Khi nói đến hoạt động của thị trường chứng khoán, người ta đề cập tới vai trò của các định chế tài chính trung gian tham gia hoạt động kinh doanh trên thị trường. Các định chế này có thể là các công ty môi giới và kinh doanh chứng khoán. Họ giữ vai trò cầu nối trung gian giữa tổ chức cần vốn và người có nhu cầu cho vay, tham gia vào việc huy động các nguồn tài chính từ thị trường tiền tệ và thị trường tài chính để đáp ứng các nhu cầu về tài trợ cho hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp và các tổ chức chính phủ. Các định chế này cũng có thể là các tổ chức giữ vai trò của người nhận tiền huy động từ công chúng và thay mặt họ để thực hiện việc đầu tư vào các công cụ tài chính trên thị trường chứng khoán. Ngưòi ta thường biết đến các tổ chức này với tên là các quỹ đầu tư tập thể. Thị trường chứng khoán Việt Nam qua một thời gian hoạt đông ngắn ngủi thể hiện sự thiếu ổn định rõ rệt . Tham gia đầu tư trên thị trường hiện nay chủ yếu là các nhà đầu tư cá thể. Sự thiếu vắng vai trò của các nhà đầu tư có tổ chức, đặc biệt là các tổ chức đầu tư chuyên nghiệp như các quỹ đầu tư tập thể, một định chế đầu tư quan trọng và điển hình trên thị trường chứng khoán, đã bộc lộ qua các đợt biến động lớn trên thị trường chứng khoán trong năm vừa qua . Quỹ đầu tư chứng khoán dường như là khái niệm còn khá mới mẻ không chỉ với công chúng đầu tư và ngay cả đối với các tổ chức kinh tế tài chính tại Việt Nam. Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài trong các quỹ đầu tư tập thể thúc hiện việc huy động vốn hình thành quỹ và hoạt động đầu tư tại Việt Nam , với tên là quỹ đầu tư chứng khoán . Ngoài những vấn đề cơ bản liên quan tới tổ chức và hoạt động của các quỹ đầu tư tập thể , của công ty quản lý quỹ , đề tài sẽ tập trung vào đánh giá sự cần thiết cũng như yếu tố ảnh hưởng tới việc hình thành các quỹ đầu tư tập thể , làm cơ sở đưa ra các giải pháp nhằm thúc đấy sự hình thành của quỹ đầu tư chứng khoán cũng như các công ty quản lý quỹ chuyên nghiệp góp phần phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam .
Trang 1LỜI MỞ ĐẦUKhi nói đến hoạt động của thị trường chứng khoán, người ta đề cập tới vaitrò của các định chế tài chính trung gian tham gia hoạt động kinh doanh trên thịtrường Các định chế này có thể là các công ty môi giới và kinh doanh chứngkhoán Họ giữ vai trò cầu nối trung gian giữa tổ chức cần vốn và người có nhucầu cho vay, tham gia vào việc huy động các nguồn tài chính từ thị trường tiền
tệ và thị trường tài chính để đáp ứng các nhu cầu về tài trợ cho hoạt động kinhdoanh của các doanh nghiệp và các tổ chức chính phủ Các định chế này cũng cóthể là các tổ chức giữ vai trò của người nhận tiền huy động từ công chúng vàthay mặt họ để thực hiện việc đầu tư vào các công cụ tài chính trên thị trườngchứng khoán Ngưòi ta thường biết đến các tổ chức này với tên là các quỹ đầu tưtập thể
Thị trường chứng khoán Việt Nam qua một thời gian hoạt đông ngắn ngủithể hiện sự thiếu ổn định rõ rệt Tham gia đầu tư trên thị trường hiện nay chủyếu là các nhà đầu tư cá thể Sự thiếu vắng vai trò của các nhà đầu tư có tổ chức,đặc biệt là các tổ chức đầu tư chuyên nghiệp như các quỹ đầu tư tập thể, mộtđịnh chế đầu tư quan trọng và điển hình trên thị trường chứng khoán, đã bộc lộqua các đợt biến động lớn trên thị trường chứng khoán trong năm vừa qua
Quỹ đầu tư chứng khoán dường như là khái niệm còn khá mới mẻ khôngchỉ với công chúng đầu tư và ngay cả đối với các tổ chức kinh tế tài chính tạiViệt Nam Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài trong các quỹ đầu tư tập thểthúc hiện việc huy động vốn hình thành quỹ và hoạt động đầu tư tại Việt Nam ,với tên là quỹ đầu tư chứng khoán Ngoài những vấn đề cơ bản liên quan tới tổchức và hoạt động của các quỹ đầu tư tập thể , của công ty quản lý quỹ , đề tài sẽtập trung vào đánh giá sự cần thiết cũng như yếu tố ảnh hưởng tới việc hìnhthành các quỹ đầu tư tập thể , làm cơ sở đưa ra các giải pháp nhằm thúc đấy sựhình thành của quỹ đầu tư chứng khoán cũng như các công ty quản lý quỹchuyên nghiệp góp phần phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam
Trang 2I – NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN VÀ CÔNG TY QUẢN LÝ QUỸ
1- Khái niêm quỹ đầu tư chứng khoán và công ty quản lý quỹ đầu tư và vai trò của công ty quản lý quỹ trên thị trường chứng khoán
1.1 Khái niệm quỹ đầu tư và công ty quản lý quỹ
“Quỹ đầu tư” bản thân nó thể hiện mục đích của số tiền góp lại nhằm tiến hành đầu tư Do bản chất hoạt động của mình, quỹ đầu tư tập thể, được gọi tắt trong các nội dung dưới đây là các quỹ đầu tư, đã trở thành một phần quan trọng của mọi thị trường chứng khoán và các đầu tư nhỏ, ít kinh nghiệm thường dựa vào các định chế này để tham gia đầu tư trên thị trường Vì vậy, định nghĩa về quỹ đầu tư thường được các cơ quan pháp luật lựa chọn để thực hiện khả năng bảo hộ tối đa cho những người đầu tư, đảm bảo sự tin tưởng hoàn toàn của công chúng đầu tư vào thị trường chứng khoán.
Các quỹ đầu tư tại Mỹ được định nghĩa là các tổ chức tài chính phi ngân hàng thu nhận tiền từ một số lượng lớn các nhà đầu tư và tiến hành đầu tư số vốn đó vào các tài sản tài chính có tính thanh khoản dưới dạng tiền tệ và các công cụ của thị trường tài chính.
