ĐẶT VẤN ĐỀ Khối u trung thất xuất hiện ở mọi lứa tuổi, có thể là u thứ phát hoặc nguyên phát, bẩm sinh hoặc mắc phải. Khối choán chỗ thứ phát ở trung thất thường nhiều hơn nguyên phát và liên quan đến dẫn lưu bạch huyết từ u phổi hay đường tiêu hóa hoặc ung thư tinh hoàn [34]. Khối choán chỗ trung thất bao gồm u hoặc hạch trung thất, thường phát triển một cách âm thầm và không có triệu chứng đặc hiệu, chính vì vậy người bệnh chỉ đến khám bệnh khi bệnh đã ở giai đoạn tiến triển xa [31], [51]. Các khối u vùng trung thất là một vấn đề thường gặp trong các bệnh lý lồng ngực, việc chẩn đoán bản chất của các bệnh lý này có liên quan trực tiếp đến việc điều trị và tiên lượng cho người bệnh [84]. Chẩn đoán khối choán chỗ trung thất bằng hình ảnh học: chụp cắt lớp điện toán, chụp cộng hưởng từ, PET-CT... [17], [138], và các phương pháp lấy mẫu bệnh phẩm như: sinh thiết xuyên kim qua thành ngực, sinh thiết qua nội soi phế quản dưới hướng dẫn của siêu âm, sinh thiết qua nội soi lồng ngực [30], hoặc nội soi trung thất… Theo Nagayasu và cs ở Nhật Bản [108], chụp cắt lớp điện toán ngực và PET-CT là thường quy, nhưng nội soi trung thất vẫn tiếp tục là phương pháp chẩn đoán lâm sàng có độ nhạy và đặc hiệu rất cao trong chẩn đoán bản chất u, hạch vùng trung thất và xếp giai đoạn ung thư phổi. Vì vậy, nội soi trung thất sinh thiết vẫn được xem là tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán [62], [68], [135]. Nội soi trung thất kinh điển được mô tả bởi Carlens năm 1959 [43], [54] cho thấy phương pháp này an toàn khi tiếp cận vùng trung thất trên, khoang trước và cạnh khí quản, hạch lympho dưới chỗ chia khí phế quản. Trong u phổi, nội soi trung thất rất có giá trị trong việc xếp giai đoạn ung thư phổi [40]. Nội soi trung thất còn được dùng để sinh thiết các khối u trung thất trước lan rộng đến trung thất giữa hoặc chèn ép làm tắc nghẽn tĩnh mạch chủ trên [58], [106] hay có thể cắt được u nang trung thất trước [133]. Hiện nay tại Việt Nam, với sự hỗ trợ của các trang thiết bị hiện đại và đội ngũ kỹ thuật ngày càng tiến bộ, nội soi trung thất đã được triển khai tại một số bệnh viện miền Bắc [22] và miền Nam [23]. Tuy nhiên các công trình nghiên cứu chuyên sâu về nội soi trung thất chưa nhiều. Vì vậy, câu hỏi đặt ra: “Tỷ lệ thành công của nội soi trung thất lấy mẫu chẩn đoán bản chất là bao nhiêu? Và các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ này”, nên chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Vai trò nội soi trung thất trong chẩn đoán bản chất u trung thất” với những mục tiêu sau: 1. Mô tả đặc điểm lâm sàng ở những người bệnh có u và hạch vùng trung thất trước và giữa. 2. Đánh giá hiệu quả của nội soi trung thất lấy mẫu chẩn đoán bản chất khối u vùng trung thất trước và giữa. 3. Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả nội soi trung thất lấy mẫu chẩn đoán bản chất khối u vùng trung thất trước và giữa.
Trang 1NGÔ QUỐC HƢNG
NGHIÊN CỨU VAI TRÒ NỘI SOI
TRUNG THẤT TRONG CHẨN ĐOÁN
Trang 2ĐẶT VẤN ĐỀ
Khối u trung thất xuất hiện ở mọi lứa tuổi, có thể là u thứ phát hoặc nguyên phát, bẩm sinh hoặc mắc phải Khối choán chỗ thứ phát ở trung thất thường nhiều hơn nguyên phát và liên quan đến dẫn lưu bạch huyết từ u phổi hay đường tiêu hóa hoặc ung thư tinh hoàn [34] Khối choán chỗ trung thất bao gồm u hoặc hạch trung thất, thường phát triển một cách âm thầm và không có triệu chứng đặc hiệu, chính vì vậy người bệnh chỉ đến khám bệnh khi bệnh đã ở giai đoạn tiến triển xa [31], [51] Các khối u vùng trung thất là một vấn đề thường gặp trong các bệnh lý lồng ngực, việc chẩn đoán bản chất của các bệnh lý này có liên quan trực tiếp đến việc điều trị và tiên lượng cho người bệnh [84]
Chẩn đoán khối choán chỗ trung thất bằng hình ảnh học: chụp cắt lớp điện toán, chụp cộng hưởng từ, PET-CT [17], [138], và các phương pháp lấy mẫu bệnh phẩm như: sinh thiết xuyên kim qua thành ngực, sinh thiết qua nội soi phế quản dưới hướng dẫn của siêu âm, sinh thiết qua nội soi lồng ngực [30], hoặc nội soi trung thất…
Theo Nagayasu và cs ở Nhật Bản [108], chụp cắt lớp điện toán ngực và PET-CT là thường quy, nhưng nội soi trung thất vẫn tiếp tục là phương pháp chẩn đoán lâm sàng có độ nhạy và đặc hiệu rất cao trong chẩn đoán bản chất
u, hạch vùng trung thất và xếp giai đoạn ung thư phổi Vì vậy, nội soi trung thất sinh thiết vẫn được xem là tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán [62], [68], [135]
Nội soi trung thất kinh điển được mô tả bởi Carlens năm 1959 [43], [54] cho thấy phương pháp này an toàn khi tiếp cận vùng trung thất trên, khoang trước và cạnh khí quản, hạch lympho dưới chỗ chia khí phế quản
Trang 3Trong u phổi, nội soi trung thất rất có giá trị trong việc xếp giai đoạn ung thư phổi [40] Nội soi trung thất còn được dùng để sinh thiết các khối u trung thất trước lan rộng đến trung thất giữa hoặc chèn ép làm tắc nghẽn tĩnh mạch chủ trên [58], [106] hay có thể cắt được u nang trung thất trước [133]
Hiện nay tại Việt Nam, với sự hỗ trợ của các trang thiết bị hiện đại và đội ngũ kỹ thuật ngày càng tiến bộ, nội soi trung thất đã được triển khai tại một số bệnh viện miền Bắc [22] và miền Nam [23] Tuy nhiên các công trình nghiên cứu chuyên sâu về nội soi trung thất chưa nhiều
Vì vậy, câu hỏi đặt ra: “Tỷ lệ thành công của nội soi trung thất lấy
mẫu chẩn đoán bản chất là bao nhiêu? Và các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ này”, nên chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Vai trò nội soi trung thất trong chẩn đoán bản chất u trung thất” với những mục tiêu sau:
1 Mô tả đặc điểm lâm sàng ở những người bệnh có u và hạch vùng trung thất trước và giữa
2 Đánh giá hiệu quả của nội soi trung thất lấy mẫu chẩn đoán bản chất khối u vùng trung thất trước và giữa
3 Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả nội soi trung thất lấy mẫu chẩn đoán bản chất khối u vùng trung thất trước và giữa
Trang 4Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Phân vùng trung thất
