Trong xu thế phát triển của thời đại, của khoa học kỹ thuật và công nghệ, khi Việt Nam đã gia nhập WTO thì nền kinh tế Việt Nam nói chung và Công nghiệp Việt Nam nói riêng đang từng bước hoà nhập cùng sự phát triển của thế giới. Tham gia tích cực thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước là đến năm 2020 đưa Việt Nam cơ bản trở thành nước Công nghiệp, ngành Công nghiệp Hà Nội đang góp một phần quan trọng vào quá trình công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước. Hà Nội là một trong những trung tâm công nghiệp lớn của đất nước. Từ năm 1997 đến nay, cơ cấu kinh tế của thành phố đang dịch chuyển theo hướng gia tăng tỷ trọng công nghiệp, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp và dịch vụ. Tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp đã tăng đáng kể trong cơ cấu kinh tế trong vòng 15 năm qua. Sản xuất công nghiệp đang ngày càng trở nên quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của thành phố. Khu vực công nghiệp có vai trò quan trọng trong quá trình công nghiệp hoá- hiện đại hoá của Hà Nội. Để đạt được mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp, chúng ta cần đánh giá được quá trình phát triển của khu vực này thời gian qua. Để nghiên cứu sâu hơn về thực trạng phát triển ngành công nghiệp Hà Nội trong giai đoạn 1997-2007, đồng thời đưa ra một số kiến nghị giải pháp và dự đoán cho các năm tiếp theo, em đã chọn đề tài: "Vận dụng một số phương pháp thống kê để phân tích giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn Hà Nội giai đoạn 1997-2007 và dự đoán đến năm 2009". Kết cấu của chuyên đề ngoài phần mở đầu và kết luận gồm 3 chương: Chương 1: Khái quát chung về công nghiệp và sản xuất công nghiệp. Chương 2: Vận dụng một số phương pháp thống kê phân tích giá trị sản xuất Công nghiệp thành phố Hà Nội giai đoạn 1997- 2007 và dự đoán đến năm 2009. Chương 3: Một số giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp Hà Nội trong giai đoạn từ 2008 - 2020.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Trong xu thế phát triển của thời đại, của khoa học kỹ thuật và công nghệ, khiViệt Nam đã gia nhập WTO thì nền kinh tế Việt Nam nói chung và Công nghiệp ViệtNam nói riêng đang từng bước hoà nhập cùng sự phát triển của thế giới
Tham gia tích cực thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước là đến năm
2020 đưa Việt Nam cơ bản trở thành nước Công nghiệp, ngành Công nghiệp Hà Nộiđang góp một phần quan trọng vào quá trình công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước
Hà Nội là một trong những trung tâm công nghiệp lớn của đất nước Từ năm
1997 đến nay, cơ cấu kinh tế của thành phố đang dịch chuyển theo hướng gia tăng tỷtrọng công nghiệp, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp và dịch vụ Tỷ trọng giá trị sảnxuất công nghiệp đã tăng đáng kể trong cơ cấu kinh tế trong vòng 15 năm qua Sảnxuất công nghiệp đang ngày càng trở nên quan trọng đối với sự phát triển kinh tế củathành phố
Khu vực công nghiệp có vai trò quan trọng trong quá trình công nghiệp hiện đại hoá của Hà Nội Để đạt được mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế theohướng tăng tỷ trọng công nghiệp, chúng ta cần đánh giá được quá trình phát triển củakhu vực này thời gian qua
hoá-Để nghiên cứu sâu hơn về thực trạng phát triển ngành công nghiệp Hà Nộitrong giai đoạn 1997-2007, đồng thời đưa ra một số kiến nghị giải pháp và dự đoáncho các năm tiếp theo, em đã chọn đề tài: "Vận dụng một số phương pháp thống kê
để phân tích giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn Hà Nội giai đoạn 1997-2007 và
dự đoán đến năm 2009"
Kết cấu của chuyên đề ngoài phần mở đầu và kết luận gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát chung về công nghiệp và sản xuất công nghiệp
Chương 2: Vận dụng một số phương pháp thống kê phân tích giá trị sản xuấtCông nghiệp thành phố Hà Nội giai đoạn 1997- 2007 và dự đoán đến năm 2009
Chương 3: Một số giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển của ngành côngnghiệp Hà Nội trong giai đoạn từ 2008 - 2020
Trang 2Tuy đã hết sức cố gắng nhưng do thời gian và vốn kiến thức còn nhiều hạnchế, chuyên đề sẽ không tránh khỏi những thiếu xót Em mong nhận được sự chỉ bảocủa các thầy, cô giáo để chuyên đề được hoàn thiện hơn Em xin chân thành cám ơnthạc sỹ Chu Thị Bích Ngọc_ giảng viên khoa Thống kê, đại học Kinh tế Quốc dân vàcác cô chú, anh chị trong phòng Thống kê Công nghiệp- Cục thống kê Hà Nội đãhướng dẫn, chỉ bảo tận tình giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề này.
Trang 3CHƯƠNG 1
Khái quát chung về công nghiệp và sản xuất công nghiệp
1 Những vấn đề cơ bản về Công nghiệp
1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò và phân loại Công nghiệp
1.1 Khái niệm về Công nghiệp
Công nghiệp là một ngành kinh tế to lớn, ngành sản xuất cơ bản thuộc lĩnh vựcsản xuất vật chất, bao gồm một hệ thống các ngành sản xuất chuyên môn hoá hẹp,mỗi ngành sản xuất chuyên môn hoá hẹp đó lại bao gồm nhiều đơn vị sản xuất kinhdoanh thuộc nhiều loại hình thức khác nhau Trên góc độ trình độ kỹ thuật và hìnhthức tổ chức sản xuất, Công nghiệp còn được cụ thể hoá bằng các khái niệm khácnhau như: Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, Công nghiệp lớn và Công nghiệpvừa và nhỏ, Công nghiệp quốc doanh và Công nghiệp ngoài quốc doanh
Công nghiệp là một trong hai ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, nóđóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân Công nghiệp là một tập hợp baogồm rất nhiều các ngành sản xuất khác nhau, với những đặc điểm sản xuất và côngnghệ được sử dụng cũng rất khác nhau
1.2 Đặc điểm của Công nghiệp
- Công nghiệp là ngành được ứng dụng khoa học kỹ thuật côngnghệ cao vào sản xuất Từ đây, nó có điều kiện phát triển sản phẩm, tăng tốc độ pháttriển khoa học- công nghệ; rồi lại áp dụng những thành tựu đó vào sản xuất Nhờ vậylực lượng sản xuất trong công nghiệp phát triển nhanh hơn các ngành kinh tế khác
- Công nghiệp là ngành duy nhất tạo ra sản phẩm làm chức năng
tư liệu lao động cho các ngành Do đó công nghiệp có vai trò gần như quyết địnhtrong việc cung cấp các yếu tố đầu vào xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho cácngành kinh tế quốc dân
- Công nghiệp là ngành hầu như không chịu ảnh hưởng, tác độngbởi điều kiện tự nhiên Do đó nó không phụ thuộc vào yếu tố tự nhiên
- Năng suất lao động của ngành công nghiệp thường cao hơn cácngành khác do có lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất phát triển, do được trang
bị cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, do có trình độ quản lý, tổ chức sản xuất hoàn thiện
Trang 4nên đã hình thành một đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn, có tính tổ chức và
kỷ luật cao
- Hiệu quả sản xuất của ngành công nghiệp là cao do được ứngdụng khoa học công nghệ hiện đại làm cho chu kỳ sản xuất rút ngắn lại, chi phí sảnxuất giảm, chất lượng sản phẩm không ngừng nâng cao, đáp ứng nhu cầu ngày càngtăng của xã hội
1.3 Vai trò của ngành công nghiệp trong nền kinh tế quốc dân
Ngành công nghiệp có vai trò rất lớn và mang ý nghĩa quyết định đối với toàn
bộ quá trình phát triển kinh tế -xã hội của đất nước, thể hiện ở các khía cạnh chủ yếusau:
Công nghiệp là lĩnh vực sản xuất vật chất quan trọng gần như vào bậcnhất của nhiều quốc gia Sự phát triển của ngành công nghiệp là một trong nhữngtiêu chuẩn đánh giá trình độ phát triển kinh tế của đất nước, là một trong những chỉtiêu dùng để so sánh quốc tế
Phát triển công nghiệp là con đường tất yếu và duy nhất nâng caokhông ngừng tiềm lực kinh tế, đẩy nhanh tiến bộ xã hội Sự phát triển của côngnghiệp là một yếu tố có tính chất quyết định để thực hiện quá trình CNH-HĐH toàn
bộ nền kinh tế quốc dân Công nghiệp tăng trưởng cao góp phần tích cực và trực tiếpđối với tốc độ tăng trưởng chung của toàn bộ nền kinh tế
Quá trình phát triển công nghiệp làm cho lực lượng sản xuất của xã hộiphát triển, cơ sở vật chất kỹ thuật tăng nhanh, trình độ tổ chức sản xuất và trình độngười lao động không ngừng lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng
Mục tiêu cuối cùng của sản xuất xã hội là tạo ra sản phẩm để thoả mãnnhu cầu ngày càng cao của con người Trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất,công nghiệp là ngành không chỉ khai thác tài nguyên mà còn chế biến các nguyênliệu được khai thác và sản xuất từ các tài nguyên khoáng sản, động thực vật thànhcác sản phẩm trung gian để sản xuất ra sản phẩm cuối cùng thoả mãn nhu cầu ngàycàng tăng của con nguời
Công nghiệp là một trong những ngành tạo ra thu nhập quốc dân, có ýnghĩa kinh tế- xã hội như: tạo ra việc làm cho nguời lao động, xóa bỏ sự cách biệtlớn giữa thành thị và nông thôn, giữa miền xuôi và miền núi
Trang 5 Nếu nhìn ở một khía cạnh khác thì phát triển công nghiệp còn đảm bảotăng cường tiềm lực quốc phòng Quốc phòng muốn vững chắc thì một phần phải cónền công nghiệp phát triển cao để trang bị những phương tiện, khí tài tinh nhuệ hiệnđại cho quân đội.
