiểm tra viên, do việc kiểm tra được thực hiện thường xuyên cùngvới công việc kinh doanh Nhưng trong thời gian trước đây, công việc kiểmtra nội bộ của các ngân hàng hầu như chỉ tồn tại trên hình thức Kiểm tranội bộ cần phải được xem như hệ thống “thắng” của cỗ xe tín dụng Cỗ xecàng lao đi với vận tốc lớn thì hệ thống này càng phải an toàn, hiệu quả thìmới tránh cho cỗ xe khỏi đi vào những ngã rẽ rủi ro vốn luôn luôn tồn tạithường trực trên con đường đi tới
1.5.2 Bố trí cán bộ thiếu đạo đức và trình độ chuyên môn nghiệp vụ:
Một số vụ án kinh tế lớn trong thời gian vừa qua có liên quan đến cán
bộ NHTM đều có sự tiếp tay của một số cán bộ ngân hàng cùng với kháchhàng làm giả hồ sơ vay, hay nâng giá tài sản thế chấp, cầm cố lên quá cao
so với thực tế để rút tiền ngân hàng
Đạo đức của cán bộ là một trong các yếu tố tối quan trọng để giảiquyết vấn đề hạn chế rủi ro tín dụng Một cán bộ kém về năng lực có thể
Trang 24bồi dưỡng thêm, nhưng một cán bộ tha hóa về đạo đức mà lại giỏi về mặtnghiệp vụ thì thật vô cùng nguy hiểm khi được bố trí trong công tác tíndụng
1.5.3 Thiếu giám sát và quản lý sau khi cho vay:
Các ngân hàng thường có thói quen tập trung nhiều công sức cho việcthẩm định trước khi cho vay mà lơi lỏng quá trình kiểm tra, kiểm soát đồngvốn sau khi cho vay Khi ngân hàng cho vay thì khoản cho vay cần phảiđược quản lý một cách chủ động để đảm bảo sẽ đựơc hoàn trả Theo dõi nợ
là một trong những trách nhiệm quan trọng nhất của cán bộ tín dụng nóiriêng và của ngân hàng nói chung Việc theo dõi hoạt động của khách hàngvay nhằm tuân thủ các điều khoản đề ra trong hợp đồng tín dụng giữakhách hàng và ngân hàng nhằm tìm ra những cơ hội kinh doanh mới và mởrộng cơ hội kinh doanh Tuy nhiên trong thời gian qua các NHTM chưathực hiện tốt công tác này Điều này một phần do yếu tố tâm lý ngại gâyphiền hà cho khách hàng của cán bộ ngân hàng, một phần do hệ thốngthông tin quản lý phục vụ kinh doanh tại các doanh nghiệp quá lạc hậu,không cung cấp được kịp thời, đầy đủ các thông tin mà NHTM yêu cầu
1.5.4 Sự hợp tác giữa các NHTM quá lỏng lẻo, vai trò của CIC chưa thực sự hiệu quả:
Kinh doanh ngân hàng là một nghề đặc biệt huy động vốn để cho vayhay nói cách khác đi vay để cho vay, do vậy vấn đề rủi ro trong hoạt độngtín dụng là không thể tránh khỏi, các ngân hàng cần phải hợp tác chặt chẽvới nhau nhằm hạn chế rủi ro Sự hợp tác nảy sinh do nhu cầu quản lý rủi
ro đối với cùng một khách hàng khi khách hàng này vay tiền tại nhiều ngânhàng Trong quản trị tài chính, khả năng trả nợ của một khách hàng là mộtcon số cụ thể, có giới hạn tối đa của nó Nếu do sự thiếu trao đổi thông tin,dẫn đến việc nhiều ngân hàng cùng cho vay một khách hàng đến mức vượtquá giới hạn tối đa này thì rủi ro chia đều cho tất cả chứ không chừa mộtngân hàng nào