Trung thất là bộ phận quan trọng của lồng ngực, là khoảng không gian hình thang nằm trong lồng ngực có sáu mặt Trung thất chứa hầu hết các thành phần quan trọng của lồng ngực trừ hai lá phổi
Trung thất gồm sáu mặt, được giới hạn ở phía trên là lỗ vào cổ, nơi trung thất thông với nền cổ Ở phía dưới là cơ hoành nơi có các thành phần đi
từ ngực xuống bụng; phía sau là cột sống ngực; phía trước là mặt sau xương
ức, các sụn sườn; hai bên là lá thành màng phổi
Những u trung thất đặc hiệu có khuynh hướng nằm ở những vị trí nhất định Vì vậy, sự phân chia trung thất thành những khoang khác nhau là cần thiết trong điều trị các khối u này Tuy nhiên, sự phân chia trung thất ra từng vùng, từng tầng, hiện nay trong nước và thế giới chưa có sự thống nhất Trên thực tế, các vùng của trung thất thông thương và liên quan chặt chẽ với nhau, các mặt phẳng phân chia chỉ mang tính chất tương đối mà thôi Để dễ mô tả, người ta phân chia trung thất thành nhiều vùng Có ba cách phân chia khác
nhau [12]
1.1.1 Quan niệm cổ điển
Trung thất được chia thành hai phần: trung thất trước và trung thất sau Một mặt phẳng đứng đi ngang qua khí quản và hai phế quản chính được quy ước là ranh giới giữa hai trung thất
Trang 5Hình 1.1: Phân chia trung thất thành hai phần
“Nguồn: Phạm Đăng Diệu, 2008” [3]
1.1.2 Quan niệm giải phẫu: Trung thất chia thành bốn phần là trung thất
trên, trung thất trước, trung thất giữa và trung thất sau
- Trung thất trên nằm trên mặt phẳng đi ngay trên khoang màng ngoài tim, tức ngang mức ở phía sau với khe đốt sống ngực 4, 5 và phía trước với khe cán và thân 6 xương ức Trung thất trên chứa tuyến ức, khí quản, các mạch máu lớn của tim như: quai động mạch chủ và các nhánh của nó, thân động mạch phổi, tĩnh mạch chủ trên, dây thần kinh X và dây thần kinh hoành
- Trung thất trước là một khoang rất hẹp nằm ngay trước màng tim và sau xương ức Trung thất trước chỉ chứa một ít tổ chức liên kết và một số hạch bạch huyết
- Trung thất giữa là nơi chứa tim và màng ngoài tim
- Trung thất sau nằm sau tim và màng ngoài tim, là một ống dài và hẹp chứa nhiều thành phần quan trọng nối liền ba phần cổ, ngực và bụng như thực quản, động mạch chủ ngực, hệ tĩnh mạch đơn, ống ngực, dây thần kinh X và
chuỗi hạch giao cảm
Trang 6Hình 1.2: Phân chia trung thất thành bốn phần
“Nguồn: Phạm Đăng Diệu, 2008”[3]
1.1.3 Quan niệm ngoại khoa: Cách phân chia trung thất của Shields năm
1972 là cách phân chia đơn giản và thường được sử dụng nhất Tác giả Shields phân chia trung thất ra làm 3 khoang: trung thất trước, trung thất giữa
và trung thất sau
Hình 1.3: Phân chia trung thất thành ba phần
“Nguồn: Raymond D, 2005” [120]
Trang 7- Trung thất trước: được giới hạn về phía trước bởi xương ức và phía sau bởi màng ngoài tim, động mạch chủ và các nhánh của nó (thân động mạch cánh tay đầu, động mạch cảnh chung trái và động mạch dưới đòn trái) Trung thất trước chứa tuyến ức hoặc dấu vết còn lại của nó, nhánh của động mạch và tĩnh mạch vú trong, hạch lymphô và một lượng mỡ thay đổi Khi mở lồng ngực từ phía trước ta có thể thấy ngay các thành phần của trung thất trước và một số các thành phần của trung thất trên và giữa
- Trung thất giữa (khoang tạng): chứa tim và các thành phần của nó, phần lên và phần ngang của động mạch chủ, tĩnh mạch chủ trên, tĩnh mạch chủ dưới, động và tĩnh mạch thân cánh tay đầu, thần kinh hoành và phần trên của dây thần kinh X, khí quản và phế quản chính với các hạch lymphô bên cạnh và động mạch, tĩnh mạch phổi, thực quản, động mạch chủ ngực
- Trung thất sau (khoang cạnh sống): là một ống dài và hẹp chứa nhiều thành phần nối liền 3 phần cổ, ngực và bụng như hệ tĩnh mạch đơn, ống ngực, dây thần kinh X
Hình 1.4: Trung thất nhìn từ bên phải
“Nguồn: Nguyễn Quang Quyền, 2013” [20]
Trang 8Hình 1.5: Trung thất nhìn từ bên trái
“Nguồn: Nguyễn Quang Quyền, 2013” [20]
1.2 U và hạch trung thất phân theo vùng phẫu thuật [5],[84]
Hình 1.6: Xếp loại u trung thất theo vị trí và tần suất
“Nguồn: Hansen J, 2007” [72]
Trang 9Trên lâm sàng trung thất được chia làm ba khoang, mỗi khoang của trung thất có những loại u và hạch theo vị trí và tần suất [72]
Vi thể: Hình ảnh vi thể u tuyến ức bao gồm sự tăng sinh tế bào biểu
mô tuyến ức và tế bào lymphô không tăng sinh, tỷ lệ giữa hai lọai tế bào này thay đổi rõ rệt giữa các u và khác nhau trong mỗi tiểu thùy của cùng một u
Hình 1.7: U tuyến ức (nhóm A), các tế bào có hình thoi
“Nguồn: Juan Rosai, 2011”[83]
Trang 101.2.1.2 Ung thư tuyến ức
Đa số gặp ở người bệnh trên 50 tuổi, thỉnh thoảng gặp ở người trẻ U không có vỏ bao, không có vách bên trong, khi cắt ngang u có màu trắng xám mật độ cứng chắc, có hoại tử và xuất huyết trong u Cắt lớp điện toán (CLĐT) ngực có cản quang không chỉ đánh giá được hình dáng, kích thước, vị trí mà còn khảo sát sự lan rộng hay xâm lấn cấu trúc xung quanh như mô mỡ, màng phổi, màng tim, phổi và các mạch máu lớn [93]
Cần thiết phải xem xét tổn thương có xâm lấn hay không xâm lấn, bởi
vì sẽ giúp lên kế hoạch điều trị Các nhà giải phẫu bệnh học nghiên cứu hình ảnh vi thể của xâm lấn vỏ bao, xâm lấn ra ngoài vỏ bao, màng tim, màng phổi hay nhu mô phổi [93],[140]
Nhiều nhà giải phẫu bệnh thường gọi “u tuyến ức xâm lấn” hơn là ung thư tuyến ức vì hình ảnh điển hình về tế bào học của ung thư như: nhân tế bào bất thường, hoạt động phân bào cao… không nhìn thấy trong tế bào mô tuyến
ức xâm lấn [83]
1.2.1.3 U lymphô (Lymphoma) [4]
U lymphô thường phát triển ở trung thất trước và là một trong những u trung thất thường gặp nhất U tế bào lymphô bao gồm cả Hodgkin hay non-Hogdkin có thể là u nguyên phát ở trung thất hay trong bệnh cảnh toàn thân
- Đại thể: u mềm, đặc không có vỏ bao, thường có hoại tử trong u
- Vi thể: nhiều nang tập hợp lại các tế bào giống lymphô với các tế bào lymphô trưởng thành và các nang lymphô với trung tâm mầm gọi là tế bào chất
Trang 11Hình 1.8: Giải phẫu bệnh lymphô lan tỏa tế bào to
“Nguồn: Juan Rosai, 2011”[82]
1.2.1.4 U tế bào mầm
