1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG LĨNH VỰC CƠ SỞ HẠ TẦNG Ở CÁC THÀNH PHỐ DU LỊCH VIỆT NAM

58 740 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng quản lý nhà nước trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng ở các thành phố du lịch Việt Nam
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Thể loại Chuyên đề
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 272,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG LĨNH VỰC CƠ SỞ HẠ TẦNG Ở CÁC THÀNH PHỐ DU LỊCH VIỆT NAM

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

HỒ ĐỨC…

CHUYÊN ĐỀ CHUYÊN SÂU CẤP TIẾN SỸ

Trang 2

MỤC LỤC

Mở đầu

Phàn thú nhất: TÌNH HÌNH ĐÔ THỊ HÓA VÁ CƠ SỞ HẠ TẦNG CÁC

THÀNH PHỐ DU LỊCH HIÊN NAY O NUƯỚC TA 1.1 Tình hình đô thị hóa và sự xuất hiện thành phố

và đô thị du lịch ở nước ta

1.2 Tình hình cơ sở hạ tầng các thành phố du lịch

Phàn thú hai: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH QUẢN LÝ NHÀ NƯỞC TRONG LĨNH VỰC CƠ SỞ HẠ TẦNG CÁC THÀNH PHỐ DU LỊCH

2.1 Tạo môi trường pháp lý cho việc thực hiện kế hoạch hóa việc

quản lý nhà nước trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng các thành phố du lịch 2.2 Tình hình quản lý nhà nước trong việc triển khai các

chương trình, dự án đối với CSHT đô thi trong đó, có

các thành phố du lịch

2.2 Tình hình quản lý nhà nứoc đối với việc thực hiện kiểm tra, thanh tra, gíám sát lĩnh vực CSHT đô thị trong đó, có các

thành phố du lịch.

Phàn thú ba: ĐÁNH GIÁ CHUNG –THÀNH TỰU , HẠN CHẾ VÀ

NGUYÊN NHÂN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỞC TRONG LĨNH VỰC

CƠ SỞ HẠ TẦNG CÁC THÀNH PHỐ DU LỊCH HIÊN NAY

3.1 Những thành tựu việc quản lý nhà nước trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng các thành phố du lịch.

3.2 Những hạn chế về quản lý nhà nước lĩnh vực CSHT độ thị

trong đó có các thành phố du lịch

Trang 3

3.3- Nguyên nhân của những hạn chế quản lý nhà nước lĩnh vực CSHT độ thị trong đó có các thành phố du lịch

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 4

MỎ ĐẦU

Vấn đề quản lý nhà nước trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng đã được Đảng vàNhà nước hết sức quan tâm và đang là hướng ưu tiên của cải cách quản lý đểhoàn thiện Bộ máy quản lý Nhà nước về đầu tư xây dựng cơ bản trong đó

có đầu tư cơ sở hạ tầng đã được hình thành từ Trung ương đến cơ sở, sự phốihợp giữa các cơ quan quản lý ngày càng chặt chẽ, hệ thống văn bản pháp lý

để quản lý xây dựng cơ bản ngày càng đầy đủ hơn, hiệu lực và hòan thiệnhơn Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu đã đạt được, hoạt động quản lýNhà nước trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng còn nhiều vấn đề bất cập, yếu kémcần phải khắc phục, đó là: Bộ máy hành chính còn cồng kềnh kém hiệu quả,gây nhiều thất thoát, lãng phí Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơquan này còn chồng chéo, nhân lực vừa thiếu vừa yếu, chưa phát huy tácdụng quản lý một cách hiệu quả cao Hệ thống văn bản pháp quy trong quản

lý nhà nước đối với lĩnh vực cơ sở hạ tầng chưa chặt chẽ, thường xuyên thayđổi trùng lặp mâu thuẫn giữa các văn bản dẫn đến khó thực hiện và do đóhạn chế đến việc phát triển cơ sở hạ tầng và thu hút đầu tư Quản lý chươngtrình dự án còn nhiều bất cập, chưa có quy hoạch tổng thể, dài hạn chủ yếuvẫn chỉ là manh mún, tuỳ tiện Trình độ quản lý của đội ngũ công chức cònnhiều hạn chế kể cả về lý luận cũng như thực tiễn quản lý Nhà nước tronglĩnh vực cơ sở hạ tầng Việc phát triển cơ sở hạ tầng trong thời gian quachưa tương xứng với yêu cầu phát triển của các thành phố du lịch vì thế gâynhiều khó khăn trong thu hút đầu tư, công tác quy hoạch đền bù giải phóngmặt bằng, lập dự án, quản lý chất lượng công trình, giải ngân và thanh quyếttoán

Trang 5

Những hạn chế, bất cập nói trên đã và đang đòi hỏi cần được phân tíchđánh giá thực trạng một cách khoa học, làm cơ sở thực tiễn cho việc xácđịnh phương hướng và giải phápi ở các thành phố du lịch nước ta trong thời

gian tới Đề tài: “ Thực trạng quản lý nhà nước trong lĩnh vực cơ sở hạ

tầngở các thành phố du lịch ở nước ta hiện nay”, đựợc chọn làm chuyên đề

chuyên sâu cấp tiến sỹ là trên ý nghĩa đó

Chuyên đề, ngoài mở đầu và kết luận, về nội dung được chia thành 3

phần:

Phần thứ nhất: Tình hình đô thị hóa và cơ sở hạ tầng các thành phhố du lịch

hiện nay ở nước ta

Phần thứ hai: Tổng quan thực trạng quản lý nhà nước lĩnh vực cơ sở hạ

tầng đô thi du lịch nước ta hiện nay.

Phần thư ba: Đánh giá chung- Thành tựu, hạn chế và nguyên nhân

NỘI DUNG CƠ BẢN CỦACHUYÊN ĐỀ

Phân thú nhấtTÌNH HÌNH ĐÔ THỊ HÓA VÁ CƠ SỞ HẠ TẦNG CÁC THÀNH PHỐ DU LỊCH HIÊN NAY O NUƯỚC TA 1.1 Tình hình đô thị hóa và sự xuất hiện thành phố và đô thị du lịch ở nước ta

1.1.1 Khái quảt quá trình đô thị hóa

Sự chuyển đổi cơ chế kinh tế của nước ta từ tập trung quan liêu bao cấpsang kinh tế thị trường đã tác động mạnh mẽ tới tiến trình đô thị hóa Từ một

Trang 6

nước có nền kinh tế nông nghiệp là chủ yếu, đến nay cơ cấu kinh tế đãchuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Do tỷ trọng GDP vềcông nghiệp và dịch vụ trong tổng GDP ngày một tăng đã có ảnh hưởng lớnđến quá trình đô thị hóa của cả nước và tăng trưởng đô thị Sự tăng trưởng

đô thị thể hiện trên các yếu tố sau:

Thứ nhất: Dân số đô thị tăng nhanh cả về số lượng và tỷ trọng.

