Trong những năm qua, cùng với xu thế toàn cầu hóa hội nhập kinh tế thế giới, cộng với sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật đã và đang tạo ra những sự chuyển biến sâu rộng tới mọi mặt của đời sống Chính trị-kinh tế-xã hội ở mỗi Quốc gia nói chung và trong bản thân từng doanh nghiệp, đơn vị SXKD nói riêng những “người” được xem là nắm giữ huyết mạch kinh tế Đất nước, đồng thời cũng là chủ thể chịu ảnh hưởng rõ rệt nhất bởi xu thế này. Ra nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO), trước hết cần phải khẳng định đó là niềm vinh dự tự hào của cả Dân tộc, đưa Đất nước lên một vị trí xứng tầm trong mắt bạn bè Quốc tế. Sau bao nhiêu cố gắng nỗ lực tại những vòng đàm phán găy go, khốc liệt, có những lúc tưởng chừng tan vỡ. Vượt lên trên tất cả, Đảng và Chính Phủ đã chèo lái con thuyền Việt Nam hướng đến cái đích mà nó cần phải tới, đó là hội nhập một cách đầy đủ và trọn vẹn nhất với Thế giới mà WTO chính là rào cản cuối cùng. Cơ hội ở đây là rất lớn, song chúng ta chỉ có thể tận dụng tốt cơ hội vượt qua thách thức, biến cơ hội thành những thành quả thiết thực cho Đất nước nếu mỗi một người dân, một đơn vị SXKD ý thức rõ trách nhiệm của mình trước vận hội hết sức to lớn này. Bởi suy cho cùng, WTO không phải là công việc của riêng bộ máy Nhà nước mà là của toàn bộ nền kinh tế. Nắm bắt được điều này, các doanh nghiệp trong và ngoài Quốc doanh của Việt Nam đều đang cố gắng có những bước chuyển mình mạnh mẽ cả trong tư duy tổ chức lẫn loại hình quản lý doanh nghiệp, để có thể đủ sức đương đầu với làn sóng đầu tư ồ ạt của các tập đoàn tư bản nước ngoài, đặc biệt là trong nhiều lĩnh vực nhạy cảm như: Ngân hàng, bảo hiểm, đầu tư xây dựng cơ bản…. Vì vậy, trong thời gian tới muốn đạt được sự phát triển vượt bậc về kinh tế, ổn định chính trị - xã hội thì một nguồn lực có ý nghĩa quyết định không thể thiếu được, đó chính là vốn, đặc biệt là nguồn vốn trung và dài hạn. Tuy nhiên, có nguồn vốn trung - dài hạn thôi là chưa đủ mà phải biết sử dụng hiệu quả nguồn vốn đó thì mới phát huy hết được vai trò tích cực cũng như chống lại sự lãng phí. Hay nói một cách khác, chỉ khi nào mở rộng gắn liền với nâng cao chất lượng tín dụng trung - dài hạn thì nguồn vốn trung - dài hạn mới phát huy được vai trò tích cực của mình. Và một trong những đối tượng cần được hướng tới, nhằm sử dụng có hiệu quả nguồn vốn này là các Doanh nghiệp ngoài quốc doanh (DNNQD). Với đặc điểm hoạt động năng động, linh hoạt và có tính tự chủ cao, DNNQD đã nhanh chóng hoà nhập với nền kinh tế thị trường, tạo ra nhiều sản phẩm cho xã hội, góp phần kiềm chế lạm phát, tạo công ăn việc làm cho người lao động và là đối tác cạnh tranh sôi động với các loại hình doanh nghiệp khác trong nền kinh tế, góp phần tích cực vào sự phồn vinh của đất nước. Song thực tế hiện nay, phần lớn các DNNQD đều thiếu vốn kinh doanh trầm trọng. Chính vì lẽ đó, em đã mạnh dạn chọn cho mình Đề tài: “Mở rộng cho vay trung và dài hạn đối với các Doanh nghiệp ngoài quốc doanh, tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Chi nhánh Cầu Giấy”.
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Trong những năm qua, cùng với xu thế toàn cầu hóa hội nhập kinh tếthế giới, cộng với sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật đã vàđang tạo ra những sự chuyển biến sâu rộng tới mọi mặt của đời sống Chínhtrị-kinh tế-xã hội ở mỗi Quốc gia nói chung và trong bản thân từng doanhnghiệp, đơn vị SXKD nói riêng những “người” được xem là nắm giữ huyếtmạch kinh tế Đất nước, đồng thời cũng là chủ thể chịu ảnh hưởng rõ rệt nhấtbởi xu thế này
Ra nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO), trước hết cần phảikhẳng định đó là niềm vinh dự tự hào của cả Dân tộc, đưa Đất nước lên một
vị trí xứng tầm trong mắt bạn bè Quốc tế Sau bao nhiêu cố gắng nỗ lực tạinhững vòng đàm phán găy go, khốc liệt, có những lúc tưởng chừng tan vỡ.Vượt lên trên tất cả, Đảng và Chính Phủ đã chèo lái con thuyền Việt Namhướng đến cái đích mà nó cần phải tới, đó là hội nhập một cách đầy đủ vàtrọn vẹn nhất với Thế giới mà WTO chính là rào cản cuối cùng Cơ hội ở đây
là rất lớn, song chúng ta chỉ có thể tận dụng tốt cơ hội vượt qua thách thức,biến cơ hội thành những thành quả thiết thực cho Đất nước nếu mỗi mộtngười dân, một đơn vị SXKD ý thức rõ trách nhiệm của mình trước vận hộihết sức to lớn này Bởi suy cho cùng, WTO không phải là công việc của riêng
bộ máy Nhà nước mà là của toàn bộ nền kinh tế
Nắm bắt được điều này, các doanh nghiệp trong và ngoài Quốc doanhcủa Việt Nam đều đang cố gắng có những bước chuyển mình mạnh mẽ cảtrong tư duy tổ chức lẫn loại hình quản lý doanh nghiệp, để có thể đủ sứcđương đầu với làn sóng đầu tư ồ ạt của các tập đoàn tư bản nước ngoài, đặc
Trang 2biệt là trong nhiều lĩnh vực nhạy cảm như: Ngân hàng, bảo hiểm, đầu tư xâydựng cơ bản….
Vì vậy, trong thời gian tới muốn đạt được sự phát triển vượt bậc vềkinh tế, ổn định chính trị - xã hội thì một nguồn lực có ý nghĩa quyết địnhkhông thể thiếu được, đó chính là vốn, đặc biệt là nguồn vốn trung và dài hạn
Tuy nhiên, có nguồn vốn trung - dài hạn thôi là chưa đủ mà phải biết
sử dụng hiệu quả nguồn vốn đó thì mới phát huy hết được vai trò tích cựccũng như chống lại sự lãng phí Hay nói một cách khác, chỉ khi nào mở rộnggắn liền với nâng cao chất lượng tín dụng trung - dài hạn thì nguồn vốn trung
- dài hạn mới phát huy được vai trò tích cực của mình Và một trong nhữngđối tượng cần được hướng tới, nhằm sử dụng có hiệu quả nguồn vốn này làcác Doanh nghiệp ngoài quốc doanh (DNNQD) Với đặc điểm hoạt độngnăng động, linh hoạt và có tính tự chủ cao, DNNQD đã nhanh chóng hoànhập với nền kinh tế thị trường, tạo ra nhiều sản phẩm cho xã hội, góp phầnkiềm chế lạm phát, tạo công ăn việc làm cho người lao động và là đối táccạnh tranh sôi động với các loại hình doanh nghiệp khác trong nền kinh tế,góp phần tích cực vào sự phồn vinh của đất nước Song thực tế hiện nay, phầnlớn các DNNQD đều thiếu vốn kinh doanh trầm trọng Chính vì lẽ đó, em đã
mạnh dạn chọn cho mình Đề tài: “Mở rộng cho vay trung và dài hạn đối với các Doanh nghiệp ngoài quốc doanh, tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Chi nhánh Cầu Giấy”.
Đây là một Đề tài rộng và tương đối cấp thiết, nhất là trong bối cảnhcuộc khủng hoảng tín dụng tại Mỹ trong thời gian vừa qua đã và đang làmcho thị trường tài chính thế giới diễn biến theo những chiều hướng rất khólường Gián tiếp gây ra những tác động không nhỏ tới hệ thống Ngân hàngcũng như các Doanh nghiệp Việt Nam Trên cơ sở những kiến thức lý luận đã
Trang 3học và tích lũy, cộng với sự giúp đỡ nhiệt tình của Giảng viên hướng dẫn:Ths Nguyễn Thùy Dương cũng như đơn vị thức tập: Ngân hàng Nông nghiệp
và phát triển nông thôn Chi nhánh Cầu Giấy Đề tài này đã được hoàn thànhvới bố cục gồm có:
Chương 1: Lý luận chung về tín dụng trung - dài hạn đối với DNNQDcủa ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng cho vay trung - dài hạn đối với các DNNQD,tại Ngân Hàng No&PTNT Chi nhánh Cầu Giấy, Hà Nội
Chương 3: Giải pháp và kiến nghị nhằm mở rộng cho vay tín dụngtrung - dài hạn tại chi nhánh NHNo&PTNT Cầu Giấy
Rất mong nhận được sự chia sẽ và góp ý của Quý Thầy cô, ban giámđốc ngân hàng và bất cứ ai quan tâm đến vấn đề này để đề tài này được hoànthiện hơn
Trang 4Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÍN DỤNG TRUNG - DÀI HẠN ĐỐI VỚI DNNQD CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.Tổng quan về doanh nghiệp ngoài quốc doanh (DNNQD)
1.1.1 Khái niệm
Luật doanh nghiệp Việt Nam quy định: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh
tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật, nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh - tức là thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng sản phẩm dịch
vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”.