Trang 25Trong tình hình cạnh tranh giữa các NHTM ngày càng gay gắt nhưhiện nay, vai trò của CIC là rất quan trọng trong việc cung cấp thông tin kịpthời, chính xác để các ngân hàng có các quyết định cho vay hợp lý Đángtiếc là hiện nay ngân hàng dữ liệu của CIC chưa đầy đủ và thông tin cònquá đơn điệu, chưa được cập nhật và xử lý kịp thời
Tóm lại, rủi ro tín dụng có thể phát sinh do rất nhiều nguyên nhân chủquan hoặc khách quan Các biện pháp phòng chống rủi ro có thể nằm trongtầm tay của các NHTM nhưng cũng có những biện pháp vượt ngoài khảnăng của riêng từng ngân hàng, liên quan đến vấn đề nội tại của bản thânnền kinh tế đang chuyển đổi, đang định hướng mô hình phát triển ở VN.Trong phạm vi tầm tay của các ngân hàng, rủi ro tín dụng phụ thuộc vàonăng lực của bộ phận tín dụng trong việc phát hiện và hạn chế rủi ro từ lúcxem xét quyết định cho vay cũng như trong suốt thời gian vay Năng lựccấp tín dụng phụ thuộc vào chuyên môn của cán bộ tín dụng và nhân viêncủa họ và các nguồn lực của ngân hàng về nhân sự cũng như về cơ sở vậtchất Do vậy biện pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng sâu sắc nhất vẫn là cácbiện pháp liên quan đến việc đào tạo, bố trí cán bộ và cơ chế kiểm tra, giámsát hành vi của cán bộ trong quá trình xử lý công việc Thực hiện tốt cácbiện pháp này có thể cho rằng con đường quản lý rủi ro tín dụng của ngànhngân hàng coi như đã đi được hơn một nửa
1.6 Thực trạng về vấn đề đánh giá xếp loại tín dụng doanh nghiệp
Hong Kong có khoảng 300.000 doanh nghiệp, nhưng có tới hơn 40công ty thông tin tín nhiệm Việt Nam có gần 145.000 doanh nghiệp vàkhoảng 2,3 triệu thực thể kinh doanh khác, nhưng cho đến nay, VN chỉ mới
có Công ty Xếp hạng tín nhiệm DN Việt Nam (CRV), Công ty Thông tintín nhiệm và xếp hạng DN (C&R), Trung tâm Thông tin tín dụng (CIC)thuộc Ngân hàng Nhà nước, Công ty Cổ phần báo cáo đánh giá Việt Nam(Vietnam Report)… Nhưng các công ty này trong thời gian qua chưa đưa
Trang 26ra công bố một bản danh sách xếp hạng đúng với khái niệm của xếp hạngtín nhiệm DN
Mới đây, Vietnam Report kết hợp với báo điện tử VietNamNet đãcông bố bảng xếp hạng top 500 DN lớn nhất Việt Nam về doanh thu(VNR500) theo mô hình của Fortune 500 Đơn vị tổ chức mong muốn sẽduy trì một bảng xếp hạng DN có uy tín của Việt Nam theo chuẩn mựcquốc tế Hàng năm, thông qua số liệu điều tra về DN trên toàn quốc củaTổng cục Thống kê như: tổng tài sản, doanh thu, lợi nhuận, tốc độ tăngtrưởng, số lao động… kết hợp với điều tra của Vietnam Report và số liệucung cấp từ các DN, các DN Việt Nam sẽ được đánh giá, xếp hạng thôngqua các tiêu chí được công bố công khai, đảm bảo tính khoa học, kháchquan và độc lập
Gần đây, Chương trình Phát triển của Liên hiệp quốc (UNDP) có đưa
ra danh sách xếp hạng top 200 DN Việt Nam Các chuyên gia UNDP đãcông bố một bản báo cáo chi tiết nêu rõ quá trình điều tra xây dựng cơ sở