Năm 1986 dân số đô thị của cả nước là 11,8 triệu người, chiếm tỷ trọng19,5% tổng dân số Các con số đó năm 1995 tăng lên là 14,6 triệu, 20,3%,năm 1997 là 15,7 triệu, 20,8% đến năm 2000 khoảng 18 triệu người vàchiếm 24% Điều đó được thể hiện trong bảng 2.1

Bảng 2.1: Dân số đô thị nước ta từ năm 1986 -2000

Năm

Nguồn: Niên giám thống kê – Tổng cục thống kê năm 2001

Tốc độ tăng dân số đô thị năm 2000 đạt bình quân 2,8% trong khi đótốc độ tăng dân số trung bình của cả nước là 1,4%

Nếu tính đến năm 2010 theo số liệu điều tra quy hoạch tổng thể phát

triển đô thị Việt Nam, dân số đô thị 28,5 triệu người, chiếm 32% dân số cả

nước Có thể minh họa các chỉ tiêu dân số và đô thị hóa qua 3 thời điểm

1989,1999 và 2010 ở nước ta qua bảng số liệu sau:

Trang 8

Bảng 2.2: Dân số và đô thị hóa

Việt Nam Dân số ( Triệu người)

64.8 100 75.6 100 89.0 100

-Tăng dân số cả nước của giai đọan:2000-2010 =1,38%/năm

- Tăng dân số khu vực thành thịG/đ:2000-2010 8,90%/năm= Nguồn: Chương trình tổng thể nâng cấp đô thị quốc gia- Bộ Xây dựng

Thứ hai, Sự tăng lên của các điểm đô thị

Nếu như năm 1995, cả nước có khoảng gần 500 điểm đô thị, trong đó

có 77 thành phố, thị xã và trên 400 đô thị là thị trấn huyện lỵ thì đến nay cảnước ta có trên 650 đô thị, trong đó có hai đô thị loại 1 là Hà Nội và Thànhphố Hồ Chí Minh, 11 đô thị loại II là Hải Phòng, Đà Nẵng, Huế, Cần Thơ,Biên Hòa, Vinh, Nam Định, Thanh Hóa, Hải Dương, Hạ Long, Nha Trang,

13 đô thị loại III; 60 thị xã loại 4 và 564 thị trấn loại 5, tăng 13% số điểm đôthị Các đô thị loại I, II, III có vị trí quan trọng đối với từng vùng và cả nước Theo số liệu điều tra phân loại đô thị theo chuẫn mới của Chương trìnhtổng thể nâng cấp đô thị do bộ Xây dựng công bố, tại Hội thảo Quốc giatháng 4/2008, tính đến thời điểm tháng 12/2007, hệ thống các đô thị nước ta

có 728 đô thị: Đô thị từ loại IV trở lên là 95 ( trong đó có 2 đô thị loại đặcbiệt là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh) Số còn lại là loại V chiếm khácao: 633 đô thị Điều đó thể hiện ở bảng sau:

Trang 9

Bảng 2.3: Hệ thống các đô thị Việt Nam

( Đến thời điểm tháng 12 năm 2007)

Loại Số lượng đô thị

Đặc biệt 2

I 3

II 14

III 38

IV 38

V 633

Tông cộng 728

Nguồn: Chương trình tổng thể nâng cấp đô thị của bộ Xây dựng Thứ ba, Tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong GDP của đô thị tăng nhanh Tốc độ tăng cao của công nghiệp và dịch vụ khu vực đô thị so với GDP (tăng từ 40%/GDP năm 1995 lên 50% năm 2000) góp phần làm tăng GDP của cả nước Thu nhập bình quân đầu người tại các đô thị tăng nhanh, đặc biệt là các đô thị lớn, đạt trên 700 USD (năm 2000), gấp 2 lần so với mức trung bình của cả nước Thu ngân sách tại các đô thị tăng nhanh qua các năm và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu NSNN, năm 1995 chiếm 36% đến năm 2000 chiếm 50% tổng thu NSNN Và từ sau năm 2000 đến nay các chỉ tiêu nói trên gia tăng khánh nhanh Theo đánh giá của Chương trình tổng thể nâng cấp đô thị do bộ Xây dựng công bố, tại Hội thảo Quốc gia tháng 4/2008 choa thấy: Khu vực đô thị nhất là các đô thị du lịch đã đóng góp một tỷ lệ khá quan trọng khỏang 65-70% trong GDP của cả nước [ ],

Trang 10

Thứ tư, Tốc độ xây dựng tại các đô thị tăng nhanh, đặc biệt là lĩnh vực CSHT kỹ thuật đô thị.

CSHT kỹ thuật tại các đô thị từng bước được nâng cấp và hiện đại hóa

đã phần nào đáp ứng được yêu cầu sinh hoạt và phát triển sản xuất của ngườidân đô thị

Thứ năm, Quá trình đô thị hóa gắn liền với sự hình thành các vùng kinh tế trọng điểm.

Đó là ba vùng kinh tế: Bắc – Trung – Nam, có tác dụng là đòn bảy kinh

tế của ba khu vực Với đặc trưng phân bố sản xuất, quá trình đô thị hóa đượcphát triển theo hai dạng:

- Cấu trúc không gian đô thị theo hướng cực ở phía Bắc là TP Hà Nội,được lan tỏa theo các trục giao thông hướng tâm từ Hà Nội đi các đô thị vớikhoảng cách từ 20 – 60 km,

- Cấu trúc không gian đô thị theo dạng cực tại phía Nam là TP Hồ ChíMinh, lan tỏa theo các trục giao thông quốc lộ 51, quốc lộ 1, quốc lộ 13,quốc lộ 22

- Cấu trúc không gian đô thị theo dạng chuỗi tại khu vực kinh tế trọngđiểm miền Trung, trải dài theo quốc lộ 1 từ cố đô Huế qua Đà Nẵng đến NhaTrang, trong đó Đà Nẵng là trung tâm chuỗi đô thị thuộc duyên hải miềnTrung

Như vậy, sau 15 năm (1975 - 1990) mức độ đô thị hóa ở Việt Nam

hầu như không có biến động, phản ánh một nền kinh tế trì trệ, chỉ đến những

năm 90, kể từ Đại hội Đảng tòan quốc lần thứ VI( năm 1986) đánh dấu việc

chuyển đổi mô hình kinh tế cũ sang mô hình kinh tế thị trường định hướngXHCN- mô hình kinh tế năng động - đã thúc đẩy quá trình đô thị hóa, đô thị

Trang 11

hóa được nhìn nhận như một thực tế khách quan đồng hành với quá trìnhphát triển kinh tế Dịch chuyển cơ cấu kinh tế, tăng năng suất lao động vàdịch chuyển cơ cấu dân cư là những quá trình tất yếu của quá trình đô thịhóa Bên cạnh đó, tốc độ đô thị hóa cao đã tạo ra áp lực lớn đối với các đôthị về sức chứa của CSHT kỹ thuật và đặt ra yêu cầu đàu tư phát triển CSHT

đô thị hiện nay ở nước ta

1 1.2 Quá trinh hình thành ngành Du lịch và thành phố du lịch

1.1.2.1 Các giai đoọan hình thành và phát triển ngành Du lịch.

Giai đoạn đầu.