Với đặc trưng như vậy, DNNQD là một bộ phận không thể thiếu củanền kinh tế, lấy sở hữu tư nhân làm nền tảng, được tồn tại lâu dài, được bìnhđẳng trước pháp luật và có tính sinh lợi hợp pháp, chủ động trong mọi hoạtđộng sản xuất kinh doanh trong khuôn khổ của pháp luật
DNNQD bao gồm những đơn vị kinh tế có hình thức sở hữu phi Nhànước về tư liệu sản xuất Những đơn vị kinh tế này được hình thành dựa trên
cơ sở các chủ đầu tư bỏ vốn đầu tư dưới mọi hình thức, hoạt động nhằm mụcđích chủ yếu là lợi nhuận và chịu sự chi phối của chủ đầu tư Các loại hìnhkhu vực kinh tế này được tổ chức dưới nhiều hình thức đa dạng: Doanhnghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty liêndoanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài …hoạt động độc lập và tựchịu trách nhiệm về mọi hoạt động sản xuất kinh doanh trên cơ sở lãi hưởng
lỗ chịu Các DNNQD được pháp luật quy định rất chặt chẽ đối với mọi hoạt
Trang 51.1.2 Các loại hình DNNQD trong nên kinh tế
Căn cứ phân chia các loại hình DNNQD trong nền kinh tế:
Thứ nhất, nếu căn cứ vào mức độ trách nhiệm trong hoạt động sản xuất
kinh doanh thì DNNQD được phân thành 2 loại là:
+ Doanh nghiệp chịu trách nhiệm hữu hạn (bao gồm công ty TNHH,công ty cổ phần, hợp tác xã, )
+ Doanh nghiệp chịu trách nhiệm hỗn hợp (là các doanh nghiệp trong
đó chỉ có một người nhận vốn chịu trách nhiệm vô hạn, còn những người gópvốn thì chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trên phần vốn góp của mình mà thôi)
Thứ hai, nếu căn cứ vào tính chất sở hữu vốn thì DNNQD được phân
+ Doanh nghiệp tư nhân: Là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và
tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp
+ Công ty TNHH: Là doanh nghiệp do không quá 50 thành viên gópvốn thành lập, mỗi thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ
về tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn góp đã cam kết
Trang 6+ Công ty cổ phần: Là doanh nghiệp có vốn điều lệ được hình thành từnhiều phần vốn góp bằng nhau gọi là cổ phần, và người sở hữu cổ phần đượcgọi là cổ đông Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ vềtài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp.
+ Hợp tác xã: Là tổ chức kinh tế tự chủ do những người lao động cónhu cầu, có lợi ích chung tự nguyện cùng góp vốn, góp sức lập ra theo quyđịnh của pháp luật để phát huy sức mạnh của tập thể và từng xã viên nhằmgiúp nhau thực hiện có hiệu quả hơn các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch
vụ, cải thiện đời sống, góp phần phát triển nền kinh tế
1.1.3 Đặc điểm của DNNQD
Từ khi luật doanh nghiệp ra đời, các DNNQD đã phát triển rất nhanh,đặc biệt là ở các đô thị, các thành phố lớn Các DNNQD hoạt động chủ yếu vìmục tiêu lợi nhuận, được tự chủ trong việc quyết định phương hướng kinhdoanh của mình, hoạt động trong khuôn khổ pháp luật Đặc biệt là khôngchịu sự chi phối, chỉ đạo hay sự bảo hộ trực tiếp của nhà nước như các doanhnghiệp quốc doanh Trong quá trình hình thành và phát triển, các DNNQD cónhững đặc điểm sau đây:
+ Đặc điểm thứ nhất là, số lượng lớn và ngày càng tăng rất nhanh Hiện
nay, các DNNQD chiếm trên 95% tổng số các doanh nghiệp, trong khi cácdoanh nghiệp nhà nước đang có xu hướng chững lại và giảm dần theo chủtrương cổ phần hoá của nhà nước, thì khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đangdần lớn mạnh cả về số lượng lẫn chất lượng Tính đến tháng 5/2005 cả nước
đã có 25.479 DNNQD, bình quân mỗi năm tăng gấp 1,3 lần Như vậy là trungbình mỗi năm có trên 7.600 DNNQD được thành lập, đây là một con số khálớn
Trang 7+ Đặc điểm thứ hai là, quy mô vốn và lao động nhỏ DNNQD chủ yếu
có quy mô vừa và nhỏ, có tới 90% doanh nghiệp vừa và nhỏ tập trung ở khuvực kinh tế này Các DNNQD chưa có thâm niên tồn tại lâu dài, do chỉ mớiđược chính thức công nhận từ sau thời kỳ đổi mới (năm 1986), nên chưa cóđiều kiện tích luỹ vốn Hơn nữa lại dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sảnxuất, vốn tự có chỉ đáp ứng được 30 – 40% nhu cầu vốn cho hoạt động sảnxuất kinh doanh của DNNQD, trong khi việc huy động vốn từ nguồn đi vaycòn hạn chế nên nguồn vốn mang tính chất nhỏ hẹp Với quy mô vốn như vậykéo theo quy mô lao động cũng hầu hết là nhỏ và trung bình, số doanh nghiệp
có quy mô lao động lớn là rất ít (chỉ tập trung trong các ngành CN chế biến).Vấn đề thiếu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh tất yếu kéo theo trình độcông nghệ lạc hậu, năng suất thấp
+ Đặc điểm thứ ba là, trình độ công nghệ sản xuất tương đối lạc hậu,
thiếu thốn Với quy mô vốn hạn chế cùng việc thiếu thông tin, hiểu biết vềcông nghệ tiên tiến nên trình độ công nghệ của các DNNQD nhìn chung làkhông đồng bộ Hầu hết các thiết bị đều cũ kỹ, lạc hậu, phần lớn là máy cũ tântrang lại Theo số liệu thống kê năm 2007 thì chỉ có 28% doanh nghiệp sửdụng công nghệ tương đối hiện đại, 33,5% doanh nghiệp sử dụng công nghệ
cổ truyền, còn lại 38,5% doanh nghiệp kết hợp cả công nghệ cổ truyền và hiệnđại Một thực tế bất cập nữa, đó là khi doanh nghiệp nhập máy móc tiên tiếnhiện đại thì phải thuê cả chuyên gia nước ngoài để vận hành do trình độ laođộng ở nước ta còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu về việc sử dụng côngnghệ mới Điều này sẽ làm tăng chi phí đổi mới công nghệ của các doanhnghiệp sẽ khiến cho các chủ doanh nghiệp dè dặt trong việc trang bị côngnghệ mới Trong khi đó, trình độ công nghệ lại là yếu tố quan trọng nhất ảnhhưởng đến năng suất lao động và chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp, tác
Trang 8Như vậy có thể thấy, đặc điểm chung của các DNNQD ở nước ta hiệnnay là thiếu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh một cách trầm trọng Vốn
tự có chỉ đáp ứng được một phần nhỏ nhu cầu sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp Do đó, giải pháp tối ưu là sử dụng các nguồn vốn vay (đặc biệt là cácnguồn vốn trung – dài hạn) DNNQD phát triển sẽ là thị trường cho vay lớn
và tiềm năng cho các ngân hàng thương mại
1.1.4 Vai trò của DNNQD
Trong những năm qua, các DNNQD đã có những bước chuyển mìnhtích cực cả về mặt lượng lẫn mặt chất, đạt được nhiều những thành tựu rất đỗikhả quan, góp phần to lớn trong sự nghiệp đẩy nhanh công nghiệp hóa hiệnđại hóa nước nhà Có thể khẳng định, DNNQD ngày càng đóng vai trò quantrọng trong nền kinh tế, được cụ thể qua các mặt sau:
1.1.4.1 Góp phần tăng thu nhập quốc dân
Khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh đang ngày càng đóng góp nhiềuhơn vào tổng thu nhập quốc dân, tỷ trọng đóng góp vào GDP của cácDNNQD chiếm nhiều hơn hẳn so với khối kinh tế Nhà nước và khối kinh tế
có vốn đầu tư nước ngoài Năm 2006, vốn đầu tư của doanh nghiệp tư nhân là132.000 tỷ đồng, gấp 2 lần vốn đầu tư nước ngoài, chiếm 34% trên tổng vốnđầu tư toàn xã hội Hàng năm, các doanh nghiệp này tiếp nhận 90% số laođộng mới, tạo ra gần 50% GDP cả nước Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch vàĐầu tư, trong tháng 10 đầu năm 2007 giá trị sản xuất công nghiệp cả nướcước đạt 49.976 tỷ đồng tăng 3,9% so với tháng 9 và tăng 16,7% so với mườitháng đầu năm 2006 Trong đó, khu vực ngoài quốc doanh tăng cao nhất với19% Như vậy, tính chung mười tháng đầu năm 2007, giá trị sản xuất côngnghiệp của cả nước ước đạt 467.935 tỷ đồng, tăng 17% so với 10 tháng đầu
Trang 9năm 2006 Đóng góp vào con số này có khu vực ngoài quốc doanh tăng20,8% và tỷ trọng so với toàn ngành tiếp tục tăng (chiếm 36,5%).