dữ liệu đánh giá top 200 DN hàng đầu của Việt Nam cũng như các câuchuyện đằng sau cuộc nghiên cứu Mục tiêu của bản báo cáo nhằm tìm hiểuxem DN và các tập đoàn của Việt Nam đang thích ứng ra sao với môitrường kinh doanh đang biến đổi, đồng thời xác định được họ đến từ đâu,chiến lược tăng trưởng của họ là gì và những hạn chế họ gặp phải Có thểnói, báo cáo của UNDP là một cuộc điều tra nghiên cứu DN đầu tiên đểđưa ra danh sách xếp hạng 200 DN hàng đầu tại Việt Nam Các chuyên giacủa UNDP đã kết hợp 3 chỉ tiêu doanh số, tài sản và số lao động để đánhgiá giống như mô hình của Forbes Ngoài ra, UNDP còn tiến hành đồngthời điều tra phỏng vấn trực tiếp các DN thuộc phạm vi nghiên cứu để đưa
ra bức tranh tổng thể về thứ hạng 200 DN hàng đầu Việt Nam
CIC vừa qua cũng đưa ra thông tin sẽ công bố thông tin xếp hạng các
DN đang niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán và sẽ công bố vào cuốinăm 2007 Theo ông Đào Quang Thông, Phó Giám đốc CIC, Ngân hàng
Trang 27Nhà nước đã cho phép CIC cung cấp bản báo cáo phân tích, xếp hạng tíndụng DN Đối tượng được nhận các bản báo cáo xếp hạng tín dụng DN làcác đơn vị thuộc Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng, không cungcấp cho các đối tượng khác Và mới đây nhất, CIC đã được chính thức thựchiện nghiệp vụ phân tích, xếp hạng DN
Ngoài ra, theo ông Nguyễn Văn Chiến, Phó Tổng giám đốc CRV,trong giai đoạn đầu, CRV sẽ xếp hạng tín nhiệm DN của các công ty đangđược niêm yết trên TTCK Hà nội và TP.HCM Ở giai đoạn tiếp theo, chúngtôi sẽ tiến hành xếp hạng những công ty lớn, những công ty đang được giaodịch trên thị trường OTC Dự kiến kết quả xếp hạng DN trên TTCK sẽđược công bố vào đầu năm 2008
Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản để xếp hạng doanh nghiệpnhưng với nhiều mục đích khác nhau nhưng chủ yếu phục vụ cho các cơquan chủ quản của nhà nước Thực tế nước ta từ trước đến nay việc xếphạng doanh nghiệp đã có chủ trương của nhà nước, song để đánh giá kháchquan và chính xác cần có các cơ quan chuyên nghiệp đảm nhận công việcnày Mà nước ta từ trước đến nay chỉ có trung tâm CIC làm nhiệm vụ này.Mặc dù có những văn bản pháp lý nhưng việc nhận định lại vẫn dựa vàochủ quan Vấn đề phân tích đánh giá, xếp hạng DN cũng được các NH ứngdụng và quy định cụ thể trong kỹ thuật tín dụng Trong quy trình này các
NH xây dựng hệ thống chỉ tiêu phù hợp với báo cáo tài chính của doanhnghiệp để phân tích, đánh giá thể hiện sự thống nhất giữa thuế, NH, kiểmtoán tạo điều kiện thuận lợi cho công tác thẩm định Về mặt pháp lýNHNNVN đã đưa ra quyết định số 57/2002/QD_NNNH về việc triển khaithí điểm đề án phân tích, xếp loại tín dụng DN Theo đó, việc phân tích xếphạng doanh nghiệp được thực hiện ở trung tâm thông tin tín dụng theophương pháp xếp loại và phương pháp so sánh Tuy nhiên, trên thực tế khicác ngân hàng áp dụng phương pháp trên có những biểu hiện sau:
Trang 28
Sự khác nhau về chia nhóm các chỉ tiêu
Sự khác nhau về phân chía chỉ tiêu