Các quỹ đầu tư tập thể tại Anh được coi là mọi hình thái về tài sản hoặcbất kỳ loại nào với mục đích là cho phép những người tham gia vào các hìnhthái đó được tham gia hoặc thu lợi nhuận phát sinh từ việc mua, giữ, quản lýhoặc xử lý tài sản hoặc tiền được thanh toán từ lợi nhuận hoặc thu nhập đó
Các quỹ đầu tư tại Nhật bản được coi là một sản phẩm được hình thànhnhằm đầu tư số tiền tập hợp được từ một số lớn các nhà đầu tư vào chứng khoán(cổ phiếu và trái phiếu), tập trung dưới sự quản lý của những người không phải
là người đầu tư và phân phối lợi nhuận thu được từ các khoản đầu tư cho cácnhà đầu tư theo tỷ lệ vốn mà họ đóng góp vào quỹ
Trang 3Theo định nghĩa của Trung quốc, quỹ đầu tư tập thể là một phương pháp đầu tư tập thể vào chứng khoán, chủ yếu bằng việc thu hút vốn của người đầu tư thông qua phát hành các đơn vị quỹ Vốn được uỷ thác cho các tổ chức giám sát quỹ và được những người điều hành quỹ quản lý và đầu tư vào các công cụ tài chính như cổ phiếu và trái phiếu
Từ các định nghĩa theo quy định của luật một số nước, có thể tổng hợp và rút ra khái niệm chung thể hiện bản chất hoạt động của quỹ đầu tư
tập thể Quỹ đầu tư tập thể được coi là một phương tiện đầu tư tập thể, là một tập hợp tiền của các nhà đầu tư có cùng mục đích, được uỷ thác cho các nhà quản lý đầu tư chuyên nghiệp tiến hành đầu tư để đạt được các mục tiêu của những người tham gia góp vốn
Các quỹ đầu tư không tự tiến hành hoạt động đầu tư mà uỷ thác số tiềncủa mình cho một tổ chức đầu tư chuyên nghiệp hay còn gọi là các công ty quản
lý quỹ Hình thái và vai trò của công ty quản lý quỹ theo từng mô hình quỹ đầu
tư khác nhau cũng khác nhau Hình thái công ty quản lý quỹ có thể là các tổchức tư vấn đầu tư, cũng có thể là các công ty quản lý tài sản chuyên nghiệp.Công ty quản lý quỹ có thể chỉ tiến hành quản lý đầu tư thay cho quỹ nhưngcũng có thể đồng thời đảm nhận cả việc huy động vốn cũng quản lý đầu tư củaquỹ
1.2 Các lợi thể của quỹ đầu tư tập thể
So với các nhà đầu tư cá nhân hay các tổ chức đầu tư chứng khoán khác, quỹ đầu tư chứng khoán thu hút được công chúng đầu tư do rất nhiều lợi thế mà quỹ mang lại cho họ.
Một lợi thế cơ bản của quỹ đầu tư là sự đa dạng hoá danh mục đầu tư, giảm thiểu rủi ro rủi ro của toàn bộ danh mục đầu tư có thể được giảm
bằng việc đa dạng hoá danh mục đầu tư vào một số lượng lớn cổ phiếu của các ngành công nghiệp khác nhau với mức sinh lời tương đương với mức rủi ro khác nhau Quỹ đầu tư có thể làm được điều đó Các quỹ đầu tư, thông qua các tổ chức quản lý quỹ, tìm kiếm danh mục để đa dạng hoá rủi
Trang 4ro, cải thiện tình hình đầu tư và tuân theo chính sách đầu tư của từng quỹ Các quỹ đầu tư có thể tự do”gói”nhiều loại sản phẩm tài chính khác nhau vào một danh mục nhiều sản phẩm tín thác đầu tư khác nhau Những người đầu tư với một khoản tiền nhỏ không thể đa dạng hoá danh mục đầu tư của
họ với một số lượng lớn cổ phiếu phát hành, nhưng họ có thể hưởng khoản lợi từ việc đa dạng hoá đầu tư với khoản tiền nhỏ đó bằng việc đầu tư nó vào một quỹ đầu tư
Một lợi thế khác phải kể đến, đó là các dịch vụ đầu tư chuyên nghiệp
do các tổ chức quản lý quỹ cung cấp cho các nhà đầu tư Các tổ chức quản lý
quỹ đầu tư có các chuyên gia thực hiện việc phân tích kinh tế vi mô, vĩ mô
và phân tích thị trường, và xây dựng các danh mục đầu tư phù hợp để đạt được mục đích của quỹ đầu tư Họ cũng có những người chuyên điều hành việc đầu tư hàng ngày Do sự phát triển ngày càng cao của thị trường và việc xuất hiện tràn ngập các sản phẩm mới như các công cụ phái sinh tài chính đòi hỏi các kỹ năng tài chính và phân tích toán học có tính phức tạp
và chính xác cao mà những người không có chuyên môn sâu không thể hiểu thấu của thị trường cũng như áp dụng vào thực tế những cách thức này để đạt được mục tiêu đầu tư của họ Sự bãi bỏ quy định mang lại những cơ hội lớn hơn để thực hiện nhiều phương thức đầu tư khác nhau mà chỉ các chuyên gia mới nắm được Hơn nữa, đối với các quỹ đầu tư theo ngành thường đầu tư vào cổ phiếu của các ngành đặc biệt như ngành công nghệ sinh học, công nghệ thông tin và một số ngành công nghệ cao khác, vai trò của các chuyên gia hiểu biết về những lĩnh vực này đặc biệt cần thiết để có thể đánh giá xu hướng phát triển của các ngành này trong tương lai, dự đoán hiệu quả đầu tư vào các ngành đó
Chi phí giao dịch thấp cũng được coi là một lợi thế khác của quỹ đầu tư được người đầu tư quan tâm Các quỹ đầu tư là định chế đầu tư thường có
khối lượng giao dịch lớn Vì vậy, các chi phí giao dịch mà quỹ phải chi trả thường thấp hơn nhiều so với các cá nhân đầu tư, dù cho các cá nhân này
Trang 5ký hợp đồng giao dịch với các nhà môi giới có mức hoa hồng môi giới chiết khấu thấp nhất.
1.3 Vai trò của quỹ đầu tư trên thị trường chứng khoán
Các quỹ đầu tư giữ vai trò quan trọng không những đối với thị trường chứng khoán nói riêng mà đối với toàn bộ nền kinh tế nói chung, tuy ở từng nước khác nhau, vai trò của chúng cũng thể hiện khác nhau Vai trò đó được thể hiện như sau:
- Quỹ góp phần huy động vốn cho việc phát triển nền kinh tế nói chung vào góp phần vào sự phát triển của thị trường sơ cấp.Các quỹ đầu tư tham gia
bảo lãnh phát hành trái phiếu chính phủ và trái phiếu doanh nghiệp, cung cấp vốn cho phát triển công nghiệp Với chức năng này, các quỹ đầu tư giữ vai trò quan trọng trên thị trường sơ cấp.