Xuất phát từ một nước nông nghiệp lạc hậu, thuộc địa nửa Phong kiến,giai đoạn đầu- giai đoạn đất nước còn tạm thời bị chia cắt, trong hoàn cảnhchiến tranh khốc liệt, từ năm 1960 đến 1975 , lúc này họat động du lịch rađời chua thể là họat đông kinh doanh theo đúng nghĩa của nó, mà nhằm đápứng yêu cầu phục vụ các đoàn khách Chính phủ theo tinh thần của Nghị định

số 26/CP, ngày 09/07/1960 Tổ chức du lịch ban đầu là Công ty Du lịch ViệtNam trực thuộc Bộ Ngoại thương Quản lý Nhà Nước về Du lịch thuộc chứcnăng của Bộ Ngoại thương với một phòng chuyên trách 4 người; năm 1969chức năng này chuyển về Thủ tướng Chính phủ, sau đó chuyển sang BộCông an Trong điều kiện rất khó khăn của chiến tranh và qua nhiều cơquan quản lý, ngành Du lịch và các tỉnh thành phố có tiềm năng du lịch đã

nỗ lực phấn đấu, vượt qua mọi thử thách từng bước mở rộng nhiều cơ sở Dulịch ở Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Tam Đảo, Hoà Bình, Thanh Hoá,Nghệ An , hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị, phục vụ an toàn, có chất lượng;một lượng lớn khách của Đảng và Nhà nước, các đoàn chuyên gia các nước

xã hội chủ nghĩa anh em vào giúp Việt Nam thực hiện 2 nhiệm vụ là xâydựng chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc và giải phóng Miền Nam thống nhất đất

Trang 12

nước, đồng thời đón tiếp phục vụ, đáp ứng nhu cầu du lịch, tham quan nghỉmát của cán bộ, bộ đội và nhân dân.

Giai đoạn sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống

nhất, hoạt động của các tỉnh , thành phố có tiềm năng du lịch dần trải rộng

ra các miền của tổ quốc

Ở giai đoạn này, ngành , tỉnh, thành phố có tiềm năng du lịch hoạt độngtrong điều kiện đất nước vừa phải trải qua cuộc chiến tranh giải phóng dântộc lâu dài, phải tập trung sức hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phụckinh tế và phá thế bao vây cấm vận của Mỹ; đồng thời lại phải tiếp tục cuộcchiến đấu bảo vệ biên cương phía Bắc và Tây Nam.Từ năm 1975 đến 1990hoà vào khí thế chung của đất nước đã được thống nhất, ngành, tỉnh thànhphố có tiềm năng du lịch đã làm tốt nhiệm vụ tiếp quản, bảo toàn và pháttriển nhiều cơ sở mới từ Huế,, Đà nẵng, Bình Định đến Nha Trang, LâmĐồng, Thành phố Hồ Chí Minh, Vũng Tàu, Cần Thơ, từng bước thành lậpcác doanh nghiệp Du lịch nhà nước trực thuộc Tổng cục Du lịch và Uỷ bannhân dân tỉnh, Thành phố và Đặc khu Tháng 6 năm 1978 Tổng cục Du lịchViệt Nam được thành lập trực thuộc Hội đồng Chính phủ, đánh dấu một bư-

ớc phát triển mới của ngành Du lịch.Trong giai đoạn này, ngành, tỉnh, thànhphố có tiềm năng du lịch đã phấn đấu vượt qua những khó khăn thử tháchmới, tổ chức đón tiếp và phục vụ khách du lịch quốc tế từ các nước xã hộichủ nghĩa anh em và các nước khác trên thế giới đến Việt Nam Du lịch đãgóp phần tích cực tuyên truyền giới thiệu về đất nước, con người Việt Namvới bạn bè thế giới và tổ chức cho nhân dân đi du lịch giao lưu hai miềnNam - Bắc, thiết thực góp phần giáo dục tinh thần yêu nước, tinh thần tự hàodân tộc Thông qua du lịch thế giới hiểu rõ thêm quan điểm, nguyện vọngcủa Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam sau chiến tranh muốn là bạn củatất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và

Trang 13

phát triển, góp phần phá thế bao vây cấm vận của Mỹ Về mặt kinh tế - xãhội, ngành du lịch đã phát triển thêm một bước, hoạt động có kết quả tốt, đặtnền móng cho ngành Du lịch bước vào giai đoạn mới Tuy nhiên, trong giaiđọan này việc xác định, tỉnh, thành phố và đô thị du lịch về mặt pháp lýcũng chưa có điều kiện cần và đủ để thực hiện.

Giai đoạn từ khi đổi mới nền kinh tế đến nay.

Cùng với sự nghiệp đổi mới đất nước, ngành, tỉnh, thành phố có tiềmnăng du lịch đã khởi sắc, vươn lên đổi mới quản lý và phát triển, đạt đượcnhững thành quả ban đầu quan trọng, ngày càng tăng cả quy mô và chất l-ượng, dần khẳng định vai trò, vị trí của mình Chỉ thị 46/CT-TƯ của ban Bíthư trung ương Đảng khoá VII tháng 10 năm 1994 đã khẳng định "Phát triển

du lịch là một hướng chiến lược quan trọng trong đường lối phát triển kinh

tế - xã hội nhằm góp phần thực hiện công nghiệp hoá đất nước" Cơ chếchính sách phát triển du lịch từng bước được hình thành, thể chế hoá bằngvăn bản quy phạm pháp luật, tạo môi trường cho ngành, tỉnh ,thành phố cótiềm năng du lịch phát triển, nâng cao hiệu lực quản lý.nhà nước về du lịchđối với cá tỉnh, thành phố và đô thị du lịch Từ đại hội Đảng lần thứ X đếnnay, Tổng cục Du lịch thuộc Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch có chức năngquản lý Nhà nước về du lịch từ Trung ương đến các tỉnh, Thành phố Trongquá trình cải cách đó, đặc biệt đáng chú ý là việc phân định Bộ và các Sở chỉthực hiện chức năng quản lý nhà nước về du lịch, còn chức năng kinh doanhthuộc vê các Tổng công ty và các công ty du lịch Cho đến nay, tổ chứcquản lý nhà nước về du lịch ở các địa phương, tỉnh (thành phố) do các Sởvăn hóa- Thể thao- và Du lịch đảm nhiệm

1.1.2.2 Bước đàu xuất hiện một số thành phô Du lịch

Quá trình đô thị hóa đất nước, dưới góc độ khai thác và phát huy tiềm năng du lịch ở một số địa phương, cho đến nay, 5 thành phố và 6 đô thị du

Trang 14

lịch đã đươc Chính phủ công nhận là thành phố và đô thị du lịch về mặt pháp lý.