Phương pháp đánh giá chỉ tiêu mỗi ngân hàng nhìn chung có nhiềukhác biệt: như khác biệt về phương pháp tính, thang điểm cho từng nhómchỉ tiêu cũng khác nhau Sự phân chia điểm từng chỉ tiêu cũng khác nhau
và các chỉ tiêu sử dụng không thống nhất
Đối với chỉ tiêu định lượng: nhìn chung các ngân hàng thương mạixây dựng hệ thống chỉ tiêu phù hợp với các báo cáo tài chính của doanhnghiệp từ đó sự phân tích đánh giá thể hiện hệ thống giữa thuế, NH, Kiểmtoán tạo điều kiện thuận lợi cho việc thẩm định
Đối với chỉ tiêu định tính: nếu như các báo cáo tài chính thiếu trungthực thì nó ảnh hưởng đến chất lượng phân tích thì các chỉ tiêu định tính sẽgiúp khắc phục những khó khăn này Bên cạnh đó các chỉ tiêu đánh giá mốiquan hệ tín dụng của doanh nghiệp với ngân hàng cũng được các NH đưa
và sử dụng
Những tác động tích cực đến hoạt động tín dụng của ngân hàng: có thểnói công tác phân tích xếp hạng tín nhiệm của doanh nghiệp ở các ngânhàng có những tác động tích cực đến hoạt động tín dụng ngân hàng Thực
tế cho thấy thông qua xếp hạng tín nhiệm định kỳ, thường xuyên , một số
NH đá hạn chế được những hợp đồng tín dụng mang nhiều rủi ro Đánh giáđúng khả năng tài chính của DN cũng như chính là điều kiện quan trọng để
sự thuận lợi từ những nỗ lực không ngừng nhằm hoàn chỉnh hệ thống kế
Trang 29toán doanh nghiệp Việt Nam thể hiện Luật kế toán đã được Quốc hộithông qua và có hiệu lực thi hành năm 2004 Trước đó Bộ tài chính banhành quyết đinh số 149/2001/QD-BTC ngày 31/12/2001, ra đời của hệthống chuẩn mực kế toán Việt Nam Đây là việc làm có ảnh hưởng đáng kểđến chế độ kế toàn cả về mặt lý luận và thực tế Ngoài ra, những nỗ lựcnhằm sắp xếp và đổi mới doanh nghiệp nhà nước; và trên hết là vấn đề xếphạng bước đầu được quan tâm của nhiều chủ thể kinh tế Với các kinhnghiệm quý báu được học tập từ bên ngoài, thì việc xây dựng phương phápxếp hạng tín nhiệm của doanh nghiệp là một việc làm hoàn toàn mang tínhkhả thi
Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi có thể nhận thấy những khó khănxuất phát từ: Thị trường chứng khoán chưa thực sự trở thành kênh dẫn vốncủa doanh nghiệp TTCK Việt Nam hiện nay tuy được thành lập với chứcnăng huy động vốn đầu tư, đặc biệt vốn đầu tư trung và dài hạn cho nềnkinh tế Tuy nhiên thời gian qua ttck vẫn chưa thực sự phát huy được chứcnăng vốn có của nó Tiếp đó là khung pháp lý phục vụ cho dịch vụ xếphạng tín nhiệm chưa có Tập quán phát hành giao dịch các công cụ nợ ởnước ta còn có những hạn chế nhất định Hiện nay nguồn vốn huy độngphục vụ cho các hoạt động sản xuất chủ yếu là ngân hàng Việc sử dụngcác công cụ của thị trường vốn như các cổ phiếu ưu đãi, trái phiếu côngtrình chưa được các tổ chức kinh tế và nhà đầu tư quan tâm Việt Nam chưa