- Quỹ góp phần vào việc ổn định thị trường thứ cấp.Với vai trò là các tổ
chức đầu tư chuyên nghiệp trên thị trường chứng khoán, các quỹ đầu tư góp phần bình ổn giá cả giao dịch trên thị trường thứ cấp, góp phần vào
sự phát triển của thị trường này thông qua các hoạt động đầu tư chuyên nghiệp với các phương pháp phân tích đầu tư khoa học
- Quỹ góp phần tạo ra các phương thức huy động vốn đa dạng qua thị trường chứng khoán.Khi nền kinh tế phát triển và các tài sản tài chính
ngày càng tạo khả năng sinh lời hơn, người đầu tư có khuynh hướng muốn có nhiều dạng công cụ tài chính để đầu tư Để đáp ứng nhu cầu của người đầu tư, các quỹ đầu tư hình thành dưới nhiều dạng sản phẩm tài chính khác nhau như thời hạn đáo hạn, khả năng sinh lời, mức độ rủi ro
- Quỹ làm cho các hoạt động đầu tư chứng khoán mang tính xã hội hoá.Quỹ đầu tư tạo một phương thức đầu tư được ưa thích đối với các
nhà đầu tư nhỏ, ít có sự hiểu biết về chứng khoán Nó góp phần tăng tiết kiệm của công chúng đầu tư bằng việc thu hút tiền đầu tư vào quỹ.
Trang 62 – Phân loại quỹ đầu tư :
2.1 Theo mô hình tổ chức :
2.1.1 Mô hình công ty :
Đặc điểm cơ bản nhất của các quỹ đầu trong mô hình này, đó là bản thânquỹ là một pháp nhân đầy đủ, tức là một công ty được hình thành theo quy địnhcủa pháp luật từng nước và cơ quan điều hành cao nhất của quỹ là hội đồng quảntrị quỹ Các nhà đầu tư góp vốn vào quỹ là các cổ đông và họ có quyền bầu racác thành viên hội đồng quản trị
Các tổ chức tham gia vào cơ cấu hoạt động của quỹ đầu tư dạng công
ty là tổ chức quản lý quỹ, ngân hàng bảo quản Ngoài ra, tuỳ từng nước, còn có sự tham gia của các đại lý chuyển nhượng và nhà bảo lãnh phát hành hay những tổ chức sáng lập, bảo trợ cho việc thành lập quỹ
Hội đồng quản trị quỹ đầu tư do các cổ đông bầu ra, có nhiệm vụ chínhquản lý toàn bộ hoạt động của quỹ, lựa chọn người quản lý quỹ và giám sát hoạtđộng đầu tư của quỹ, hàng năm xem xét lại hoặc từ chối các hợp đồng với ngườiquản lý quỹ nếu người đó thực hiện việc đầu tư không đem lại hiệu quả Hộiđồng quản trị chính là người được các cổ đông của quỹ uỷ thác bảo vệ quyền lợicủa những người tham gia đầu tư vào quỹ
Người quản lý quỹ có nhiệm vụ phân tích đầu tư, tiến hành hoạt động đầu tư, mua hoặc bán các chứng khoán trong danh mục đầu tư phù hợp với các mục tiêu do quỹ đề ra dưới sự giám sát của hội đồng quản trị của quỹ Trong mô hình này, người quản lý quỹ hoạt động như một nhà tư vấn đầu
tư do công ty quỹ thuê quản lý đầu tư và họ được hưởng phí một tỷ lệ phí nhất định từ hoạt động quản lý đầu tư đó
Ngân hàng bảo quản là ngân hàng được quỹ lựa chọn để lưu giữ và bảo quản các tài sản của quỹ Ngân hàng bảo quản thường giữ luôn vai trò
là đại lý chuyển nhượng cho quỹ, huỷ các cổ phần cũ và phát hành cổ phần mới Tổ chức này cũng giữ danh sách cổ đông để gửi các báo cáo, giấy uỷ
Trang 7quyền hoặc thực hiện phân phối cho các cổ đông Khi thực hiện các chức năng này, ngân hàng bảo quản nhận được phí bảo quản tài sản.
Ngoài các tổ chức tham gia chính đã nêu, tuỳ từng nước còn có thể có các đại lý chuyển nhượng hoặc nhà bảo lãnh phát hành chính tham gia vào hoạt động của quỹ đầu tư Đại lý chuyển nhượng thường được uỷ nhiệm để tiến hành việc bán hoặc mua lại cổ phần của quỹ(nếu quỹ đó là quỹ dạng
mở đề cập dưới đây)
Ngoài ra các tổ chức kể trên liên quan tới hoạt động của quỹ, Hội đồng quản trị của công ty quỹ có thể thuê thêm một tổ chức chuyên quản trị hành chính Tổ chức này sẽ cung cấp trụ sở làm việc, các trang thiết bị văn phòng, thiết bị thông tin; uỷ nhiệm chi trả lương thưởng cho Hội đồng quản trị; giám sát việc lập các báo cáo định kỳ cho các cổ đông Tổ chức quản trị hành chính này cũng được nhận một tỷ lệ phí nhất định khi thực hiện các dịch vụ trên.
Mô hình quỹ đầu tư dạng công ty hiện được áp dụng rộng rãi tại các nước
có thị trường chứng khoán hình thành và phát triển từ lâu đời mà điển hình là thịtrường chứng khoán Mỹ và Anh
2.1.2 Mô hình quỹ đầu tư dạng hợp đồng :
Quỹ đầu tư dạng hợp đồng còn được gọi là mô hình quỹ tín thác đầu tư Bảnchất hoạt động của các quỹ tín thác đầu tư là dựa trên cơ sở quan hệ tín thác tàisản và hợp đồng tín thác được coi là một chứng từ pháp lý cơ bản để điều chỉnhhoạt động của các bên tham giá
Một đặc điểm khác biệt cơ bản với mô hình công ty là quỹ đầu tư trong môhình này không phải là một pháp nhân Quỹ hoàn toàn chỉ là một lượng tiền nhấtđịnh do các nhà đầu tư đóng góp hình thành
Các bên tham gia vào hoạt động của quỹ bao gồm công ty quản lý quỹ giữvai trò là người tín thác, tổ chức bảo quản tài sản cũng như giám sát hoạt động
Trang 8của quỹ giữ vai trò người nhận tín thác và các nhà đầu tư là những người hưởnglợi của quỹ.
Khác biệt với mô hình trên, quỹ đầu tư dạng hợp đồng do chính công ty quản lý quỹ đứng ra huy động vốn thành lập quỹ Sau khi quỹ đã hình thành, vốn và tài sản của quỹ được giao cho tổ chức nhận tín thác bảo quản
và thực hiện việc thu chi cho hoạt động đầu tư Công ty quản lý quỹ bắt đầu thực hiện việc đầu tư của quỹ theo những chính sách và mục tiêu đã đề ra trong bản cáo bạch huy động vốn ban đầu cũng như cam kết trong hợp đồng tín thác.