-Về thành phố du lịch gồm có: Thành phố Hạ Long (tỉnh QuảngNinh),

thành phố Huế ( tỉnhThừa Thiên-Huế), thành phố Nha Trang ( tỉnh KhánhHòa); thành phố Đà Lạt ( tỉnh Lâm Đồng), thành phố Vũng Tàu ( tỉnh BàRịa –Vũng Tàu) Các thành phố này được xác định là thành phố du lịch căn

cứ vao nhiều chỉ tiêu ( ngoài chỉ tiêu về trình độ cơ sở hạ tầng- sẽ trình bàysau) có các chi tiêu như : Tiềm năng du lịch có thể khai thác được ( dưới góc

độ du lịch là ngành kinh tế) được thể hiển khái quảt qua chỉ tiêu doanh thucủa du lịch; chỉ tiêu về diện tích; chỉ tiêu dân số và mật độ dân số trong tiếntrình phát triển và HHKTQT

Theo số liệu thống kê cúa các thành phố nói trên, cho đên nay( 2006)các chỉ tiêu này thể hiện ở bảng 2.1

Bảng 2.4: Diện tích, dân số và doanh thu du lịch của các thành phố du lịch

(năm 2006)

Thành phố

Diện tích (km2)

Dân số trung binh

(người)

Mật độ d/ số (nguời/km2)

Doanh thu du lịch(Triệu đg)

Nguồn: [Niên giám thống kê các tỉnh có thành phố du lịch]

- Về đô thị du lịch gồm có: Đồ Sơn ( Hải Phòng), Sa Pa (Lào Cai), Cửa

Lò( Nghệ An), Sầm Sơn ( Thanh Hóa), Hội An (Quảng Nam).v.v

Trang 15

Các đô thị du lịch này đang trên đà phát triển: Bộ mặt đô thị bước đàu đã

có sự thay đôi đáng kể Nhiều đô thị phát triển theo hướng đa dạng hóa sản phẩm du lịch, thực hiện đô thị du lịch xanh, sạch ,đẹp và từng bước hiện đại.hóa cơ sở hạ tầng Nhờ đó số lượng khách du lịch và doanh thu du lịch ngày một gia tăng Tuy nhiên, những kết quả nói trên chỉ là bước đâu so với tiêu chuẩn của thành phố và đô tị du lịch và so với đô thị du lịch các nước, khỏang cách về trình độ nước ta còn lớn, một thách thức cần vượt qua trong canh tranh thu hút du khách trong nước và quốc tế cần tính đến trong thời gian tới ở các thành phố và đô thị du lịch nước ta

1.3.Tình hình cở sở hạ tầng các thành phố du lịch

Lý luận và thực tiễn cho thấy: quá trình đô thị hóa để hình thành và phát triển các thành phố du lịch không thể tách rời sự hình thành và phát triển ngành Du lịch và cở sở hạ tầng của ngành Du lịch nói chung và thành phố, đôthị du lịch nói riêng Vì vậy, về mặt phương pháp luận trước khi tiếp cận thựctrạng quản lý nhà nước trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng các thành phố du lịch , luận án không thể không dành một tiết để tổng quan tình hình cơ sở hạ tầng thành phố và đô thị du lịch

Thực tiễn đô thị hóa của Việt Nam cho thấy sự phát triển và tăng

trưởng của các đô thị vừa là nguyên nhân vừa là kết quả của quá trình xây dựng CSHT đô thị Hệ thống CSHT đô thị một mắt xích quan trọng trong guồng máy kinh tế - xã hội tại các đô thị nói chung trong đó, có thành phô và

đô thị du lịch Chính nó đảm bảo cho các hoạt động của guồng máy kinh tế được liên tục và ổn định Vì vậy quá trình phát triển CSHT đô thị gắn bó mật thiết với quá trình phát triển của nền kinh tế nói chung và phát triển các thànhphố, đô thị du lịch nói riêng trong tiến trình đô thị hóa đất nước Cùng với

Trang 16

những biến đổi nhanh chóng của nền kinh tế và sự tăng trưởng của các đô thị trong thời kỳ đổi mới, nhất là lĩnh vực du lịch, nên hệ thống CSHT đô thị của nước ta nói chung và các thành phố đô thị du lịch nói riêng đã có những chuyển biến tích cực

Nhớ lại, trước thời kỳ đổi mới, hệ thống CSHT đô thị của nước ta yếu kém trên nhiều phương diện, không đảm bảo về mặt số lượng và chất lượng cũng như không đáp ứng được về mặt tổ chức quản lý Tại một số đô thị lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng… chỉ khai thác, tận dụng hệ thống CSHT có sẵn Cơ chế bao cấp về tài chính trong giai đoạn này làm cho vốn đầu tư XDCB, vốn duy tu bảo dưỡng hệ thống hạ tầng kỹ thuật phụ thuộc hoàn toàn vào ngân sách, nhưng khả năng cấp vốn lại không đáp ứng được yêu cầu duy trì và phát triển hệ thống CSHT đô thị Do đó hệ thống CSHT đôthị bị xuống cấp nhanh, lại chậm tăng trưởng về số lượng nên đã bộc lộ nhiềuyếu kém, thiếu thốn và mất cân đối

Bước sang thời kỳ đổi mới, đặc biệt là từ năm 1990, sự đổi mới đườnglối kinh tế của Đảng đã tạo ra sức sống mới cho nền kinh tế, đẩy nhanh quátrình đô thị hóa và tăng trưởng đô thị Yêu cầu của quá trình phát triển kinh

tế cũng như của tốc độ đô thị hóa đòi hỏi hệ thống CSHT đô thị phải đượctập trung đầu tư khắc phục tình trạng xuống cấp, từng bước phát triển mởrộng theo hướng đồng bộ và hiện đại Điều đó là phù hợp với yêu cầu pháttriển của từng loại đô thị và đáp ứng được nhu cầu đời sống và sinh hoạt củanhân dân đô thị, góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế nói chung

và các thành phố du lịch nói riêng

Thông qua việc đàu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, đã làm cho bộ mặt cácthành phố du lịch Hạ Long, Huế, Nha Trang, Đà Lạt, Vũng Tàu 5 năm gần

Trang 17

đây có bước phát triển đáng kể Đi đôi với sự phát trriển cơ sở hạ tầng cácthành phố du lịch, cơ sở hạ tầng các đô thị du lịch như: Đồ Sơn( Hải Phòng),

Sa Pa (Lào Cai), Cửa Lò( Nghệ An), Sầm Sơn ( Thanh Hóa), Hội An(Quảng Nam), Tam Đảo (Vĩnh Phúc).v.v đã có bước phát triển đáng kể trêncác mặt: khách sạn, nhà hàng; các cơ sở du lịch văn hóa truyền thống dântộc, văn hóa lịch sử ngày càng được khai thác, bảo tồn, phát triển và đưa vào

sử dụng Đặc biệt trong mấy măm gần đây, loại hình văn hóa miệt vườn, vănhóa sinh thái bước đầu phát triển ; đừơng sá, các phương tiện giao thông,các công trình điện, cấp thoát nước , thông tin bưu chính viễn thông đượcnâng cấp và xây dựng mới theo hướng đồng bộ và từng bước hiện đại

Tình hình hệ thống cơ sở hạ tầng đô thị trên từng lĩnh vực cụ thể nhưsau:

Thứ nhất: về giao thông đô thị

Là lĩnh vực được quan tâm đầu tư nhiều nhất trong thời gian quanhưng thực trạng hệ thống hạ tầng giao thông đô thị của Việt Nam hiện naycòn quá yếu kém, không đồng bộ và tương thích Hiện nay hệ thống giaothông đô thị có khoảng 3.599 km (không kể các đoạn quốc lộ đi qua các đôthị) Theo số liệu so sánh về giao thông đô thị của Việt Nam với các đô thịtrong khu vực cho thấy: Về mạng lưới đường đô thị,mật độ mạng lưới đường

đô thị ở các thành phố lớn của Việt Nam đạt mức trung bình so với Thủ đôcác nước trong khu vực Tuy vậy, chất lượng đường xấu, lòng đường hẹp

Tỷ lệ quỹ đất dành cho giao thông đô thị quá ít, 7 – 8% (thế giới là 25%),trong đó giao thông tĩnh chỉ mới chiếm 1% Do đó mạng lưới đường của các

đô thị Việt Nam hiện nay chưa đạt tới trình độ của các nước trong khu vựcnăm 1980 Đặc biệt tỷ lệ đường vành đai, đường cao tốc là rất thấp so vớikhu vực Về phương tiện vận tải đô thị, điều đáng lo ngại là số lượng xe máy

Trang 18

tính bình quân 1.000 dân ở các thành phố lớn Việt Nam đang là con số kỷlục Tỷ lệ sử dụng giao thông công cộng của các đô thị Việt Nam còn quáthấp, chỉ khoảng 2 -4%, trong khi các nước khu vực Đông Nam Á, tỷ lệ nàykhoảng 40 -80% Về đàu tư phát triển,, số lượng kilômet đường trong một

số năm gần đây không tăng thêm nhiều, chủ yếu là mở mới ở các đô thị mớiphát triển, các đô thị tỉnh lỵ mới chia và một số tuyến nằm trong kế hoạchchỉnh trang các đô thị Tuy nhiên chất lượng các tuyến đường đô thị đã đượccải thiện, hầu hết được trải nhựa và nâng cấp Trong quá trình cải tạo vànâng cấp, đã chú ý kết hợp hoàn thiện hệ thống thoát nước, lát vỉa hè, nên đãtạo được bộ mặt mới khang trang hơn Các dự án mở các tuyến trục của một

số đô thị đã được lập và bước đầu triển khai như trục Bắc – Nam, Đông –Tây và Thành phố Hồ Chí Minh, các tuyến đường đô thị ở Vinh, Cần Thơ,

Hà Nội… Ủy ban nhân dân TP Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh đã cùng kí biênbản với tập đoàn Saprof (Nhật Bản) nghiên cứu xây dựng dự án mở rộng cácđường vành đai thành phố và một số tuyến đường nội đô nhằm giải quyếtvấn đề ách tắc giao thông của hai thành phố Các dự án nói trên đã bắt đầuđược triển khai từ năm 2000 bằng nguồn vốn vay ưu đãi của Chính phủ NhậtBản Các dự án về hệ thống đèn tín hiệu giao thông cũng đã được triển khaitại Hà Nội, TP Hồ Chí Minh bằng nguồn vốn ODA

Một thực trạng nữa đáng quan tâm của hệ thống CSHT giao thông đôthị Việt Nam hiện nay là do dân cư đô thị tăng, kinh tế dịch vụ phát triển nênnhu cầu đi lại ngày càng tăng, trong khi hệ thống đường giao thông đô thịchậm mở rộng, cơ cấu phương tiện đi lại mất cân đối giữa phương tiện côngcộng và phương tiện cá nhân Hệ thống giao thông đô thị ở các thành phốlớn Việt Nam đều dựa vào đường bộ là chủ yếu trong khi đó mạng lướiđường bộ lại quá yếu kém Tốc độ gia tăng phương tiện giao thông quá

Trang 19

nhanh do xu hướng “Động cơ hóa và cá nhân hóa phương tiện đi lại” vượt

xa tốc độ phát triển của hệ thống CSHT kỹ thuật giao thông đô thị Tìnhtrạng thiếu về CSHT kỹ thuật cao về giao thông đô thị tồn tại phổ biến tạicác khu dân cư lớn Nguyên nhân chủ yếu của hiện trạng trên là do đặc thù

về nhu cầu và thói quen đi lại Mạng lưới đường quá kém tạo ra lợi thế sosánh của phương tiện đi lại của người dân đô thị Việt Nam.Về nguồn vốn

đầu tư, đầu tư cho giao thông đô thị là lĩnh vực được quan tâm nhiều nhất tại

các đô thị trong thời gian qua, chiếm tỷ trọng đầu tư lớn nhất trong tổng vốnđầu tư CSHT kỹ thuật đô thị Nguồn vốn đầu tư cho giao thông đô thị cũng

đa dạng, phong phú: vốn NSNN, vốn ODA, vốn doanh nghiệp trong nước,vốn FDI Tuy nhiên vốn NSNN và vốn ODA vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhấttrong tổng vốn đầu tư cho giao thông đô thị: Nguồn thu từ phí giao thôngqua xăng dầu chỉ đảm bảo được 40% chi phí duy tu, bảo dưỡng cho hệ thốnggiao thông đường bộ của cả nước nhưng không phân cấp khoản thu này chongân sách đô thị Đây cũng là điểm bất hợp lý về phân cấp ngân sách củanước ta hiện nay

Theo báo cáo đánh giá thực trạng CSHT đô thi tại Hội thảo Quốc giatháng 4 năm 2008, hệ thống đường sá đô thị còn rất thiếu và nhiều đườngchính đô thị không có vìa hè Một số đô thị đường chính khu vực vẫn cònđường đất, các đường trong ngõ xóm nhỏ hẹp < 2,5 m chiếm tới 50% NhiềuPhường mới chuyển từ xã lên hầu hết là đường đất

Thứ hai: Về Cấp nước đô thị

Đây cũng là một lĩnh vực được Nhà nước quan tâm đầu tư nhiều trongthời gian vừa qua Năng lực cấp nước tại các đô thị tăng lên đáng kể Chođến nay toàn bộ 61 thành phố, thị xã tỉnh lị của cả nước đều đã có dự áp cấpnước với mức độ khác nhau Tổng số nhà máy nước trên toàn quốc là 241

Trang 20

với tổng công suất thiết kế đạt 2,96 triệu m3/ngày – đêm Một số đô thị có

hệ thống cấp nước với tổng công suất đạt 163.680 m3/ngày – đêm Một số

đô thị có hệ thống cấp nước lớn là TP Hồ Chí Minh 850.000m3/ngày –đêm,

Hà Nội 400.000m3/ngày – đêm, Hải Phòng 136.000m3/ngày – đêm Tỷ lệdân được cấp nước sạch là 50% – 60% với mức cấp nước là 70 – 80lít/người/ngày (năm 1990 là 55 lít/người/ngày) Tuy nhiên do việc đầu tưxây dựng không đồng bộ giữa nhà máy xử lý nước – hệ thống mạng lướiđường ống – lắp đặt đồng hồ nên tình hình thất thoát và thất thu còn cao.Theo báo cáo của các công ty cấp nước, tỷ lệ thất thoát, thất thu tại các đôthị dao động từ 30% - 40% Thấp nhất là Đà Lạt 19,2%, Vũng Tàu 21,5%,cao nhất là Hà Nội 57% Một số địa phương có dự án vừa hoàn thành cácnhà máy xử lý nước có công nghệ hoàn chỉnh nhưng do mạng lưới đườngống quá cũ chưa được đầu tư xây dựng nên tỷ lệ thất thoát, thất thu còn caonhư: Trà Vinh, Nam Định, Cần Thơ, Hà Tĩnh (trên 50%) Như vậy so vớimục tiêu đã phê duyệt định hướng phát triển cấp nước Quốc gia năm 2020thì các kết quả đạt được là thấp: Dân số đô thị được cấp nước sạch: mục tiêu80%, thực tế đạt 70%; Tiêu chuẩn cấp nước sạch: mục tiêu 80- 100 lít/người/ngày, thực tế đạt 70 lít/người/ngày; Tỷ lệ thất thoát, thất thu mục tiêuphấn đấu giảm còn 40% cho khu đô thị cũ và 30% trong khu đô thị mới,thực tế còn 50%; Mức cấp nước, mục tiêu dự kiến tăng 3.200.000m3/ngày,thực tế tăng 1.181.000m3/ngày [43]

Tại một số đô thị lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng, ĐàNẵng vẫn còn những khu vực chưa được cấp nước sạch hoặc dùng giếng tựkhoan, không đảm bảo chất lượng Công tác quy hoạch cấp nước của cáctỉnh, thành phố còn chậm Hiện nay mới chỉ có Hà Nội có quy hoạch cấpnước được Thủ tường Chính phủ phê duyệt Những năm vừa qua các dự án

Trang 21

cấp nước chủ yếu tập trung đầu tư cho tỉnh lỵ Khu vực cấp huyện chỉ mớiđầu tư khoảng 1/3 số đô thị hiện có, trong đó có một số đô thị mới chỉ được

hỗ trợ để thay thế thiết bị và đường ống cũ, chưa đầu tư đồng bộ theo quyhoạch

Về nguồn vốn đầu tư, cho đến nay, các dự án cấp nước chủ yếu sửdụng vốn đầu tư có nguồn gốc ngân sách như vốn cấp phát của ngân sách,vốn ODA, tín dụng Nhà nước, phụ thu tiền nước Tỷ lệ huy động vốn vaythương mại, huy động từ các thành phần kinh tế và trong dân, đầu tư theohình thức BOT còn rất ít Đầu tư theo hình thức BOT chỉ được triển khai vớinhững dự án cấp nước có quy mô vừa và nhỏ, như dự án BOT Bình An, ThủĐức tại TP Hồ Chí Minh, BOT tại Dung Quất của Công ty VINACONEX.Các Tổng Công ty đầu tư và phát triển nhà ở tự đầu tư xây dựng hệ thốngcấp nước tại các khu đô thị mới như Linh Đàm, Định Công Đặc biệt trongthời gian qua tại một số địa phương như Thái Bình, Quảng Nam, Tp Hồ ChíMinh, Long An, Vĩnh Long, Bến Tre… một số tư nhân đã tự xây dựng vàkinh doanh cấp nước nhưng với công suất hạn chế từ 100 đến 200m3/ngày –đêm để giải quyết nhanh nhu cầu cấp nước cho dân cư Tuy nhiên, hầu hếtcác dự án cấp nước lớn đều dựa vào nguồn vay vốn nước ngoài, trong 61 đôthị tỉnh lị, đã có 51 đô thị được đầu tư bằng nguồn ODA

Thứ ba: Về thoát nước đô thị.

Về vấn đề này thời gian qua chưa được quan tâm và đầu tư thích đáng, do đó còn nhiều tồn tại chưa được giải quyết, nhất là tại các đô thị lớn nhưthủ đô Hà Nội, TP Hồ Chí Minh Mật độ cống thoát nước ở các thành phốlớn nước ta đều thấp: nếu chỉ tính cống cấp 2 ở Hà Nội: 31,1 m/ha, TP HồChí Minh: 21,4 m/ha so với yêu cầu khoảng 100 m/ha Mật độ cống khôngđều, thường cao hơn ở khu vực nội thành cũ (đối với Đà Nẵng là các quận

Trang 22

Hải Châu, Thanh Khê) và thấp hơn ở khu vực nội thành mở rộng Một sốquận mới thành lập ở Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh gần như không có hệ thốngthoát nước Chất lượng hệ thống cống thấp, hư hỏng nhiều do được xâydựng từ lâu, ít được sửa chữa, kích thước nhỏ (đường kính cống tròn chủ yếutrong khoảng 0,5 – 1,5 m; chiều cao của cống xây: 0,5 -2 m) Hệ thống hầm

ga bị hư hỏng, đọng nhiều bùn cát chiếm tỷ lệ khá cao Kênh rạch bị lấnchiếm, đổ phế thải làm dòng chảy bị thu hẹp Hầu hết ở các đô thị lớn chưa

có hệ thống xử lý nước thải Tình hình ô nhiễm môi trường từ các loại nướcthải ngày càng trầm trọng, nhiều chỉ tiêu ô nhiễm đều vượt quá tiêu chuẩnquy định Nạn úng ngập thường xuyên xảy ra mỗi khi mưa lớn Hệ thống xử

lý nước thải chưa đồng bộ

Hiện nay các dự án thoát nước đang được triển khai tại các thành phố,thị xã lớn Tại Thành phố Hà Nội đang triển khai dự án thoát nước với tổngmức vốn đầu tư là 200 triệu USD Mục tiêu chính của dự án đến năm 2005giải quyết cơ bản tình trạng úng ngập do nước mưa trong thành phố, xâydựng một số trạm xử lý nước thải và môi trường ở một số điểm trong thànhphố Một số dự án thoát nước đã và đang thực hiện tại Tp Hồ Chí Minh là dự

án Kênh Nhiều Lộc – Thị Nghè, kênh Tân Hà – Lò Gốm, Tàu Hủ Các dự ánthoát nước lớn khác cũng đang được triển khai tại một số đô thị lớn như ĐàNẵng, Hải Phòng, Hạ Long, Huế, Nam Định, Biên Hòa, Vũng Tàu…

Về nguồn vốn đầu tư, hệ thống thoát nước đô thị chủ yếu là từ nguồnvốn NSNN và nguồn vốn ODA song phương và đa phương của WB, ADB,JICA Ngoài ra còn huy động một phần nhỏ vốn của các doanh nghiệp thuộccác thành phần kinh tế thông qua việc đầu tư hệ thống thoát nước và xử lýnước thải tại các khu công nghiệp, khu chế xuất ở các đô thị Khác với hệthống cấp nước, vẫn đề thu hồi vốn đầu tư và các chi phí quản lý vận hành

Trang 23

chưa được đặt ra đối với hệ thống thoát nước mà vẫn được Nhà nước baocấp hoàn toàn Mấy năm gần đây, Nhà nước mới ban hành chính sách thuphí thoát nước nhằm tạo nguồn vốn để duy trì, bảo dưỡng và nâng cấp hệthống thoát nước Theo báo cáo đánh giá thực trạng CSHT đô thi tại Hộithảo Quốc gia tháng 4 năm 2008 về hệ thống cấp nước, điện, tuy đã cónhiều kết quả như số hộ gia đình có nước và có điện, nhưng chất lượng cònkém

Thứ tư: Việc thu gom và xử lý chất thải

Đây là một vấn đề bức xúc tại các đô thị Hiện tượng thiếu khu chônlấp và xử lý rác thải đang trở thành phổ biến ở các đô thị lớn của Việt Nam.Trong một vài năm gần đây, một số dự án xử lý chất thải và vệ sinh môitrường đô thị đã được triển khai xây dựng ở các địa phương, nhưng chủ yếumới tập trung ở các đô thị lớn như Tp Hồ Chí Minh, Hà Nội, Huế, ViệtTrì… Trong các đô thị, hình thức chủ yếu là thu gom, chôn lấp và mới chỉthu gom xử lý được một phần lượng rác thải, tại các đô thị lớn thu gom rácđạt tỷ lệ 70 – 80% Riêng tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh việc thu gom xử lý

có khá hơn do được quan tâm đầu tư đồng bộ các trang thiết bị thu gom, vậnchuyển và xử lý Việc đầu tư xây dựng hệ thống xử lý chất thải các bệnhviện đang là đối tượng ưu tiên tại các đô thị Tại các đô thị lớn như Hà Nội

và TP Hồ Chí Minh đã cơ bản xóa được tình trạng hố xí thùng và hố xí côngcộng 2 ngăn hợp vệ sinh

Theo báo cáo đánh giá thực trạng CSHT đô thi tại Hội thảo Quốc giatháng 4 năm 2008., Khu làng chài ven sông ,ven biển ( Hải Dương , PhanThiết, Cà Mau,,,) nhà vệ sinh không có Các làng xã chuyển thành Phuờng,các thôn bản ở các đô thi Vùng Tây nguyên vẫn như khu vực nông thôn, đôikhi còn kém hơn vì không được chế độ ưu đãi Ván đề ngập úng và rác thải

Trang 24

là một khó khăn bức xúc cuẩ nhiều thành phố đô thị( trên 80% bãi chôn lấp

đã gần đóng cửa và không hợp vệ sinh, có những khu vực úng ngập hàngtuần [ ] Về nguồn vốn đầu tư, thời gian qua do nhạn thức không đúng chothu gom và xử lý chất thải là quá nhỏ bé so với nhu cầu đầu tư và so với cáclĩnh vực kết cấu hạ tầng đô thị khác Hiện tại, đang có nhiều dự án về xử lýchất thải và vệ sinh môi trường tại các đô thị đã được lập, tuy nhiên việc tìmkiếm nguồn vốn còn đang gặp khó khăn Cũng giống như các lĩnh vựcCSHT kỹ thuật đô thị khác, nguồn vốn đầu tư cho các dự án xử lý chất thải

và vệ sinh môi trường đô thị chủ yếu dựa vào nguồn vốn ngân sách và vốnODA

Tuy Nhà nước có chủ trương xã hội hóa đầu tư lĩnh vực thu gom và

xử lý chất thải nhưng hiện tại mới chỉ thực hiện xã hội hóa công đoạn thugom rác từ hộ gia đình tới các chân điểm rác Việc thu phí vệ sinh cũng chỉnhằm thu hồi một phần chi phí thu gom rác thải

Theo chương trình tổng thể nâng cấp đô thị quốc gia, trinh bày tai hộithảo quốc gia tháng 4 năm 2008, trên cơ sở tổng hợp thực trạng cơ sở hạtầng chủ yếu của các đô thị nói chung trong đó có các đô thị du lịch đã đưa

ra đánh giá như sau:

- Quá trình đo thị hóa đã diễn ra theo hướng tích cực, không gian đô thị, cơ

sở hạ tầng đô thị và bộ mặt đô thị , nhất là các đô thị du lijch đã có nhiềuthay đổi và có những tiến bộ quan trọng

- Tuy nhiên do quá trình đô thị hóa quá nhanh nên hầu hết các thành phố, thị

xã hệ thống cơ sở hạ tầng cũng như dịch vụ đô thị không theo kịp tốc độtăng trưởng dân số và tốc độ tăng trường du lịch

Trang 25

Vì vậy các khu dân cư thu nhập thấp hoặc nghèo đã phát triển nhanhtheo chiều hướng khó kiểm sóat tạo nên những khó khăn trong việc thựchiện mục tiêu nâng cao cuộc sống cho nhân dân và khó khăn trong quản lýcủa Nhà nước các đô thị nói chung tro đó có các đô thị du lịch

Có thể minh chứng những đánh giá nói trên qua việc thực hiện các chỉ

Tỷ lệ nhà tạm và cấp 4 (%)

Tỷlệ đường ngõ xóm

<2,5m (%)

Tỷ lệ hộ chưa được dùng nước máy (%)

Tỷ lệ hộ gia đình chưa được tiếp cân với hệ thông thóat nước(%)

Tỷ lệ hộ gia đình chưa

Co hố

xí tự hoại(%)

Nguôn: Báo cáo đánh gia thực trạng đô thị Việt Nam - Chương trình tổng

thể nâng cấp đô thị quốc gia tại Hội thảo quốc gia tháng 4 năm 2008

Phân thú haiTỔNG QUAN TÌNH HÌNH QUẢN LÝ NHÀ NƯỞC TRONG LĨNH VỰC

CƠ SỞ HẠ TẦNG CÁC THÀNH PHỐ DU LỊCH HIÊN NAY O NUƯỚC TA

Trang 26

Từ nội dung quản lý nhà nước đối với đầu tư CSHT đã xác định ở

chương 1, trong chương này, luận văn lần lượt tổng quan việc thực hiện quản lý nhà nước qua các vấn đề như: môi trường pháp lý, chính sách và cơ chế, quản lý việc triển khai dự án đầu tư CSHT, và thanh tra , kiểm tra và giám sát việc thực hiện đầu tư CSHT các thành phố du lịch

2.1 Tạo môi trường pháp lý cho việc thực hiện kế hoạch hóa việc quản lý nhà nước trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng các thành phố du lịch.

Trong thời gian qua , trên cơ sở quy họach tổng thể xây dựng và phát triển CSHT kinh tế -xã hội của cả nước đã được duyệt, Nhà nước đã lần lượtban hành các văn bản có liên quan để thực hiên việc kế họach hóa quản lý nhà nước lĩnh vực CSHT nói chung trong đó có các thành phô du lịch

Trang 27

- Ngoài ra, liên quan đến quản lý nhà nước trong lĩnh vực CSHT đô thị còn có các lụật khác: Luật Sở hữu trí tuệ; Luật Chuyển giao công nghệ; LuậtPhòng chống tham nhũng v.v.

2.2.2.Về thông tư, nghị đinh, quyết định và quy chê có:

-Nghị định 177/CP về Điều lệ quản lý đầu tư Và xây dựng, thay thế

điều lệ quản lý XDCB trong đó có đàu tư CSHT ban hành kèm theo Nghị định số 385-HĐBT ngày 7/11/1990 Theo Nghị định này vốn đầu tư CSHT được quản lý theo dự án (chia ra 3 nhóm dự án: A,B,C theo tính chất và qui

mô của dự án) thay cho việc quản lý theo luận chứng kinh tế kỹ thuật từng công trình hoặc liên hiệp công trình trước đây Dự án nhóm A và các dự án

sử dụng vốn ODA phải tiến hành theo 2 bước - nghiên cứu tiền khả thi và nghiên cứu khả thi Các dự án còn lại thực hiện một bước nghiên cứu khả thi Vân dụng Nghị định này, dưới góc độ quản lý, các Thành phố du lịch đã thông qua việc thực hiện kế hoạch hóa vốn đầu tư xây dự CSHT từ NSNN như sau:

Xuất phát tư quy hoạch phát triển ngành và lãnh thổ được duyệt, các

dự án được ghi vào kế hoạch trung hạn và dài hạn, trong đó các dự án thuộcnhóm B và C được phân cấp do Bộ trưởng hoặc Chủ tịch UBND tỉnh quyếtđịnh đầu tư và quản lý sử dụng vốn đầu tư CSHT từ NSNN

Về mặt pháp lý, việc tổ chức quản lý được thực hiện thông qua cáchình thức như: Chủ đầu tư trực tiếp quản lý Chủ nhiệm điều hành, chìa khoátrao tay, tự làm, được đưa vào thay cho một hình thức duy nhất trước đây làban quản lý công trình

Thẩm quyền quyết định đầu tư và quản lý sử dụng vốn đầu tư đượcphân cấp dựa trên nguyên tắc: Cơ quan nào có quyền quyết định đầu tư vàquản lý sử dụng vốn đầu tư thuộc nhóm dự án nào, thì cơ quan đó có quyền

Trang 28

thẩm định, phê duyệt tổng dự án đầu tư CSHT từ NSNN của nhóm dự án đósau khi được cơ quan chuyên môn thẩm định Chẳng hạn, ở các thành phố

du lịch, Chủ tịch UBND là chủ đầu tư và quản lý sử dụng vốn đầu tư các dự

án nhóm B và C, cũng là người có quyền thẩm định và phê duyệt tổng dựtoán của các dự án thuộc nhóm đó, Tất nhiên, phải dựa trên kết quả thẩmđịnh khoa học của cơ quan chuyên môn

Tất cả các dự án thuộc sở hữu nhà nước phải tổ chức đấu thầu hoặcchọn thầu theo quy chế đấu thầu của Nha nước bao gốm đấu thầu hoặc chọnthầu mua sắm thiết bị; xây lắp và tư vấn) trừ một số dự án được thực hiệnchỉ định thầu như: dự án có tính chất nghiên cứu, thử nghiệm; dự án có tínhcấp bách do thiên tai, dịch hoạ; dự án có giá trị nhỏ dưới 500 triệu đồng; dự

án có tính chất đặc thù của một số ngành được Thủ tướng Chính phủ chophép

Việc cấp và thanh toán vốn có đổi mới hơn, các nhà thầu được tạmứng vốn để thực hiện hợp đồng theo qui chế đấu thầu ban hành kèm theoquyết định số 60-BXD/VKT ngày 30/3/1994 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng.Trong năm kết thúc dự án Chủ đầu tư chỉ được cấp phát tối đa 95% giá trịkhối lượng năm kế hoạch Số tiền 5% còn lại chủ đầu tư được thanh toánngay sau khi có báo cáo quyết toán được duyệt Việc cấp phát, thanh toánvốn đầu tư CSHT từ NSNN cho các thành phố du lịch được thực hiệnthông qua Cục Đầu tư Phát triển Hà nội

Việc quyết toán vốn đầu tư được qui định là hàng năm, chủ đầu tưthuộc nhóm dự án nào phải báo cáo vốn đầu tư thực hịên vói cơ quan cấpphát vốn tương ứng chậm nhất là một tháng sau khi kết thúc năm kế hoạch -Nghị định số 42/CP ngày 16/7/1996 của Chính phủ thay thếĐiều lệ quản

lý đầu tư và xây dựng đã ban hành kèm theo Nghị định số 177/CP ngày

Trang 29

20/10/1994 đã sửa đổi một số nội dung quan trọng trong cơ chế quản lý sửdụng vốn đầu tư CSHT từ NSNN Cụ thể:

Mở rộng phân cấp quyết định đầu tư hơn trước bằng cách cho phép.Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân các tình lớn như Hà Nội và Thành phố Hồ chiMinh được uỷ quyền cho Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân quận, huyện quyết địnhđầu tư các dự án có mức vốn đầu tư dưới 2 tỉ đồng, tuỳ theo điều kiện củatừng thành phố Đối với các tỉnh và thành phố còn lại, Chủ tịch UBND quận,huyện quyến định đầu tư các dự án có mức vốn đầu tư dưới 500 triệu đồng,tuỳ theo điều kiện cụ thể của địa phương

Chỉ thành lập Hội đồng thẩm định dự án cấp Nhà nước, không thànhlập Hội đồng thẩm định dự án đầu tư ở các cấp khác

Qui định cụ thể hơn về mức tạm ứng cho các gói thầu tổ chức đấuthầu xây lắp từ 10% đến 20% kế hoạch vốn cả năm

- Ban hành Qui chế đấu thầu kèm theo Nghị định số 88/CP, 14/CP và 66/

CP của Chính phủ cùng với Thông tư liên Bộ số 02-TT/LB, Thông tư01/BKH và Thông tư 04?BKH của Bộ Kế hoạch và Đầu tư - Bộ Xây dựng -

Bộ Thương mại hướng dẫn qui chế đấu thầu đã thống nhất quản lý hoạt độngđấu thầu trong cả nước, đảm bảo tính đúng đắn, khách quan, công bằngtrong đấu thầu và có tính cạnh tranh cao trong đấu thầu dự án hoặc từngphần của dự án đầu tư về tuyển chọn tư vấn, mua sắm vật tư, thiết bị và thicông xây lắp

- Nghị định số 92/CP ngày 16/7/1996 về sửa đổi bổ sung một số điều củaNghị định số 42/CP như:

Ngày đăng: 26/07/2013, 13:46

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Dân số đô thị nước ta từ năm 1986 -2000 - THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC  TRONG LĨNH VỰC  CƠ SỞ HẠ TẦNG Ở CÁC THÀNH  PHỐ DU LỊCH VIỆT NAM
Bảng 2.1 Dân số đô thị nước ta từ năm 1986 -2000 (Trang 6)
Bảng 2.4: Diện tích, dân số và doanh thu du lịch của các thành phố du lịch - THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC  TRONG LĨNH VỰC  CƠ SỞ HẠ TẦNG Ở CÁC THÀNH  PHỐ DU LỊCH VIỆT NAM
Bảng 2.4 Diện tích, dân số và doanh thu du lịch của các thành phố du lịch (Trang 14)
Bảng 2.5: Một số chỉ tiêu so sánh thực trạng cơ sở hạ tầng đô thị ở - THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC  TRONG LĨNH VỰC  CƠ SỞ HẠ TẦNG Ở CÁC THÀNH  PHỐ DU LỊCH VIỆT NAM
Bảng 2.5 Một số chỉ tiêu so sánh thực trạng cơ sở hạ tầng đô thị ở (Trang 25)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w