có một cơ chế công bố thông tin đây đủ Hệ thống kế toán và chuẩn mực kếtoán Việt Nam đang trong quá trình thay đổi và hoàn thiện đang là một việcđánh giá hiệu quả kinh doanh các hoạt động của các doanh nghiệp hiện naychưa chuẩn xác, tính minh bạch của các số liệu kế toán trong doanh nghiệpchưa cao và không phải lúc nào cũng đáng tin cậy Đội ngũ cán bộ đánhgiá, xếp hạng tín nhiệm hiện nay còn thiếu về số lượng lẫn chất lượng.Hiện nay thì đội ngũ này mới chỉ trang bị những kiến thức trên lý thuyết, vềkinh nghiệm chuyên môn còn non kém do thời gian để hình thành kinh
Trang 30nghiệm chưa nhiều, sự bất cập trong quản ly, bồi dưỡng, các chính sáchtrọng dụng nhân tài vẫn là vấn đề nổi cộm Trong đó hoạt động tín nhiệm rađời cần những chuyên gia thực tài giỏi và có nhiều kinh nghiệm, họ khôngnhững am hiểu sâu vào thị trường vốn, thị trường tiền tệ mà còn phải thôngthạo những lĩnh vực khác như luật pháp, tài chính, kế toán Điều này nguồnnhân lực Việt Nam rất hạn chế Thêm vào đó thì việc cổ phần hoá DNNNchưa được như kế hoạch và đạt hiệu quả Ngoài ra thì con có một số khókhăn khác tồn tại cơ bản trong hoạt động của nhân hàng thương mại.
Với hiện trạng hiện nay của Việt Nam, một mô hình như Forbes 500hay Fortune 500 (không rập khuôn hoàn toàn như vậy), cũng là điều nhiềunhà đầu tư đang mong mỏi Tuy vậy, áp dụng mô hình hiện đại như vậykhông phải là điều dễ dàng Chẳng hạn, nếu theo mô hình Forbes 500 vàchỉ dựa trên những chỉ tiêu hiện tại để đánh giá như: doanh thu, tài sản, tốc
độ tăng trưởng, lợi nhuận và số lao động thì vẫn gặp nhiều hạn chế như: tàisản của các DN nhà nước rất khó xác định và thường không tính đủ (vấn đề
về sở hữu đất đai, vấn đề cấp phát vốn của Nhà nước, vấn đề công nợ củacác DN nhà nước…) hoặc sự mất cân bằng giữa lao động trong các ngànhnhư dệt may và tài chính ngân hàng… đồng thời cả sự hạn chế về hệ thống
cơ sở dữ liệu, sự không thống nhất trong mô hình quản lý hạch toán của cáctổng công ty nhà nước và các đơn vị thành viên
Bên cạnh đó, nền kinh tế của Việt Nam đang trong giai đoạn chuyểnđổi, do vậy sẽ gây khó khăn cho việc xác định mô hình sở hữu cũng nhưtổng hợp dữ liệu Về tổng thể, vẫn có thể đưa ra bức tranh tổng quát về xếphạng DN, tuy nhiên, kết quả đưa ra sẽ có nhiều sai lệch
Theo nhìn nhận của các chuyên gia từ CRV thì với hiện trạng cơ sở dữliệu cũng như tình hình thực tế các DN hiện nay của Việt Nam, mô hìnhđánh giá của Standard & Poors, Moodys… là phù hợp nhất Đối với ngànhxếp hạng tín nhiệm DN tại Việt Nam, câu khẩu hiệu: Độc lập, khách quan,trung thực mới chỉ là điều kiện cần Đó là lý do để CRV phải kỳ công xây
Trang 31dựng một quy trình đánh giá khoa học, bài bản sát thực Trên cơ sở nghiêncứu kỹ quy trình của các Tập đoàn lớn Standard & Poors, Moodys CRV
sẽ xây dựng cho mình một quy trình đánh giá phù hợp với điều kiện hoàncảnh thực tiễn Việt Nam Với sự tham vấn của các chuyên gia tài chínhhàng đầu trong và ngoài nước, CRV liên tục chỉnh sửa để hoàn thiện khôngngừng quy trình đó