Người nhận tín thác được lựa chọn thường là các ngân hàng hoặc các tổ chức có chức năng quản lý tài sản tín thác theo quy định của pháp luật về tín thác tài sản Khi tham gia vào hoạt động của quỹ đầu tư, bên cạnh vai trò bảo quản vốn và các tài sản của quỹ, tổ chức giám sát bảo quản còn làm nhiệm vụ quan trọng giám sát hoạt động đầu tư mà công ty quản lý quỹ thực hiện để đảm bảo việc tuân thủ các mục tiêu và chính sách đầu tư đã đề
ra
Người đầu tư hay những người thụ hưởng là người được hưởng lợi nhuậnphát sinh từ việc đầu tư bằng tiền vốn họ góp vào Tổng số vốn quỹ dự kiến huyđộng sẽ được chia thành các đơn vị tín thác Việc góp vốn của các nhà đầu tưđược thể hiện bằng việc họ mua các chứng chỉ đầu tư docông ty quản lý quỹthay mặt quỹ phát hành trong đó xác nhận số đơn vị tương ứng với số vốn gópcủa họ
Hợp đồng tín thác được ký kết bởi tất cả các bên tham gia vào quỹ: công tyquản lý quỹ, tổ chức giám sát bảo quản và những người hưỏng lợi Trách nhiệmcủa tổ chức tín thác cũng như của người được tín thác được phân định rõ ràng và
cụ thể đối với từng hoạt động Nhưng cả hai đối tượng đó đều có một nghĩa vụchung nhất là thực thi công việc một cách mẫn cán và có những hành vi thíchhợp để bảo vệ quyền lợi của những người hưỏng lợi là những người nắm giữchứng chỉ của quỹ
Trang 92.2 Theo cơ cấu vận động của vốn :
Cơ cấu vốn phát hành của các quỹ đầu tư có thể vận động và chu chuyểnkhác nhau Dựa vào tiêu chí này, quỹ đầu tư có thể phân chia theo hai dạng làquỹ đầu tư dạng đóng và quỹ đầu tư dạng mở
2.2.1 Quỹ đầu tư dạng đóng:
Quỹ đầu tư dạng đóng là quỹ chỉ phát hành chứng chỉ đầu tư ra côngchúng một lần với số lượng nhất định và quỹ không thực hiện việc mua lạichứng chỉ đầu tư khi nhà đầu tư có nhu cầu bán lại Sau khi phát hành lần đầu racông chúng, chứng chỉ đầu tư của quỹ được giao dịch như bất kỳ chứng khoánniêm yết nào trên thị trường chứng khoán tập trung (Sở Giao dịch Chứngkhoán) Các nhà đầu tư có thể mua hoặc bán để thu hồi vốn cổ phiếu hoặc chứngchỉ đầu tư của mình trên thị trường thứ cấp thông qua các nhà môi giới
Một trong các ưu điểm nổi bật của các quỹ này là cơ cấu vốn rất ổn định
do chung chỉ phát hành duy nhất một lần Các nhà điều hành quỹ không phảiđương đầu với các lưồng tiền lớn ra, vào liên tục không theo quy luật về chu kỳthời gian nào Nếu các nhà đầu tư không muốn tiếp tục đầu tư vào quỹ, họ có thểbán các cổ phiếu hoặc chứng chỉ đầu tư họ đang nắm giữ trên thị trường tậptrung Các nhà điều hành quỹ không phải thay đổi danh mục đầu tư ngay cả khicác nhà đầu tư bán tống tháo chứng chỉ/cổ phiếu của mình Trong trường hợp
đó, quỹ có thể tiến tới một mức chiết khấu cao hơn trước Tuy nhiên, mức chiếtkhấu lớn lại là cơ hội thu hút những người đầu tư khác tham gia đầu tư vào quỹ
Cơ cấu vốn của các quỹ dạng đóng đặc biệt thích hợp cho việc kinh doanhcác chứng khoán có mức độ biến động cao và ít được giao dịch ví dụ như cổphiếu của các công ty có vốn nhỏ hoặc cổ phiếu giao dịch trên các thị trườngmới nổi bởi vì việc rút tiền của các nhà đầu tư lớn tại những thời điểm được coi
là không hợp lý sẽ không thực hiện được với các danh mục đầu tư gồm cácchứng khoán có tính thanh khoản kém trong các lĩnh vực kinh doanh có biếnđộng cao Học viện Công ty Đầu tư của Mỹ đã kết luận “các quỹ đầu tư dạng
Trang 10đóng có thể thành công trong các thị trường giao dịch ít bởi vì chúng không cầnphải nghiên cứu các phương thức đầu tư thêm để cung cấp cho các khoản muamới cũng như không cần phải bán các chứng khoán trong danh mục đầu tư đểtrang trải các khoản mua lại”
2.2.2 Quỹ đầu tư dạng mở :
Quỹ đầu tư dạng mở là quỹ liên tục phát hành chứng chỉ đầu tư ra côngchúng và thực hiện việc mua lại chứng chỉ đầu tư khi người đầu tư có nhu cầuthu hồi vốn.Đặc điểm quan trọng đối với quỹ đầu tư dạng mở là giá của chứngchỉ đầu tư của quỹ mở luôn gắn trực tiếp với giá trị tài sản thuần của quỹ Chứngchỉ đầu tư của quỹ dạng mở không giao dịch trên thị trường thứ cấp mà giaodịch thẳng với quỹ hoặc các đại lý được uỷ quyền của quỹ
Khác với các quỹ đầu tư dạng đóng, quỹ đầu tư dạng mở có cơ cấu vốnluôn biến động do các lượng tiền vào ra liên tục từ việc chào bán mới và việcmua lại chứng chỉ đầu tư Chính vì vậy, các nhà điều hành quỹ luôn phải tạo cácdanh mục đầu tư với các sản phẩm đầu tư có tình thanh khoản cao để đối phóvới các thay đổi liên tục về nguồn vốn Nếu có nhiều nhà đầu tư đổ tiền vào quỹtrong giai đoạn thị trường lên cao, những nhà điều hành quỹ sẽ phải đầu tư cáckhoản tiền đáng kể đó tại các mức giá chứng khoán có thể không lấy gì làm hấpdẫn Điều đó càng đặc biệt đúng đối với các quỹ có các chính sách đầu tư toàn
bộ số tiền thu được tại bất kỳ thời gian nào Hoặc các nhà điều hành quỹ đầu tưdạng mở sẽ phải bán tống tháo các khoản đầu tư mình đang nắm giữ khi mà cácloại này giảm thảm hại: đó có thể là thời kỳ mà quỹ phải thực hiện mua lạinhiều hơn là chào bán thêm
Điểm bất lợi trên đây của quỹ đầu tư dạng mở đối với các nhà điều hành quỹ chính là ưu điểm của quỹ trong việc thu hút công chúng đầu tư vào quỹ Đó chính là tính thanh khoản của các chứng chỉ đầu tư của các quỹ dạng này Tuy nhiên, tính thanh khoản của quỹ dạng mở không phải lúc nào cũng là một ưu thế tuyệt đối Nói chung, các quỹ đầu tư dạng mở đều được quy định thời gian tối thiểu để thực hiện việc mua lại chứng chỉ
Trang 11theo yêu cầu của người đầu tư, thời gian dài ngắn phụ thuộc vào quy định của các nước khác nhau.Trong điều kiện thị trường có nhiều biến động, thời gian thực hiện việc mua lại dài, lợi ích của người đầu tư sẽ bị ảnh hưởng.
