1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

công tác đấu tranh với hoạt động vi phạm pháp luật của tổ chức phi chính phủ nước ngoài ở Việt Nam

28 288 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 219 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ở Việt Nam hiện có nhiều tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động. bên cạnh những mặt tích cực đem lại, thì các tổ chức phi chính phủ này cũng đi liên với nhiều vấn đề phức tạp đặt ra như không đăng ký hoạt động, hoạt động ngoài chương trình đăng ký, lợi dụng xâm phạm ANTT, ANQG...

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thực hiện chủ trương đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, đa phươnghoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế, kết hợp chặt chẽ công tác đối ngoạiĐảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân, trong những năm quaquan hệ của Việt Nam với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài(TCPCPNN) ngày càng được mở rộng Mối quan hệ này đã góp phần làmcho nhân dân thế giới hiểu biết sâu sắc hơn về đất nước con người ViệtNam, thúc đẩy hợp tác với nhân dân thế giới, nâng cao vị thế của Việt Namtrên trường quốc tế

Các tổ chức phi chính phủ (TCPCP) đã trở thành nhân tố quan trọngtrong nhiều lĩnh vực, đặc biệt trong lĩnh vực cứu trợ nhân đạo và phát triển

xã hội Cùng với nhiều hình thức quan hệ hợp tác, đầu tư nước ngoài, hoạtđộng của các TCPCPNN chủ yếu dưới dạng hỗ trợ, tài trợ trên nhiều lĩnhvực ngày càng tăng; hoạt động chủ yếu trong các lĩnh vực: xoá đói giảmnghèo, khắc phục hậu quả chiến tranh, phòng chống thiên tai, khám chữabệnh tăng cường cơ sở vật chất cho các bệnh viện, trường học; các dự án vềmôi trường, các chương trình nhân đạo giúp trẻ mồ côi, người già khôngnơi nương tựa của các TCPCPNN đã thiết thực tạo thêm công ăn việc làm,kinh nghiệm, phát triển kỹ thuật và chuyển giao công nghệ cho cộng đồngdân cư

Việt Nam là quốc gia quan trọng trong việc thực hiện chiến lược củanhiều quốc gia đối với khu vực Đông Nam Á, thiết lập quan hệ ngoại giaochính thức và đầy đủ với nhiều nước khác, tham gia là thành viên của nhiều

tổ chức quốc tế cũng như nhận nhiều dự án của các TCPCPNN

Mặt khác, yêu cầu xây dựng đất nước trong giai đoạn hiện nay đã xácđịnh nhiệm vụ và giải pháp: “Mở rộng hợp tác quốc tế, nâng cao năng lựccạnh tranh”, nhấn mạnh giải pháp: “Huy động nguồn vồn nước ngoài” đểphát triển kinh tế trong nước “Chính sách huy động các nguồn nhân lực đầutư” đã xác định phương thức: Kêu gọi thu hút đầu tư, ưu tiên đầu tư theocác hình thức BT, BOT, BTO, PPP đối với các dự án

Tính đến thời điểm này, ở Việt Nam có khoảng 900 TCPCPNN hoạtđộng trong đó Văn phòng đại diện là 345, Văn phòng dự án là 310; Giấyphép hoạt động là 280 Hầu hết các dự án viện trợ phi chính phủ nước ngoài

là viện trợ 100% không phải hoàn trả, không có vốn đối ứng hoặc là vốn đốiứng rất nhỏ Mỗi năm, Việt Nam cũng tranh thủ được từ 17,5 đến 30 triệuUSD gồm tiền và hàng viện trợ từ các tổ chức này

Trang 2

Hoạt động của các TCPCPNN tại Việt Nam đã có những đóng góptích cực, các tổ chức này đã đang và sẽ thiết thực giúp phát triển kinh tế - xãhội của Việt Nam; song cũng là đối tượng đặc biệt nhạy cảm trong quan hệđối ngoại bởi hoạt động của họ có liên quan nhiều đến chính trị, đối ngoại,

an ninh, an sinh xã hội quốc gia Do sự nhận thức và quan tâm có lúc có nơicòn chưa đúng mức, công tác lãnh đạo, chỉ đạo và quản lý hoạt động củaTCPCPNN còn những bất cập, hạn chế hiệu quả mối quan hệ với cácTCPCP nước ngoài Một số TCPCPNN có quy mô nhỏ song hoạt động dàntrải ở nhiều địa phương, thời gian dự án kéo dài, tỷ lệ chi phí hành chính lớn,

tỷ lệ viện trợ trực tiếp tới đối tượng hưởng lợi bị hạn chế Một số cá nhânhoạt động trong TCPCPNN đã vi phạm pháp luật và các quy định về hoạtđộng của các TCPCPNN tại Việt Nam, thậm chí có cả các hoạt động xâmphạm ANQG của Việt Nam

Để đáp ứng yêu cầu chiến lược phát triển của đất nước, cần có nghiêncứu một cách đầy đủ và sâu sắc về tình hình TCPCPNN và công tác đấutranh, xử lý các vi phạm pháp luật của các TCPCPNN ở Việt Nam hiện nay

có ý nghĩa quan trọng cả về mặt lý luận và thực tiễn Chính vì vậy, tác giảchọn đề tài “Công tác đấu tranh, xử lý vi phạm pháp luật của các tổ chức phichính phủ nước ngoài ở Việt Nam hiện nay” làm luận án Tiến sĩ

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Luận án có mục đích nghiên cứu và giải quyết tình hình vi phạm phápluật của các TCPCPNN ở Việt Nam hiện nay

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt mục đích nghiên cứu, đề tài có những nhiệm vụ sau:

- Hệ thống, phân tích có chọn lọc cơ sở khoa học hoạt động của cácTCPCPNN tại Việt Nam;

- Phân tích tình hình vi phạm pháp luật của các TCPCPNN ở Việt Nam;

- Đề xuất những giải pháp giải quyết các vi phạm pháp luật của cácTCPCPNN ở Việt Nam

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là tình hình vi phạm pháp luật củacác TCPCPNN ở Việt Nam

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Luận án tập trung vào tình hình vi phạm pháp luật củacác TCPCPNN có đăng ký hoạt động, có trụ sở, có hoạt động trên phạm vi

Trang 3

toàn quốc hiện nay, trong các lĩnh vực mà Nhà nước cho phép, cụ thể là lĩnhvực viện trợ nhân đạo, từ thiện, tình nguyện viên và phát triển chứ khôngnghiên cứu các TCPCPNN hoạt động trên các lĩnh vực khác (tôn giáo, nhânquyền, môi giới con nuôi )

- Về thời gian: Luận án giới hạn thời gian nghiên cứu từ năm 2000 chođến nay và tầm nhìn đến năm 2020

- Về không gian: Luận án tập trung nghiên cứu về tình hình vi phạmpháp luật của các TCPCPNN tại Việt Nam

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp luận

- Luận án được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận biệnchứng duy vật cơ sở là CN Mac – Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh, và các quanđiểm, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Namliên quan đến các TCPCPNN trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện được mục tiêu, nhiệm vụ của Luận án, tác giả sử dụng một

số phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:

- Phương pháp khảo sát thực tế, phương pháp phân tích đánh giá;phương pháp thu thập số liệu; phương pháp khảo sát, nghiên cứu kinhnghiệm của một số nước về các vấn đề liên quan đến đề tài nhằm đối chiếu,

so sánh, tìm ra giải pháp tối ưu cho vấn đề nghiên cứu

- Phương pháp phân tích tổng hợp; phương pháp thống kê: qua việcthống kê các các TCPCP ở Việt Nam từ năm 2000 đến nay, đưa ra các dựbáo mới

5 Kết quả nghiên cứu của luận án

5.1 Về lý luận

Tác giả đã tổng quan được cơ sở khoa học liên quan đến các tổ chức phichính phủ nước ngoài, áp dụng các biện pháp công tác giải quyết tình hình viphạm pháp luật của các TCPCPNN ở Việt Nam

Trang 4

6.1 Về mặt lý luận

Luận án này là công trình nghiên cứu chuyên sâu, nghiên cứu phân tíchtương đối có hệ thống những nội dung cơ bản về TCPCPNN như: khái niệm,phân loại, tính chất, nhiệm vụ, đặc điểm v v Hoàn thiện bổ sung các nộihàm lý thuyết về cơ cấu tổ chức, phương thức hoạt động, ý nghĩa kinh tế - xãhội của các TCPCPNN cũng như vị trí, chức năng, vai trò của công tác giảiquyết vi phạm pháp luật của các TCPCPNN

Tổng quan nghiên cứu làm rõ các mặt công tác giải quyết vi phạm phápluật của TCPCPNN, trên cơ sở đó đề xuất biện pháp công tác áp dụng đểkhắc phục tồn tại, thiếu sót trong giải quyết vi phạm pháp luật củaTCPCPNN tại Việt Nam

6.2 Về thực tiễn

- Luận án đã nghiên cứu chỉ ra những yếu tố kinh tế, xã hội có ảnhhưởng, liên quan đến công tác giải quyết vi phạm pháp luật đối vớiTCPCPNN ở Việt Nam

- Khái quát được thực trạng công tác giải quyết vi phạm pháp luật củacác TCPCPNN trên địa bàn cả nước trong thời kỳ đổi mới

- Trên cơ sở lý luận, Luận án đã nghiên cứu đánh giá được công tác giảiquyết vi phạm pháp luật của các TCPCPNN ở Việt Nam, chỉ ra được nguyênnhân, những bài học kinh nghiệm

- Luận án phân tích quan điểm, phương hướng chỉ đạo công tác giảiquyết vi phạm pháp luật của các TCPCPNN ở Việt Nam

- Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn đối với các TCPCPNNởViệt Nam, tác giải đã đề xuất các giải pháp nhằm giải quyết có hiệu quảnhững vvi phạm pháp luật của TCPCPNN ở Việt Nam trong thời gian tới

- Kết quả nghiên cứu của luận án có thể sử dụng làm tài liệu nghiên cứutrong giáo dục, nghiên cứu học tập và cho công tác liên quan đối với hoạtđộng của các TCPCPNN tại Việt Nam

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đềtài luận án, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung củaluận án gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở khoa học quản lý nhà nước đối với các TCPCPNN Chương 2: Thực trạng công tác giải quyết vi phạm pháp luật của cácTCPCPNN ở Việt Nam

Chương 3: Giải pháp công tác giải quyết vi phạm pháp luật của cácTCPCPNN ở Việt Nam

Trang 5

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1 PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1 Các công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước

1.1.1 Nhóm các công trình nghiên cứu liên quan đến nội dung quản lý nhà nước đối với các TCPCPNN;

1.1.2 Nhóm các công trình nghiên cứu liên quan đến mối quan hệ hợp tác giữa các TCPCPNN với các cơ quan QLNN;

1.1.3 Nhóm các công trình liên quan đến hoạt động cụ thể của TCPCPNN tại Việt Nam theo vùng và theo lĩnh vực hoạt động;

1.2 Các công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài

1.2.1 Nhóm công trình nghiên cứu về vai trò QLNN đối với TCPCP 1.2.2 Nhóm các công trình nghiên cứu về kinh nghiệm QLNN đối với các TCPCPNN của một số nước trên thế giới

1.3 Quá trình nghiên cứu của tác giả

Nghiên cứu sinh đã có nhiều năm hoạt động trong lĩnh vực quản lý cácTCPCPNN ở Việt Nam Trong quá trình công tác, NCS nhận thấy vai tròcủa công tác giải quyết vi phạm pháp luật của các TCPCPNN có vai trò rấtquan trọng không chỉ giám sát các hoạt động mà còn tạo điều kiện thuận lợi

để các TCPCP trong và ngoài nước ở Việt Nam phát huy hiệu quả trong cáchoạt động chuyên môn, tạo ra hình ảnh ấn tượng tốt đẹp của Việt Nam đốivới các tổ chức và cá nhân người nước ngoài Bên cạnh công tác giải quyết

vi phạm pháp luật của các TCPCPNN còn tồn tại một số tồn tại, hạn chế

Do vậy NCS đã chọn đề tài “công tác giải quyết vi phạm pháp luật của các

tổ chức phi chính phủ nước ngoài ở Việt Nam hiện nay” làm luận án tiến sỹ

2 TỔNG QUAN NHỮNG HẠN CHẾ SO VỚI ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

Hầu hết các công trình chưa đề cập đến lý luận công tác giải quyết viphạm pháp luật của các TCPCP một cách có hệ thống nếu có chỉ là mangtính giới thiệu khía cạnh mà chưa có cách tiếp cận tổng thể cụ thể Các nộidung lý luận về công tác giải quyết vi phạm pháp luật của các TCPCPNNchưa được đề cập hoặc có đề cập nhưng chưa được làm rõ Những vấn đề lýluận công tác giải quyết vi phạm pháp luật của các TCPCP chưa được sosánh phân tích với thực tiễn một cách sâu sắc, chưa đề cập những điểm lýthuyết mới cần bổ sung trong giai đoạn hiện nay

Trang 6

Những công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đều chưa phân tíchlàm rõ thực tiễn công tác giải quyết vi phạm pháp luật của các TCPCPNN sovới lý luận cơ bản Việc phân tích chỉ ra các hạn chế nguyên nhân của việccông tác giải quyết vi phạm pháp luật của các TCPCPNN chưa mang tínhtổng hợp cao

Các công trình trong và ngoài nước có liên quan được đề cập hầu hếtkhông đưa ra hệ thống giải pháp, một số ít công trình có đề cập nhưng lại làgiải pháp quản lý công tác phi chính phủ nói chung, không xuất phát từ cácđiều kiện cụ thể của Việt Nam

3 NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CỦA LUẬN ÁN CẦN TẬP TRUNG GIẢI QUYẾT

Một là, những vấn đề thuộc về lý luận, hoàn thiện khung lý thuyết mới

về công tác giải quyết vi phạm pháp luật của các TCPCPNN, cần được tậptrung phân tích so sánh, bổ sung những luận điểm mới cụ thể như công tácgiải quyết vi phạm pháp luật của các TCPCPNN, đề xuất nội dung và cáchthức triển khai áp dụng, chỉ ra những yếu tố ảnh hưởng tới công tác giảiquyết vi phạm pháp luật của các TCPCPNN, bên cạnh đó, đưa ra những kếtluận về kinh nghiệm thực hiện công tác tại một số nước đặc biệt là một sốnước trong khu vực

Hai là, những vấn đề thực tiễn, chỉ ra thực trạng công tác giải quyết viphạm pháp luật của các TCPCPNN còn những tồn tại, hạn chế trên phạm vi

cả nước so với lý thuyết, yêu cầu phát triển kinh tế xã hội Phân tíchnguyên nhân của hạn chế trong công tác giải quyết vi phạm pháp luật củacác TCPCPNN sẽ làm căn cứ để đặt ra hệ thống các giải pháp;

Ba là, về hệ thống các giải pháp: luận án cần đưa ra các quan điểm củaĐảng và Pháp luật của nhà nước về việc công tác giải quyết vi phạm phápluật của các TCPCPNN tại Việt Nam trên cơ sở các quan điểm, chủ trươngchính sách của Đảng và Nhà nước kết hợp với lý thuyết đã được bổ sung vàphân tích thực hiện quản lý luận án sẽ đề ra các nhóm giải pháp nhằm nângcao hiệu quả công tác giải quyết vi phạm pháp luật của các TCPCPNN tạiViệt Nam

Trang 7

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ NƯỚC NGOÀI

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ NƯỚC NGOÀI

1 1.1 Quan niệm của thế giới về tổ chức phi chính phủ

Tên gọi tổ chức PCPNN (tiếng Anh: NGO - non governmentalorganization) không phải là một thuật ngữ thống nhất mang tính pháp lý,mỗi quốc gia có thể sử dụng khác nhau tùy tính chất cần nhấn mạnh về vấn

đề này Tuy nhiên, khi đề cập tới tổ chức PCPNN hoạt động không vì lợinhuận, tham gia vào các hoạt động phát triển hay các hoạt động Ngân hàngthế giới, Liên Hợp Quốc và một số quốc gia hoặc cơ quan quốc gia, đa quốcgia đã đưa ra khái niệm tổ chức PCP là “thuật ngữ chỉ một tổ chức, hiệp hội,quỹ văn hóa xã hội, ủy hội từ thiện, tập đoàn phi lợi nhuận hoặc các phápnhân khác mà theo pháp luật không thuộc khu vực Nhà nước và không hoạtđộng vì lợi nhuận - nghĩa là khoản lợi nhuận nếu có, không thể phân phốitheo kiểu chia lợi nhuận Loại tổ chức này không bao gồm các nghiệp đoàn,đảng phái chính trị, hợp tác xã phân chia lợi nhuận, hay nhà thờ”

Khái niệm tổ chức PCP nêu trên được thế giới sử dụng thường đề cậpđến nhiều tổ chức Một số tổ chức được thành lập chính thức và một sốkhông chính thức, tương đối độc lập với chính phủ và được đặc trưng chủyếu bởi tính nhân đạo hay tính cộng đồng thay vì mục tiêu hoạt động thươngmại

Tổng thể các tổ chức PCP tạo thành khu vực PCP, tồn tại cùng với khuvực Nhà nước, khu vực tư nhân và khu vực tập thể; hoạt động đa dạng trongcác lĩnh vực dịch vụ, văn hóa, khoa học kỹ thuật, nhân đạo… gọi chung làcác hoạt động phục vụ lợi ích công cộng của cả cộng đồng hoặc từng nómcộng đồng

“TCPCP là chỉ một tổ chức, hiệp hội, quỹ văn hoá xã hội, uỷ hội từthiện, tập đoàn phi lợi nhuận hoặc các pháp nhân khác mà theo pháp luậtkhông thuộckhu vực nhà nước và hoạt động không vì lợi nhuận, nghĩa làkhoản lợi nhuận nếu có, không thể phân phối theo kiểu chia lợi nhuận Loại

tổ chức này không bao gồm các nghiệp đoàn, đảng phái chính trị, hợp tác xãphân chia lợi nhuận hay nhà thờ” (Cục Môi trường – Ngân hàng thế giới -1997)

Những tổ chức không được coi là TCPCP:

- Tổ chức nào được hệ thống PL phân loại là thuộc chính phủ

- Những tổ chức được thực thi 1 số quyền hạn như cơ quan nhà nước

Trang 8

- Những tổ chức được thành lập và hoạt động với mục đích chủ yếu làthương mại hoặc lợi nhuận cá nhân.

- Những tổ chức thuộc các đảng phái chính trị

- Các nghiệp đoàn, hợp tác xã phân chia lợi nhuận, nhà thờ

Đặc điểm của các TCPCP:

- Không thuộc hệ thống cơ quan nhà nước

- Không hoạt động vì lợi nhuận

- Mục tiêu là từ thiện, nhân đạo, phát triển XH

- Thành lập trên cơ sở tự nguyện

- Không phân biệt địa lý, dân tộc, tôn giáo

1.1.2 Khái niệm và phân loại của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam

Thuật ngữ tổ chức PCP được sử dụng lần đầu tiên ở Việt Nam trongLuật Tổ chức Chính phủ 1992, sau đó là Luật Hợp tác xã 1996 và một sốvăn bản pháp quy mới đây Song cho đến nay, chưa có khái niệm chínhthống về tổ chức PCP ở nước ta Tuy nhiên trong các cuộc hội thảo khoahọc, các nhà khoa học, nhà quản lý đưa ra nhiều quan niệm theo những góc

độ khác nhau, nhưng có thể bao quát với khái niệm như sau:

TCPCPNN là tổ chức phi lợi nhuận, các quỹ xã hội, quỹ tư nhân hoặccác hình thức tổ chức xã hội phi lợi nhuận khác được thành lập theo luậtpháp nước ngoài có hoạt động hỗ trợ phát triển, viện trợ nhân đạo không vìmục đích lợi nhuận hoặc các mục đích khác tại Việt Nam

Theo đó, TCPCP có những đặc điểm như sau:

- Là một tổ chức được hình thành mang tính độc lập tương đối vớichính phủ

- Được cơ quan có thẩm quyền công nhận hoặc thành lập, có sự quản lýcủa Nhà nước

- Hoạt động không vì lợi nhuận, trong khuôn khổ pháp luật

- Được lập ra do sự tự nguyện của nhân dân

Để phân biệt các đoàn thể chính trị với các Tổ chức quần chúng, thìTCPCP thường có tên gọi như: Hiệp hội, Liên hiệp hội, Tổng hội, Liênđoàn, Câu lạc bộ có tư cách pháp nhân …

Các TCPCPNN hoạt động tại Việt Nam được cấp một trong 3 loại giấyđăng ký gồm giấy đăng ký lập văn phòng đại diện, giấy đăng ký lập vănphòng dự án và giấy đăng ký hoạt động

Trang 9

Có nhiều cách phân loại tổ chức phi chính phủ: theo phạm vi hoạt động(mang tính quốc gia, mang tính quốc tế); theo tính chất hoạt động (mangtính trợ giúp nhóm yếu thế, mang tính tôn giáo, mang tính hiệp hội nghềnghiệp) hoặc theo cơ sở pháp lý

1.1.3 Cơ sở hình thành TCPCP ở Việt Nam

- Con người là trung tâm, mục đích của quản lý và hoạt động xã hội Quản lý xã hội là quản lý một nhóm người, bời con người luôn tồn tại

và hoạt động trong các nhóm của một xã hội nhất định Do vậy, để sáng lập

và tổ chức hoạt động của tổ chức pcpc thì phải coi con người là trung tâm, làmục đích của mỗi tổ chức Phải tạo ra điều kiện thuận lợi về kinh tế, chínhtrị, văn hóa, tư tưởng và những điều kiện khác sao cho các thành viên của tổchức có thể tiếp cận được với những hoạt động của xã hội để phát triển toàndiện mỗi cá nhân trong xã hội Ngoài ra, các tổ chức PCP còn góp phần tạo

cơ sở hạ tầng, đạo điều kiện đảm bảo an ninh xã hội, phúc lợi xã hội trongmỗi loại hình tổ chức PCP

- Thực hiện chức năng của Nhà nước

Trong quá trình thực hiện chức năng của Nhà nước, việc xã hội hóa cáchoạt động và dịch vụ xã hội như giáo dục, ý tế, văn hóa, chăm sóc đối tượngthuộc nhóm yếu thế…diễn ra như một su thế tất yếu

Cơ sở khoa học của sự ra đời tổ chức PCP chunhs là vì con người, nóvừa là điều kiện chung nhất cho sự phát triển toàn diện của mỗi con người,của từng nhóm người và toàn xã hội, vừa là những nhu cầu và những điềukiện cần thiết giúp cho các nhóm người những yêu cầu nào đó về đời sốngvật chất, tinh thần, nhất là nhóm người dễ bị tổn thương để họ có sự trợ giúpnhất định để có mức sống tối thiểu, có điều kiện hội nhập và tự vươn lên mà

xã hội cho phép

1.1.3.2 Cơ sở thực tiễn

- Cơ cấu xã hội

Trang 10

Sự ra đời và hoạt động của tổ chức PCP phải theo đúng với yêu cầu của

xã hội và của chính cơ cấu xã hội Cơ cấu xã hội được xem như là một tổngthể, một tập hợp các bộ phận cấu thành xã hội và những quan hệ giữa chúngvới nhau Nó không chỉ là cơ sở xác định cấu trúc mang tính lịch sử của mỗi

xã hội, mỗi tổ chức xã hội, mà còn dự báo xu hướng phát triển của nó cùngnhững tác nhân tạo lên sự phát triển đó

Nghiên cứu vấn đề này, chúng ta phải chú ý đến cơ cấu giai cấp, đếntổng thể hệ thống cấu trúc các nhóm được phân chia theo những dấu hiệu xãhội đặc thù như nghề nghiệp, lứa tuổi, trình độ học vấn, tôn giáo, dân tộc,đặc điểm tàn tật, hoàn cảnh sống, tính rủi ro…Và từ cơ cấu xã hội này, tổchức PCP có thể tiếp cận dễ dàng hơn và có tác động toàn diện, sâu sắc hơn,thiết thực hơn đến những mặt khác nhau của đời sống xã hội

- Nền kinh tế

Mỗi tổ chức PCP được hình thành có nội dung, phạm vi hoạt động phụthuộc vào trình độ phát triển kinh tế của quốc gia đó Nếu tổ chức PCP tụthậu về trình độ kinh tế thì tổ chức đó không những chỉ không giải quyếtđược những vấn đề trong xã hội mà còn có thể làm cho những vấn đề đó trởlên phức tạp hơn

- Điều kiện lịch sử, văn hóa

Những định hướng giá trị của một nền văn hóa chi phối những hành viứng xử của mỗi người, mỗi nhóm người trong xã hội, từ đó xây dựng lênmối quan hệ xã hội và nảy sinh các yêu cầu khác nhau, từ đó mà hình thành

tổ chức PCP

- Yêu cầu giải quyết các vấn đề xã hội của các hoạt động từ thiện

Sự phát triển, phân hóa và phân tầng xã hội: Cùng với sự phân tầng xãhội thì cũng diễn ra sự phân cực xã hội, trong đó nổi lên là nhóm người giàu

và nhóm người nghèo Sự phân cực này ngày càng sâu sắc, khoảng cáchgiữa người giàu và người nghèo ngày càng xa Do vậy, đòi hỏi phải có cáchoạt động cứu trợ, hoạt động nhân đạo và hoạt động từ thiện cho những cánhân, nhóm người nghèo

Ảnh hưởng của các điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội: Là thành phầncủa trái đất, con người cũng phải chịu sự ảnh hưởng của những thay đổi, tácđộng của tự nhiên, xã hội và con người, trong đó chủ yếu là những tác độngxấu Từ đó, nhu cầu tự nhiên nhằm làm giảm bớt sự thua thiệt cho những cánhân và nhóm cá nhân yếu thế Và việc hình thành tổ chức để tiến hành cáchoạt động cứu trợ nhân đạo là nhu cầu khách quan

1.1.4 Những căn cứ lý luận khoa học về tổ chức phi chính phủ nước ngoài

Trang 11

1.1.4.1 Nhiệm vụ cơ bản của tổ chức phi chính phủ nước ngoài

Tuỳ theo từng tổ chức khác nhau và các mục đích hoạt động khác nhauthì nhiệm vụ của các TCPCP cũng khác nhau Nhưng nhìn chung cácTCPCP đều quan tâm đến việc thực hiện các nhiệm vụ cơ bản sau: Chăm lobảo vệ lợi ích của các thành viên, đây là chức năng cơ bản và dễ nhận biếtnhất, vì đây là điều mà tổ chức nào cũng phải quan tâm chăm lo cho cáchội viên của mình trước tiên; Thu hút các thành viên tham gia giải quyết cácvấn đề xã hội Mọi TCPCP thành lập trước hết là chăm lo lợi ích của thànhviên nhưng mục đích bao trùm của các tổ chức này là hoạt động vì xã hội tốtđẹp hơn; Tổ chức cung ứng dịch vụ;

1.1.4.2 Hình thức hoạt động của tổ chức phi chính phủ nước ngoài

- Các TCPCPNN, tổ chức phi lợi nhuận, các quỹ xã hội, quỹ tư nhânhoặc các hình thức tổ chức xã hội phi lợi nhuận khác được thành lập theoluật pháp nước ngoài và hoạt động hỗ trợ phát triển nhân đạo không vì mụcđích lợi nhuận và các mục đích khác tại Việt Nam

- Các TCPCPNN là một dạng tổ chức hết sức đa dạng về cả mục tiêuquy mô tổ chức hay phương thức hoạt động và tuỳ thuộc vào tính chất của tổchức thì nó có phương thức hoạt động khác nhau phù hợp với mục tiêu vàđiều kiện của tổ chức

- Quy mô hoạt động của các tổ chức này thường nhỏ, hoạt động riêng

rẽ, hay từng địa phương

- Cũng có những trường hợp liên kết với nhau trong một liên hiệp haymột tổng hội để phối hợp với nhau hoạt động để đạt mục tiêu chung

1.1.4.3 Nội dung hoạt động

- Tham gia vào các lĩnh vực kinh tế, thương mại với mục đích hỗ trợnhững hoạt động phi lợi nhuận, trong đó các khoản lợi nhuận này được sửdụng vào việc phát triển tổ chức, nâng cao chất lượng hoạt động để phục vụrộng rãi hơn, hiệu quả hơn

- Các TCPCP được phép tổ chức thực hiện các chương trình dự án phùhợp với khả năng nhưng phải kèm theo điều kiện hoạch toán riêng các khoảnchi phí lợi nhuận được tài trợ từ chính phủ

- Phản ánh nguyện vọng của cộng đồng xã hội TCPCP không phải là tổchức chính trị nên không được phép tham gia vào các hoạt động chính trịnhư tranh cử vào các cơ quan quyền lực nhà nước

- Hoạt động gây quỹ nhằm đảm bảo điều kiện duy trì tổ chức củaTCPCPNN cũng như điều kiện vật chất phục vụ cho hoạt động của TCPCP

1.1.4.4 Đặc trưng hoạt động của tổ chức phi chính phủ nước ngoài

Trang 12

Tuỳ theo tính chất hoạt động, TCPCPNN có những hình thức tổ chứckhác nhau: Hội, Hiệp hội, Quỹ, câu lạc bộ, Viện, Trung tâm Quy mô tổchức thường nhỏ, hoạt động riêng rẽ (thường không tổ chức thành hệ thốnggồm các cấp)

Hoạt động của các TCPCPNN thông thường tập trung dưới 2 nội dung

cơ bản sau: Một là, viện trợ nhân đạo và hỗ trợ phát triển; Hai là, phản ánhnguyện vọng của cộng đồng xã hội

1.1.4.5 Chức năng của tổ chức phi chính phủ nước ngoài

Chức năng cơ bản và dễ nhận biết nhất của các TCPCP là không ngừngđoàn kết hội viên, đại diện hội viên, thoả mãn mục tiêu mà hội viên và tổchức khởi xướng và theo đuổi

Tập trung hoạt động thông qua các chức năng: viện trợ không hoàn lại,không vì mục đích lợi nhuận để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế xãhội và nhân đạo tại Việt Nam Các phương thức cung cấp viện trợ của cácTCPCPNN bao gồm: Viện trợ thông qua các chương trình, dự án; Viện trợphi dự án (bao gồm cả cứu trợ khẩn cấp); Tư vấn, đào tạo, kết nối với các tổchức chính phủ và các tổ chức kinh tế - xã hội khác

1.1.4.6 Tính chất của tổ chức phi chính phủ nước ngoài

TCPCP hoạt động mang tính xã hội; tính tự nguyện; tính nghề nghiệp,tính cộng đồng, giới và sở thích, nhân đạo; mang tính thời đại và mang tínhkhông vụ lợi

1.1.5 Vai trò của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài trong đời sống chính trị, xã hội ở Việt Nam

TCPCPNN đã huy động nhiều người Việt Nam tham gia tổ chức với vaitrò, vị trí khác nhau Qua việc họ tham gia các hoạt động của TCPCP thì gópphần giải quyết một số vấn đề của xã hội Việt Nam như giải quyết công ănviệc làm, tạo môi trường hoạt động lành mạnh cho thanh niên, giáo dục ýthức vì cộng đồng cho các thành viên Qua đó, đáp ứng nhu cầu lợi ích chínhđang và phát huy tính năng động, tích cực xã hội của các thành viên, giáodục, rèn luyện ý thức và năng lực thực hành dân chủ cho công dân, đặc biệt

là đối với các thành viên

Các TCPCPNN đóng vai trò quan trọng trong đời sống chính trị, vănhóa, xã hội ở Việt Nam, hoạt động của các tổ chức này có tác động, ảnhhưởng tích cực đến đời sống của cộng đồng dân cư như cung cấp hạ tầng cơ

sở thiết yếu; giải quyết các vấn đề xã hội; khắc phục hậu quả thiên tai CácTCPCPNN đã hỗ trợ các địa phương, giới thiệu và ứng dụng các phươngpháp tiếp cận có hiệu quả trong phát triển bền vững và xoá đói giảm nghèobằng những dự án thiết thực và mô hình phù hợp với các lĩnh vực và cộng

Trang 13

đồng dân cư, lồng ghép với các chương trình về xây dựng năng lực (như tíndụng, phát triển nông thôn và cộng đồng, khuyến nông, khuyến lâm ) tạo ranguồn lực góp phần ổn định và phát triển xã hội, thúc đẩy phát triển kinh tếthị trường.

Nội dung và phương pháp hoạt động hướng vào cộng đồng, các dự ánnày đã trực tiếp giúp đỡ người dân, nhất là những người dân ở nông thôn,vùng sâu, vùng xa, tăng cường kiến thức, khả năng tự quản lý, biết cách làm

ăn trong nền kinh tế thị trường, nâng cao mức thu nhập của bản thân và cảithiện điều kiện sống của gia đình Nâng cao nhận thức, năng lực của địaphương và người dân trong việc lập kế hoạch và thực hiện một số chươngtrình, dự án phát triển tại nông thôn, tăng cường vai trò quản lí Nhà nước đốivới các lĩnh vực, địa bàn

Với việc cho các TCPCPNN vào Việt Nam triển khai thực hiện các dự

án cũng góp phần mở rộng quan hệ và tham gia hội nhập khu vực và thếgiới

1.2 CÔNG TÁC GIẢI QUYẾT VI PHẠM PHÁP LUẬT CỦA CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ NƯỚC NGOÀI

1.2.1 Khái niệm và đặc điểm về công tác giải quyết vi phạm pháp luật

Công tác giải quyết vi phạm pháp luật được đề cập trong đề tài này làkhái niệm công tác giải quyết theo nghĩa rộng; công tác giải quyết bao gồmtoàn bộ các hoạt động từ công tác nắm tình hình, triển khai biện pháp phòngngừa, ngăn chặn, xử lý các hoạt động vi phạm pháp luật của đối tượng Hoạtđộng giải quyết vi phạm pháp luật chủ yếu và trước hết được thực hiện bởitất cả các cơ quan nhà nước, song có thể các tổ chức chính trị - xã hội, đoànthể quần chúng và nhân dân trực tiếp thực hiện nếu được nhà nước uỷquyền, trao quyền thực hiện chức năng của nhà nước theo quy định của phápluật

Đặc điểm của công tác giải quyết vi phạm pháp luật mang tính quyềnlực đặc biệt, tính tổ chức cao và tính mệnh lệnh đơn phương của nhà nước.Công tác giải quyết vi phạm pháp luật được thiết lập trên cơ sở mối quan hệ

“quyền uy” và “sự phục tùng” Công tác giải quyết vi phạm pháp luật mangtính tổ chức và điều chỉnh; tính khoa học, tính kế hoạch Công tác giải quyết

vi phạm pháp luật là những tác động mang tính liên tục, và ổn định lên cácquá trình xã hội và hệ thống các hành vi xã hội

1.2.2 Công tác giải quyết vi phạm pháp luật của các tổ chức phi chính phủ ở Việt Nam

1.2.2.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về tổ chức phi chính phủ

Trang 14

Đối với các TCPCP trong và ngoài nước hoạt động tại Việt Nam, Quanđiểm, Chủ trương của Đảng và Nhà nước ta là nhất quán, thể hiện rõ lậptrường, cụ thể như sau: Hợp tác bình đẳng và cùng có lợi với tất cả cácnước; Mở rộng tăng cường hợp tác với các tổ chức chính phủ; Thực hiện dânchủ; Tôn trọng và bảo đảm lợi ích chính đáng của các tổ chức nhân dân; Đadạng các hình thức tập hợp nhân dân; Hoàn thiện thể chế, tăng cường quản

lý, kiểm tra của Nhà nước đối với tổ chức phi chính phủ; Đổi mới tổ chức vàhoạt động của Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể nhân dân; Tăng cường côngtác dân vận của chính quyền; Đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo của Đảngđối với công tác quần chúng, giữ vững mối liên hệ mật thiết giữa Đảng vànhân dân

1.2.2.2 Nguyên tắc giải quyết vi phạm pháp luật của các tổ chức phi chính phủ

- Nhà nước quản lý các TCPCP theo luật định, quyền lực quản lý củaNhà nước đến với các TCPCP là thống nhất, có sự phân công phối hợp chặtchẽ giữa cơ quan Nhà nước các cấp;

- Bảo đảm, bảo vệ tự do, quyền lợi ích hợp pháp của công dân; giữ gìn

kỷ cương xã hội và xử lý nghiêm minh các vi phạm pháp luật;

- Bảo đảm và phát huy tính tự nguyện, tự quản, tự chủ, tự trang trải, tựchịu trách nhiệm của TCPCP trong khuôn khổ pháp luật

- Đổi mới tăng cường hoạt động giải quyết vi phạm pháp luật phải tiếnhành song song với việc phát triển tổ chức và hoạt động của các TCPCP,phù hợp với lợi ích quốc gia và thông lệ quốc tế

1.2.3 Nội dung công tác giải quyết vi phạm pháp luật của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam

1.2.3.1 Quản lý về tổ chức của các TCPCPNN tại Việt Nam

- Quản lý việc xét cấp, gia hạn, sửa đổi, thu hồi các loại giấy phép + Quy định cơ quan có thẩm quyền xét cấp gia hạn, sửa đổi, thu hồicác loại giấy phép

+ Quy định điều kiện để được xét cấp giấy phép và thủ tục xin cấp, giahạn, sửa đổi, bổ sung và thu hồi giấy phép

+ Quy định cơ chế phối hợp giữa các cơ quan QLNN với TCPCPNNtrong việc cấp, gia hạn, sửa đổi, bổ sung và thu hồi giấy phép

- Quản lý viện trợ của các tổ chức PCPNN: quản lý hoạt động vậnđộng, đàm phán, phê duyệt và ký kết; quản lý hồ sơ để đàm phán, ký kết,thỏa thuận viện trợ với tổ chức PCPNN; thẩm quyền phê duyệt; mối quan

hệ giữa cơ quan Nhà nước về quản lý các khoản viện trợ của các tổ chứcPCPNN theo quy định của Chính phủ; khi nhận các nguồn viện trợ không

Ngày đăng: 07/12/2017, 19:58

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w