Mặc dù sẽ không tránh khỏi các sai sót trong việc điều tra thu thập sốliệu thống kê, tuy nhiên với mong muốn xây dựng một bức tranh tổng thểphản ánh hiện trạng sức mạnh của các DN Việt Nam, Em mong muốntrong thời gian tới, ngành xếp hạng Việt Nam sẽ có những bước phát triểnmạnh mẽ nhằm theo kịp xu thế phát triển của thời đại
1.8.Các phương pháp xếp hạng tín nhiệm các tổ chức kinh tế trong quan hệ tín nhiệm
1.8.1 Xác định đối trượng xếp hạng tín nhiệm tại Việt Nam
Khi xác định đối tượng xếp hạng cần đáp ứng các yêu cầu sau:
Đối tượng xếp hạng không quá hẹp, vì nếu xây dựng quá hẹp sẽ khôngmang laị hiệu quả kinh tế cho các tổ chức xếp hạng tín nhiệm
Cũng như không quá rộng vì nư thế sẽ không mang lại tính vừa sứccho một tổ chức xếp hạng tín nhiệm còn thiếu kinh nghiệm, có thể kết quảxếp hạng sẽ khó xác định
Việc xếp hạng được tiến hành từ dễ đến khó từ đơn giản đến phức tạp.Chủ yếu xếp hạng các tổ chức phát hành nợ là các tổ chức kinh tếthuộc các thành phần kinh tế, các đợt phát hành, các khoản tín dụng dài hạnNhư vậy ta có thể thấy đối tượng xếp hạng tín nhiệm ban đầu của tổchức xếp hạng tín nhiệm là các nhà phát hành nợ và đợt phát hành nợ,trước mắt là xếp hạng các tổ chức phát hành trái phiếu công ty
1.8.2 Xây Dựng Phương Pháp Xếp Hạn Tín Nhiệm
Do đặc điểm của việc xếp hạng tín nhiệm là việc khảo sát tổ chức kinh
tế trên nhiều mặt, qua thời gian dài, do vậy khi xây dựng phương pháp xếp
Trang 32hạng cần chú ý các nguyên nhân và yêu cầu sau:
* Một số nguyên tắc và yêu cầu:
Những nguyên tắc cần tuân thủ:
Nguyên tắc liên hệ biện chứng: theo nguyên tắc này, tất cả các hiệntượng kinh tế đều có mối quan hệ qua lại, tác động lẫn nhau, tác động lẫnnhau Nguyên tác này đòi hỏi phải có quan điểm đồng bộ hay quan điểmtoàn diện, có nghĩa phải tính đến mối liên hệ giữa các hiện tượng kinh tế,với các lĩnh vực khác như chính trị, pháp luật
Nguyên tắc kế thừa lịch sử: Theo đó, các hiện tượng kinh tế vận động
từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ chưa hoàn thiện đến hoànthiện Do đó, sự nghiên cứu các hiện tượng trong quá khứ để dự báo trongtương lai lại rất có ý nghĩa trong phân tích
Nguyên tắc đặc thù về bản chất của đối tượng cần xếp hạng
Nguyên tắc này nhấn mạnh tính đặc thù về những quy lụât phát triển,giá trị tuyệt đối và giá trị tính toán của giới hạn phát triển trong tương laiNguyên tắc mô tả tối ưu các đối tượng xếp hạng: Nguyên tắc này đòihỏi mô tả các đối tượng bằng một số biến số và tham số tối thiểu, đảm bảo
độ chính xác và xác thực của việc xếp hạng
Nguyên tắc tính tương tự của đối tượng xếp hạng: nguyên tắc này đòihỏi khi phân tích phải thường xuyên so sánh những tính chất của các đốitượng xếp hạng với các mô hình để ứng dụng vào dự báo cho các đối tượngmới
*Một sô yêu cầu đặt ra:
Yêu cầu 1: Phương pháp để xếp hạng tín nhiệm, theo nguyên tắcchung, là biến đổi các thông tin có được thành hệ thống các chỉ tiêu phântích, bao gồm các chỉ tiêu định tính và định lượng
Chỉ tiêu định lượng: được cụ thể hoá bằng đại lượng đo lường đượcmột cách dễ dàng, do vậy khi phân tích chỉ tiêu này có độ chính xác cao
Trang 33Chỉ tiêu định tính: Rất khó xác định hoặc không thể xác định một cách
cụ thể, do đó việc phân tích đánh giá chỉ tiêu này thường gặp khó khăn và
độ chính xác không cao
Do vậy khi xây dựng các nội dung liên quan đến các chỉ tiêu phân tíchcần dựa trên các quan sát trực quan kết hợp với khả năng phân tích để nhậnđịnh là chủ yếu
Yêu cầu 2: Hệ thống các chỉ tiêu rất lớn trong đó cần phân loại cácloại chỉ tiêu tác động trực tiếp, gián tiếp Cần phân loại mức độ tác độngcủa các chỉ tiêu và chỉ tiêu tác động lớn nhất để đưa ra các thang điểmtrọng số
Yêu cầu 3: Trong quá trình xem xét các chỉ tiêu phải tính đến sự thayđổi có thể theo thời gian Các số liệu khi sử dụng trong phân tích cần phảilấy trong khoảng 2-5 năm
Yêu cầu 4: Khi phân tích các chỉ tiêu tài chính cần phải xem xét cácdoanh nghiệp trong cùng một nghành, từ đó có thể đánh giá trung thực vịthế của doanh nghiệp trên thị trường đồng thời thấy được sức mạnh tàichính của doanh nghiệp trong nghành đó
Yêu cầu 5: Tính chất của các tổ chức kinh tế sẽ quyết định đến việc sửdụng phương pháp phân tích thích hợp vì mỗi loại hình kinh tế đều cónhững đặc thù khác nhau, mức độ rủi ro khác nhau
Yêu cầu 6: Các chỉ tiêu , nội dung phân tích phải bao quát và toàndiện, phải đánh giá hiện tại và tương lai
Quá trình hoạt động của các tổ chức kinh tế nhằm SX ra của cải vậtchất hoặc thực hiện dịch vụ cung cấp cho nhu cầu xã hội nhằm tạo ra lợinhuận Các tổ chức kinh tế không thể là một thực thể cô lập và đóng kín mà
nó là hoạt động trong môi trường đầy những mâu thuẫn Do vậy, Mục tiêuđánh giá của các tổ chức tín nhiêm đó là trên cơ sở đánh giá quá khứ vàhiện tại của doanh nghiệp để dự đoán được xu hướng tương lai Để có thể
dự đoán được tương lai của doanh nghiệp ta phải xác định 2 yếu tố: xu thế
Trang 34phát triển và nguy cơ tiềm ẩn của nghành đó.Tuy vậy, mục tiêu quan trọngcủa đánh giá lại hướng về tương lai, có nghĩa là mang tính dự đoán trên cơ
sở nhận thức quy luật khách quan trong sự vận động và phát triển của sựvật hiện tượng
*Các tiêu chuẩn khi lựa chọn phương pháp xếp hạng tín nhiệm
Khi lựa chọn phương pháp xếp hạng tín nhiệm của doanh nghiệp thìđiều đầu tiên phải xem xét là mức độ chính xác của phương pháp đó, chíphí của phương pháp cộng với tính tổng hợp và khả năng thực hiện phươngpháp đó, thời gian hoàn thành công việc và cơ sở dữ liệu phục vụ cho việcphân tích Đây gọi là những tiêu chuẩn phục vụ cho việc lựa chọn phươngpháp Trong các tiêu chuẩn trên thì 3 tiêu chuẩn đầu có tiên phụ thuộc lẫnnhau Giữa chi phí thực hiện dự án và độ chính xác có mối quan hệ thuận.Tuy nhiên tính chính xác không những có quan hệ với chí phí mà còn cóquan hệ với trình độ cán bộ phân tích Một phương pháp tốt còn thể hiện ởcách tiến hành và tính khả thi của dự án
*Các loại của thông tin trong đánh giá để xếp hạng tín nhiệm
Thực chất việc xác định tín nhiệm của doanh nghiệp là xác định cáctiêu chuẩn có thể được lượng hoá từ những thang điểm tổng hợp từ đó cóthể cho ra các thông số chung của xếp hạng Muốn đánh gía chính xác thìthang điểm đưa ra tương đối toàn diện và phù hợp Các tổ chức kinh tế vậnđộng trong môi trường nhất định do đó chúng phải cố gắng lợi dụng các cơhội và giảm thiểu các rủi ro và đe doạ từ môi trường, Chính vì vậy màthông tin mang ý nghĩa quyết định đến sự sống còn của doanh nghiệp Nóicách khác thu thập thông tin là khâu quan trọng trong quá trình xếp hạngdoanh nghiệp, đặc biệt trong bối cảnh thông tin là cơ sở để phân tích và dựbáo Do vậy thông tin cần phải đa dạng, phong phú và chính xác Nếu xéttrên mức độ quan trọng của thông tin thì có thể chia thông tin thành thôngtin chính và thông tin phụ Thông tin chính được thu thập theo nhu cầunghiên cứu cụ thể cần phải thao tác theo yêu cầu đặt ra và có trình độ
Trang 35chuyên môn hoá nhất định Thông tin phụ bao gồm các thông tin đã đượcthu thập từ các tổ chức khác, ngoài ra còn có tạp chí, website Nếu xétnguồn gốc của thông tin thì có thông tin bên trong và thông tin bên ngoài.
1.8.3 Những biện pháp tổ chức thực hiện xếp hạng tín nhiệm
Trước hết cần thu thập, thẩm tra và lưu trữ thông tin có được từ
bên trong, bên ngoài và ngay cả thông tin ngay cả việc tự tiến hành điều trathông tin cần thiết
Các nguồn thông tin bên trong gồm: Bản thân đối tượng được xếphạng tín nhiệm Đây là nguồn số liệu phong phú và là chỗ dựa đáng tin cậynhất Hoặc là từ sổ lưu trữ của các đối tượng được xếp hạng
Nguồn thông tin bên ngoài có thể là: kênh thông tin đại chúng nhưsách báo, tạp chí, website Từ người mua sản phẩm của chính các công ty
đó Hoặc từ người cung cấp nguyên vật liệu cho công ty đó Hoặc các công
ty tín dụng, công ty bảo lãnh xuất nhập khẩu hoặc các cơ quan kinh doanhthông tin Cuối cùng là đối thủ cạnh tranh Ngoài ra có nguồn thông tin tựđiêù tra
Tổ chức quy trình xếp hạng tín nhiệm của các tổ chức xếp hạng tín nhiệm : để đánh giá xếp hạng tín nhiệm của doanh nghiệp là một quá
trình khá phức tạp, đòi hỏi phải có một quy trình và trình tự nhất đinh:Trước hết phải xác định đối tượng và mục đích của việc xếp hạngdoanh nghiệp Tiếp đó là tìm hiểu đối tượng cần xếp hạng Bên cạnh đóphải thu thập thông tin và nghiên cứu, sắp xếp thông tín và đánh giá sơ bộ.Tiếp đó là phân tích và đưa ra quyết định và bổ sung thông tin, phân tíchđánh giá thêm Cuối cùng là công bố chính thức kết quả xếp hạng và chịuhoàn toàn trách nhiệm về kết quả này
Dự đoán tiềm lực kinh tế của các tổ chức phát hành nợ, đánh giá rủi ro tín dụng
Trước hết, dự đoán tiềm lực kinh tế: tiềm lực được đánh giá qua cácyếu tố định tính như chiến lược kinh doanh, vị thế sản phảm, tiềm năng