3- Hoạt động của quỹ đầu tư :
Đối với các quỹ đầu tư dạng hợp đồng, thông thường lượng vốn dự kiến hình thành nên quỹ được chia thành các đơn vị (tương tự như các cổ phần như quỹ dạng công ty) Quỹ sẽ phát hành chứng chỉ đầu tư xác nhận
số đơn vị tương ứng với số vốn người đầu tư góp vào quỹ Cũng như cổ phiếu phổ thông khác, chứng chỉ đầu tư có thể phát hành dưới hình thức ghi danh hoặc vô danh và có thể được giao dịch và chuyển nhượng như cổ phiếu, tuy quyền và nghĩa vụ của người hưởng lợi (người nắm giữ chứng chỉ đầu tư) có một số khác biệt so với các cổ đông trong mô hình quỹ dạng công ty.
Sau khi hoàn thành việc phát hành chứng chỉ quỹ, các chứng chỉ đầu tư của các quỹ đầu tư được chào bán bằng hai cách thức chính là qua các tổ hợp chào bán và do quỹ trực tiếp tiến hành qua các mạng lưới của mình.
- Chào bán qua các tổ hợp
Các tổ hợp chào bán thường bao gồm các nhà bảo lãnh phát hành và các đại lý chào bán của họ Các tổ chức bảo lãnh phát hành giữ vai trò là những người bán buôn hay người phân phối cho các đại lý bán hàng Các đại lý
Trang 12chào bán có thể là các ngân hàng thương mại, các công ty chứng khoán hoặc các công ty tài chính Các đại lý này, đến lượt mình, sẽ đứng ra chào bán cổ phần tới công chúng thông qua mạng lưới chi nhánh của họ Đây là cách thức phổ biến nhất để bán cổ phần của các quỹ đầu tư theo mô hình công ty
- Chào bán trực tiếp từ quỹ hoặc công ty quản lý quỹ
Các quỹ được trực tiếp bán cổ phiếu của nó cho nhà đầu tư không thôngqua một trung gian nào Các quỹ đầu tư dạng hợp đồng do công ty quản lý quỹđứng ra thành lập thường hay chào bán chứng chỉ đầu tư bằng hình thức nàythông qua hệ thống mạng lưới của công ty quản lý quỹ hoặc mạng lưới của tổchức bảo quản Ngoài ra, họ giao dịch với các cổ đông hiện thời và tiềm năngthông qua thư, điện thoại, mạng lưới ngân hàng, hoặc các văn phòng địaphương của họ
Ngoài ra, các quỹ đầu tư chứng khoán có thể huy động vốn bằng cách đivay nhưng, pháp luật ở một số nước thường không cho phép các quỹ đi vay với
số lượng lớn Thực tế cho thấy một số quỹ ví dụ như quỹ cổ phiếu tăng trưởnglinh hoạt đôi lúc lại sử dụng các khoản tiền vay mượn để cố gắng thổi phồng cáckhoản lãi vốn khi thị trường đi xuống Đồng thời với chi phí vay, được phản ánhbằng lãi suất ngắn hạn duy trì hợp lý làm cho danh mục đầu tư hoạt động vẫntốt.Vì vậy, quỹ thường chỉ được phép vay tiền ngắn hạn từ các ngân hàng, đểđáp ứng nhu cầu về vốn ngắn hạn
3.2 Sử dụng vốn – hoạt động đầu tư
Hoạt động quan trọng nhất đối với một quỹ đầu tư là thực hiện và quản lý đầu tư Đối với bất kỳ một quỹ đầu tư loại nào, quy trình đầu tư của quỹ cũng lần lượt qua các bước theo sơ đồ dưới đây:
Sơ đồ: Quy trình đầu tư và ra quyết định đầu tư:
Nghiên cứu đầu tư
Trang 13Phân tích rủi ro và lợi nhuận liên quan tới phân tích phương án lập
quỹ, dự đoán thu nhập và đánh giá rủi ro Hai bước này là coi như các dữ liệu đầu vào để lập một quỹ đầu tư và cũng là cơ sở để tiến hành hoạt động đầu tư
Bất kỳ một công ty quản lý tài sản, nhà tư vấn đầu tư chuyên nghiệp nào cũng có những bộ phân và các chuyên gia nghiên cứu và phân tích để đưa ra các dự đoán có tác động trực tiếp tới các quyết định đầu tư Nghiên cứu đầu tư tập trung vào việc nghiên cứu và dự đoán các yếu tố kinh tế vĩ
mô ảnh hưởng tới việc đầu tư như lãi suất, tỷ giá , dự đoán khuynh hướng biến động của toàn bộ thị trường nói chung cũng như phân tích và dự đoán
sự phát triển hay tăng trưởng trong tương lai của từng ngành, khu vực kinh doanh cụ thể Các bước này mang tính lý thuyết về kỹ thuật của quản
lý đầu tư cơ bản.
Phân tích rủi ro/
Đầu ra
Trang 14Lựa chọn mục tiêu đầu tư của quỹ: Phụ thuộc vào mục đích của đầu
tư, người ta hình thành nên các mục tiêu đầu tư của từng loại quỹ Thông thường, mục tiêu đầu tư phải cụ thể hoá được tỷ lệ sinh lời kỳ vọng và rủi
ro chấp nhận đối với sản phẩm đầu tư Khi thiết lập mục tiêu đầu tư, các đặc trưng liên quan tới người đầu tư phải được cân nhắc tới Các đặc trưng này bao hàm nhiều yếu tố trong đó có thể kể đến kỳ vọng của người đầu tư,
sự phức tạp và bản chất khả năng tham gia đầu tư của người đầu tư.
Phân bổ tài sản: Phân bổ tài sản có nghĩa là phân chia tiền của quỹ
vào”các rổ”đầu tư, mỗi rổ nhằm đạt được mục tiêu cụ thể riêng biệt hoặc toàn bộ các yêu cầu sinh lời từ danh mục đầu tư Phân bổ tài sản được thực hiện trong từng thời kỳ phù hợp với quan điểm và phán đoán đầu tư của người quản lý quỹ Nó liên quan tới quyết định sẽ đầu tư bao nhiêu tiền vốn của quỹ vào từng loại tài sản - cổ phiếu, trái phiếu, bất động sản, tiền mặt, hoặc từng lĩnh vực đầu tư - ngành công nghiệp, ngành công nghệ cao Khi chia số tiền của quỹ vào từng loại tài sản khác nhau, người quản lý đầu tư
có thể tính toán cân đối giữa giá trị của danh mục đầu tư cũng như mức độ sinh lời của từng loại chứng khoán cấu thành.