Trung bình mỗi năm, khối DNNQD đóng góp tới 46,03% GDP Trongkhi đó, doanh nghiệp Nhà nước có đóng góp trung bình 39% GDP hàng năm
và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có đóng góp trung bình 14,5%GDP hàng năm Hơn thế nữa, khối DNNQD đang có xu hướng ngày càngphát triển nhanh, hơn hẳn các loại hình doanh nghiệp khác
1.1.4.2 Góp phần làm tăng thu ngân sách Nhà nước
DNNQD là những tổ chức kinh tế hình thành dựa trên hình thức tư hữu
về tư liệu sản xuất, tổ chức bộ máy gọn nhẹ, dây chuyên công nghệ đơn giản,giảm thiểu tối đa chi phí nhưng vẫn đảm bảo sản xuất Mặt khác, cácDNNQD có đặc điểm nổi bật là khá năng động, linh hoạt, có khả năng chuyểnđổi phương hướng kinh doanh khá nhanh, nắm bắt nhanh nhu cầu thị hiếu củathị trường nên hoạt động kinh doanh khá hiệu quả Doanh thu của cácDNNQD cao dẫn đến làm tăng thu ngân sách nhà nước nhờ vào việc đóngthuế thu nhập doanh nghiệp, theo thống kê của 3 năm gần đây là vào khoảng40%-45% mỗi năm Điều này đã góp phần đáng kể, tạo điều kiện để nhà nướclàm tròn nghĩa vụ là cơ quan tạo hành lang pháp lý, quản lý hành chính, thanhtra, kiểm tra, giám sát và tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh cho các doanhnghiệp cùng hoạt động
1.1.4.3 Tác động mạnh mẽ đến dịch chuyển cơ cấu trong nền kinh tế quốc dân và trong nội bộ mỗi ngành theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Theo cơ cấu ngành: Trước đây, DNNQD hoạt động chủ yếu trong cácngành công nghiệp, còn các ngành khác như du lịch, dịch vụ còn rất ít Đến
Trang 10trong lĩnh vực công thương nghiệp và dịch vụ Hiện nay, DNNQD hoạt độngtrong lĩnh vực dịch vụ là 56,9%, trong đó thương nghiệp, khách sạn và nhàhàng chiếm 43,9% Tiếp đến là lĩnh vực công nghiệp xây dựng chiếm 37,7%.Trong lĩnh vực thương mại, kinh tế ngoài quốc doanh chiếm khoảng 84,3%tổng mức bán lẻ hàng hóa dịch vụ (năm 2006) Xu hướng tỷ trọng DNNQD sẽngày càng tăng nhanh vì đây là khu vực kinh tế mà Nhà nước đang khuyếnkhích đầu tư và phát triển.
Theo cơ cấu thành phần kinh tế: Trước đây, phần lớn các doanh nghiệphoạt động dưới hình thức là doanh nghiệp nhà nước.Tuy nhiên, theo xu hướngphát triển của nền kinh tế thì các doanh nghiệp nhà nước đang ngày càng thuhẹp lại Hiện nay chỉ còn khoảng 4000 doanh nghiệp Nhà nước hoạt độngtrong một số ngành và lĩnh vực trọng yếu Trong khi đó DNNQD lại tăngnhanh cả về chất lượng và số lượng, trong đó tăng nhanh nhất là loại hìnhcông ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn Các doanh nghiệp có vốnđầu tư nước ngoài cũng tăng lên khá nhanh nhưng vẫn có tỷ trọng thấp nhấttrong tổng số các doanh nghiệp Như vậy, hiện nay ở nước ta về cơ cấu kinh
tế, có 3 khu vực kinh tế chính là khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, khu vựckinh tế nhà nước và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Trong đó, khuvực kinh tế ngoài quốc doanh chiếm tỷ trọng lớn nhất, tiếp đến là khu vựckinh tế nhà nước và chiếm tỷ trọng thấp nhất trong tổng số các doanh nghiệphiện nay là khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
DNNQD phát triển nhanh trong tất cả các ngành và khắp các địaphương, đặc biệt là ở các đô thị và thành phố lớn, tạo ra cơ hội phân công lạilao động giữa các khu vực nông lâm nghiệp, thuỷ sản và sản xuất kinh doanhnhỏ của hộ gia đình là khu vực có năng suất thấp, thu nhập không cao, chiếm
số đông, thiếu việc làm sang khu vực doanh nghiệp, nhất là công nghiệp và
Trang 11Theo xu hướng phát triển kinh tế hiện nay, các doanh nghiệp trong đó
có các DNNQD đang chuyển dần ra khỏi thành phố, thị xã đến nơi gần vùngnguyên liệu, mặt bằng rộng rãi, có giá đất thấp, giá nhân công rẻ tạo ra nhiều
cơ hội phân công lại lao động giữa các ngành, các vùng lãnh thổ, góp phầnđẩy nhanh tiến độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
1.1.4.4 Giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện dời sống của người lao động
Trong những năm gần đây, số doanh nghiệp tăng nhanh đã giải quyếtđược nhiều việc làm với thu nhập cao hơn cho người lao động Tuy có mứcthu nhập bình quân thấp, nhưng DNNQD lại là khu vực đang thu hút nhiềulao động mới và có tốc độ tăng thu nhập nhanh nhất so với các loại hìnhdoanh nghiệp khác Theo thống kê, trong năm 2005, tổng số lao động làmviệc trong các doanh nghiệp đang hoạt động đạt gần 5,22 triệu người Trong
đó, lao động trong doanh nghiệp Nhà nước có 2,26 triệu người, giảm so vớinăm 2004 (từ 48,5% xuống còn 43,3%) Số lao động làm việc trong cácDNNQD đạt khoảng 2,1 triệu người, chiếm khoảng 40% tổng số lao động,cao hơn tỷ trọng 36,7% (tức tăng 20%) so với năm 2004 Số lao động làmviệc trong khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt khoảng 86 vạnngười, chiếm 16,6%, cao hơn tỷ trọng 14,8% của năm 2004
DNNQD ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong việc thu hút lao động
và giải quyết việc làm, cải thiện đời sống cho một bộ phận lớn dân cư, tạo ranguôn thu cho ngân sách nhà nước và đóng góp cho tăng trưởng GDP Thunhập tăng nhanh của khối DNNQD góp phần cải thiện và nâng cao mức sốngchung của toàn xã hội, tham gia vào quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động từnông nghiệp sang các ngành phi nông nghiệp
1.1.4.5 Góp phần giải quyết tốt hơn các vấn đề xã hội
Trang 12Với sự năng động và nhạy bén của mình, sản phẩm hàng hoá dịch vụ
do khối DNNQD tạo ra ngày càng phong phú, đa dạng về chủng loại mặthàng; chất lượng hàng hoá, dịch vụ được nâng lên; do đó cơ bản đã giải quyếtnhu cầu tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ ngày càng cao của toàn xã hội; góp phầnnâng cao mức sống vật chất của dân cư và tăng nhanh lượng hàng hoá xuấtkhẩu Nhiều loại hàng hoá trước đây thường phải nhập khẩu cho tiêu dùng thìnay đã được các doanh nghiệp(đặc biệt là các DNNQD) sản xuất thay thế,được người tiêu dùng tín nhiệm với rất nhiều sản phẩm có uy tín, thương hiệumạnh cả trên thị trường trong và ngoài nước
DNNQD đã tạo ra nguồn thu khá lớn và tăng nhanh trong những nămqua là điều kiện để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, phát triển các hoạt động xãhội cộng đồng như y tế, giáo dục, xoá đói giảm nghèo,…Đặc biệt, sự pháttriển đa dạng của các DNNQD tạo điều kiện để khôi phục các làng nghềtruyền thống ở nông thôn, góp phần đáng kể vào việc nâng cao đời sống cho
cư dân ở nông thôn
Ngoài ra, sự phát triển của nền kinh tế và của khoa học công nghệ sẽthúc đẩy các DNNQD không ngừng đổi mới trang thiết bị, cải tiến dây chuyềncông nghệ, nâng cao cạnh tranh, là động lực để phát triển
Vốn đầu tư của các DNNQD đang trở thành nguồn vốn đầu tư chủ yếuđối với sự phát triển kinh tế ở nhiều địa phương bởi đầu tư của khu vựcDNNQD xuất hiện khắp nơi, ngay cả những vùng kinh tế còn khó khăn, điều
đó đã tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế toàn diện, đồng đều
Cuối cùng, một vai trò đặc biệt của DNNQD đối với riêng lĩnh vực tàichính - ngân hàng, đó là trở thành một trong những thị trường vốn tín dụngrộng lớn đầy tiềm năng Với sự phát triển không ngừng của các DNNQD thì
Trang 13nhu cầu về vốn cũng ngày càng tăng cao, tạo môi trường tiềm năng cho cácngân hàng đa dạng hoá các nghiệp vụ tín dụng.