U tế bào mầm lành tính thường gặp nhất ở trung thất là u quái, chiếm 60% [130] đến 70% [88] các loại u tế bào mầm trung thất Chủ yếu là do tăng sinh tế bào mầm vùng trung thất, thường dính vào các cấu trúc xung quanh,
có thể ăn vào khí quản/phế quản, do đó một số người bệnh có thể ho ra lông, tóc hay các chất như bã đậu
- Đại thể: u có hay không có vỏ bao có bờ rõ và dính vào các cấu trúc xung quanh, có thể xuất huyết hay hoại tử trong u
- Vi thể: một u dạng nang có tế bào thượng bì lót bên trong, trong có chứa các tuyến tiết ra chất như bã đậu và có lông tóc, đôi khi còn thấy
mô thần kinh, sụn, cấu trúc của hệ hô hấp và mô tụy Hình ảnh đặc hiệu khi xem dưới kính hiển vi là thấy tế bào biểu bì và sụn
Trên X quang, CLĐT những u này có hình ảnh hình tròn, nhiều thùy, giới hạn rõ Sự hiện diện của mỡ trong trong thành phần của u rất có ích trong chẩn đoán u quái trung thất dạng lành tính Nếu u lớn, bên trong u có thể chứa những khu vực xuất huyết, hoại tử hay can xi hoá…[88] Seminoma nguyên phát hay seminoma có nguồn gốc từ tinh hoàn rất nhạy với xạ trị, trong khi non-seminoma đáp ứng tốt với hóa trị
Trang 12Hình 1.9: U ác tính tế bào mầm
“Nguồn: S Suster, 2015”[125]
1.2.2 Trung thất giữa
1.2.2.1 Bệnh hạch do ung thư di căn
Ung thư di căn hạch [4] thường là ung thư phổi, ung thư thực quản, ung thư thận, ung thư tinh hoàn, ung thư vú trong đó ung thư phổi là nguyên nhân thông thường nhất Mặc dù trên lý thuyết có thể phân biệt được giữa hạch lành tính và hạch ác tính qua hình ảnh chụp CLĐT ngực nhưng thực tế lâm sàng thường rất khó khăn Đường kính hạch lớn nhất, lớn hơn 10mm được xem là tiêu chuẩn ghi nhận sự bất thường trong phân loại ung thư phổi
di căn hạch [88],[131]
- Đại thể: mô hạch đặc chắc, màu trắng hoặc xám tùy vào tính chất của ung thư nguyên phát
- Vi thể: cấu trúc hạch còn giữ nguyên, một phần hạch bị thay thế bởi các
tế bào u có hình thái và cách sắp xếp giống như tế bào của ổ ung thư nguyên phát [79]
Trang 13Theo Asamura H và cs [38] khi đã có di căn hạch N2 vào trung thất, ung thư ở phổi nào, thùy phổi nào, sẽ có tỷ lệ di căn phần trăm tương ứng
Hình 1.10: Tỷ lệ di căn hạch trung thất của thùy trên
“Nguồn: Asamura H, 1999” [38]
Hình 1.11: Tỷ lệ di căn hạch trung thất của thùy giữa và dưới
“Nguồn: Asamura H, 1999” [38]
Trang 141.2.2.2 Bệnh hạch do viêm [4]
Nhiều tình trạng viêm có thể là nguyên nhân gây hạch to ở trung thất
Vi trùng cũng như vi rút gây ra viêm phổi, bệnh phổi mô kẽ và nhiều bệnh viêm không đặc hiệu khác có thể gây ra hạch to ở trung thất Hạch trung thất thường to nhẹ từ 10 mm đến 20 mm, tuy nhiên nếu có nhiều hạch to nhẹ hoặc hạch to đáng kể (> 20 mm) thì cần khảo sát thêm để tìm nguyên nhân [2], [25]
1.2.2.3 U lymphô
1.2.2.4 Sarcoidosis [149]
Sarcoidosis là một kiểu bệnh viêm mô đặc trưng của cơ thể, nó có thể xảy ra ở bất cứ cơ quan nào trong cơ thể nhưng thường bắt đầu ở phổi và những hạch [65] Sarcoidosis là nguyên nhân thông thường nhất trong bệnh trung thất lành tính, hạch to ở 2 rốn phổi thường đối xứng Khi có nhiều nhóm hạch to trong trung thất và rốn phổi ở những người bệnh trưởng thành và không có triệu chứng thì nhiều khả năng đó là sarcoidosis Hạch to ở quanh khí quản và hai bên khí phế quản gốc đối xứng với nhau, còn gọi dấu hiệu 1-2-3 thường gặp trong bệnh sarcoidosis [45]
1.2.2.5 Bệnh hạch do lao [4],[71]
Thường gặp ở Việt Nam và gặp ở những nước kém phát triển [21]
Trang 15Hình 1.12: Sơ đồ hệ thống hạch trung thất
theo American Joint Committee on Cancer
“Nguồn: Rusch V W., 2009” [124]
Trang 161.3 Chẩn đoán u trung thất
Người bệnh có u trung thất được xác định dựa trên các biểu hiện lâm sàng và hình ảnh học
1.3.1 Chẩn đoán lâm sàng
1.3.1.1 Nhóm không có biểu hiện lâm sàng
Ở giai đoạn sớm, u trung thất thường không có triệu chứng, chẩn đoán ban đầu nhờ X-quang phổi chụp khi khám sức khỏe định kỳ, hoặc do bệnh hệ thống mà phát hiện ra như nhược cơ, đi tìm u tuyến ức… 1/3 các trường hợp phát hiện tình cờ khi X-quang phổi khám định kỳ [5]
1.3.1.2 Nhóm có biểu hiện lâm sàng
Triệu chứng hiện diện 48 – 62% trường hợp u trung thất vào thời điểm được chẩn đoán Đối với trẻ em tỷ lệ có triệu chứng cao hơn 58 – 78% trường hợp Theo nghiên cứu của tác giả Cohen, triệu chứng thường gặp đối với u trung thất trước, kích thước lớn và tế bào học của u cho thấy đa phần là ác tính [84]
Về triệu chứng học: Ho khan, đau ngực, khó thở, khó nuốt, khàn tiếng, phù áo khoác và tuần hoàn phụ: cổ, mặt, ngực…
Ở giai đoạn muộn: Triệu chứng thay đổi tùy theo vị trí của u ở trung thất trước, trung thất sau hay trung thất giữa mà có các biểu hiện chèn ép và xâm lấn đến các cấu trúc xung quanh Hội chứng trung thất gồm một hay nhiều triệu chứng sau:
- Triệu chứng chèn ép khí phế quản: Khó thở, ho, đau ngực
- Triệu chứng chèn ép mạch máu: Hội chứng chèn ép tĩnh mạch chủ trên (phù cổ mặt, tĩnh mạch cổ nổi, tuần hoàn bàng hệ vùng ngực), hội chứng chèn ép tĩnh mạch chủ dưới (phù, gan to, tuần hoàn bàng hệ ở bụng, ngực)
- Triệu chứng chèn ép thực quản: Nuốt khó, nuốt đau, đau ngực
Trang 17- Hội chứng Pancoast's – Tobias:
Còn có tên: Hội chứng Ciuffini - Pancoast's - Tobias, bao gồm hội chứng Horner's và các triệu chứng:
+ Hội chứng Horner's (Anh, Mỹ), hội chứng Claude Bernard (Châu Âu): Liệt nhẹ thần kinh giao cảm mắt: Sụp mi, co đồng tử, da nề đỏ, không tiết hoặc tiết ít mồ hôi cùng bên Sụp mi không hoàn toàn, thường chỉ 1 đến 2mm và mi dưới có thể nâng cao lên Khe mi thu hẹp lại làm cho người ta tưởng nhầm là mắt lõm, cũng như khi khe mi rộng ra người ta nghĩ nhầm là lồi mắt Ngoài ra trong hội chứng Horner's mắc phải đã lâu ngày, mống mắt bên mắt bệnh có thể suy giảm sắc tố gây ra dị sắc mống mắt
+ Đau trên xương đòn và bả vai, lan ra trước ngực và mặt trong cánh tay, có thể liệt nhẹ các cơ gấp ngón tay (u chèn ép vào đám rối thần kinh cánh tay)
+ Đau khớp cổ VII - ngực I (C7 - T1)
+ Khàn tiếng (chèn ép thần kinh quặt ngược)
- Liệt vòm hoành (chèn ép thần kinh hoành)
- Rối loạn hô hấp, cao huyết áp, chảy nước dãi (chèn ép phế vị)
- Đau ngực (chèn ép thần kinh liên sườn)
1.3.2 Chẩn đoán cận lâm sàng
1.3.2.1 X-quang phổi quy ước
Là xét nghiệm hình ảnh khởi đầu thích hợp nhất cho các tổn thương bệnh lý của lồng ngực và trung thất vì độ an toàn, giá rẻ, tia xạ thấp, tiện dụng [26] Hình ảnh các u trên phim X-quang đặc biệt là ung thư phổi đều mang tính chất gợi ý khi không có triệu chứng lâm sàng như u ở ngoại vi hay có triệu chứng lâm sàng khi u ở trung tâm Tuy vậy, hình ảnh X-quang không đủ
để đánh giá mức độ lan rộng của khối u cũng như đặc điểm của khối u
Trang 18Hình ảnh X-quang có thể xác định vị trí, kích thước của khối u, sự tắc nghẽn phế quản, liệt cơ hoành, xâm lấn thành ngực Trên X-quang quy ước cũng có thể thấy hủy xương sườn, xương sống hoặc tràn dịch màng phổi [7]
Trong những giai đoạn sớm, thường tổn thương khó ghi nhận được trên X-quang Khi khối u có kích thước < 2cm nên chụp thêm X-quang tư thế thẳng và nghiêng ở thì hít vào
Hình 1.13: X-quang phổi bình thường
“Nguồn: Phí Ích Nghị, 1998” [16]
Các hình này sẽ đều thấy rõ hơn qua chụp CLĐT ngực hay chụp cộng huởng từ (MRI) Cũng nên lưu ý rằng khoảng 1% người bệnh có triệu chứng lâm sàng nhưng hình ảnh X-quang bình thường, những trường hợp này nên khảo sát thêm bằng những phương tiện khảo sát khác [66]
Hình X-quang phổi quy ước cho đến nay vẫn là kỹ thuật được chỉ định nhiều nhất để chẩn đoán bệnh lý phổi và trung thất [26] Trung thất là vùng khó khảo sát trên phim X-quang phổi cổ điển, vì để thấy rõ trung thất, tia X cần phải đủ cứng để xuyên thấu cấu trúc mật độ cao hơn nhu mô phổi, lúc đó phế trường bị đen nhiều, nên bác sĩ X-quang có thể không thấy các thương tổn tinh tế của nhu mô phổi Ngược lại, khi chụp tia mềm để khảo sát nhu mô
Trang 19phổi, các cấu trúc trong trung thất vì có mật độ cao, sẽ trắng gần như đồng nhất Như vậy, đối với hệ thống phim cổ điển, muốn khảo sát đầy đủ nhu mô phổi và trung thất tốt, người bệnh phải chịu tia xạ 2 lần [66]
Tuy ngày nay đã có CLĐT nhưng X-quang phổi quy ước thường là xét nghiệm hình ảnh học được làm đầu tiên [26], do đó các bác sĩ nên nắm được những dấu hiệu hình ảnh của bệnh lý lồng ngực để có chẩn đoán đúng và có cách xử lý thích hợp nhất [25]
Hình 1.14: Hình ảnh X-quang phổi u trung thất
“Nguồn: Cao Trường Thọ, 1974” [24]
- Đặc điểm bờ của u: Bờ u đều hay không đều
- Ranh giới xung quanh giữa u và các cơ quan trong trung thất: Ranh giới xung quanh rõ hay không rõ
Trang 20- Dấu hiệu xâm lấn:
+ Có xâm lấn: Biểu hiện bằng dấu hiệu mất lớp mỡ giữa u và các cơ quan lân cận trong trung thất
+ Không có xâm lấn: Có sự hiện diện của lớp mỡ giữa u và các cơ quan lân cận trong trung thất
- Kích thước của u: Kích thước được xác định là chỗ xa nhất u bắt thuốc cản quang Đo kích thước u và nang bằng những phần mềm chức năng trên máy Đơn vị tính thống nhất là centimét (cm)
- Tỷ trọng của u trên phim CLĐT ngực: Đánh giá các loại tỷ trọng có trong u và tần suất hiện diện của chúng, bao gồm: Tỷ trọng mô mềm, tỷ trọng
mỡ, tỷ trọng nước và canxi Đo tỷ trọng trong u bằng những phần mềm chức năng trên máy Nếu như đo được tỷ trọng ở những vùng trong u thì u đó được phân loại như sau:
+ Tỷ trọng dịch trong (dịch não tủy, nước tiểu…) từ 5 - 10 HU, dịch hoại tử, tùy thuộc mức độ hoại tử từ 10 - 30 HU
+ Tỷ trọng mô mềm dao động trong khoảng 40 - 65 HU
+ Tỷ trọng mỡ từ -50 đến -100 HU
+ Tỷ trọng xương dao động từ +200 đến +1000 Vôi hóa khi tỷ trọng như xương Nếu như không đo được tỷ trọng ở những vùng trong u thì được phân loại như sau:
Tỷ trọng nước khi tỷ trọng của u giống như dịch trong túi mật hoặc là trong ống sống
Cơ thành ngực, mỡ dưới da và những cấu trúc xương được sử dụng như
là những tiêu chuẩn tham khảo bên trong theo thứ tự lần lượt cho mô mềm,
mỡ và canxi
Trang 21- Đặc điểm về tỷ trọng của u: U được phân loại thành tỷ trọng đều hay tỷ trọng không đều Tỷ trọng đều: Khi chỉ có một giá trị tỷ trọng trong u
Tỷ trọng không đều: Khi có từ 2 giá trị tỷ trọng trở lên trong u
- Sự vôi hóa: Ghi nhận có hay không có sự vôi hóa Nếu có sự vôi hóa thì đặc điểm của vôi hóa cũng được ghi nhận như: Dạng viền, dạng nốt, dạng đám
- Đặc điểm tăng tỷ trọng sau khi tiêm thuốc cản quang: Để đánh giá mức độ ngấm thuốc cản quang của một khối u trong phim CLĐT ngực, được định lượng như sau:
+ Không tăng tỷ trọng: Nếu sau khi tiêm thuốc cản quang tỷ trọng khối
u tăng lên < 15 HU so với trước khi tiêm
+ Tăng tỷ trọng: Nếu sau khi tiêm thuốc cản quang tỷ trọng khối u tăng lên > 15-20 HU so với trước khi tiêm
Các hạch trung thất có đậm độ thấp, dạng mô mềm Có thể thấy được các hạch nhờ vào tương phản rất tốt của cấu trúc mỡ quanh các hạch này hoặc khi hạch lớn Bình thường kích thước lớn nhất của hạch đo theo trục ngang dưới 10mm, hạch lớn trên 10mm là bất thường Biểu hiện lớn hạch có thể riêng rẽ hay hợp lưu tạo thành đám [136] Tác giả Wang và cs [146] nghiên cứu 152 người bệnh xác định giai đoạn ung thư phổi không tế bào nhỏ trước phẫu thuật dựa vào chụp CLĐT thì độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị dự đoán dương, giá trị dự đoán âm và độ chính xác là 73,8%, 70,1%, 64,9%, 78,2% và 71,7%
Còn theo tác giả Gdeedo A và cộng sự [67] khi so sánh CLĐT ngực và NSTT trên 100 người bệnh (4/1993 – 9/1995), cho thấy độ nhạy và độ đặc hiệu của CLĐT là 63% và 57% với NSTT lần lượt là 89% và 100%, giá trị
Trang 22tiên đoán dương và âm 41% và 71% trong khi NSTT là 100% và 96%, độ chính xác CLĐT 59% và NSTT 97%
Theo tác giả Antoch G và cộng sự [37] có đến 21% trường hợp hạch
< 1cm đều là ác tính, trong khi đó có đến 40% hạch > 1cm lại là lành tính Đặc biệt, hạch có thể tăng sản trong các trường hợp viêm phế quản mãn, dãn phế quản, hoặc viêm phổi do tắc nghẽn (thường thấy trong ung thư phổi), hạch có thể đạt đến kích thước 2-4cm
Theo nghiên cứu của Faber [61] hạch > 1cm bị di căn chính xác đến 60-70%, tuy nhiên nếu hạch > 1,5cm thì di căn đến 85% qua kiểm chứng sau
và phương pháp phẫu thuật thích hợp
- Vị trí của u trong trung thất: Sự phân chia trung thất thành từng khu, vùng chỉ là một quy ước định khu về mặt cấu tạo hình thái hoặc về bệnh lý
Sự thật, các vùng của trung thất thông thương với nhau và liên quan chặt chẽ với nhau, các mặt phẳng phân chia chỉ mang tính chất tương đối mà thôi
Vì vậy, thống nhất lấy cách phân chia trung thất của Shields năm 1972
để ghi nhận vị trí của u trong trung thất Vị trí của u được phân loại theo Shields như sau [140]:
+ U ở trung thất trước nếu như u đó nằm trước tim hoặc các mạch máu lớn (khoang trước mạch máu)
+ U ở trung thất sau nếu như u nằm trong vùng cạnh sống
Trang 23+ U ở trung thất giữa nếu như u đó nằm cạnh khí quản hoặc dưới trạc chia khí quản hoặc dọc theo đường đi của thực quản
Ngoài ra, trên CLĐT ngực có thể chẩn đoán và phân biệt các u vùng trung thất dựa vào cấu trúc mà tổn thương phát triển như từ mạch máu, hạch, tuyến ức, tuyến giáp, khí quản, thực quản, cột sống… hoặc từ vị trí các khoang giải phẫu trung thất mà tổn thương nằm ưu thế như: khoang trước mạch máu, khoang trước khí quản
Hình 1.15: Hình ảnh CLĐT UTT xâm lấn
“Nguồn: Ernst A, 2010” [60]
1.3.2.3 Chụp cắt lớp tán xạ Positron (PET)
Đây là phương pháp không xâm nhập, dựa trên nguyên tắc là khảo sát
sự tăng chuyển hóa đường của tế bào ác tính so với tế bào bình thường Tác nhân được sử dụng thông thường nhất để tạo hình ảnh trên PET là deoxy-gluco được nối với 18-flurin -2-(F18)- deoxy-D-glucose hay 18 FDG PET được xem là phương tiện thám sát ung thư tế bào nhỏ để chứng minh u nguyên phát hay tổn thương di căn [117]
Gần đây, PET-CT là phương tiện chẩn đoán hình ảnh mới đang được nghiên cứu và áp dụng PET-CT có thể hỗ trợ chẩn đoán khả năng ác tính của
Trang 24khối u trung thất Tác giả Kubota [90] thực hiện nghiên cứu so sánh CT ngực
và PET-CT cho thấy độ nhạy và độ đặc hiệu của PET-CT (90% và 91%) cao hơn so với CT ngực (70% và 77%)
Với những tổn thương tân sinh của tuyến ức, độ hấp thu cao chất FDG (2- deoxy-2-(18F)-Flouro-glucose) phản ánh khả năng xâm lấn và được xem như là ung thư tuyến ức và u tuyến ức xâm lấn PET-CT còn giúp đánh giá
mô bướu còn sót lại sau khi hóa trị trong u tế bào mầm
Metin và cs [105] đánh giá hạch vùng cửa sổ phế chủ thì PET-CT có độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị dự đoán dương, giá trị dự đoán âm và độ chính xác
Trang 251.3.2.4 Chụp cộng hưởng từ (MRI)
Nguyên lý cộng hưởng từ hạt nhân được Felix Block và Edward Puroel phát hiện vào năm 1946, cộng hưởng từ được ứng dụng rộng rãi từ năm 1950 Năm 1952, hai nhà vật lý Felix Block và Edward Puroell được trao giải Nobel vật lý nhờ sự phát hiện và ứng dụng cộng hưởng từ
MRI chỉ được dùng trong một số trường hợp u trung thất, chủ yếu trong
u thần kinh vùng trung thất sau nghi ngờ lan vào ống sống So với CLĐT ngực, cộng hưởng từ có nhiều ưu điểm hơn
Cộng hưởng từ không chỉ cho hình ảnh theo mặt phẳng đứng ngang mà còn cho hình ảnh theo mặt phẳng trán và mặt phẳng đứng dọc Vì vậy, cộng hưởng từ cho phép xác định tốt hơn sự liên quan của u trung thất với đám rối cánh tay, lỗ liên đốt sống, cơ hoành và các cấu trúc mô mềm khác của trung thất Đặc biệt, cộng hưởng từ rất hữu ích trong việc xác định u thần kinh trung thất sau có lan vào trong ống sống, tạo thành u thần kinh hình quả tạ hay hình đồng hồ cát hay không mà CLĐT ngực không thể đánh giá được [84]
Tuy nhiên, CLĐT ngực có ưu điểm hơn trong việc xác định có hủy xương hay không? Cộng hưởng từ cũng là phương tiện rất tốt để khảo sát hình ảnh cấu trúc mạch máu mà không cần phải chụp với tiêm thuốc cản quang Ngoài ra, cộng hưởng từ còn có kiểu hình ảnh cắt theo mặt phẳng ngang được chọn lựa để đánh giá tổn thương có nguồn gốc thần kinh hoặc những bất thường nghi ngờ liên quan mạch máu, khối phồng liên quan đến động mạch chủ và các nhánh của nó Ngoài ra phương pháp này giúp chẩn đoán trước mổ trong những trường hợp chống chỉ định dùng chất cản quang hay người bệnh bị di căn tủy
Trang 26Hình 1.17: Hình ảnh MRI UTT giữa
“Nguồn: Laurent F, 1999” [95]
1.3.2.5 Nội soi phế quản
Nội soi phế quản là phương pháp thăm khám bên trong của hệ thống khí phế quản nhờ vào hệ thống ống soi phế quản Có hai loại kỹ thuật nội soi phế quản: nội soi phế quản bằng ống cứng và nội soi phế quản bằng ống mềm Nội soi phế quản bằng ống cứng được giới thiệu lần đầu tiên bởi Gustav Killian Năm 1897 Killian đã thành công trong việc gắp xương lợn từ phế quản của một người nông dân Đức Bất lợi lớn nhất của nội soi phế quản
là việc gây mê toàn thân và khó tiếp cận những phế quản ở xa Bên cạnh đó, trong những trường hợp cổ cứng, chấn thương cột sống cổ hay cứng khớp thái dương hàm, việc tiến hành nội soi ống cứng không thực hiện được
Năm 1970, sự xuất hiện ống soi phế quản bằng ống mềm của Ikeda đã
mở ra một kỷ nguyên mới cho việc ứng dụng nội soi phế quản trong việc chẩn đoán và điều trị các bệnh hô hấp Với nhiều ưu điểm như dễ thực hiện, gây tê tại chỗ, ít phiền phức cho người bệnh, nội soi phế quản ngày càng thực hiện rộng rãi, làm thu hẹp chỉ định nội soi phế quản ống cứng Tuy vậy các ống soi
Trang 27phế quản ống mềm có đường kính ngoài từ 3 - 6 mm, đường kính trong từ 1,2 - 3,2 mm chỉ có khả năng khảo sát tổn thương của phổi đến thế hệ phế quản thứ 5, ở những thế hệ phế quản xa hơn việc tiến hành khảo sát có phần hạn chế, đặc biệt là những tổn thương ở ngoại vi của phổi và của trung thất
Hiệu quả của phương pháp:
Độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị dự đoán dương, giá trị dự đoán âm và độ chính xác chẩn đoán lần lượt là 66,6%, 100%, 100%, 65%, và 79,4% [102]
Nếu có siêu âm hướng dẫn thì độ nhạy, độ đặc hiệu và độ chính xác của phương pháp lần lượt là 95%, 100% và 98% [121]
Hình 1.18: Sinh thiết u qua khí quản dưới hướng dẫn siêu âm
“Nguồn: Abeloff M, 2004” [29]
Trang 281.3.2.6 Mở trung thất trước
Mở trung thất trước được MC Neil và Chamberlain mô tả năm 1966 [110] với phương pháp thăm dò trung thất trước qua đường rạch mở ngực cạnh ức trái dài khoảng 8cm, thường cắt sụn sườn thứ 2 của khoang lồng ngực Hiện nay phương pháp này ít làm do có nội soi lồng ngực và sinh thiết xuyên thành ngực dưới hướng dẫn của CLĐT [42]
Độ nhạy của phương pháp này là 91%
Tỷ lệ tử vong là 0% - 0,3%, tỷ lệ tai biến 1% đến 2,3% [32]
Hiện nay, với rất nhiều phương pháp sinh thiết chính xác nên 95% các trường hợp sinh thiết không cần phải mở ngực
Trang 291.3.2.8 Phẫu thuật nội soi lồng ngực trong chẩn đoán
Nội soi lồng ngực đã được Jacobaeus thực hiện tại Stockholm - Thụy Điển từ những năm 1910 - 1920 Ban đầu chỉ đơn thuần là nội soi lồng ngực
để chẩn đoán các bệnh về màng phổi - đặc biệt là lao phổi, sau đó mở rộng ra tiến hành nội soi gỡ dính màng phổi [14],[110]
Từ thập niên 80 với sự ứng dụng của nguồn sáng lạnh dẫn truyền qua
hệ thống cáp quang giúp cho hình ảnh rõ nét, độ phóng đại lớn nên các thương tổn trong lồng ngực đã được phát hiện rất rõ qua nội soi lồng ngực Đồng thời có thể tiến hành thực hiện các thủ thuật và phẫu thuật các thương tổn như cắt bỏ hoặc sinh thiết làm chẩn đoán [110]
Chỉ định:
- Sinh thiết các hạch nhóm 5, 6, hạch ở các nhóm 8,9 và hạch số 7 ở mức thấp
- Sinh thiết các khối u trung thất chưa rõ bản chất [142]
- Đánh giá màng phổi và những bất thường của nhu mô phổi [50]
Chống chỉ định:
- Dày dính màng phổi
- Người bệnh không chịu được gây mê một phổi
- Có bệnh nội khoa quá nặng
PTNS lồng ngực có ưu thế hơn phương pháp mở trung thất do ít xâm lấn hơn và có thể khảo sát nhiều khu vực hơn như khối u ở trung thất sau Việc nội soi thám sát các thương tổn trong lồng ngực trước khi mở ngực giúp đánh giá được khả năng cắt được khối u và tránh được những trường hợp mở ngực không cần thiết
Hiệu quả của phương pháp [119],[138]:
Phương pháp này xác định được bản chất mô học của các tổn thương trung thất trong phần lớn các nghiên cứu Tuy nhiên, PTNS lồng ngực đòi hỏi
Trang 30phải gây mê nội phế quản 2 nòng Nhiều nghiên cứu đã chứng minh PTNS lồng ngực có tỷ lệ biến chứng cao và thời gian nằm viện lâu hơn so với nội soi trung thất [69]
Một số biến chứng thường gặp [69]:
- Chảy máu: do thương tổn các mạch máu thành ngực hay trung thất
- Tràn khí màng phổi: thông thường do tổn thương nhu mô, chỉ cần đặt ống dẫn lưu màng phổi và hút áp lực âm có thể giải quyết được
- Ngoài ra còn có một số biến chứng khác như tổn thương ống ngực, gieo rắc tế bào ung thư, rối loạn nhịp tim, xẹp phổi, đau và dị cảm vết mổ
1.3.2.9 Sinh thiết bằng kim xuyên thành ngực
Năm 1885, tác giả Menetrier [103] lần đầu tiên chẩn đoán ung thư phổi bằng phương pháp sinh thiết xuyên thành ngực bằng kim Tuy nhiên, cho đến cuối thế kỷ XIX, do kim có đường kính lớn gây nhiều biến chứng khiến phương pháp này bị hồ nghi và chỉ được chấp nhận một cách miễn cưỡng
Năm 1930, Martin và Ellis tại trung tâm ung thư Memorial Sloan – Kettering (Mỹ), báo cáo kết quả dùng kim lấy mẫu bệnh phẩm trên 65 trường hợp ung thư, trong đó có 2 trường hợp ung thư phổi
Từ năm 1960 phương pháp sinh thiết xuyên thành ngực đã được tiến hành phổ biến trên thế giới Việc thực hiện sinh thiết cho những người bệnh
có khối u ở lồng ngực thường được tiến hành dưới sự hướng dẫn của siêu âm, chụp CLĐT, hay dưới màn huỳnh quang tăng sáng [153] Sinh thiết dưới màn huỳnh quang tăng sáng thường thực hiện ở những vị trí mà tổn thương quá nhỏ, rốn phổi, u trung thất, vị trí u gần các mạch máu lớn và hội chứng tĩnh mạch chủ trên [145]
Trong khi tiến hành thủ thuật, siêu âm có thể đánh giá lại vị trí tổn thương, hoặc nơi có các mạch máu lớn, khi mà vị trí tổn thương có thể thay đổi do tư thế hoặc do quá trình hô hấp [39]
Trang 31Hình 1.19: Sinh thiết u bằng kim qua da
“Nguồn: Sellke F, 2005” [130]
Biến chứng:
- Tỷ lệ tràn khí màng phổi được ghi nhận là 5-57%, với 2-17% trường hợp cần đặt ống dẫn lưu màng phổi Theo Woolf tai biến chảy máu có 8,4% trường hợp khạc ra máu lượng trung bình [101]
Priola A và cộng sự thấy độ nhạy và độ chuyên biệt trong chẩn đoán ung thư lần lượt là 83,6% và 100% [116]
1.3.2.10 Nội soi trung thất
Lịch sử phát triển nội soi trung thất:
Nội soi trung thất được thực hiện đầu tiên bởi Jehn và Nissen năm 1927 [111]
Năm 1954, Harken và cộng sự đã mô tả khảo sát trung thất cổ bên, một đường mổ trên xương đòn, dùng ống soi thanh quản để đưa vào trung thất và sinh thiết hạch, tuy nhiên tỷ lệ biến chứng rất cao [120]
Năm 1959, Carlens đã giới thiệu nội soi trung thất như ngày hôm nay, nội soi trung thất cho phép tiếp cận những hạch cạnh khí quản, dưới carina, bằng cách bóc tách vào khe mô lỏng lẻo trước khí quản và dọc theo phế quản [43],[73], và sau đó Pearson áp dụng rộng rãi ở Bắc Mỹ [114]
Trang 32Năm 1965, Specht phát triển phương pháp này xa hơn và áp dụng để kiểm tra trung thất trước và trung thất sau, để đánh giá sự lây lan của ung thư thực quản và sinh thiết những u trung thất [111]
Năm 1965, Carlens áp dụng nội soi trung thất điều trị: đặt máy tạo nhịp
và cắt tuyến ức [47]
Năm 1987, Ginsberg phổ biến nội soi trung thất cổ mở rộng khảo sát nhóm hạch cửa sổ phế chủ và rốn phổi [77]
Năm 1989, Toni Lerut đưa ra ý tưởng nội soi trung thất có hỗ trợ video
và được Sortini phát triển năm 1994 [134]
Năm 2007, Hurtgen giới thiệu nội soi trung thất có siêu âm [78]
Ngày nay, nội soi trung thất có hỗ trợ video giúp cho phẫu thuật viên dễ dàng quan sát và thao tác nên việc sinh thiết thuận lợi hơn [62],[110],[144]
Chỉ định nội soi trung thất:
- Đánh giá di căn hạch trước mổ ung thư phổi có hạch N2
- Đánh giá hạch trong ung thư phổi không phải tế bào nhỏ sau khi hóa trị tân hỗ trợ
- Đánh giá bản chất của các khối u trung thất trước, giữa
- Điều trị các u nang vùng trung thất trước
- Đánh giá hạch trung thất trong các trường hợp không có u hay bệnh
lý phổi
- Đánh giá bản chất u trung thất trong trường hợp u trung thất chèn ép tĩnh mạch chủ trên [106]
Chống chỉ định:
Người bệnh có chống chỉ định gây mê tổng quát
Những thay đổi giải phẫu làm cho nội soi trung thất không an toàn như người bệnh gù quá mức, bướu cổ to thòng trung thất, sự vôi hóa diện rộng hay
Trang 33phình cung động mạch chủ hay động mạch vô danh, và mở khí quản thường xuyên sau phẫu thuật cắt thanh quản và xạ trị
Mặc dù, không chống chỉ định nhưng nội soi trung thất rất nguy hiểm trong những trường hợp: tiền căn xạ trị vùng cổ ngực, tiền căn mở xương ức
hay mổ vùng cổ
Biến chứng nội soi trung thất:
Nội soi trung thất có tỷ lệ biến chứng thấp, tỷ lệ tử vong khoảng 1% các trường hợp Biến chứng thường gặp nhất khi tiến hành nội soi trung thất
là chảy máu tĩnh mạch, do rách cuống mạch nuôi hạch hoặc rách một nhánh động mạch phế quản khi sinh thiết hoặc bóc tách Những trường hợp nặng hơn có thể là rách tĩnh mạch đơn hoặc tĩnh mạch vô danh, động mạch phổi hoặc thân tay đầu, những trường hợp này cần phải mở ngực cầm máu [89]
Rách khí quản, rách thực quản hiếm gặp nhưng rất nguy hiểm có thể xảy ra viêm mủ trung thất, tràn khí trung thất hoặc tràn khí màng phổi [33],
xử trí khâu lỗ thủng hoặc tự lành, trong trường hợp phát hiện trễ có viêm mủ trung thất phải mổ dẫn lưu trung thất [87]
Có thể gặp là tổn thương dây thần kinh quặt ngược trái trong khi sinh thiết hạch cạnh khí quản dưới trái, hạch góc khí phế quản trái [127] Những trường hợp còn lại hầu như ít khi xảy ra, tuy vậy việc tiến hành nội soi trung thất chẩn đoán cũng là một phương pháp xâm lấn có hiệu quả đánh giá bản chất mô bệnh học của tổn thương trong lồng ngực
Vai trò nội soi trung thất trong bệnh lý lồng ngực và trung thất:
Nội soi trung thất (NSTT) là phương pháp được sử dụng chẩn đoán mô bệnh của bệnh lý u trung thất, các u của hệ thống bạch huyết và đánh giá giai đoạn của ung thư phổi Trên thế giới, kể từ khi giới thiệu bởi Carlens năm
1959, NSTT đã trở thành tiêu chuẩn so sánh với các phương pháp chẩn đoán bệnh trung thất khác [43]
Trang 34Việc đánh giá giai đoạn trong ung thư phổi trước mổ rất quan trọng Đánh giá giai đoạn trước mổ sẽ quyết định trực tiếp đến chỉ định điều trị của người bệnh [53] Ngoài ra, trong ung thư phổi đối với các trường hợp ở giai đoạn IIIB và giai đoạn IV, khi không còn chỉ định phẫu thuật, việc biết được giải phẫu bệnh của ung thư phổi sẽ góp phần điều trị hóa xạ trị cho người bệnh Trong đánh giá giai đoạn ung thư phổi thì việc đánh giá giai đoạn di căn hạch là bắt buộc [94] Hiện nay, có rất nhiều phương pháp xâm lấn và không xấm lấn nhằm đánh giá di căn hạch trung thất [74]
Các phương pháp không xâm lấn như chụp CLĐT ngực, chụp PET-CT hay MRI có độ nhạy và chính xác không cao Trong chụp CLĐT ngực có cản quang thì hạch được gọi là bất thường khi đường kính hạch > 1cm (với độ nhạy 88% và độ đặc hiệu 89%), và bình thường khi đường kính < 1cm (độ nhạy là 89%, độ đặc hiệu là 50-86%, độ chính xác là 20-68%) Chụp PET có
ưu thế trong phát hiện hạch rốn phổi với độ nhạy 73% và độ đặc hiệu 76% so với CLĐT chỉ là 18% và 86% Tuy nhiên cũng cần lưu ý là tăng chuyển hóa glucose có thể gặp trong một số bệnh nhiễm khuẩn hoặc đang có tình trạng viêm nhiễm kèm theo [128]
Các phương pháp xâm lấn hơn như nội soi phế quản sinh thiết xuyên thành, sinh thiết kim nhỏ qua thành ngực, sinh thiết hạch qua siêu âm nội soi phế quản có độ âm tính giả khá cao
Với độ nhạy trên 90% và độ đặc hiệu xấp xỉ 100% NSTT đã được chứng minh hiệu quả trong xác định giai đoạn trước phẫu thuật ung thư phổi [67] Tuy nhiên, NSTT vẫn tiếp tục là một chủ đề của cuộc tranh luận giữa các bác sĩ phẫu thuật lồng ngực Vì có nhiều quan điểm xem NSTT là quá xâm lấn trong chẩn đoán xác định giai đoạn ung thư phổi và câu hỏi đưa ra là:
có thật sự cần thiết NSTT khi nghi ngờ ung thư phổi đã di căn hạch trung thất
Trang 35trên lâm sàng khi mà có thể đánh giá giai đoạn bằng các phương pháp chẩn đoán ít xâm lấn khác [36],[59]
Anthony Lemaire và cộng sự [96] nghiên cứu trên 2145 người bệnh nội soi trung thất cho thấy độ nhạy 86%, giá trị tiên đoán âm 94,5% và âm tính giả chiếm 5,1% Mặc dù còn nhiều tranh cãi khi đánh giá tỷ lệ ung thư phế quản di căn hạch trung thất, nhưng với độ chuyên biệt khá cao, việc khảo sát hạch bằng NSTT cho kết quả lành tính trên 90% đồng nghĩa là ung thư phổi chưa di căn hạch - ủng hộ khả năng phẫu thuật triệt để cắt thùy phổi trong ung thư phế quản và phổi Khi NSTT sinh thiết hạch cho kết quả mô học ác tính đồng nghĩa với người bệnh đã bị di căn trung thất trong ung thư phế quản hoặc di căn xa từ các cơ quan khác Tỷ lệ di căn này chiếm khoảng 33% khi tiến hành sinh thiết Theo Witte và cộng sự [151], NSTT kết hợp nội soi lồng ngực sẽ giúp chẩn đoán chính xác bản chất hạch trung thất mà không làm mất thời gian hay tai biến
Trong trường hợp u trung thất, việc xác định bản chất ác tính của u trung thất được chỉ định trong các trường hợp u trung thất to, xấm lân các cấu trúc quan trọng, hay nghi ngờ u trung thất nguyên phát Các phương pháp sinh thiết u trung thất như mở ngực nhỏ (Chamberlain) hay nội soi lồng ngực sinh thiết mặc dù có độ nhạy và chính xác cao nhưng có tính xâm lấn cao, phức tạp
và có nhiều biến chứng [76] Nội soi trung thất chẩn đoán bản chấn u trung thất là phương pháp hữu hiệu, ít biến chứng và có độ nhạy, độ chính xác hơn 90% [147]
Theo tác giả Abeloff và Detterbeck, độ nhạy và độ đặc hiệu khoảng 63-86% [28] và 80-85% [57] Hammoud ghi nhận nội soi trung thất có thể chẩn đoán trong 93,6% người bệnh [70]
Trang 36Vì vậy, hiện nay nội soi trung thất vẫn là tiêu chuẩn vàng dùng để đánh giá bản chất khối u trung thất trước, giữa và đánh giá giai đoạn u phổi [59], [157]
1.4 Tình hình nghiên cứu hiện nay về nội soi trung thất
1.4.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Nội soi trung thất đường cổ được thực hiện đầu tiên bởi Carlens vào năm 1959 [43], trong suốt hơn 3 thập kỷ sau, nội soi trung thất vẫn được sử dụng rộng rãi để chẩn đoán mô học khối u vùng trung thất và chẩn đoán giai đoạn ung thư phổi [76] Nội soi trung thất vẫn được xem là tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán mô học u và hạch vùng trung thất [35],[63]
Tuy nhiên, NSTT vẫn có một số hạn chế, hạn chế lớn nhất không thể đến được cửa sổ phế chủ (nhóm hạch 5, 6), các u vùng trung thất sau [110] Gần 60 năm từ khi Carlens thực hiện ca NSTT đầu tiên, đến nay trên thế giới vẫn có nhiều tác giả quan tâm và nghiên cứu NSTT
Falase Bode [63] thực hiện NSTT 40 người bệnh hạch trung thất đơn thuần và hạch trung thất / u phổi từ 03/2007 – 02/2013 tại bệnh viện Trung ương Tây Nam Nigeria
Ginsberg RJ [87] nghiên cứu 2259 người bệnh được nội soi trung thất, ghi nhận biến chứng 2%, trong đó chỉ có 0,3% có biến chứng nặng phải cắt xương ức hay mở thành ngực bên cầm máu, khâu thực quản, khí quản và không có tử vong
Tác giả De Leyn P và cộng sự [52] nghiên cứu trong 23 năm ghi nhận hơn 4000 trường hợp NSTT chẩn đoán ở Mỹ, không có tử vong
Luke và cộng sự [97] báo cáo từ 1979 – 1984 NSTT thực hiện trên
1000 người bệnh trong số 1500 người bệnh được điều trị ung thư phổi tại khoa Ngoại lồng ngực bệnh viện đa khoa Toronto với tỷ lệ biến chứng thấp
Trang 37khoảng 2,3% [97] và không có tử vong, ông đề nghị NSTT nên thực hiện thường quy giúp phân giai đoạn ung thư phổi
Hsu Han Shui và cộng sự [75] báo cáo 100 trường hợp NSTT (69 nam
và 31 nữ) trong thời gian 01/1998 đến 01/2001 thực hiện tại khoa Ngoại lồng ngực bệnh viện Cựu chiến binh Đài Bắc ghi nhận 3 trường hợp có biến chứng chảy máu xử trí được và không có tử vong
Park và cộng sự [112] nghiên cứu 12 năm (01/1990 – 01/2002) ở 3391 người bệnh ở Mỹ được NSTT ghi nhận 14 người bệnh (0,4%) biến chứng chảy máu và không có tử vong khi phẫu thuật
Lemaire A và cộng sự [96] nghiên cứu 9 năm (4/1996 – 4/2005) ở đại học y khoa Duke ghi nhận rất ít biến chứng khi NSTT
Hujala [76] thống kê từ năm 1989 – 1997, bệnh viện trường đại học Trung ương Turku, Phần Lan đã NSTT cho 249 người bệnh (87 nữ và 162 nam), ghi nhận NSTT an toàn và ít biến chứng so với các biện pháp xâm lấn khác
Khan và cộng sự [87] nghiên cứu tại khoa phẫu thuật lồng ngực quân đội Rawalpindi, Pakistan từ 1/2007 – 6/2009 ghi nhận 48 trường hợp được NSTT, có 1 trường hợp tử vong (3,4%), còn các biến chứng khác hiếm gặp
Karfis [85] và cộng sự trong thời gian nghiên cứu 7 năm (1999 – 2006) tại khoa ngoại lồng ngực bệnh viện vùng Tây Nam Hy Lạp, ghi nhận 139 người bệnh được NSTT với 1,4% người bệnh bị biến chứng chảy máu, không
có tử vong, ông kết luận NSTT an toàn và hiệu quả, đặc biệt ở những bác sĩ
có đường cong đào tạo tốt [100], [127]
Wei và cộng sự [147] báo cáo 1970 trường hợp NSTT từ 01/1997 – 9/2013 thực hiện tại Viện trường Alabama Birmingham ghi nhận NSTT là phương pháp an toàn, hiệu quả trong việc lấy mẫu trung thất thực hiện bởi các
Trang 38bác sĩ chuyên khoa, tỷ lệ tử vong trong vòng 30 ngày sau mổ 0%, 0,25% chảy máu nhiều nhưng chỉ có 0,1% trường hợp phải chẻ xương ức cầm máu
Feng Mao và cộng sự [64] nghiên cứu 361 trường hợp NSTT 7/2009 đến 12/2012 tại Khoa Lồng ngực bệnh viện Thượng Hải ghi nhận NSTT an toàn, tin cậy, chẳng những hữu ích cho chẩn đoán bản chất khối u trung thất
mà còn là tiêu chuẩn vàng trong phân giai đoạn ung thư phổi
Mineo và cộng sự [106] ghi nhận 80 trường hợp NSTT ở người bệnh có hội chứng chèn ép TMC trên trong 23 năm từ 1974 – 1997, ở khoa Ngoại lồng ngực viện trường La Sapienza và viện trường Tor Vergata, chỉ có 5 trường hợp chảy máu nhưng 1 trường hợp phải chẻ xương ức cầm máu và không có trường hợp nào tử vong Tác giả kết luận, NSTT nên thực hiện thường quy trên người bệnh có u trung thất chèn ép vì nguy cơ phẫu thuật thấp và hiệu quả
Jahangiri M và cộng sự [81] thực hiện 34 trường hợp NSTT trên người bệnh có hội chứng chèn ép TMC trên trong thời gian 1982 – 1993, trên những người bệnh này đã dùng các phương pháp chẩn đoán khác thất bại, ông ghi nhận 26 trường hợp do ung thư phổi di căn, 6 u lymphô, 1 ung thư tuyến ức
và 1 mô viêm xơ hóa
Callejas [41] cũng thực hiện NSTT ở người bệnh có hội chứng chèn ép TMC trên và kết luận NSTT thực hiện hiệu quả và tin cậy
Nghiên cứu của Martin Ucar AE [100], cho thấy trong 1 năm ở Anh khoảng 2000 ca phẫu thuật NSTT để chẩn đoán cũng như phân giai đoạn ung thư phổi
Và còn rất nhiều tác giả trên thế giới đang nghiên cứu và cải tiến phương pháp NSTT NSTT an toàn có biến chứng và tỷ lệ tử vong thấp, đặc biệt có thể thực hiện trên NB có hội chứng chèn ép tĩnh mạch chủ trên
Trang 391.4.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam
Tại Việt Nam NSTT chưa thực hiện nhiều và có ít báo cáo về NSTT Trương Thanh Thiết [23] bệnh viện Phạm Ngọc Thạch bắt đầu thực hiện NSTT chẩn đoán từ 2005, trong nghiên cứu của tác giả từ 04/2007 – 12/2015 tại bệnh viện Phạm Ngọc Thạch có 149 trường hợp NSTT ghi nhận
độ nhạy NSTT 97,3%, độ đặc hiệu 100%, giá trị tiên đoán dương 100% và âm tính giả 2,7% và không có tử vong
Nguyễn Đức Thắng [22] thực hiện NSTT tại bệnh viện Trung ương quân đội 108 từ 2009 và tác giả đã báo cáo trong 2 năm (2010 - 2011) đã NSTT 34 trường hợp, ghi nhận tai biến chảy máu có 1 trường hợp (2,94%) và không có tử vong
Hầu hết tác giả chủ yếu sinh thiết lấy mẫu bệnh phẩm hạch trung thất, tại Bệnh viện Chợ Rẫy bắt đầu phẫu thuật NSTT vào 10/2010, chúng tôi triển khai thêm sinh thiết lấy mẫu chẩn đoán các trường hợp u trung thất giai đoạn muộn không còn khả năng phẫu thuật triệt để với mục đích có chẩn đoán chính xác để trị liệu cho người bệnh tránh điều trị mù [81] Đó là mục tiêu để chúng tôi tiến hành nghiên cứu này
1.4.3 Vấn đề cần nghiên cứu thêm
Xác lập yếu tố liên quan đến phẫu thuật NSTT, mức độ an toàn và hiệu quả của NSTT trong việc lấy mẫu chẩn đoán mô học u trung thất và giá trị của CLĐT ngực trong định hướng NSTT lấy mẫu với các biến số sau:
Đặc điểm tổn thương trên CLĐT ngực của mẫu nghiên cứu
Đặc điểm giới hạn và mức độ tăng quang của u trên CLĐT ngực
Đặc điểm chèn ép các cơ quan lân cận trên CLĐT ngực
Đặc điểm hạch trên CLĐT ngực
Đặc điểm phẫu thuật
Kết quả giải phẫu bệnh của nghiên cứu
Trang 40 Đối chiếu chẩn đoán qua CLĐT ngực và chẩn đoán trong mổ
Đối chiếu đặc điểm kích thước và vị trí u trên CLĐT ngực với phương pháp sinh thiết, vị trí sinh thiết và với lượng máu mất
Đối chiếu đặc điểm phân bố và bờ u trên CLĐT ngực với phương pháp sinh thiết, vị trí sinh thiết và với lượng máu mất
Đối chiếu giữa đặc điểm xâm lấn và tăng quang trên CLĐT ngực với phương pháp sinh thiết, vị trí sinh thiết và với lượng máu mất
Kết quả phẫu thuật: tỷ lệ thành công, thất bại và biến chứng
Hiệu quả của NSTT