Lựa chọn chứng khoán là bước tiếp theo của việc tiến hành phân bổ
tài sản Việc lựa chọn chứng khoán cho danh mục đầu tư là việc quyết định
sẽ đầu tư thế nào vào từng loại chứng khoán cụ thể trong từng loại tài sản
đã được phân bổ với tỷ trọng vốn của quỹ là bao nhiêu Ví dụ, nếu đầu tư vào cổ phiếu thì sẽ lựa chọn loại cổ phiếu của công ty nào để đầu tư, trong trái phiếu sẽ đầu tư loại trái phiếu cụ thể nào, trái phiếu chính phủ hoặc trái phiếu công ty nào.
Phân bổ tài sản và lựa chọn chứng khoán trong danh mục đầu tư là hai quyết định cơ bản trong việc thực hiện mục tiêu đầu tư Các quyết định này là liên tục, có nghĩa là chúng không bao giờ kết thúc Chúng liên quan tới các quy trình đầu tư dẫn tới việc xây dựng và điều chỉnh một danh mục đầu tư Đồng thời, quyết định phân bổ tài sản và quyết định lựa chọn chứng
Trang 15khoán đầu tư thể hiện toàn bộ quy trình quản lý tài sản của quỹ Quy trình này quyết định nguồn của các yếu tố tạo nên tổng thu nhập của danh mục đầu tư Việc đa dạng hoá thông qua các loại tài sản được đầu tư khác nhau
có thể tăng khả năng chắc chắn để đạt được mức sinh lời đầu tư đặt ra.
3.3 Một số tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động của một quỹ đầu tư :
Khi đánh giá hoạt động của một quỹ có hiệu quả hay không, người ta thường dựa vào một số chỉ tiêu chính là tổng thu nhập mà quỹ mang lại cho các nhà đầu tư, tỷ lệ chi phí, tỷ lệ doanh thu, chất lượng công việc kinh doanh của người điều hành quỹ.
3.3.1 Tổng thu nhập của quỹ :
Tổng thu nhập của quỹ là một trong các chỉ tiêu quan trọng đánh giá hoạt động của một quỹ tốt hay không Dưới giác độ đánh giá chung về thu nhập của quỹ mà người điều hành quỹ mang lại, dù là quỹ dạng đóng hay quỹ dạng mở, tổng thu nhập của một quỹ được cấu thành từ ba khoản thu chính là:
+ Phân phối thu nhập từ khoản thu nhập đầu tư ròng : Khoản thu nhập đầu tưbao gồm cổ tức và lãi suất thu được từ danh mục đầu tư của quỹ khấu trừ đi chiphí
+ Các khoản thu nhập ròng được thừa nhận chủ yếu là lãi vốn: các khoản
thu nhập ròng được thừa nhận được hiểu là các khoản đầu tư đã quyết toán xong có lãi (hoặc bị lỗ)
+ Sự tăng (hoặc giảm) ròng trong giá trị tài sản ròng (NVA ) Sự thay đổi
của NAV phản ánh sự tăng hoặc giảm trong giá trị các khoản đầu tư vào cổ phiếu mà quỹ đang nắm giữ Ngoài ra, nó cũng bao gồm các khoản thu nhập ròng được thừa nhận hoặc thu nhập ròng từ các khoản đầu tư chưa chia cho các nhà đầu tư
Tổng thu nhập (TR) được xác định bằng công thức:
Phân phối thu nhập + lãi vốn + giá trị chênh lệch của NAV
Trang 16TR = - (1) NAV tại thời điểm đầu kỳ
Con số tỷ lệ thu nhập sẽ có ý nghĩa khi nó được so sánh với các số liệu về thu nhập của quỹ trong các năm trước đó
3.3.2 Tỷ lệ chi phí :
Tỷ lệ chi phí là một chỉ tiêu dùng để đánh giá việc kiểm soát các chi phí liên quan tới hoạt động của một quỹ Tỷ lệ này được xác định bằng chi phí hoạt động trong năm chia cho giá trị tài sản ròng trung bình của quỹ Phí môi giới từ các giao dịch của quỹ không tính trong tỷ lệ chi phí này Tuỳ theo danh mục đầu tư, tỷ lệ chi phí có thể khác nhau từ 0.5% đến trên 5% Các quỹ nhỏ có xu hướng chịu tỷ lệ chi phí cao hơn so với các quỹ lớn hơn vốn là những quỹ thu được lợi ích từ tính kinh tế theo quy mô do chi phí quản lý và các chi phí khác của chúng được trải rộng cho khối tài sản lớn hơn Các quỹ đầu tư trên thị trường quốc tế có xu hướng chịu tỷ lệ chi phí lớn hơn một cách đáng kể so với các danh mục đầu tư trong thị trường nội địa do chi phí nghiên cứu và các chi phí khác liên quan đến hoạt động đầu tư quốc tế Các quỹ cổ phiếu có tỷ lệ chi phí cao hơn so với các quỹ đầu
tư chứng khoán thu nhập cố định.
Tỷ lệ chi phí của một quỹ sẽ có ý nghĩa hơn nếu đem so sánh chúng với số liệu của các danh mục khác có cùng quy mô
3.3.3 Tỷ lệ thu nhập đầu tư :
Tỷ lệ thu nhập được tính bằng giá trị thu nhập đầu tư ròng chia cho giá trị tài sản ròng trung bình Con số này không có tầm quan trọng như tổng thu nhập đã đề cập ở trên, bởi vì tổng thu nhập là một thước đo trọn vẹn về hoạt động trong khi đó tỷ lệ này chỉ tập trung vào thu nhập Tỷ lệ này cũng tương tự như lợi suất cổ tức khi đánh giá hiệu quả đầu tư của cổ phiếu phổ thông
3.3.4 Tỷ lệ doanh thu :
Trang 17Tỷ lệ này thể hiện tổng giá trị giao dịch (mua và bán) do công ty quản
lý quỹ tiến hành đối với quỹ Tỷ lệ này được xác định bằng số lượng tài sản được bán hoặc mua chia cho giá trị tài sản ròng của quỹ trong năm .