1.2 Lý thuyết chung về tín dụng trung và dài hạn của ngân hàng thương mại
1.2.1 Thế nào là tín dụng trung và dài hạn
Muốn hiểu về tín dụng trung và dài hạn trước hết ta phải làm rõ đượckhái niệm thế nào là tín dụng Tín dụng (credit) - xuất phát từ tiếng Latinh làcredo - là sự tin tưởng, sự tín nhiệm và được định nghĩa dưới nhiều giác độkhác nhau:
• Tín dụng có thể xem là quan hệ vay mượn trên nguyên tắc hoàntrả
• Tín dụng là quá trình tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ hayhiện vật trên nguyên tắc có hoàn trả
• Tín dụng là sự chuyển dịch vốn dưới hình thái tiền tệ hay hiệnvật của một tổ chức, cá nhân này cho một tổ chức, cá nhân khác
sử dụng trong một thời gian nhất định trên nguyên tắc hoàn trả
• Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từngười sở hữu sang người sử dụng để sau một thời gian sẽ thu hồi
về một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu
Như vậy, tín dụng có thể được diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau,song về bản chất tín dụng là một giao dịch về tài sản giữa một bên là người đivay và một bên là người cho vay trên cơ sở hoàn trả cả gốc và lãi
Đối với ngân hàng thương mại tín dụng là một trong những nghiệp
vụ cơ bản của ngân hàng Tín dụng ngân hàng có thể được định nghĩa như
Trang 14“Tín dụng ngân hàng là một hình thức tín dụng phản ánh một giao
dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay là ngân hàng hoặc các
tổ chức tín dụng Bên đi vay là các cá nhân, doanh nghiệp, chủ thể sản xuất kinh doanh, trong đó bên cho vay chuyển tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán”
Khi tín dụng được phân theo thời hạn thì sẽ hình thành nên: tín dụngngắn hạn, tín dụng trung hạn và tín dụng dài hạn
Tín dụng ngắn hạn: là khoản tín dụng dưới 1 năm và được sử dụng để
bổ sung sự thiếu hụt tạm thời vốn lưu động của doanh nghiệp, và nó còn cóthể được vay cho những tiêu dùng cá nhân
Tín dụng trung hạn: là khoản tín dụng có thời hạn từ 1-5 năm Loại
hình tín dụng này thường được dùng để cung cấp, mua sắm tài sản cố định,cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng và xây dựng công trình nhỏ có thời hạnthu hồi vốn nhanh
Tín dụng dài hạn: là khoản tín dụng có thời gian trên 5 năm Loại tín
dụng này được dùng để cấp vốn cho xây dựng cơ bản như: Đầu tư xây dựngcác xí nghiệp mới, các công trình thuộc cơ sở hạ tầng, cải tiến và mở rộng sảnxuất…
Trong đó, tín dụng - trung và dài hạn thường được đầu tư để hìnhthành vốn cố định của khách hàng, mua sắm máy móc thiết bị, xây dựng cơ
sở vật chất, kỹ thuật của doanh nghiệp nhằm mục tiêu cải tiến công nghệ sảnxuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, mở rộng sản xuất và chiếm lĩnh thịtrường
Trang 15
1.2.2 Đặc điểm của tín dụng trung và dài hạn
Tín dụng trung dài hạn có những đặc điểm quan trọng sau:
Đặc điểm đầu tiên dễ nhận thấy là, tín dụng trung - dài hạn thường có
thời gian kéo dài, quy mô tín dụng thường lớn, nguy cơ rủi ro cao vì nền kinh
tế quốc gia cũng như thế giới luôn biến động không ngừng Sự biến động này
có thể tích cực hoặc tiêu cực mà chúng ta không thể lường hết được Do đó
mà một khoản vay dài hạn thường đem lại nhiều rủi ro cao hơn là một khoảnvay ngắn hạn, vì thời gian càng dài thì xác suất xảy ra những biến động nàycàng lớn hơn Đó cũng là lý do giải thích cho việc lãi suất cho vay trung - dàihạn thường lớn hơn lãi suất cho vay ngắn hạn Vì độ rủi ro cao và thời gianthu hồi vốn lâu hơn
Đặc điểm thứ hai, tín dụng trung - dài hạn của ngân hàng thương mại
có thời gian hoàn vốn chậm Nguồn trả tiền vay cho ngân hàng chủ yếu đượclấy từ quỹ khấu hao và một phần từ lợi nhuận của chính dự án mang lại Vìthế, khách chỉ có thể hoàn trả khoản vay có quy mô lớn thành nhiều lần khácnhau – thời hạn cho vay kéo dài trong nhiều năm
Đặc điểm thứ ba, tín dụng trung - dài hạn được cấp cho khách hàng
nhằm hỗ trợ cho họ trong việc mua sắm, đổi mới tài sản cố định Nên đốituợng cho vay chủ yếu của ngân hàng thương mại trong hình thức tín dụngnày là vốn thiếu hụt tạm thời của các doanh nghiệp
Đặc điểm cuối cùng, do gắn liền với tài sản cố định và vốn cố định
của khách hàng, tín dụng trung - dài hạn của ngân hàng thương mại thườngđược sử dụng vào các dự án đầu tư Và về cơ bản thì tín dụng trung hạnthường dung để đầu tư theo chiều sâu, trong khi đó tín dụng dài hạn lại tậptrung cho các dự án đầu tư mở rộng
Trang 161.2.3 Các hình thức tín dụng trung và dài hạn
1.2.3.1 Tín dụng theo dự án đầu tư
a) Cho vay trực tiếp theo dự án
Cho vay trực tiếp theo dự án là hình thức tín dụng trung – dài hạn phổbiến trong nền kinh tế thị trường Ngân hàng thương mại tiến hành mọi hoạtđộng và tự chịu trách nhiệm với từng dự án đầu tư của khách hàng mà họ đãlựa chọn để tài trợ
Chính vì vậy, công việc của ngân hàng không chỉ đơn thuần là cho vay
mà còn phải quán xuyến hàng loạt các công việc khác có liên quan đến việcthực thi có hiệu quả dự án như : quy hoạch sản xuất, thiết kế quy trình côngnghệ, tiêu chuẩn thiết bị máy móc, giá cả thị trường, hiệu quả đầu tư… Bởi vìviệc quy định cấp một khoản tín dụng, sẽ ràng buộc ngân hàng với người vaytrong một khoảng thời gian nhất định Cho nên cần phải nghiên cứu một cáchnghiêm túc và xem xét kỹ lưỡng các rủi ro có thể xảy ra
b) Cho vay đồng tài trợ
Là quá trình cho vay của một nhóm tổ chức tín dụng (gồm từ 2 tổ chứctín dụng trở lên) cho một dự án, do một tổ chức tín dụng làm đầu mối, phốihợp với các bên bên đồng tài trợ để thực hiện, nhằm phân tán rủi ro cho các tổchức tín dụng
Hình thức này được áp dụng trong các trường hợp : Các dự án đầu tưđòi hỏi một khoản vốn rất lớn, nếu chỉ do một ngân hàng thì không đáp ứnghết được, bởi ngân hàng thường chỉ được phép đầu tư vốn tới một mức độnhất định so với tổng nguồn vốn của mình (tối đa không quá 15% VCSH) vàkhông được đầu tư qúa nhiều vốn vào một công ty để đảm bảo an toàn vốn tàisản Thậm chí trong một vài dự án, dù ngân hàng có thể đáp ứng toàn bộ nhu
Trang 17cầu vay vốn nhưng nếu xét thấy rủi ro không phải là nhỏ thì ngân hàng cũng
sẽ không muốn đảm nhận hết Do vậy, cho vay đồng tài trợ là một hoạt độngtín dụng nhằm giúp ngân hàng phân tán rủi ro và có thể sử dụng tối đa nguồnvốn của họ để đầu tư vào các dự án dài hạn
1.2.3.2 Tín dụng thuê mua
Thuê mua là hình thức cho vay tài sản thông qua một hợp đồng tíndụng thuê mua, qua đó người cho thuê chuyển giao tài sản thuộc quyền sởhữu của mình cho người đi thuê sử dụng Người thuê có trách nhiệm thanhtoán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê và có thể được quyền sở hữu tài sảnthuê, được quyền mua tài sản thuê hoặc được quyền thuê tiếp theo các điềukiện đã được hai bên thoả thuận Tài sản thuê bao gồm cả động sản và bấtđộng sản :
• Động sản chủ yếu gồm máy móc thiết bị, xe máy thi công, dâychuyền công nghệ…
• Bất động sản chủ yếu là nhà xưởng, trụ sở, cửa hàng, văn phòngđại diện…
Về mặt pháp lý, tài sản thuê thuộc quyền sở hữu của bên cho thuê, cònbên đi thuê chỉ được quyền sử dụng Do đó, người đi thuê không đựơc bánchuyển nhượng cho người khác Song họ được lại hưởng những lợi ích doviệc sử dụng tài sản đó mang lại, đồng thời cũng chịu phần vốn rủi ro có liênquan đến tài sản Một số hình thức tín dụng thuê mua như : thuê mua có sựtham gia của hai bên, thuê mua có tham gia của ba bên, tái thuê mua (sale –base back), thuê mua giáp lưng (under lease), thuê mua hợp tác (leveregedlease)…
Về mặt lợi ích thì cả ngân hàng và khách hàng đều có lợi
Trang 18- Đối với ngân hàng (bên cho thuê): đây là hình thức tài trợ bổ sung chocác hình thức tài trợ khác đang tồn tại ở ngân hàng, nó giúp ngân hàng mởrộng dịch vụ, nâng cao năng lực cạnh tranh, giảm mức độ rủi ro, đảm bảonguyên tắc vốn vay được sử dụng đúng mục đích.
- Đối với các doanh nghiệp (bên đi thuê) : hình thức này có thể giúp cácdoanh nghiệp có thể sử dụng vốn vay dưới dạng thuê các máy móc, thiết bị
mà không phải bỏ vốn lớn, không ảnh hưởng tới bảng tổng kết tài sản và hạnmức tín dụng của doanh nghiệp, hơn nữa việc cấp tín dụng thuê mua thườngkhá nhanh chóng Từ đó, cho phép đầu tư kịp thời, đáp ứng được cơ hội sảnxuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường Mặt khác phương thức thanhtoán tiền thuê linh hoạt, thích ứng với hoàn cảnh và điều kiện sản xuất cũngnhư tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp và mỗi cá nhân
- Đối với các công ty nhỏ hoặc công ty không có uy tín : ngân hàng cóthể không chấp nhận cho vay dài hạn nhưng có thể cho hưởng tín dụng thuêmua Có thể nói, mô hình tín dụng thuê mua rất có ý nghĩa đối với nền kinh tếthị trường, nhất là đối với nền kinh tế nhiều thành phần như ở Việt Nam hiệnnay
1.2.4 Vai trò của tín dụng trung và dài hạn trong nền kinh
tế thị trường
1.2.4.1 Đối với nền kinh tế
Bất kỳ một nền kinh tế nào muốn phát triển nhanh và bền vững đều cầnphải thu hút được thật nhiều các nguồn vốn lớn và lâu dài Tín dụng trung vàdài hạn chính là để đáp ứng yêu cầu cấp thiết đó
1.2.4.2 Đối với ngân hàng
Trang 19Khi các ngân hàng thực hiện cấp tín dụng trung và dài hạn cho các dự
án trọng điểm quốc gia (nâng cấp cơ sở hạ tầng, thông tin liên lạc, hệ thốnggiao thông, xây dựng công trình thủy điện…) sẽ tạo ra lợi nhuận cao hơn rấtnhiều so với việc dùng nó để cho vay ngắn hạn, vì mỗi món vay trung - dàihạn cấp cho doanh nghiệp thực hiện các dự án đó thường là rất lớn, mang lạilợi nhuận cao
1.2.4.3 Đối với doanh nghiệp
Khi tìm kiếm các nguồn vốn từ bên ngoài, doanh nghiệp mong muốn
có đựơc những khoản tín dụng trung - dài hạn từ ngân hàng, bởi những ưu thếcủa nó (chủ động về quy mô vốn vay, thời hạn thanh toán, giảm chi phí pháthành, chắn thuế…) so với việc doanh nghiệp phát hàng cổ phiếu, trái phiếuhuy động vốn dài hạn
1.3 Cho vay trung - dài hạn của ngân hàng thương mại đối với DNNQD
1.3.1 Vai trò của ngân hàng thương mại đối với DNNQD
Tín dụng ngân hàng có vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế nóichung, và đặc biệt là đối với các DNNQD, thể hiện cụ thể như sau:
Thứ nhất, Góp phần giúp DNNQD đạt được cơ cấu vốn tối ưu Bởi
trong điều kiện hiện nay, quy mô vốn của các DNNQD còn đang trong tìnhtrạng thiếu trầm trọng, thế nên vốn ngân hàng là một sự lựa chọn hàng đầu.Các doanh nghiệp thường đi vay ngân hàng để đảm bảo nguồn tài chính chocác hoạt động sản xuất kinh doanh, đặc biệt là đảm bảo có đủ vốn cho các dự
án mở rộng quy mô hoặc đầu tư chiều sâu của doanh nghiệp
Trang 20Thứ hai, Tạo điều kiện phát triển ngành nghề mới trong khu vực kinh tế
ngoài quốc doanh, nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường Các doanh nghiệphoạt động chủ yếu để đáp ứng nhu cầu thị trường Tuy vậy, để nắm bắt và dựđoán được nhu cầu của thị trường trong tương lai đối với cá nhân từng doanhnghiệp là rất khó khăn Trong khi ngân hàng có mối quan hệ rộng rãi đối vớicác đơn vị kinh tế trong hầu hết các nghành, các lĩnh vực thông qua hoạt độngtín dụng của ngân hàng, tạo ra cho ngân hàng một hệ thống thông tin phongphú Từ đó ngân hàng có thể cung cấp các thông tin tương đối chính xác vềthị trường và tư vấn cho khách hàng về kế hoạch sản xuất kinh doanh Cùngvới nguồn vốn của mình, ngân hàng thúc đẩy việc thành lập các doanh nghiệpmới, bên cạnh việc giữ gìn các ngành nghề truyền thống, các ngành nghề mớicũng sẽ có điều kiện hình thành và phát triển
Thứ ba, Cung cấp vốn cần thiết cho các doanh nghiệp để đổi mới
trang thiết bị, đổi mới công nghệ, tìm kiếm thị trường, nâng cao trình độ củanhân viên, đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đượcdiễn ra liên tục Từ đó, tạo cho doanh nghiệp khả năng cạnh tranh trên thịtrường Tuy nhiên không phải ngân hàng cung cấp được vốn cho tất cả cáckhách hàng mà ngân hàng tập trung vào một nhóm khách hàng cụ thể và phải
là những khách hàng làm ăn có hiệu quả, hạn chế tối đa rủi ro mất vốn chongân hàng Đây chính là động lực thúc đẩy các doanh nghiệp nói chung vàDNNQD nói riêng luôn cố gằng làm ăn có hiệu quả Hơn thế nữa, khi doanhnghiệp gặp khó khăn ngân hàng có thể tư vấn tài chính, thực hiện một sốnghiệp vụ trong phạm vi chức năng là thế mạnh của ngân hàng giúp doanhnghiệp hoạt động có hiệu quả hơn
1.3.2 Nguyên tắc cho vay của ngân hàng thương mại
Trang 21Để nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay, góp phần hạn chế rủi ro,ngân hàng phải thực hiện quá trình cho vay dựa trên những nguyên tắc nhấtđịnh Điều này có ý nghĩa không chỉ với ngân hàng mà còn có ý nghĩa quantrọng đối với khách hàng và cả nền kinh tế Các nguyên tắc này được cụ thểhoá trong các quy định của ngân hàng nhà nước và của các ngân hàng thươngmại.
- Khách hàng phải cam kết hoàn trả vốn (gốc) và lãi với thời gian xácđịnh
- Khách hàng phải cam kết sử dụng tín dụng theo mục đích thoả thuậnvới ngân hàng, không trái với các quy định của pháp luật và các quy địnhkhác của ngân hàng cấp trên Việc ngân hàng yêu cầu khách hàng cam kếtnhư vậy để đảm bảo rằng ngân hàng không tài trợ cho các hoạt động trái phápluật và phù hợp với mục tiêu hoạt động, chiến lược kinh doanh của ngânhàng
- Ngân hàng tài trợ dựa trên phương án hoặc dự án có hiệu quả Chovay là hoạt động chủ yếu của ngân hàng, tuy nhiên, đây cũng là hoạt độnghàm chứa nhiều rủi ro nhất Ngân hàng chỉ cho khách hàng vay khi nhận thấy
họ có khả năng hoàn trả cho ngân hàng Phương án hoạt động của người vayhiệu quả và có lãi chứng minh cho khả năng thu hồi được vốn đầu tư của ngânhàng Nếu ngân hàng xét thấy khoản tín dụng kém an toàn, họ sẽ yêu cầungười vay phải có tài sản đảm bảo khi vay Thực hiện nguyên tắc này là điềukiện để thực hiện nguyên tắc đầu tiên
1.3.3 Phân loại cho vay đối với DNNQD
1.3.3.1 Căn cứ vào thời hạn cho vay
Trang 22Căn cứ vào thời hạn cho vay thì tín dụng ngân hàng được chia thành 3loại như sau:
Tín dụng ngắn hạn là các khoản tín dụng có thời hạn dưới 12 thánggiúp doanh nghiệp bổ sung vốn lưu động hoặc nhu cầu sử dụng vốn ngắn hạn
Tín dụng trung hạn là các khoản tín dụng có thời hạn từ trên 12 thángđến 60 tháng, thường được dùng để đổi mới trang thiết bị, mua sắm máymóc…
Tín dụng dài hạn là các khoản tín dụng có thời hạn trên 60 tháng, dùng
để xây dựng nhà xưởng, đầu tư đổi mới dây chuyền công nghệ, tài trợ chonhững dự án sản xuất lớn có thời quan thu hồi vốn dài
1.3.3.2 Căn cứ vào tài sản đảm bảo
a) Có tài sản đảm bảo Nghiệp vụ đảm bảo cũng được chia thành 2 loại
là cầm cố và thế chấp
-Cầm cố là hình thức theo đó người nhận tài trợ của ngân hàng phảichuyển quyền kiểm soát tài sản đảm bảo sang cho ngân hàng trong thời giancam kết, thường là thời gian nhận tài trợ
-Thế chấp là hình thức theo đó người nhận tài trợ phải chuyển các giấy
tờ chứng nhận sở hữu hoặc sử dụng các tài sản đảm bảo sang ngân hàng nắmgiữ trong thời gian cam kết
b) Không có tài sản đảm bảo còn gọi là cho vay tín chấp Đó là việckhách hàng sử dụng uy tín của mình để vay vốn và ngân hàng chấp nhận chovay Ngân hàng chỉ cho vay không có tài sản đảm bảo đối với khách hàng lớn,khách hàng truyền thống và có uy tín lớn, thường xuyên giao dịch với ngânhàng Thông thường ngân hàng chỉ cho vay theo hình thức này đối với một số
Trang 23doanh nghiệp nhà nước theo chỉ định, còn đối với DNNQD ở nước ta là rất ít
và hầu như không có
1.3.3.3 Căn cứ theo hình thức cấp tín dụng
a) Cho vay thấu chi:
Thấu chi là nghiệp vụ cho vay, qua đó ngân hàng cho phép người vayđược chi trội trên số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn nhấtđịnh và trong khoảng thời gian xác định Thấu chi dựa trên cơ sở thu và chicủa khách hàng không phù hợp về quy mô và thời gian Đây là tín dụng ngắnhạn, linh hoạt, thủ tục đơn giản, phần lớn là không có đảm bảo, tạo điều kiệnthanh toán chủ động, nhanh, kịp thời cho khách hàng Hình thức này chỉ sửdụng cho các khách hàng có độ tin cậy cao, thu nhập ổn định, đều đặn và kỳthu nhập ngắn
b) Cho vay trực tiếp nhiều lần:
Đây là hình thức cho vay phổ biến đối với những khách hàng không cónhu cầu vay thường xuyên, không có điều kiện để được cấp hạn mức thấu chi,chỉ khi có nhu cầu thời vụ hay mở rộng sản xuất đặc biệt thì mới vay ngânhàng Vốn từ ngân hàng chỉ tham gia vào một số giai đoạn nhất định của chu
kỳ sản xuất kinh doanh
c) Cho vay theo hạn mức:
Là nghiệp vụ tín dụng theo đó ngân hàng thoả thuận cấp cho kháchhàng hạn mức tín dụng, là số dư tối đa tại thời điểm tính Thời điểm tính ởđây có thể là cả kỳ hoặc cuối kỳ
Cho vay theo hạn mức thuận tiện cho những khách hàng vay mườnthường xuyên, vốn vay tham gia thường xuyên tham gia vào quá trình sản
Trang 24xuất kinh doanh, hạn mức tín dụng được cấp dựa trên cơ sở kế hoạch sản xuấtkinh doanh, nhu cầu vốn và nhu cầu vay vốn của khách hàng.
e) Cho vay luân chuyển:
Là nghiệp vụ cho vay dựa trên sự luân chuyển của hàng hoá Ngânhàng có thể cho doanh nghiệp vay để mua hàng khi doanh nghiệp thiếu vốn
và sẽ thu nợ khi doanh nghiệp bán hàng Việc cho vay dựa trên luân chuyểncủa hàng hoá nên cả ngân hàng lẫn doanh nghiệp đều phải nghiên cứu kếhoạch lưu chuyển hàng hoá để dự đoán dòng ngân quỹ trong thời gian tới.Khách hàng được đáp ưng nhu cầu vốn kịp thời nên việc thanh toán chongười cung cấp sẽ nhanh gọn Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp gặp khó khăntrong tiêu thụ hàng hóa thì ngân hàng sẽ khó thu hồi được vốn do thời hạn củakhoản vay không được quy định rõ ràng
f) Cho vay gián tiếp:
Đây là hình thức cho vay thông qua các tổ chức trung gian Ngân hàng
có thể chuyển một vài khâu như thu nợ, phát hành tiền vay,…của hoạt độngcho vay sang các tổ chức trung gian Tổ chức trung gian có thể đứng ra bảođảm cho các thành viên vay, hoặc các thành viên trong nhóm bảo lãnh chomột thành viên vay Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho người vay khi không
có hoặc không đủ tài sản thế chấp, đồng thời hạn chế người vay sử dụng tiềnsai mục đích
Ngoài ra, có thể phân loại cho vay căn cứ theo mục đích, bao gồm: chovay kinh doanh bất động sản, cho vay công nghiệp và thương mại, tài trợ thuêmua, cho vay khác Căn cứ theo phương thức hoàn trả có: cho vay trả một lần,cho vay trả nhiều lần, cho vay hoàn trả theo yêu cầu
Trang 251.3.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến mở rộng hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại đối với DNNQD
1.3.4.1 Nhân tố chủ quan
a) Từ phía ngân hàng
- Nguồn vốn huy động của ngân hàng: Khả năng huy động vốn vànguồn vốn huy động quyết định khả năng cho vay của ngân hàng đối với cácdoanh nghiệp nói chung và với các DNNQD nói riêng, đồng thời cũng là yếu
tố đánh giá khả năng hoạt động và sức cạnh tranh của ngân hàng trên thịtrường
- Quy trình tín dụng của ngân hàng: Quy trình cấp tín dụng là yếu tốquan trọng để thực thi chính sách tín dụng tại các ngân hàng, ảnh hưởng đếnhoạt động cho vay của ngân hàng đối với các doanh nghiệp, đặc biệt là vớiDNNQD
- Chính sách tín dụng và chính sách khách hàng: Chính sách tín dụngphản ánh phương hướng, mục tiêu của hoạt động quan trọng nhất trong mộtngân hàng, là hoạt động tín dụng, tạo nên sự thống nhất chung nhằm hạn chếrủi ro và nâng cao khả năng sinh lời
- Nguồn nhân lực: Việc tuyển chọn nhân sự có đạo đức nghề nghiệptốt, có tinh thần trách nhiệm, tâm huyết với nghề, giỏi chuyên môn, am hiểu
và có kiến thức phong phú về thị trường đặc biệt trong lĩnh vực tham gia đầu
tư vốn, năm vững những văn bản pháp luật có liên quan đến hoạt động tíndụng, có năng lực phân tích và xử lý dự án xin vay, đánh giá tài sản thế chấp,giám sát số tiền cho vay ngay từ khi cho vay đến khi thu hồi được nợ hoặc xử
lý xong món nợ theo quy định của ngân hàng… sẽ giúp cho ngân hàng có thểngăn ngừa được những sai phạm có thể xảy ra khi thực hiện chi kỳ khép kín
Trang 26- Cơ sở vật chất, kỹ thuật và hệ thống thông tin: Trong điều kiện khoahọc công nghệ ngày càng phát triển, việc trang bị đầy đủ cơ sở vật chất, kỹthuật, hệ thống thông tin hiện đại là phù hợp với xu hướng thời đại và đem lạinhững tiện ích lớn trong hoạt động của ngân hàng
b) Từ phía khách hàng
Thứ nhất là, Năng lực của khách hàng Không một khách hàng nào khi
đi vay lại không muốn món vay đem lại hiệu quả, nhưng nhiều khi do nănglực có hạn nên họ không thể thực hiện được ý đồ của mình Do hạn chế vềkhả năng, họ không dự đoán đúng những biến động lên xuống của nhu cầuthị trường hoặc do yếu kém trong quản lý, trong việc giới thiệu, quảng cáosản phẩm mà hoạt động của doanh nghiệp không thể phát triển hoặc do thiếukinh nghiệm trên thương trường mà doanh nghiệp dễ dàng bị gục ngã trongcạnh tranh… Tất cả những điều đó khiến cho chất lượng tín dụng bị ảnhhưởng ngoài ý muốn của cả ngân hàng lẫn khách hàng
Thứ hai là, Sự trung thực của khách hàng Nếu khách hàng trung thực,
sử dụng vốn vay đúng mục đích thì xác suất xảy ra rủi ro sẽ giảm đi đáng kể
vì tính khả thi của dự án cũng đã được ngân hàng thẩm định một cách kỹ càngtrước khi ra quyết định cho vay Nhưng việc sử dụng vốn vay sai mục đíchcủa khách hàng đã góp phần không nhỏ vào việc đổ bể của các tổ chức tíndụng Chẳng hạn như sử dụng vốn vay đầu tư vào tài sản cố định, vào bấtđộng sản, sau đó các tài sản này bị sụt giá dẫn đến việc doanh nghiệp khôngtrả được nợ cho ngân hàng Các doanh nghiệp còn chiếm dụng vốn lẫn nhaudẫn đến các doanh nghiệp làm ăn nghiêm chỉnh gặp khó khăn trong việc trả
nợ ngân hàng
Thứ ba là Rủi ro trong công việc kinh doanh của khách hàng Rủi ro
trong kinh doanh của doanh nghiệp sẽ xảy ra nếu việc tính toán triển khai dự
Trang 27án đầu tư sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp không khoa học, không thựchiện kỹ càng… Tuy nhiên trong một số trường hợp, cho dù phương án sảnxuất kinh doanh của người đi vay đã được tính toán một cách chi tiết; khoahọc; chính xác đến mức tối đa thì công việc đầu tư vẫn luôn chứa đựng khảnăng xảy ra rủi ro Ví dụ: các thiệt hại doanh nghiệp phải gánh chịu do sựbiến động của thị trường cung cấp như: khi giá cả nguyên vật liệu biến độngtăng vọt làm tăng giá thành công xưởng của sản phẩm, nếu giá bán của sảnphẩm không thay đổi nó sẽ làm cho thu nhập tạo ra trên một sản phẩm giảm,làm giảm tổng lợi nhuận được của cả dự án, ảnh hưởng xấu tới việc trả nợngân hàng Nếu đảm bảo thu nhập của mình, doanh nghiệp nâng giá bán củasản phẩm lên thì điều này sẽ làm cho việc tiêu thụ sản phẩm gặp khó khăn,khả năng thu hồi vốn sản xuất bị chậm trễ, dễ dàng vi phạm việc trả nợ ngânhàng về mặt thời hạn.
1.3.4.2 Nhân tố khách quan
a) Môi trường chính trị xã hội
Khi môi trường chính trị - xã hội ổn định sẽ giúp cho các doanh nghiệp
an tâm đầu tư lâu dài cho hoạt động sản xuất kinh doanh Ngược lại, nếu môitrường chính trị - xã hội mà bất ổn thì các doanh nghiệp sẽ không dám mạnhdạn đầu tư mà chỉ duy trì ở mức tái sản xuất giản đơn để bảo đảm an toànvốn Điều này sẽ ảnh hưởng tới quy mô các khoản tín dụng trung - dài hạncủa ngân hàng, các món vay chủ yếu sẽ là ngắn hạn còn khoản tín dụng trung
- dài hạn sẽ không có hoặc rất nhỏ vì sự không ổn định về chính trị - xã hộidẫn đến việc kinh doanh của doanh nghiệp gặp nhiều rủi ro, bất trắc hơn nên
nó sẽ ảnh hưởng tới công tác thu hồi nợ của ngân hàng
Thêm vào đó, tình hình chính trị - xã hội trên thê giới cũng có ảnhhưởng không nhỏ tới chất lượng tín dụng trung - dài hạn, bởi vì hiện nay các
Trang 28quan hệ kinh tế - xã hội ngày càng được mở rộng cho nên các loại hình doanhnghiệp đa quốc gia cũng ngày càng tăng cả về số lượng và quy mô hoạt động.
Vì vậy, mọi biến động về kinh tế - chính trị - xã hội bên ngoài đều có ảnhhưởng tới tình hình kinh tế, chính trị, xã hội trong nước và tất nhiên sẽ gâyảnh hưởng ở mức độ nào đó tới chất lượng tín dụng trung - dài hạn
b) Môi trường pháp lý
Môi trường pháp lý là tổng thể các yếu tố pháp lý tác động trực tiếphoặc gián tiếp đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng, bao gồm hệ thốngcác văn bản quy pham pháp luật do nhà nước, chính phủ, các cơ quan có thẩmquyền ban hành, ví dụ như: các văn bản về luật doanh nghiệp, luật các tổ chứctín dụng,…quy định cụ thể phạm vi, hoạt động của ngân hàng và doanhnghiệp, tạo môi trường làm ăn lành mạnh và công bằng cho các thành phầnkinh tế nói chung
Pháp luật có nhiệm vụ tạo lập môi trường pháp lý cho mọi hoạt độngsản xuất kinh doanh tiến hành thuận lợi và đạt hiệu quả kinh tế cao, là cơ sở
để giải quyết khiếu nại khi có tranh chấp xảy ra Môi trường pháp lý cho hoạtđộng tín dụng của ngân hàng nói riêng và cho hoạt động của các doanhnghiệp trong nền kinh tế nói chung là một nhân tố rất quan trọng ảnh hưởngtới khả năng phát sinh nợ quá hạn Hệ thống pháp luật quốc gia với các bộluật và văn bản dưới luật chưa được đầy đủ, đồng bộ, hợp lý sẽ không đảmbảo môi trường cạnh tranh lành mạnh cho các hoạt động kinh tế, là nguyênnhân trực tiếp dẫn đến rủi ro trong sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp,gây nên các khoản nợ quá hạn cho ngân hàng Như vậy, pháp luật có vị trí hếtsức quan trọng đối với hoạt động ngân hàng nói chung và chất lượng tín dụngtrung - dài hạn nói riêng
c) Môi trường kinh tế
Trang 29Môi trường kinh tế dù thay đổi theo chiều hướng nào cũng đều tácđộng tới chất lượng tín dụng của ngân hàng Nếu sự thay đổi theo chiềuhướng tốt thì chất lượng của các khoản tín dụng trung - dài hạn sẽ được nângcao Ngược lại, sự thay đổi theo chiều hướng xấu thì sẽ làm cho chất lượngcác khoản tín dụng trung - dài hạn xấu đi ngoài ý muốn Ví dụ: khi nền kinh
tế có hiện tượng lạm phát tăng vọt, sẽ kéo theo sức mua của đồng tiền giảmsút, chỉ số giá cả tăng nhanh gây khó khăn cho sản xuất kinh doanh, tác độngxấu đến khả năng thu hồi công nợ của ngân hàng Hay khi có sự biến độnglớn trong tỷ giá do sự thay đổi chính sách tiền tệ của Nhà nước, đồng nội tệ bịgiảm giá, các doanh vốn bằng ngoại tệ mà không có nguồn thu bằng ngoại tệ
sẽ gặp khó khăn trong việc trả nợ ngân hàng Sự biến động về tỷ giá như vậycũng khiến các doanh nghiệp phải nhập khẩu máy móc thiết bị nước ngoài bịthiệt hại không nhỏ, bởi lẽ ra trước khi có biến động về tỷ giá đã vay ngânhàng lượng tiền đủ yêu cầu thì nay trở thành không đủ để nhập, gây ảnhhưởng trực tiếp tới chất lượng khoản vay
Bên cạnh đó, môi trường kinh tế thế giới có nhiều diễn biến khó lườngthì cũng gây ra những ảnh hưởng không nhỏ tới các doanh nghiệp trong việctiếp cận các khoản tín dụng trung – dài hạn, đặc biệt là đối với doanh nghiệphoạt động xuất nhập khẩu Sự thay đổi ấy thể hiện trực tiếp qua sự biến động
về nhu cầu thị trường, sự biến động về tỷ giá khiến cho các doanh nghiệp kinhdoanh xuất nhập khẩu bị thua lỗ ảnh hưởng tới việc trả nợ ngân hàng củadoanh nghiệp
d) Chính sách tín dụng
Chính sách tín dụng là kim chỉ nam đảm bảo cho hoạt động tín dụng điđúng quỹ đạo, nó có ý nghĩa quyết định đến sự thành bại của mọi ngân hàng.Một chính sách tín dụng đúng đắn sẽ đảm bảo khả năng sinh lời của hoạt
Trang 30động tín dụng trên cơ sở phân tán rủi ro, tuân thủ pháp luật, đường lối chínhsách của nhà nước và đảm bảo công bằng xã hội Ngược lại, nếu chính sáchtín dụng không hợp lý, chồng chéo sẽ gây khó khăn cho ngân hàng khi thựchiện nghiệp vụ tín dụng điều đó có nghĩa là chất lượng tín dụng trung - dàihạn phụ thuộc vào việc xây dựng chính sách tín dụng của ngân hàng có đúngđắn hay không.
e) Các yếu tố khách quan khác
Chẳng hạn như các yếu tố thuộc về tự nhiên như: bão lũ lụt, hạn hán,hoả hoạn, dịch bệnh…bởi khi một trong những thiên tai đó xảy ra, nó thườnggây thiệt hại rất lớn cho các ngành sản xuất, dịch vụ, qua đó gây ra các biếnđộng xấu ngoài dự kiến trong mối quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và cáckhách hàng của mình, làm cho vốn của ngân hàng đầu tư vào các doanhnghiệp sẽ ít nhiều bị ảnh hưởng và dẫn tới rủi ro làm giảm chất lượng tíndụng
Trang 31
Chương 2 THỰC TRẠNG CẤP TÍN DỤNG TRUNG VÀ DÀI HẠN ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH
TẠI NHNo&PTNT CHI NHÁNH CẦU GIẤY, HÀ NỘI.
2.1 Khái quát về NHNo&PTNT chi nhánh Cầu Giấy
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của chi nhánh NHNo&PTNT Cầu Giấy
Quận Cầu Giấy - một trong những quận được hình thành từ khá sớmcủa Thủ đô Hà Nội, và là đầu mối giao thông quan trọng phía Tây thành phốvới lưu lượng hàng hóa giao thương rất lớn Là nơi tập trung rất nhiều trườngđại học, cơ quan nhà nước, nhiều khu dân cư tập trung, hiện đại đã và đangđược xây dựng, cùng một số lượng lớn các công ty mới hình thành đặt trụ sởlàm việc và kinh doanh trên địa bàn
Với những điều kiện thuận lợi về mặt vị trí địa lý - kinh tế - xã hội,năm 1997 chi nhánh NHNo&PTNT Cầu Giấy đã được thành lập, tách ra từ
chi nhánh NHNo&PTNT huyện Từ Liêm, Hà Nội chuyển đổi thành chi nhánh
cấp 2 trực thuộc NHNo&PTNT Hà Nội
Từ những ngày đầu mới thành lập, dù còn bao khó khăn, thiếu thốn
về nhân lực và cơ sở vật chất nhưng ban lãnh đạo và cán bộ công nhân viêncủa chi nhánh vẫn hết sức nỗ lực để đạt được những kết quả tốt nhất, đónggóp một phần không nhỏ vào sự phát triển chung của hệ thống ngân hàngnông nghiệp và phát triển nông thôn Đến năm 2004, một trụ sở mới khákhang trang, bề thế với đầy đủ trang thiết bị đã được xây dựng tại số 99đường Trần Đăng Ninh, tạo điều kiện mở rộng thêm hoạt động của chi nhánh,tạo đà cho những bước phát triển của chi nhánh nói riêng cũng như toàn bộ hệ
Trang 32Ngày 12/1/2006, Ngân hàng nhà nước Việt Nam đã ra quyết định số
35, nâng cấp NHNo&PTNT Cầu Giấy từ chi nhánh cấp 2 thành chi nhánh cấp
1, trực thuộc NHNN&PTNT Việt Nam
Trên cơ sở đó, ngày 13/1/2006, chủ tịch hội đồng quản trịNHNN&PTNTVN đã ra quyết định số 28, chính thức thành lập chi nhánh cấpI-chi nhánh NHNo&PTNT Cầu Giấy Chi nhánh đã tổ chức lễ khai trương vàchính thức đi vào hoạt động từ ngày 20/3/2006
Tại thời điểm bắt đầu chuyển đổi lên chi nhánh cấp I, chi nhánh chỉ
có 31 nhân viên và 4 Phòng giao dịch trực thuộc Đến cuối năm, chi nhánh đã
có 100 nhân viên và 10 Phòng giao dịch trực thuộc Trong các năm hoạt động,
đặc biệt là từ khi chuyển đổi thành chi nhánh cấp I, NHNo&PTNT Cầu Giấy
đều đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận trong hoạt động kinh doanh
2.1.2 Các hoạt động chính của chi nhánh NHNo&PTNT Cầu Giấy
- Huy động vốn từ các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước thông quaviệc nhận tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi thanh toán và phát hành kỳ phiếu vớimức lãi suất linh hoạt, hấp dẫn
- Cho vay các tổ chức doanh nghiệp, cá nhân và hộ gia đình với mứclãi suất thỏa thuận và các loại hình cho vay đa dạng như cho vay ngắn hạn,trung hạn, dài hạn, cho vay thế chấp, tín chấp, cho vay tiêu dùng, …
- Thực hiện các nghiệp vụ thanh toán quốc tế, thanh toán biên mậuvới các phương thức chuyển tiền, nhờ thu, tín dụng chứng từ… qua mạngSWIFT đảm bảo nhanh chóng, an toàn, thuận tiện
- Thực hiện các nghiệp vụ chuyển tiền phi thương mại trong và ngoàinước với dịch vụ chi trả kiều hối, chuyển tiền qua Weston Union,…
Trang 33Tham gia tài trợ chính, hoặc phối kết hợp với các tổ chức kinh tế
-xã hội và các tổ chức tài chính khác với tư cách là ngân hàng đầu mối hoặcngân hàng thành viên cho vay vốn đối với các chương trình, các dự án lớn vớithủ tục thuận lợi nhất, thời gian nhanh nhất
- Mua bán giao ngay các loại ngoại tệ theo tỷ giá hiện hành trên thịtrường
- Nhận thanh toán các loại thẻ thanh toán quốc tế do các hãng Visa,Master Card phát hành
- Phát hành thẻ thanh toán và thực hiện dịch vụ rút tiền tự động ATM24/24
- Thực hiện một số dịch vụ khác của ngân hàng thương mại
2.1.3 Cơ cấu tổ chức của NHNo&PTNT Cầu Giấy
Để thực hiện tốt nhiệm vụ mà ngân hàng Trung Ương giao phó, theotiến trình đi lên của Đảng và nhà nước, qua các thời kỳ đổi mới, hoàn thiệnsao cho phù hợp tình hình mới Đến nay, cơ cấu tổ chức của chi nhánhAgribank Cầu Giấy được thể hiện như sau:
Đứng đầu chi nhánh là: chức danh Giám đốc, có nhiệm vụ điều hànhhoạt động kinh doanh hàng ngày của chi nhánh theo chỉ đạo từ ban lãnh đạoNgân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn
Chức danh phó Giám đốc chi nhánh có nhiệm vụ hỗ trợ, và thực hiệncác công việc theo chỉ đạo trực tiếp từ Giám đốc chi nhánh (ở chi nhánhNHNo&PTNT Cầu Giấy có 3 phó Giám đốc) Ngoài ra là 1 kế toán trưởng vàđội ngũ cán bộ, nhân viên làm việc tại các phòng ban như: Phòng kế toánngân quỹ, phòng tín dụng, phòng thanh toán quốc tế, phòng hành chính,phòng kế hoạch, tổ kiểm soát, tổ tiếp thị, tổ thẻ
Trang 34Sơ đồ 1: Cơ cấu tổ chức của chi nhánh Agribank Cầu Giấy
Phòng hành chính
Phòng
kế hoạch
Tổ kiểm soát
Tổ tiếp thị
Tổ thẻ
Trang 35 Chức năng cụ thể của từng phòng ban:
Phòng kế toán ngân quỹ: gồm trưởng phòng, phó phòng, bộ phận ngân
quỹ, bộ phận dịch vụ khách hàng và bộ phận vi tính Chức năng của phòng kế toánngân quỹ là: trực tiếp thực hiện các giao dịch với khách hàng, đặc biệt là các giaodịch gửi tiền, rút tiền, mua bán ngoại tệ,… Đồng thời, theo phương thức giao dịchmột cửa mà hệ thống NHNo&PTNT đang áp dụng, các nhân viên giao dịch cũngđồng thời là các nhân viên kế toán sẽ thực hiện công việc hạch toán vào tài khoảnphản ánh các giao dịch vừa thực hiện Bên cạnh đó, bộ phận ngân quỹ của phòng
có chức năng phụ trách ngân quỹ của chi nhánh, thực hiện việc lưu trữ, kiểm soátlượng tiền mặt tại quỹ
Phòng tín dụng: phụ trách hoạt động tín dụng của ngân hàng, bao gồm:
các mảng cho vay khách hàng cá nhân, khách hàng doanh nghiệp, cho vay dự án…các nhân viên của phòng sẽ tiếp xúc, làm việc với các khách hàng có nhu cầu vayvốn, thẩm định đơn xin vay vốn của khách hàng và thực hiện các thủ tục cần thiết
để cho vay nếu khách hàng được đánh giá là đủ điều kiện vay vốn, sau đó là việcthực hiện các hợp đồng tín dụng bao gồm các bước giải ngân và thu hồi nợ
Phòng thanh toán quốc tế: thực hiện các nghiệp vụ thanh toán quốc tế,
chuyển tiền biên mậu, chuyển tiền phi thương mại, mua bán, kinh doanh ngoại tệ…
Phòng kế hoạch: có nhiệm vụ phân tích đánh giá tình hình hoạt động của
chi nhánh, tình hình thị trường từ đó đề ra kế hoạch hoạt động của chi nhánh dựatrên cơ sở kế hoạch chung của NHNN&PTNT VN
Phòng hành chính: thực hiện quản lý hành chính trong chi nhánh, đảm bảo
cho hoạt động của chi nhánh diễn ra suôn sẻ