Công nghiệp phát triển sẽ tạo ra môi trường thuận lợi để thu hút vốnđầu tư trong và ngoài nước, mở rộng các quan hệ kinh tế- thương mại với nướcngoài
1.4 Phân loại công nghiệp
Người ta dựa vào các tiêu chí khác nhau để phân loại công nghiệp Tuỳ theomục đích nghiên cứu về phát triển công nghiệp mà lựa chọn phương pháp phân loạicho phù hợp Phân loại công nghiệp thường phân theo các lĩnh vực, theo các loạihình sở hữu và phân ngành có đặc trưng chuyên môn hoá khác nhau
1.4.1. Dựa vào công dụng kinh tế của sản phẩm, người ta chia thành 2 ngành
lớn là sản xuất tư liệu sản xuất và sản xuất tư liệu tiêu dùng Theo cách phân loại nàyngành công nghiệp chia thành hai nhóm ngành tương ứng là công nghiệp nặng vàcông nghiệp nhẹ
Sự phân loại này thường sử dụng trong mô hình kinh tế khép kín trước đây, khi
mà nhiều nước thường căn cứ vào cách chia này để vận dụng quy luật tái sản xuất
mở rộng, xây dựng mô hình ưu tiên phát triển công nghiệp nặng Ngày nay trongđiều kiện toàn cầu hoá và hội nhập thì người ta ít dựa vào sự phân loại này hơn
1.4.2 Dựa vào quy mô của doanh nghiệp sản xuất công nghiệp, chia ngành công
nghiệp thành 3 khu vực là: doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa và doanhnghiệp nhỏ Cách phân loại này đặc biệt có ý nghĩa trong đánh giá hiệuquả và hoạch định chính sách phát triển cho các doanh nghiệp
1.4.3 Dựa vào tính chất biến đổi đối tượng lao động và công dụng của sản
phẩm ( phân theo ngành cấp 1 trong hệ thống phân ngành kinh tế Việt
Nam )
Theo cách chia này, ngành công nghiệp chia thành 3 nhóm ngành là: côngnghiệp khai thác mỏ; công nghiệp chế biến và ngành sản xuất, phân phối điện, khíđốt và nước
Trang 6a Ngành công nghiệp khai thác mỏ
Ngành công nghiệp khai thác được hiểu là các hoạt động khai thác khoáng sản
có trong tự nhiên như: than, dầu tạo thành nguyên liệu thô làm đầu vào cho cácgiai đoạn chế biến tiếp theo
Ngành này gồm: khai thác khoáng tự nhiên ở dạng cứng ( than và quặng ), chấtlỏng ( dầu thô ) hoặc khí ( khí gas tự nhiên ) Khai thác có thể được thực hiện theonhiều phương pháp khác nhau như dưới lòng đất hoặc trên bề mặt, khai thác dưới đáybiển…Ngành này cũng gồm các hoạt động phụ trợ như chuẩn bị các nguyên liệu thôcho kinh doanh, ví dụ như: nghiền, cắt, rửa sạch, phân loại, nung quặng, hoá lỏng gas
và các nhiên liệu rắn Các hoạt động này thường được thực hiện bởi các đơn vị khaithác mỏ và/ hoặc các đơn vị khác gần đó
Ngành này không bao gồm các hoạt động:
Sử dụng các quặng được khai thác mà không có sựchuyển đổi nào thêm cho mục đích xác định
Nghiền, ép hoặc các xử lý khác đối với đất, đá và chấtkhác không liên qua đến khai thác mỏ, quặng
Thu thập, làm sạch và phân phối nước
Chuẩn bị mặt bằng cho khai thác mỏ
Điều tra địa vật lý, địa chấn như công tác điều tra, thăm dòkhoáng sản…
b Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo
Công nghiệp chế biến, chế tạo là các hoạt động làm biến đổi về mặt vật lý,hoá học của vật liệu, chất liệu hoặc làm biến đổi các thành phần cấu thành của nó đểtạo ra các sản phẩm mới theo yêu cầu của con người
Vật liệu, chất liệu hoặc các thành phần biến đổi là nguyên liệu thô từ các sảnphẩm nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản, khai thác mỏ hoặc quặng cũng như cáchoạt động khác của sản phẩm chế biến Những thay đổi, đổi mới hoặc khôi phục lạihàng hoá thường được xem xét là hoạt động chế biến
Trang 7Đầu ra của quá trình sản xuất có thể được coi là hoàn thiện dưới dạng là sảnphẩm cho tiêu dùng cuối cùng hoặc là bán thành phẩm và trở thành đầu vào của hoạtđộng chế biến tiếp theo.
Ngành này còn gồm các hoạt động:
o Các hoạt động lắp ráp sản phẩm mà sau khi lắp ráp làm thayđổi hình thái ban đầu của sản phẩm
o Các hoạt động gia công như sơn, tộ, mạ nhuộm màu
Các hoạt động đó có thể được tiến hành bằng máy móc, bằng tay, chế biếntrong nhà máy hoặc tại nhà ở của người lao động, người thợ
Ngành này không gồm các hoạt động:
- Lắp ráp đường ray, xây cầu, thang máy, các thiết bị máy mócvào vận hành dây truyền sản xuất
- sửa chữa ô tô, xe máy và các xe có động cơ khác
- Hoạt động lắp ráp trong các đơn vị bán buôn, bán lẻ
c Ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí.
Ngành này là sự kết hợp của 3 ngành: điện, khí đốt và nước nhằm cung cấpđiện, khí đốt và nước cho sản xuất và sinh hoạt
Ngành này gồm:
- Hoạt động phân phối năng lượng điện, khí tự nhiên, hơi nước
và nước nóng thông qua một hệ thống ống dẫn, đường dây ổn định lâu dài ( mạnglưới ) Chiều dài của mạng lưới này không quan trọng; ở đây cũng bao gồm cả việccung cấp điện, khí đốt, hơi nước, nước nóng và các loại tương tự trong khu côngnghiệp và khu nhà ở cao tầng
- Hoạt động cung cấp điện và gas, bao gồm thu thập, giám sát vàphân phối điện, gas Nó cũng bao gồm cung cấp hơi nước và điều hoà không khí
Ngành này không bao gồm:
- Các hoạt động tưới tiêu trong nông nghiệp và hoạt động xử lý nướcthải
Trang 8- Vận chuyển gas qua đường dây ( chủ yếu là đường dài )
1.4.4 Dựa vào sự khác nhau về quan hệ sở hữu, hình thức tổ chức sản xuất
xã hội mà công nghiệp được chia ra thành: công nghiệp nhà nước, công nghiệp ngoài
nhà nước và công nghiệp có vốn đầu tư ngoài
- Công nghiệp nhà nước bao gồm kinh tế nhà nước trung ương vàkinh tế nhà nước địa phương.Chẳng hạn như các doanh nghiệp nhà nước, công tytrách nhiệm hữư hạn nhà nước, công ty cổ phần nhà nước… mà hoạt động trong lĩnhvực công nghiệp
- Khu vực công nghệp có vốn đầu tư nước ngoài, bao gồm:
Các doanh nghiệp công nghiệp 100% vốn nước ngoài;
Liên doanh giữa nước ngoài với doanh nghiệp công nghiệp nhà nước;
Liên doanh giữa nước ngoài với các đơn vị khác ở trong nước
- Công nghiệp ngoài nhà nước gồm các doanh nghiệp côngnghiệp không thuộc sở hữu của nhà nước nhưng cũng không liên doanh với nướcngoài
2 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của sản xuất công nghiệp
2.1 Khái niệm sản xuất công nghiệp
Sản xuất là hoạt động có mục đích của con người ( có thể làm thay được ) để tạo
ra sản phẩm hữu ích, sản phẩm vật chất và sản phẩm dịch vụ; nhằm thoả mãn nhucầu nào đó của cá nhân hoặc xã hội
Sản xuất công nghiệp là hoạt động sản xuất diễn ra trong công nghiệp nhằm tạo
ra các sản phẩm công nghiệp thoả mãn nhu cầu tiêu dùng của xã hội hoặc cá tiêu dùng cho sản xuất, cho đời sống, cho tích luỹ và xuất khẩu
nhân-Nhưng không phải hoạt động sản xuất nào cũng coi là sản xuất công nghiệp Màphạm vi của sản xuất công nghiệp là các hoạt động phù hợp với pháp luật và loại trừcác hoạt động dịch vụ tự sản tự tiêu Việc xác định phạm vi sản xuất công nghiệpnhư vậy cũng chính là xác định nhất quán phạm vi tính giá trị sản xuất công nghiệp
2.2.Đặc điểm của sản xuất công nghiệp
Thứ nhất, sản xuất công nghiệp có khả năng chuyên môn hoá sâu và hiệp táchoá rộng
Trang 9Chuyên môn hoá trong sản xuất là mỗi cơ sở sản xuất chỉ tập trung và sản xuấtmột loại sản phẩm hoặc một số bộ phận của một loại sản phẩm nhất định Hiệp táchoá trong sản xuất là sự gắn kết mật thiết của nhiều cơ sở sản xuất để sản xuất ra mộtloại sản phẩm từ nhiều nguồn nguyên liệu, nhiên liệu khác nhau; đây là hình thức tổchức sản xuất mang tính xã hội hoá cao.
Trong sản xuất công nghiệp, chuyên môn hoá và hiệp tác hoá sản xuất có mốiquan hệ rất mật thiết với nhau Để đẩy mạnh chuyên môn hoá và hiệp tác hoá cầnphân bố các xí nghiệp công nghiệp thành các cụm công nghiệp, khu công nghiệp
Thứ hai, sản xuất công nghiệp có khả năng liên hợp rộng
Liên hợp hoá là quá trình liên kết rất nhiều cơ sở sản xuất của nhiều ngànhcông nghiệp khác nhau nhằm sản xuất ra nhiều loại sản phẩm khác nhau
Liên hợp hoá trong sản xuất công nghiệp được thể hiện ở sự thành lập các xínghiệp liên hợp Đặc điểm này đòi hỏi trong tổ chức sản xuất công nghiệp cần phân
bố các cơ sở sản xuất công nghiệp có mối quan hệ gắn bó với nhau về mặt côngnghệ, hình thành các tổ hợp sản xuất thống nhất trên mỗi vùng lãnh thổ để tạo ra điềukiện thuận lợi cho việc tổ chức và quản lý sản xuất, nâng cao hiệu quả sản xuất kinhdoanh của từng doanh nghiệp
Thứ ba, sản xuất công nghiệp có tính tập trung cao độ
Tính tập trung cao của sản xuất công nghiệp được thể hiện là trên một phạm vikhông gian không phải là lớn nhưng có sự tập trung cao độ về tư liệu sản xuất, tậptrung về dân cư và lao động, tập trung về các sản phẩm được sản xuất ra
Sự tập trung trong sản xuất công nghiệp tạo điều kiện thuận lợi cho việc ápdụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật, đưa nhanh những công nghệ tiên tiến vào sảnxuất; đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh Sự tập trung hoá trong sản xuất côngnghiệp còn tạo điều kiện thuận lợi để tiến hành liên hợp hoá, hiệp tác hoá và đẩynhanh chuyên môn hoá trong sản xuất Việc tập trung về dân cư và lao động một mặttạo cơ sở thuận lợi cho việc sử dụng lao động, mặt khác còn tạo điều kiện nâng caođời sống cho nhân dân
với đặc điểm này, trong tổ chức sản xuất công nghiệp cần chú ý tới việc khaithác những lợi thế do tính tập trung tạo ra; đặc biệt là chú ý tới việc phát triển cáckhu công nghiệp, trung tâm công nghiệp hay vùng công nghiệp
Trang 10Thứ t ư sản xuất công nghiệp ít chịu ảnh hưởng bởi các điều kiện tự nhiên
Do các hoạt động sản xuất công nghiệp thường được tiến hành trong nhà,xưởng Hơn nữa, các đối tượng chủ yếu của sản xuất công nghiệp lại là các vật thể
vô sinh hoặc đã bị vô sinh hoá trước khi đưa vào sản xuất Do đó, những ảnh hưởngbởi các điều kiện tự nhiên ít gây ra những ảnh hưởng đáng kể tới các hoạt động sảnxuất công nghiệp
2.3 Vai trò của sản xuất công nghiệp
Sự phát triển của sản xuất công nghiệp là cơ sở quan trọng để nâng cao năngsuất lao động xã hội, tác động sâu sắc đến tất cả các ngành KTQD Bởi vì côngnghiệp đảm bảo cung cấp các loại máy móc thiết bị, cung cấp nguyên liệu, nhiên liệu,năng lượng và nhiều loại vật tư khác cho toàn bộ các ngành của nền kinh tế; đẩymạnh cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, đổi mới công nghệ, nhanh chóng đưa cáccông nghệ tiên tiến vào sản xuất
Sự phát triển của sản xuất công nghiệp còn có ý nghĩa hết sức quan trọng đối vớiviệc đẩy mạnh sự phân công lại lao động xã hội, phân bố lại lực lượng sản xuất một cáchhợp lý, tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất lớn Sản xuất côngnghiệp đảm bảo tăng cường tiềm lực cho nền kinh tế, nâng cao phúc lợi và nâng cao đờisống vật chất của nhân dân Phát triển và phân bố sản xuất công nghiệp một cách hợp lý
có khả năng tạo ra môi trường sản xuất kinh doanh thuận lợi, thu hút các nhà đầu tư đặcbiệt là các nhà đầu tư nước ngoài Do đó sự phát triển và phân bố hợp lý sản xuất côngnghiệp có ý nghĩa quyết định đối với sự nghiệp CNH- HĐH đất nước
2 Chỉ tiêu giá trị sản xuất công nghiệp ( GOCN)
1 Khái niệm GO CN
Giá trị sản xuất công nghiệp là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh kết quảhoạt động sản xuất kinh doanh của ngành công nghiệp tạo ra dưới dạng sản phẩm vậtchất và dịch vụ trong một thời gian nhất định
Giá trị sản xuất công nghiệp là toàn bộ giá trị của các sản phẩm vật chất và dịch
vụ hữu ích do lao động công nghiệp của doanh nghiệp làm ra trong một thời kỳ nhấtđịnh( thường là một năm) Và nó là bộ phận chủ yếu của chỉ tiêu GO chung của toàndoanh nghiệp công nghiệp
Như vậy GOCN là chỉ tiêu số lượng, tuyệt đối, thời kỳ
Trang 112 Ý nghĩa của chỉ tiêu GO trong hoạt động sản xuất công nghiệp
- GOCN phản ánh quy mô về kết quả sản xuất công nghiệp của doanh nghiệp
- Là cơ sở để tính VA, NVA của doanh nghiệp
- Là căn cứ tính các chỉ tiêu hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
- GOCN còn dùng để tính GDP, GNI của nền kinh tế quốc dân
3 Nguyên tắc tính GO CN
Để xác định chính xác chỉ tiêu GOCN phải tuân theo các quy định sau:
- Chỉ tiêu GOCN được tính theo giá sử dụng cuối cùng ( giá thị trường)
- Thời điểm xác định chỉ tiêu là thời điểm sản xuất( chế tạo)
Tức là kết quả của hoạt động sản xuất tạo ra GOCN của thời kỳ nào thì phải tính chothời kỳ đó
- Tính toàn bộ giá trị sản phẩm Theo nguyên tắc này, cần tính vào
GOCN cả giá trị nguyên vật liệu của khách hàng
- Tính toàn bộ kết quả sản xuất Theo nguyên tắc này cần tính vào
GOCN không chỉ thành phẩm mà cả nửa thành phẩm và sản phẩm dở dang
Chỉ tính kết quả trực tiếp, cuối cùng của hoạt động sản xuất công nghiệp trongđơn vị hạch toán độc lập.Nghĩa là chỉ được tính kết quả do chính doanh nghiệp tạo ra
và tính một lần; không tính trùng trong phạm vi của doanh nghiệp và không tínhnhững sản phẩm mua vào rồi bán ra không qua chế biến gì thêm tại doanh nghiệp
4 Nội dung của chỉ tiêu GO CN
Giá trị sản xuất công nghiệp bao gồm: giá trị của nguyên vật liệu, năng lượng, phụtùng thay thế, chi phí dịch vụ sản xuất, khấu hao tài sản cố định, chi phí lao động, thuế sảnxuất và giá trị thặng dư tạo ra trong cấu thành giá trị sản phẩm công nghiệp
Theo số liệu sản xuất GOCN gồm các yếu tố:
- Giá trị thành phẩm( sản phẩm chính, phụ và nửa thành phẩm)sản xuất bằng nguyên vật liệu của doanh nhiệp;
- Giá trị chế biến thành phẩm làm bằng nguyên vật liệu củakhách hàng Bởi khi nhận gia công, doanh nghiệp không biết thông tin về giá cả vật
tư mà khách hàng mang đến nên không cần phải tách giá trị vật tư
- Giá trị sản phẩm của hoạt động sản xuất phụ( khi các sảnphẩm này không thể tách riêng về ngành phù hợp);
Trang 12- Giá trị phế phẩm, phế liệu thu hồi đã tiêu thụ
- Chênh lệch gía trị của những sản phẩm trung gian ( tức lànửa thành phẩm và sản phẩm dở dang), công cụ dụng cụ, mô hình tự chế giữa cuối
Theo số liệu tiêu thụ, GOCN bao gồm các khoản như sau:
- Doanh thu tiêu thụ thành phẩm ( chính, phụ và nửa thành phẩm) dolao động của doanh nghiệp làm ra
- Doanh thu tiêu thụ thành phẩm( chính, phụ và nửa thành phẩm) làmbằng nguyên, vật liệu của doanh nghiệp nhưng thuê gia công bên ngoài
- Doanh thu từ hợp đồng chế biến sản phẩm cho khách hàng
- Doanh thu tiêu thụ sản phẩm của hoạt động sản xuất phụ ( khikhông thể hạch toán riêng về ngành phù hợp)
- Thu nhập từ hàng hóa mua vào, bán ra không qua chế biến
- Doanh thu bán phế liệu, phế phẩm
- Chênh lệch giá trị sản phẩm trung gian và công cụ, dụng cụ, môhình tự chế giữa cuối kỳ và đầu kỳ
- Chênh lệch giá trị thành phẩm tồn kho giữa cuối và đầu kỳ
- Chênh lệch giá trị hàng hoá đã gửi bán chưa thu được tiền giữa cuối
và đầu kỳ
- Doanh thu cho thuê nhà xưởng, máy móc, thiết bị trong dây truyềnsản xuất của doanh nghiệp
Lưu ý: Ở giác độ tiêu thụ GOCN chỉ tính theo theo giá hiện hành
Một số khái niệm liên quan:
Trang 13o Sản phẩm chính: Là những mặt hàng chủ yếu đáp ứng mục đíchchính của quy trình sản xuất.
o Sản phẩm phụ: Là những mặt hàng làm ra theo mục đích phụcủa quy trình sản xuất
o Phế phẩm, phế liệu: Phế phẩm là sản phẩm hỏng, không đạt yêucầu kỹ thuật, không thể sửa chữa được, bị loại ra sau khi kiểm tra chất lượng Phếliệu là những phần thừa, mẩu vụn, cặn bã sau quá trình sản xuất Và những phếphẩm, phế liệu đã thu hồi chỉ sau khi bán cho cơ sở khác mới được coi là sản phẩmcông nghiệp, là kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
o Thành phẩm: Là những sản phẩm đã trải qua tất cả các khâu củaquy trình sản xuất của doanh nghiệp, đạt tiêu chuẩn kỹ thuật quy định Sau khi kiểmtra chất lượng những sản phẩm này được nhập kho hay giao trực tiếp cho khách hàng(trừ một số trường hợp ngoại lệ không phải kiểm tra chất lượng hoặc không phảinhập kho như sản xuất điện, nước đá ) Thành phẩm ở đây được hiểu không phải chỉ
là những sản phẩm tốt mà còn bao gồm cả những sản phẩm hỏng nhưng đã được sửachữa và nửa thành phẩm bán ra ngoài phạm vi của doanh nghiệp
o Nửa thành phẩm ( còn gọi là bán thành phẩm): Là những sảnphẩm được hoàn thành sau một hay một số khâu nào đó của quy trình sản xuất trướckhâu cuối cùng nhưng đã đạt yêu cầu kỹ thuật đến khâu đó và còn phải tiếp tục chếbiến ở khâu sau
o Sản phẩm dở dang ( còn gọi là tại phế phẩm): Là những vậtphẩm đang được chế biến ở bất kỳ bước gia công nào, kể cả ở công đoạn lắp ráp vàchưa qua khâu kiểm tra kỹ thuật
5 Phương pháp tính GO CN
Theo phương pháp doanh nghiệp: GOCN tính theo phương pháp này lấy doanhnghiệp( xí nghiệp) làm đơn vị tính Thực chất của phương pháp này là cộng tổng giátrị sản xuất của tất cả các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau trongnền kinh tế quốc dân Nó phản ánh kết quả sản xuất cuối cùng của doanh nghiệpcông nghiệp đó, không bao gồm giá trị của sản phẩm chu chuyển trong nội bộ củadoanh nghiệp ( giữa các phân xưởng)
Trang 14Theo phương pháp phân phối ( cấu thành giá trị) thì:
GOCN = C+V+M= C1+C2+V+M
Trong đó:
C1: Khấu hao tài sản cố định dùng vào hoạt động sản xuất, kinh doanh công nghiệp
C2: Chi phí trung gian (IC): bao gồm toàn bộ chi phí vật chất khác ( không kểkhấu hao TSCĐ) và chi phí dịch vụ cho sản phẩm công nghiệp của doanh nghiệp.Chi phí trung gian là chi phí sử dụng đối tượng lao động cho sản phẩm trung gian đểlàm ra sản phẩm cuối cùng trong một thời kỳ và do đó là một bộ phận cấu thành quantrọng của tổng chi phí sản xuất của doanh nghiệp, được tính theo phương pháp SNAV: Là thù lao lao động: Thu nhập lần đầu của người lao động hay quỹ phân phốilần đầu của người lao động
M: thặng dư sản xuất ( số dư kinh doanh thô): Là tổng thu nhập lần đầu tạo ratrong doanh nghiệp công nghiệp
CHƯƠNG 2 Vận dụng một số phương pháp thống kê phân tích giá trị sản xuất Công nghiệp thành phố Hà Nội giai đoạn 1997- 2007 và dự đoán đến năm 2009
2.1 Thực trạng phát triển ngành công nghiệp Hà Nội giai đoạn 1997-2007
2.1.1 Vai trò, điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội của Hà Nội
Hà Nội nằm trên châu thổ sông Hồng là trung tâm của miền Bắc Việt Nam, là nơihội tụ nhiều điều kiện thuận lợi về tự nhiên, kinh tế-xã hội, văn hoá, thương mại giaodịch quốc tế và du lịch Với hệ thống mạng lưới giao thông đồng bộ bao gồm đường
bộ, đường sông, đường sắt và đường hàng không; Hà Nội là nơi thuận lợi để pháttriển các ngành công nghiệp
Hà Nội có diện tích 927 km2 trong đó nội thành 187 km2 và ngoại thành 740km2.Theo thống kê năm 2007, dân số toàn thành phố Hà Nội là 2,7 triệu người trong đónội thành 1,3 triệu người, ngoại thành 2,4 triệu người Hà Nội bao gồm 9 quận nộithành là Ba Đình, Hoàn Kiếm, Tây Hồ, Long Biên, Cầu Giấy, Đống Đa, Hai Bà
Trang 15Trưng, Hoàng Mai, Thanh Xuân Và 5 quận, huyện ngoại thành là Sóc Sơn, GiaLâm, Từ Liêm, Thanh Trì, Đông Anh.
Bộ mặt kinh tế-xã hội của Hà Nội đã có những thay đổi rõ nét, thế và lực hiện nay tốthơn nhiều so với 10 năm trước Chính trị ổn định, quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xãhội được củng cố, giữ vững Cơ sở hạ tầng đã có bước nhảy vọt về chất.Đời sống cả vậtchất và tinh thần của đại bộ phận các tầng lớp dân cư được cải thiện rõ rệt
Hà Nội là một thành phố tập trung nguồn nhân lực, trí tuệ dồi dào chiếm trên 62%
số cán bộ khoa học và quản lý có trình độ trên đại học, giáo sư, tiến sĩ, thạc sỹ của cảnước hiện đang sống và làm việc tại Hà Nội Người dân Hà Nội có trình độ dân trí vàtay nghề khá cao, có khả năng tiếp nhận nhanh chóng các công nghệ hiện đại cũngnhư trình độ quản lý tiên tiến
Hà Nội là thủ đô của nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là trung tâmkinh tế- chính trị- văn hoá của cả nước, nơi làm việc của các cơ quan đầu não củaViệt Nam như: Trung ương Đảng, chính phủ, các bộ chuyên ngành Hà Nội là nơi
có vị thế thuận lợi, có chính sách kinh tế đối ngoại mở cửa linh hoạt, là trung tâmgiao dịch kinh tế và trung tâm giao lưu quốc tế quan trọng của cả nước Do đó HàNội giữ một vị trí đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển quốc gia Hà Nộiluôn là trọng điểm trong quy hoạch phát triển của đất nước với nhiệm vụ then chốthiện nay là thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước.Việc nắm rõ các điều kiện tự nhiên, kinh tế -xã hội của Hà Nội là rất cần thiết Nó
có ý nghĩa thực tiễn trong công tác quản lý và hoạch định chính sách phát triển củavùng, của các ngành, của quốc gia Nó còn giúp ta phân tích được những nguyênnhân, đưa ra được những kết luận về sự phát triển của một vấn đề nào đó trong thờigian đã qua Trong phạm vi của chuyên đề này chỉ chú trọng khai thác mảng côngnghiệp bởi những lý do sau:
Công nghiệp là một ngành có vai trò rất quan trọng trong nềnKTQD Với Việt Nam hiện nay ngành công nghiệp là ngành chiếm tỷ trọng chủ yếutrong GDP Đặc biệt trong quá trình CNH- HĐH của nước ta hiện nay thì côngnghiệp đang được chú trọng, ưu tiên phát triển hàng đầu
Hà Nội là một trung tâm công nghiệp lớn của cả nước, là thànhphố chiếm tỷ trọng công nghiệp lớn trong cơ cấu công nghiệp của quốc gia Tốc độ
Trang 16tăng trưởng của ngành công nghiệp Hà Nội trong nhiều năm liền luôn ở mức cao, lànơi dẫn đầu trong thực hiện sự nghiệp CNH- HĐH đất nước.
2 1.2 Thực trạng ngành công nghiệp Hà Nội trong thời gian qua
Phần này nhằm mục đích đem lại một cái nhìn tổng thể kết quả của ngành côngnghiệp Hà Nội trong những năm qua
2.1.2.1.Giá trị sản xuất và tăng trưởng
Cơ cấu kinh tế và tốc độ tăng trưởng
Hà Nội là một trong số các tỉnh, thành phố có tốc độ tăng trưởng GDP cao so vớichung bình chung của cả nước.Tỷ lệ tăng trưởng GDP của Hà Nội thường cao hơnmức chung bình chung của cả nước từ 1,3 đến 1,5 lần ( Hoàng Văn Nghiên, 2003)11
..Trong giai đoạn 1997-2007 tốc độ tăng trưởng trung bình năm của thành phố luônđạt hai con số Năm 2007 GDP thực tế của thành phố gấp khoảng 5 lần so với GDPnăm 1990 Có được kết quả tăng truởng như vậy có phần đóng góp rất lớn của khuvực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ
Khu vực công nghiệp và xây dựng có tốc độ phát triển nhanh nhất trong ba khuvực kinh tế và đang chiếm một vị trí ngày càng quan trọng trong GDP Tỷ trọng giátrị của khu vực này liên tục tăng qua các năm và đến năm 2007, công nghiệp và xâydựng chiếm hơn 40% GDP của thành phố.Cơ cấu kinh tế của thành phố đang dịchchuyển theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp, xây dựng và giảm tỷ trọng của nôngnghiệp, dịch vụ
Chỉ tính riêng công nghiệp, trong giai đoạn 1997-2000 tốc độ tăng trưởng đã khácao với mức 15,36%/ năm Nhưng năm sau đó, giai đoạn 2001-2002 tốc độ này còncao hơn khi đạt 16,85%/ năm Tỷ lệ tăng trưởng chung cho cả thời kỳ 1997-2002 củangành công nghiệp Hà Nội là 16,35%; trong đó công nghiệp chế biến có tốc độ tăngtrưởng cao nhất, tiếp đến là công nghiệp điện, nước, gas, khí đốt và công nghiệp khaithác có mức tăng trưởng thấp nhất (báo cáo tổng hợp đánh giá thực hiện quy hoạchcông nghiệp 2001-2010)
Nằm trong xu hướng phát triển chung của cả nước và thế giới, giai đoạn
1998-1999 do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính châu Á mà tốc độ tăng trưởng cácngành, khu vực của Hà Nội đều suy giảm Công nghiệp và xây dựng là hai khu vực
1 Bài viết trong diễn đàn"Việt Nam: sãn sàng tham gia tổ chức thương mại thế giới" tại Hà Nội ngày 3-4 tháng
6 năm 2003.
Trang 17bị ảnh hưởng ít nhất, còn nặng nề nhất là nông nghiệp Từ năm 2000, tăng trưởng củacác khu vực đã dần phục hồi lại Công nghiệp là ngành phục hồi nhanh với tỷ lệ tăngtrưởng mạnh mẽ nhất Đến năm 2004, giá trị sản xuất nông nghiệp đạt 641 tỷ đồngtrong khi công nghiệp đạt 12332 tỷ đồng và dịch vụ dẫn đầu với 17552 tỷ đồng Năm
2007 giá trị sản xuất công nghiệp Hà Nội đã lên tới 51725 tỷ đồng
Cơ cấu công nghiệp theo thành phần kinh tế
Sự ra đời và có hiệu lực của luật doanh nghiệp năm 2000 đã tạo ra một môitrường thuận lợi cho việc thành lập nhiều công ty mới Năm 2001, toàn thành phố có
1443 doanh nghiệp công nghiệp thì đến năm 2004 con số này đã là 2787.Theo cụcthống kê Hà Nội 2005, sự phát triển của các doanh nghiệp đã góp phần phát huy tiềmnăng vốn, giải quyết việc làm cho một bộ phận lao động, tăng sản phẩm xã hội cũngnhư làm tăng nguồn thu cho ngân sách
Trong sự phát triển của số lượng doanh nghiệp thì đáng chú ý nhất là sự vượtbậc của doanh nghiệp ngoài nhà nước Số doanh nghiệp tăng từ 1089 năm 2001 lên
2399 năm 2004 Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng có sự phát triển nhanhchóng, với tổng số 163 doanh nghiệp năm 2004 đã tăng 43 doanh nghiệp so với năm
2001 Đặc biệt tỷ trọng các doanh nghiệp nhà nước có xu hướng giảm dần qua cácnăm Thực tế này không chỉ phản ánh kết quả của quá trình cổ phần hoá doanhnghiệp ở Hà Nội mà còn cho thấy các chính sách cải thiện môi trường đầu tư và kinhdoanh đối với khu vực ngoài nhà nước được bình đẳng hơn
Cơ cấu công nghiệp theo thành phần kinh tế có sự thay đổi khá rõ trong giaiđoạn 1997-2007 Tỷ trọng giá trị sản xuất của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăngrất nhanh trong khi tỷ trọng của công nghiệp nhà nước lại giảm rất mạnh Tỷ trọnggiá trị sản xuất của công nghiệp nhà nước giảm 70% năm 1997 xuống còn 43% năm
2006 Trong khi đó khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng từ 19% năm 1997 đến36% năm 2006 Khu vực kinh tế ngoài nhà nước có tăng lên nhưng chậm hơn, tỷtrọng tăng từ 11% năm 1997 lên 21% năm 2006
Kết qủa thu thập được cho thấy mặc dù chiếm tỷ lệ cao về số lượng nhưng khuvực công nghiệp nhà nước có tỷ trọng trong cơ cấu tổng giá trị sản xuất công nghiệptoàn thành phố không cao, chỉ chiếm khoảng 1/5 tổng giá trị sản xuất công nghiệpnăm 2004 Khu vực công nghiệp nhà nước mặc dù bị giảm đáng kể về tỷ trọng trong
Trang 18những năm qua nhưng vẫn giữ một vai trò quan trọng trong công nghiệp của thànhphố Còn khu vực có vốn đầu tư nước ngoài với tốc độ tăng trưởng nhanh đã chothấy khả năng thu hút vốn đầu tư của Hà Nội.
Doanh nghiệp của thủ đô có mặt ở hầu hết các lĩnh vực công nghiệp chủ yếu,trừ một số ngành công nghiệp khai thác Cả ba khu vực đều có xu hướng tập trung ởmột số ngành chính như chế biến thực phẩm, may mặc, xuất bản in ấn, sản xuất sảnphẩm từ kim loại và phi lim loại Một số ngành có số doanh nghiệp tăng nhanh nhưngành in ấn có số doanh nghiệp năm 2004 tăng 2,8 lần so với năm 2001 hay ngànhsản xuất sản phẩm tù kim loại tăng 2,5 lần
Các doanh nghiệp công nghiệp phân bố manh mún, chồng chéo giữa các ngành,các đơn vị quản lý, giữa Trung ương và địa phương quản lý Công nghiệp do địaphương quản lý nhỏ, giá trị sản xuất của các doanh nghiệp nhà nước và các doanhnghiệp thành lập theo luật doanh nghiệp, luật hợp tác xã, hộ cá thể 6 tháng năm 2001chỉ chiếm 25,1% trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn
Sản xuất công nghiệp nhìn chung giữ được nhịp độ tăng trưởng cao songtính ổn định trong sản xuất chưa cao Khu vực các doanh nghiệp công nghiệp doTrung ương quản lý do được đầu tư ban đầu tương đối đồng bộ, sản phẩm của cácdoanh nghiệp tiêu thụ được trên thị trường do vậy sản xuất mang tính ổn định nhất,Các doanh nghiệp công nghiệp địa phương và công nghiệp ngoài nhà nước hiện tạivẫn đang có sự tăng trưởng khá nhưng tính ổn định không cao, sản phẩm của cácdoanh nghiệp của khu vực này chủ yếu tiêu thụ cho thị trường nông thôn phía bắc
và các tỉnh miền trung là nơi có mức thu nhập bình quân đầu người thấp, lâu dài nếukhông được đầu tư đổi mới công nghệ và thay đổi cơ cấu sản phẩm thích hợp sẽkhó cạnh tranh được với sản phẩm của các địa phương khác và sản phẩm ngoạinhập Khu vực các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tính ổn định trong sảnxuất kinh doanh rất thấp, ngoại trừ một số doanh nghiệp vốn đầu tư lớn và có được
cơ cấu sản phẩm thích hợp và thị trường tiêu thụ ổn định sản xuất phát triển, nhữngdoanh nghiệp đầu tư vừa và nhỏ sản xuất rất bấp bênh, tính ổn định trong sản xuấtkinh doanh rất thấp
Trang 19 Quy mô doanh nghiệp công nghiệp
Số lao động bình quân một doanh nghiệp hiện nay là 105 người; trong đó quy
mô trung bình của doanh nghiệp ngoài nhà nước là 38 lao động Thực tế này có thể
do các doanh nghiệp mới thành lập phần nhiều chuyển từ hình thức hộ gia đình sang.Quy mô lao động lớn thường tập trung ở các ngành có đặc thù về dây truyền sảnxuất như may mặc, sản xuất sản phẩm kim loại
Theo quy định hiện hành của Chính phủ tiêu chí phân loại doanh nghiệpvừa và nhỏ là những doanh nghiệp có quy mô dưới 300 lao động và vốn dưới 10
tỷ đồng thì đại bộ phận các doanh nghiệp Hà nội được xếp vào loại doanh nghiệpquy mô vừa và nhỏ, doanh nghiệp có quy mô lớn không nhiều, trong 9569 doanhnghiệp thì có 9125 doanh nghiệp có dưới 300 lao động, chiếm 95,4 % và 8084doanh nghiệp có quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng, chiếm 84% Doanh nghiệp quy môtrên nhỏ thường đi kèm kỹ thuật và công nghệ lạc hậu, chỉ có 6% doanh nghiệp cóquy mô vốn trên 500 tỷ đồng và 2,7% doanh nghiệp có quy mô trên 500 lao động,trong đó sự cách biệt về quy mô cũng như trang bị kỹ thuật công nghệ rất khác nhau.kinh tế nhà nước có quy mô lớn nhất về lao động, bình quân 471 người trên một doanhnghiệp, gấp 21 lần doanh nghiệp ngoài nhà nước, và gấp 4,4 lần doanh nghiệp có vốnđầu tư nước ngoài Ngược lại xét theo quy mô vốn thì doanh nghiệp có vốn đầu tưnước ngoài có quy mô lớn nhất bình quân 129,7 tỷ đồng/ doanh nghiệp gấp 26 lần socác doanh nghiệp ngoài quốc doanh, gấp 1,1 lần doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tếnhà nước Trang bị tài sản cố định trên một lao động tương ứng các doanh nghiệp đầu
tư nước ngoài 631 triệu đồng/ lao động, gấp 8,2 lần thành phần kinh tế nhà nước và gấp12,6 lần thành phần kinh tế ngoài nhà nước
Doanh nghiệp nhà nước được xác định giữ vai trò chủ đạo của nền kinh tế,mặc dù khu vực kinh tế nhà nước chỉ chiếm 9% về số lượng doanh nghiệp nhưngchiếm tới 65% về lao động, 57,2% về vốn thực tế sử dụng, 51,1% giá trị tài sản cốđịnh, 64,6% doanh thu thuần, 78,6% tổng thuế và các khoản phải nộp ngân sách
2 1.2.2.Nguồn lực lao động
Cơ cấu phân bổ lao động trong các ngành kinh tế
Trang 20Trong những năm 90 tốc độ tăng số lượng lao động trung bình của toàn thànhphố là 2,7%/năm Khu vực dịch vụ là khu vực tạo ra thêm số việc làm hàng năm lớnnhất với mức tăng trưởng trung bình 4,8%/năm Tiếp đến là khu vực công nghiệp,xây dựng với 1,7%/năm Và đứng thứ ba là khu vực nông nghiệp với 1,4%/ năm.
Từ năm 2000 trở lại đây, khu vực công nghiệp, xây dựng tạo thêm được 180000việc làm mới và khu vực dịch vụ ít hơn với 115000 lao động mới Giai đoạn nàyđang có sự dịch chuyển lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp, xây dựng vàdịch vụ Lao động trong khu vực nông nghiệp liên tục giảm với tốc độ trung bình3,7%/năm Công nghiệp, xây dựng và dịch vụ lại có mức tăng tương ứng là7,3%/năm và 6,1%/ năm
Theo viện nghiên cứu chiến lược chính sách công nghiệp thì ngành côngnghiệp đang đóng một vai trò tích cực trong việc tạo thêm việc làm và thu nhập chongười lao động Cơ cấu lao động công nghiệp theo các ngành có sự chuyển dịch lớntrong thời gian qua Tỷ trọng các ngành được xem là mũi nhọn của thành phố như
cơ khí, hoá chất, in ấn, chế biến thực phẩm, dệt may, da giầy tăng lên đáng kể.Trong đó thu hút thêm nhiều lao động nhất là ngành chế biến thực phẩm, dệt may,
da giầy và cơ kim khí
Hiện trạng lao động của Hà Nội
Nguồn nhân lực của Hà Nội hiện nay được đánh giá là có trình độ văn hoá cao
so với cả nước Trong năm 1998 chỉ số năm học cao nhất đã qua bình quân cho mộtlao động là 9,9 năm; số lao động được đào tào từ sơ cấp trở lên chiếm 32,2%, caohơn mức chung bình chung cả nước là 13,3% Tuy nhiên trình độ này vẫn chưa đápứng được đòi hỏi, yêu cầu của thực tế
Công nghiệp được coi là ngành có vai trò quyết định, chiến lược đến phát triểnphân công lao động xã hội Theo báo cáo tổng hợp đánh giá thực hiện quy hoạchcông nghiệp 2001-2010 của viện nghiên cứu chiến lược chính sách công nghiệp thìlao động tiểu thủ công nghiệp chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ, khoảng 15-16% toàn bộ laođộng đang làm việc và trong thời kỳ 1997-2002 mức tăng trung bình là 3,58%/năm.Mặc dù số lượng còn rất khiêm tốn nhưng lao động tăng thêm trong công nghiệplại có vai trò hết sức quan trọng trong lực lượng lao động chung Bởi đây là những
Trang 21lao động có tay nghề, có trình độ kỹ thuật và khả năng làm việc trong một môitrường chuyên nghiệp, công nghệ tương đối hiện đại
Kết quả điều tra trên 115000 công nhân kỹ thuật cho thấy ngành may chiếm
tỷ trọng lớn nhất, hơn 20%; tiếp đó là kỹ thuật xây dựng gần 15%; kỹ thuật điện11%, cơ khí 10% và một phần nằm trong các ngành dệt, nhuộm, sản xuất sản phẩmkim loại
Để đáp ứng cho nhu cầu của CNH-HĐH, đồng thời duy trì một mức tăngtrưởng kinh tế cao thì Hà Nội còn thiếu rất nhiều công nhân kỹ thuật, đặc biệt làthợ kỹ thuật bậc cao Đội ngũ kỹ thuật viên, công nhân kỹ thuật trong ngành côngnghiệp chỉ có khoảng 20% là được đào tạo chính quy trong các trường; còn phầnnhiều là đào tạo tại chỗ, đào tạo ngắn hạn tại các trung tâm dạy nghề hoặc đượctruyền lại bí quyết nghề từ thế hệ trước Trong đội ngũ lao động đã được đào tạo ởcác trường chính quy, được trang bị hệ thống kiến thức cơ bản thì tay nghề vẫn cònnon yếu, chưa tiếp cận nhanh nhạy với các công nghệ kỹ thuật, thiết bị hiện đại Đa
số lao động trong công nghiệp chỉ có khả năng làm một vài thao tác trong dâytruyền sản xuất, thiếu kiến thức lý luận cơ bản, thiếu khả năng chuyên sâu nên khicông nghệ sản xuất hay dây truyền thay đổi họ không thể nắm bắt ngay mà phải họclại từ đầu Số cán bộ kỹ thuật tốt nghiệp đại học tương đối nhiều so với lao độnglành nghề (gấp 5 lần lao động lành nghề) nhưng lại chưa phát huy được hiệu quả,gây ra tình trạng "thừa thầy thiếu thợ" tương đối nghiêm trọng
Năng suất lao động
Trong thời gian qua, năng suất lao động ở các ngành kinh tế liên tục tăng đãđóng góp tích cực vào sự tăng trưởng chung của thành phố Thời kỳ 1997-2002,ngành công nghiệp có mức tăng trưởng chung bình tương đối cao là 9,85%/ năm.Năm 2002 năng suất lao động trung bình trong công nghiệp tính theo VA là gần 30triệu đồng/ năm, đã tăng gần gấp đôi so với năm 1995( theo số liệu của viện nghiêncứu chiến lược chính sách công nghiệp, 2003)
Năng suất lao động trong công nghiệp luôn đạt mức cao nhất trong ba ngành,khi mà năng suất lao động trung bình của dịch vụ chỉ bằng 1/3 công nghiệp ở năm
1999 và năng suất lao động trong nông nghiệp chỉ khoảng 1/6 năng suất lao độngtrong công nghiệp Tuy nhiên mức năng suất trung bình của thành phố vẫn bị coi là
Trang 22thấp Mà nguyên nhân chính là do thiếu một đội ngũ lao động lành nghề, có trình độ
kỹ thuật cao
Nguồn lực vốn
Mặc dù nguồn vốn đầu tư vào công nghiệp vẫn liên tục tăng trong thời gianqua nhưng hiệu quả thu hút đầu tư cho công nghiệp lại thấp hơn so với dịch vụ.Theo viện nghiên cứu chiến lược chính sách công nghiệp, 2003 thì tỷ trọng vốn đầu
tư cho công nghiệp trong tổng vốn đầu tư xã hội của thành phố giảm xuống Năm
1995 nó chiếm 33,8% và đến năm 2000 còn khoảng 30% trong tổng cơ cấu vốn đầu
tư xã hội thành phố Xu hướng dịch chuyển này sẽ gây ra khó khăn trong việc xâydựng cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp, giảm tỷ trọng các ngànhkhác Nó có thể làm chậm nhịp độ tăng trưởng của công nghiệp, làm chậm quátrình CNH
Tỷ trọng đầu tư vào công nghiệp xét theo các thành phần kinh tế đều giảm.Với công nghiệp nhà nước, tỷ trọng này giảm từ 21% năm 1995 xuống chỉ còn16% năm 2000 Với khu vực công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, tốc độ tăngđầu tư bình quân là 10,8%/năm Trong khi tốc độ tăng đầu tư nước ngoài chungvào thành phố là 12,8% Điều này cho thấy, vốn đầu tư nước ngoài vào công nghiệpcòn khá thấp Khu vực công nghiệp ngoài nhà nước có vị trí đặc biệt quan trọngtrong tổng vốn đầu tư xã hội ( chiếm tới trên 80%) nhưng cũng chỉ đầu tư 1/3 vàocông nghiệp
Xét trên tổng thể nền kinh tế, rõ ràng công nghiệp không phải là khu vựcthành công về thu hút vốn đầu tư nói chung và vốn đầu tư nước ngoài nói riêng.Thực trạng này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, mà một trong những nguyên nhân
cơ bản là do chính sách thu hút vốn đầu tư vào công nghiệp chưa hấp dẫn, chưa tạođược các điều kiện ổn định cho nhà đầu tư
Từ trước đến nay, nguồn vốn đầu tư từ nhà nước luôn có một vai trò hết sứcquan trọng Tuy nhiên vai trò đầu tư của khu vực ngoài nhà nước tín dụng đang dầndần nâng cao vị trí Nguồn vốn tín dụng cho công nghiệp đang tăng lên, từ 10%năm 1997 lên đến 23% năm 2000 và 44% năm 2001 Đầu tư từ khu vực côngnghiệp ngoài nhà nước liên tục tăng, trong khi công nghiệp nhà nước lại giảm
Trang 23nhanh Mặc dù vậy nguồn vốn do doanh nghiệp nhà nước tự huy động vẫn có mộtvai trò quan trọng trong cơ cấu nguồn vốn đầu tư vào công nghiệp.
2.1.2.3 Nguyên nhân chủ yếu của những kết quả đạt được và yếu kém
trong công nghiệp Hà Nội thời gian qua
a Nguyên nhân của những kết quả đạt được
Qua những số liệu đã được đưa ra ở các phần trên, ta nhận thấy trong giai đoạn1997-2007 tốc độ phát triển của ngành công nghiệp Hà Nội luôn tăng và ở mức cao
Có được kết quả như vậy là do lợi thế về vị trí, trung tâm kinh tế -chính trị- văn hoácủa cả nước với 2,7 triệu người Đây là nơi tập trung hầu hết các khu công nghiệp,các ngành nghề; đặc biệt với một lực lượng lao động hơn hẳn các vùng khác trong cảnước về trình độ và chuyên môn kỹ thuật Hà Nội là địa phương có mạng lưới thôngtin liên lạc, cơ sở hạ tầng…tương đối phát triển so với các tỉnh, thành phố khác.Vìvậy kinh tế Hà Nội nói chung và công nghiệp Hà Nội nói riêng đã có những bướcphát triển đáng kể
Mặt khác thì uỷ ban nhân dân thành phố đã vận dụng sáng tạo những chính sáchphát triển công nghiệp nhanh, mạnh, thực hiện đi tắt đón đầu có trọng điểm nên hiệuquả khá cao
b Nguyên nhân của những yếu kém trong công nghiệp Hà Nội thời gian qua
Nguyên nhân của những mặt hạn chế trong sản xuất công nghiệp trên địa bàn
có nhiều song nổi lên những vấn đề lớn đáng quan tâm như sau:
- Một là, thị trường tiêu thụ ngày càng khó khăn, thị trường trong nước vốn đãthấp lại tăng chậm trong khi 80% số lượng hàng hoá ngành công nghiệp Hà Nội sảnxuất ra chỉ tiêu thụ nội địa, thị trường nước ngoài hiện nay đang gặp khó khăn dophải cạnh tranh về giá cả và chất lượng với một số nước trong khu vực Một số mặthàng xuất khẩu là thế mạnh của công nghiệp Hà Nội như hàng may mặc, da giầy,hàng điện tử và hàng nông sản gặp khó khăn trong tiêu thụ do mất thị trường kể
cả một số thị trường xuất khẩu truyền thống hoặc do bị ép giá Đặc biệt khi ViệtNam đó ra nhập WTO thỡ việc cạnh tranh giữa hàng nội và hàng ngoại ngay trờn thị
Trang 24trường trong nước hay trờn thị trường quốc tế lại càng đặt ra cho cụng nghiệp cảnước núi chung và cụng nghiệp Hà Nội núi riờng những thỏch thức.
- Hai là, sản xuất giữa các thành phần kinh tế, các khu vực cụng nghiệp chưa có mốiliên kết hợp tác hỗ trợ nhau cùng phát triển mà ngược lại xuất hiện xu hướng hạn chế lẫnnhau giữa các doanh nghiệp Nhiều mặt hàng quan trọng chiếm tỷ trọng lớn được pháttriển mạnh ở khu vực có vốn đầu tư nước ngoài nhưng lại làm suy giảm cho các doanhnghiệp trong nước như các sản phẩm láp ráp điện tử, ô tô, xe máy
- Ba là, sản xuất của các thành phần kinh tế ngoài nhà nước, nhất là khu vực hộ
cá thể là khu vực sản xuất nhỏ, chưa được đầu tư thiết bị và công nghệ, kỹ thuật sảnxuất thủ công lạc hậu, năng suất lao động thấp, sản xuất hết sức bấp bênh và không
ổn định Vì vậy trước yêu cầu về chất lượng cao, giá thành hạ và yêu cầu đòi hỏingày càng cao của người tiêu dùng trong nước và thị trường nước ngoài thì khu vựcnày chưa đủ điều kiện và khả năng để phát triển bền vững, lâu dài
2 2.Phân tích giá trị sản xuất công nghiệp Hà Nội trong giai đoạn 1997-2007 và
dự đoán cho hai năm 2008, 2009
2.2.1 Một số phương pháp thống kê sử dụng để phân tích và dự đoán giá trị
sản xuất công nghiệp
2.2.1.1.Phương pháp đồ thị thống kê
a Khái niệm, tác dụng, ý nghĩa của đồ thị thống kê
- Khái niệm: Đồ thị thống kê là các hình vẽ hoặc các đường nét hìnhhọc để miêu tả có tính chất quy ước các tài liệu thống kê
Đặc điểm: Đồ thị thống kê sử dụng kết hợp các con số và hình vẽ, đường nét và màusắc để trình bày các đặc trưng và phân tích đặc điểm về số lượng của hiện tượng Mặt khác, các đồ thị thống kê không trình bày cụ thể, tỷ mỉ, chi tiết các đặc trưng sốlượng của hiện tượng, mà chỉ nêu lên một cách khái quát các đặc điểm chủ yếu vềbản chất, xu hướng phát triển cơ bản của hiện tượng Do vậy nó rất dễ hiểu, có sựhấp dẫn và sinh động
- Tác dụng: Dùng đồ thị thống kê có thể hình tượng hóa sự phát triểncủa hiện tượng qua thời gian, kết cấu và biến động kết cấu, trình độ phổ biến, quan
hệ so sánh, mối liên hệ giữa các hiện tượng
Trang 25- Ý nghĩa: Do những tác dụng thực tế của nó mà các đồ thị thống kêđược sử dụng rộng rãi trong mọi công tác nghiên cứu kinh tế.
Nó được coi là một phương tiện tuyên truyền, một công cụ dùng để biểu dươngkết quả hoạt động kinh tế và hoạt động xã hội
Đối với việc phân tích giá trị sản xuất công nghiệp Hà Nội trong giai đoạn1997- 2007 ( kết quả hoạt động kinh tế theo thời gian) trong chuyên đề này thì việc
sử dụng đồ thị thống kê là rất cần thiết Nó có tác dụng to lớn trong việc đưa ra mộtcái nhìn tổng quát về kết quả của ngành thời gian qua
b Các loại đồ thị thống kê thường sử dụng
Trong thống kê dùng rất nhiều các loại đồ thị khác nhau Người ta dựa vào cáctiêu thức để chia ra thành các loại Mỗi kiểu đồ thị có một ý nghĩa và tác dụng nhấtđịnh.Vì vậy không phải tất cả các loại đồ thị đều phù hợp cho việc phân tích GOCN Ởđây ta có thể chia thành các dạng đồ thị như sau:
Căn cứ vào hình thức biểu hiện: có
Căn cứ vào nội dung phản ánh: có các loại đồ thị sau
Đồ thị phát triển: Đồ thị này dùng để biểu hiện tình hình phát triển củamột hiện tượng hay so sánh giữa các hiện tượng với nhau Dạng đồ thị này có thể làbiểu đồ hình cột, biểu đồ hình tròn hay đồ thị tuyến tính
Đồ thị kết cấu: Là loại đồ thị dùng để biểu hiện kết cấu và biến động kếtcấu của hiện tượng Dạng này thường dùng các loại biểu đồ hình cột và hình tròn
Đồ thị liên hệ: Là loại đồ thị dùng để biểu hiện mối liên hệ giữa hai tiêuthức ( mối liên hệ nguyên nhân- kết quả ) và người ta thường dùng đồ thị đường
c Những yêu cầu đối với việc xây dựng đồ thị thống kê
Để xây dựng một đồ thị thống kê thật chính xác, dễ xem, dễ hiểu và đẹp thìkhông phải là một điều dễ dàng Muốn đảm bảo được những yêu cầu này, chúng taphải chú ý đến những yếu tố chính của đồ thị, như:
Trang 26 Quy mô của đồ thị: ở đây muốn đề cập đến to hay nhỏ, lớn hay bé, taphải căn cứ vào mục đích sử dụng Trong các đoán cáo phân tích không nên vẽ các
đồ thị quá lớn
Các kí hiệu hình học ( như các chấm, các đường thẳng hoặc cong, cáchình cột, hình vuông, hình tròn ) và các hình vẽ khác có tác dụng quyết định hìnhdáng của đồ thị Việc sử dụng các ký hiệu hình học hay hình vẽ phải phù hợp bởi mỗihình có khả năng diễn tả riêng
Hệ toạ độ: thường dùng nhất là hệ vuông góc Nó có tác dụng giúp choviệc xác định chính xác vị trí các kí hiệu hình học trên đồ thị
Thang và tỷ lệ xích: giúp cho việc tính chuyển các đại lượng lên đồ thịtheo các khoảng cách thích hợp Vịêc chọn thang đo và tỷ lệ xích phải hợp lý vớitừng loại đồ thị và từng hiện tượng
Phần giải thích cần được ghi ngắn gọn, rõ ràng và dễ hiểu
2.2.1.2 Phương pháp phân tích dãy số thời gian
A Khái quát chung về dãy số thời gian
Khái niệm, cấu tạo, tác dụng của dãy số thời gian (DSTG)
- Khái niệm: Dãy số thời gian là dãy các số liệu của một hay một
số chỉ tiêu thống kê thuộc hiện tượng nghiên cứu được sắp xếp theo thứ tự thời gian
- Cấu tạo: Một DSTG gồm 2 phần: thời gian và các trị số của chỉ tiêuthuộc hiện tượng nghiên cứu
Thời gian thường dùng là: ngày, tuần, tháng,quý năm Và độ dài giữa hai thờigian liền nhau trong dãy số là khoảng cách thời gian
Trị số của chỉ tiêu: là những số liệu về hiện tượng, có thể được biểu hiện bằng
số tuyệt đối, số tương đối, số bình quân và được gọi là các mức độ của dãy số
- Tác dụng: DSTG cho phép phân tích đặc điểm, quy luật biếnđộng của hiện tượng qua thời gian
Phân loại dãy số thời gian
Dựa vào các mức độ của dãy số thì người ta chia thành: dãy số tuyệt đối,dãy số tương đối và dãy số bình quân
Dãy số tuyệt đối: được chia nhỏ hơn, gồm dãy số thời kỳ và dãy số thời điểm
Trang 27 Dãy số thời kỳ: là DSTG mà các mức độ của nó là những số tuyệt đối thời
kỳ, phản ánh quy mô( khối lượng) của hiện tượng trong từng khoảng thời gian nhấtđịnh
Dãy số thời điểm: là DSTG mà các mức độ là những số tuyệt đối thời
điểm, phản ánh quy mô của hiện tượng tại những thời điểm nhất định
Dãy số tương đối: là dãy số mà các mức độ là các số tương đối được sắp xếp theo
thứ tự thời gian
Ví dụ: cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp của địa phương qua một số năm
Dãy số bình quân: các mức độ của dãy số là số bình quân
Ví dụ: Năng suất lao động bình quân của công nhân trong một doanh nghiệptrong một số năm
B. Các chỉ tiêu phân tích dãy số thời gian
a Mức độ bình quân qua thời gian ( y ):
Là số tuyệt đối
Phản ánh mức độ đại diện cho các mức độ của dãy số thời gian
Tuỳ theo số liệu thu thập được là dãy số thời kỳ hay dãy số thời điểm mà ta ápdụng các công thức tính chỉ tiêu này khác nhau Do giá trị sản xuất công nghiệp làmột chỉ tiêu thời kỳ nên ta phải tính GOCN bình quân theo thời gian áp dụng đối vớimột dãy số thời kỳ Công thức tính như sau:
y =
n
y y
b Lượng tăng( giảm) tuyệt đối:
Là chỉ tiêu tuyệt đối
Phản ánh sự biến động về mức độ giữa 2 thời gian
Lượng tăng giảm tuyệt đối liên hoàn ( hay từng năm ): Là hiệu số giữa giátrị sản xuất công nghiệp của năm nghiên cứu với giá trị sản xuất công nghiệp củanăm đứng trước nó
Công thức:
= y - y ( với i= 1,2, ,n )
Trang 28Trong đó:
i
là lượng tăng ( giảm) tuyệt đối liên hoàn của giá trị sản xuất côngnghiệp ở thời gian i so với thời gian liền ngay trước nó i-1
yi: mức độ tuyệt đối của giá trị sản xuất công nghiệp ở thời gian i
yi-1: mức độ tuyệt đối của giá trị sản xuất công nghiệp ở thời gian i-1
Nếu yi > yi-1 hay i> 0 phản ánh quy mô của hiện tượng ( quy mô của giá trịsản xuất công nghiệp) tăng ở thời gian sau i so với thời gian trước i-1 Ngược lại nếu
yi< yi-1 hay i<0 phản ánh quy mô của hiện tượng giảm
Lượng tăng ( giảm) tuyệt đối định gốc:
Là chỉ tiêu số lượng, tuyệt đối
Phản ánh quy mô của hiện tượng trong khoảng thời gian dài
Lượng tăng ( giảm) tuyệt đối định gốc ( hay tính dồn ): là hiệu số giữa giá trịsản xuất công nghiệp kỳ nghiên cứu (yi ) và giá trị sản xuất công nghiệp của kỳ nào
đó được chọn làm gốc, thường lấy là mức độ đầu tiên trong dãy số (y1 )
Công thức: i= yi - y1 ( i= 2 ,n)
Trong đó:
i
là lượng tăng ( giảm ) tuyệt đối của giá trị sản xuất công nghiệp
Từ các công thức trên ta có thể dễ dàng nhận thấy:
2
+ 3 + + i = i= yi- y1
Công thức này cho biết tổng các lượng tăng ( giảm ) tuyệt đối liên hoàn của giátrị sản xuất công nghiệp bằng lượng tăng ( giảm ) tuyệt đối định gốc của nó
Lượng tăng ( giảm ) tuyệt đối bình quân:
Lượng tăng ( giảm ) tuyệt đối bình quân của giá trị sản xuất công nghiệp làmức độ trung bình của các lượng tăng ( giảm ) tuyệt đối liên hoàn
Nếu kí hiệu là lượng tăng ( giảm ) tuyệt đối bình quân của giá trị sản xuấtcông nghiệp ta có công thức:
Trang 29 =
1
3 2
Là chỉ tiêu biểu hiện bằng lần hay %
Tốc độ phát triển liên hoàn ( hay từng kỳ ):
Tốc độ phát triển liên hoàn ( ti ) phản ánh tốc độ và xu hướng biến động của giátrị sản xuất công nghiệp ở thời gian sau so với thời gian liền trước đó
y
( i=2,3,…,n)Trong đó:
ti là tốc độ phát triển liên hoàn của giá trị sản xuất công nghiệp thời gian i so vớithời gian i-1 và có thể tính bằng lần hoặc %
yi : giá trị sản xuất công nghiệp ở thời gian i
yi-1: giá trị sản xuất công nghiệp ở thời gian i-1
Tốc độ phát triển định gốc ( Ti ): Phản ánh sự biến động của giá trị sản xuấtcông nghiệp trong những khoảng thời gian dài Chỉ tiêu này được xác định bằng cáchlấy mức độ kỳ nghiên cứu (yi ) chia cho mức độ của kỳ được chọn làm gốc, thường làmức độ đầu tiên trong dãy số (y1 )
Trang 30Ti: Tốc độ phát triển định gốc của giá trị sản xuất công nghiệp thời gian i so vớithời gian đầu của dãy số và có thể biểu hiện bằng lần hoặc %.
yi: giá trị sản xuất công nghiệp ở thời gian i
y1: giá trị sản xuất công nghiệp của năm đầu tiên trong dãy số
Giữa tốc độ phát triển liên hoàn và tốc độ phát triển định gốc có mối quan hệvới nhau:
Thứ nhất, tích các tốc độ phát triển liên hoàn bằng tốc độ phát triểnđịnh gốc, nghĩa là
Tốc độ phát triển bình quân của giá trị sản xuất công nghiệp là trị số đại biểucủa các tốc độ phát triển liên hoàn của nó
Vì các tốc độ phát triển liên hoàn có quan hệ tích nên để tính tốc độ phát triểnbình quân người ta sử dụng công thức số bình quân nhân
Lưu ý: chỉ tính chỉ tiêu này đối với những hiện tượng qua thời gian biến độngtheo một hướng nhất định
d Tốc độ tăng ( giảm) giá trị sản xuất công nghiệp
Chỉ tiêu này phản ánh giá trị sản xuất công nghiệp giữa hai thời kỳ đã tăng (+)hoặc giảm ( -) bao nhiêu lần hoặc bao nhiêu %
Trang 31Tương ứng với các tốc độ phát triển ta có các tốc độ tăng hoặc giảm như sau:Tốc độ tăng ( giảm ) liên hoàn : phản ánh tốc độ tăng ( hoặc giảm) của giá trịsản xuất công nghiệp ở thời gian i so với thời gian i-1.
( i = 2 ,n)
=
1 1
y y
= ti (lần )-1 hoặc ti (%)-100Trong đó:
ai: tốc độ tăng hoặc giảm liên hoàn của giá trị sản xuất công nghiệp
ti: tốc độ phát triển liên hoàn của giá trị sản xuất công nghiệp
Tốc độ tăng ( giảm ) định gốc:
Tốc độ tăng ( giảm ) định gốc của giá trị sản xuất công nghiệp là tỷ số giữalượng tăng ( giảm ) giá trị sản xuất công nghiệp định gốc với giá trị sản xuất côngnghiệp kỳ cố định
Tốc độ tăng ( giảm) định gốc phản ánh tốc độ tăng ( giảm ) ở thời gian i so vớithời gian đầu trong dãy số
Ai =
1
y i
Ai: là tốc độ tăng ( giảm ) định gốc của giá trị sản xuất công nghiệp
Ti: Tốc độ phát triển định gốc của giá trị sản xuất công nghiệp
- Tốc độ tăng ( giảm) bình quân
Phản ánh tốc độ tăng (giảm) đại diện cho các tốc độ tăng (giảm) liên hoàn Công thức: a = t (lần) -1
Trang 32hoặc : a = t (%) -100
e Giá trị tuyệt đối của 1% tốc độ tăng ( hoặc giảm) liên hoàn
Chỉ tiêu này phản ánh cứ 1% tăng (hoặc giảm) giá trị sản xuất công nghiệp củatốc độ tăng ( hoặc giảm) liên hoàn thì tương ứng với một quy mô cụ thể là bao nhiêu Công thức:
gi = (%)
i
i a
Lưu ý:
Tốc độ tăng( hoặc giảm) liên hoàn luôn phải biểu hiện bằng %
Giá trị tuyệt đối 1% của tốc độ tăng ( hoặc giảm) liên hoàn thể hiện
sự kết hợp giữa số tuyệt đối và số tương đối
Chỉ tiêu này không tính cho tốc độ tăng (hoặc giảm) định gốc vì nóluôn là 1 số không đổi
Do Gi = (%)
i
i A
Trên cơ sở dãy số thời gian ta tìm một hàm số phản ánh sự biến động của GOCNtheo thời gian có dạng như sau:
y =f ( t , ao , a1, ,an )
Trong đó: y là giá trị sản xuất công nghiệp
a0, a1, , an : các tham số
Trang 331 0
t a t a ty
t a na y
3 1
2 0
2
3 2
2 1
0
2 2
1 0
t a
t a
t a
y t
t a
t a
t a
ty
t a
t a
na y
1 0
ln ln
ln
ln ln
ln
t a t a y t
t a a
n y
Chú ý: ta có thể sử dụng chương trình SPSS để tính các tham số mà khôngcần phải giải hệ phương trình
2.2.1.3 Phương pháp chỉ số dùng phân tích ảnh hưởng của các nhân tố
tới giá trị sản xuất công nghiệp
a Khái niệm, đặc điểm và tác dụng của chỉ số trong thống kê
Khái niệm: Chỉ số là một số tương đối ( biểu hiện bằng lần hay %)
được tính bằng cách so sánh hai mức độ của hiện tượng với nhau
Chỉ số biểu hiện sự biến động của một hiện tượng phức tạp: hiện tượng đó cóthể bao gồm nhiều đơn vị, hiện tượng cá biệt có đặc điểm, tính chất khác nhau Hay