Doanh thu luôn biến đổi theo từng loại quỹ và triết lý đầu tư của các nhà quản lý quỹ Nhiều nhà quản lý tìm kiếm lợi nhuận nhanh chóng và có
xu hướng mua và bán linh hoạt Nhiều nhà quản lý khác lại theo mua và nắm giữ trong dài hạn Các quỹ mà tin tưởng vào chiến lược hợp đồng tương lai, hợp đồng lựa chọn và bán khống có thể mong đợi có một doanh thu và chi phí giao dịch cao hơn
3.3.5 Chất lượng hoạt động của người quản lý quỹ :
Người quản lý quỹ đầu tư tốt có thể điều hành hoạt động ổn định và chống chọi lại với thị trường đi xuống tốt hơn là các đối thủ của họ có thể làm Hay nói cách khác, họ làm một công việc tuyệt vời trong việc điều khiến rủi ro của danh mục đầu tư Tối thiểu hoá thua lỗ có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đến sự tăng trưởng dài hạn hơn là trở thành một quỹ nổi tiếng trên thị trường đang lên
Những người quản lý quỹ tốt không bao giờ để cho chi phí giao dịch vượt ra ngoài tầm kiểm soát của mình thông qua việc thực hiện rất nhiều giao dịch Hơn nữa, họ có một chiến lược dài hạn Công bằng mà nói, một quỹ hoạt động tốt, được quản lý tốt thu hút nhiều nhà đầu tư hơn và tài sản của nó theo đó cũng tăng lên qua hàng năm
4 Tổ chức và hoạt động của công ty quản lý quỹ :
4.1 Hình thái và hoạt động của công ty quản lý quỹ :
Tổ chức quản lý quỹ tồn tại dưới hai hình thái cơ bản là các tổ chức
tư vấn đầu tư và tổ chức quản lý tài sản
Tổ chức quản lý quỹ có thể là các tổ chức tư vấn, chỉ đơn thuần tiến
hành hoạt động đầu tư bao gồm việc lập và quản lý danh mục đầu tư theo
Trang 18cam kết với quỹ mà không chịu trách nhiệm về các nguồn vốn cũng như việc huy động vốn của quỹ như đối với các quỹ đầu tư dạng công ty.
Tổ chức quản lý quỹ có thể là một tổ chức chuyên nghiệp về việc lập
và quản lý hoạt động đầu tư của các quỹ đầu tư tập thể do công ty lập ra theo
mô hình quỹ dạng hợp đồng Bản thân công ty quản lý quỹ đồng thời đảm
nhiệm việc huy động vốn và tiến hành đầu tư cho quỹ Hình thái của các công ty quản lý quỹ theo mô hình này thường mang hình thái rộng hơn dưới giác độ hoạt động kinh doanh Đó là hình thái của các tổ chức quản lý tài sản chuyên nghiệp Các tổ chức này ngoài việc lập và quản lý các quỹ, còn đảm nhận việc quản lý tiền hoặc tài sản cho những tổ chức hoặc cá nhân có nhu cầu uỷ thác cho các tổ chức chuyên nghiệp nhằm tăng khả năng sinh lời tối đa các tài sản của mình.
Có thể nhận thấy hai mảng hoạt động chính của một quỹ đầu tư là hoạt động huy động vốn và hoạt động đầu tư Đối với các mô hình khác nhau, vai trò của công ty quản lý quỹ đối với các hoạt động trên cũng rất khác nhau.
4.1.1 Hoạt động của công ty tư vấn đầu tư (công ty quản lý các quỹ đầu tư theo
mô hình công ty):
Theo mô hình này, các tổ chức tư vấn đầu tư hoạt động theo hợp đồng quản lý đầu tư được ký kết với quỹ đầu tư và hoạt động dưới tư cách
là người quản lý quỹ Các hợp đồng dạng này nói chung đều quy định trách nhiệm của người quản lý quỹ phải quản lý các tài sản của quỹ phù hợp với các mục tiêu đầu tư, các chính sách và giới hạn đầu tư cũng như thực hiện các giao dịch các chứng khoán trong danh mục đầu tư của quỹ phù hợp với chính sách quy định về tổ chức môi giới của quỹ Thông thường, hợp đồng của người quản lý đầu tư với quỹ có những kỳ hạn nhất định Sau thời hạn
đó, tuỳ theo hiệu quả hoạt động của quỹ mà hội đồng quản trị của quỹ sẽ quyết định có tiếp tục ký hợp đồng đầu tư tiếp với người quản lý quỹ đó không.
Trang 19Theo mô hình này, người quản lý đầu tư của quỹ không có bất kỳ trách nhiệm nào liên quan tới việc lập quỹ, quyền lợi của các cổ đông của quỹ, tính thanh khoản của quỹ, hoạt động của các tổ chức bảo quản tài sản
và các tổ chức khác tham gia vào hoạt động của quỹ.
4.1.2 Hoạt động của công ty quản lý quỹ trong mô hình quỹ dạng hợp đồng:
Công ty quản lý quỹ trong mô hình hợp đồng thực hiện nhiều chức năng quan trọng đối với việc hình thành và tổ chức hoạt động của quỹ đầu
tư Công ty quản lý quỹ trong mô hình này thực hiện cả hai mảng hoạt động chính của quỹ đầu tư: huy động vốn hình thành quỹ và thay mặt quỹ tiến hành hoạt động đầu tư
Vai trò của công ty quản lý quỹ là người đứng ra nhận tiền của những người đầu tư để tiến hành việc đầu tư thay cho người đầu tư, hoạt động kinh doanh hiệu quả hay không của công ty không những ảnh hưởng đến quyền lợi trực tiếp của người đầu tư vào quỹ, mà còn ảnh hưởng trực tiếp tới uy tín của bản thân công ty quản lý quỹ Nhiệm vụ chính của công
ty quản lý quỹ là quản lý và quản trị các hoạt động của quỹ theo phương thức hiệu quả và thích đáng đúng mức, phù hợp với hợp đồng tín thác của quỹ, các quy định của pháp luật cũng như các tập quán kinh doanh hiệu quả và được chấp nhận trong ngành tín thác Công ty quản lý quỹ phải tuân thủ các tiêu chuẩn cao về giao dịch công bằng và chính trực khi tiến hành quản lý quỹ vì lợi ích duy nhất và tốt nhất cho những người nắm chứng chỉ đầu tư của quỹ Công ty quản lý quỹ cũng phải hoạt động với mẫn cán, có kỹ năng và sự thận trọng cần thiết khi tiến hành quản lý quỹ
và sử dụng một cách hợp lý các nguồn lực và các thủ tục cần thiết cho các hoạt động chính đáng của quỹ Ngoài ra, công ty quản lý quỹ cũng cần có các quyết định cần thiết để đảm bảo các tài sản của quỹ được bảo vệ đầy đủ
và tách bạch với các tài sản của công ty Trong trường hợp công ty quản lý quỹ có hoạt động gây tổn hại đến tài sản của quỹ công ty phải bồi thường
Trang 20thiệt hại cho quỹ do sơ suất, thiếu thận trọng, các tổn thất do cố ý hoặc sơ ý của mình.
4.2 Quyền lợi tổ chức quản lý quỹ :
Dù hoạt động theo mô hình nào, tổ chức quản lý quỹ cũng được chi trảphí quản lý quỹ Ngoài ra các tổ chức quản lý quỹ còn được nhận tiền thưởng dohoạt động đầu tư có hiệu quả của các quỹ do công ty đảm nhận Khoản tiềnthưởng này có thể được tính theo nhiều dạng khác nhau, có thể là tỷ lệ phầntrăm của mức gia tăng trên tài sản ròng của năm tài chính so với giá trị tài sảnròng của năm hoạt động trước đó
4.3 Quy trình ra quyết định đầu tư tại tổ chức quản lý quỹ :
Sơ đồ: Quy trình ra quyết định đầu tư của công ty quản lý quỹ
Phân tích vĩ mô: Cụ thể phân tích các chính sách và chỉ sổ sau:
Xu hướng vĩ mô: Kinh tế trong nước, đối ngoại (XNK), đầu tư và thị trường tiêu thụ ( Nhà nước và tư nhân)
Hệ thống tài chính: Tài khoản vãng lai, cán cân thanh toán, tỷ giá hối đoái, lãi suất, lạm phát, nguồn tiền luân chuyển, thuế, chính sách tiền tệ,
Thị trường tài sản: TTCK, thị trường bất động sản.
Môi trường pháp lý, chính sách áp dụng.
Quan hệ với kinh tế thế giới và khu vực.
Phân tích ngành: Căn cứ vào các ngành nghề dự kiến đầu tư, công ty quản
lý quỹ sẽ tiến hành:
Phân tích vòng đời, tính biến động theo chu kì của ngành.
Phân tích đầu vào/ đầu ra.
Ra quyết định
Quản trị/ theo dõi
Trang 21 Các thay đổi về xã hội, dân số, công nghệ, chính sách Nhà nước dối với ngành , cạnh tranh từ nước ngoài.
Đánh giá tỷ lệ lợi nhuận và rủi ro chung của ngành.
Dự đoán xu hướng, tính ổn định của doanh thu, sản lượng, giá cả của ngành.
Đánh giá cấu trúc cạnh tranh của ngành trong mối quan hệ với khách hàng, nhà cung cấp, mối đe doạ từ các đối thủ mới, cạnh tranh giữa các công ty trong ngành và các sản phẩm thay thế.
Phân tích công ty/ dự án:
Căn cứ các chỉ tiêu đầu tư, lựa chọn công ty và dự án có tính cạnh tranh cao hoặc có giá trị hấp dẫn, công ty quản lí quỹ tiến hành:
Dự đoán doanh thu, thị phần của công ty.
Dự đoán các tỷ suất lợi nhuận.
So sánh các tỷ lệ căn bản như: Gía/Lợi nhuận của mỗi cổ phiếu (P/E), giá/doanh số (P/S), tỷ suất cổ tức, giá/ tổng tài sản,
Kiểm tra chi tiết:
Với các thông tin thu thập được cùng với các phân tích cơ bản về dự án, công
ty quản lý quỹ sẽ tién hành thẩm định một cách chi tiết đối với các dự án đã đáp ứng được các tiêu chí đầu tư, cụ thể sẽ thực hiện các công việc sau:
Xem xét về cơ cấu pháp lí.
Ban quản trị/ Ban điều hành.
Chiến lược cạnh tranh, phát triển.
Phân tích thị trường, khách hàng, tiệu thụ.
So sánh trong ngành, liên ngành.
Sản phẩm, dịch vụ, giá thành.
Tài chính, nhân sự.
Trang 22 Phân tích, dự phòng tài chính.
Đánh giá giá trị doanh nghiệp.
Triển vọng đầu tư.
Ra quyết định: Dựa vào các phân tích, đánh giá của các chuyên viên dự án
của công ty quản lý quỹ hội đồng quản lý quỹ se quyết định lựa chọn một danh mục đầu tư hợp lí nhất, đảm bảo tốt nhất cho sự gia tăng giá trị các khoản đầu tư của quỹ đầu tư.
Theo dõi: Để dự án đầu tư mang lại lợi nhuận tối ưu cho cá nhà đầu tư,
ngoài việc thực hiện các công việc nêu trên, công ty quản lý quỹ sẽ kiểm soát chặt chẽ các khoản đầu tư bằng cách nghiên cứu kỹ các báo cáo tài chính định kì và giữ quan hệ chật chẽ với các thành viên có liên quan.
II – THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CỦA QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN
VÀ CÔNG TY QUẢN LÝ QUỸ TẠI VIỆT NAM
1.Điều kiện và nhân tố tác động
1.1 Điều kiện vĩ mô :
- Môi trường kinh tế :
Sau 15 năm đổi mới nền kinh tế của nước ta có những bước phát triển đáng kể Nhịp độ tăng trưởng hàng năm từ 8 % - 9 % Môi trường kinh tế ổn định làm cho nhu cầu về vốn cho sản xuất và kinh doanh tăng lên, các doanh nghiệp có nhu cầu huy động vốn, do đó tạo ra cơ hội cho việc tham gia của các quỹ đầu tư vào nền kinh tế nói chung Theo một kết quả điều tra của Tổng cục thống kê về vốn đầu tư cho phát triển của toàn xã hội cho thấy nhu cầu vốn đầu tư của xã hội rất lớn và nhu cầu đó sẽ ngày càng tăng cùng với sự phát triển của nền kinh tế Để tạo điều kiện cho các định chế tài chính trong đó có thị trường chứng khoán và các quỹ đầu tư chứng khoán phát triển và hoạt động hiệu quả cũng như người dân có thể an tâm
bỏ vốn đầu tư qua các tổ chức trên, cần tạo ra các cơ chế và chính sách phù
Trang 23hợp như chính sách phát triển kinh tế một cách hợp lý, đổi mới cơ chế tài chính cho hệ thống tài chính quốc gia và tài chính doanh nghiệp.
lý nào trước đây ngoài Nghị định 48/1998/CP-NĐ về chứng khoán và thị trường chứng khoán Vì văn bản điều chỉnh hoạt động của các đối tượng tham gia vào thị trường chứng khoán nói chung và công ty quản lý quỹ cũng như quỹ đầu tư chỉ ở cấp độ Nghị định, do đó các đối tượng này đồng thời phải chịu sự điều chỉnh của các luật liên quan trong khi các luật này lại chưa đưa ra các quy phạm điều chỉnh cụ thể và đầy đủ Điều đó sẽ dẫn đến nhiều mâu thuẫn, chồng chéo, không đồng bộ trong hệ thống các văn bản điều chỉnh về các đối tượng tham gia thị trường.
1.2 Điều kiện vi mô :
Điều kiện vi mô cơ bản cho sự phát triển của các quỹ đầu tư cũng như các công ty quản lý quỹ là triển vọng phát triển của ngành chứng khoán và khả năng gia nhập ngành hay việc tham gia vào hoạt động kinh doanh quản lý quỹ của các tổ chức kinh tế.
- Triển vọng phát triển của thị trường chứng khoán: