Sức lao động không phải bao giờ cũng là hàng hóa nó chỉ biến thành hàng hóa khi có đầy đủ hai điều kiện: - Thứ nhất: người lao động phải được tự do về thân thể, tự do về năng lực lao độn
Trang 1PHÇN Më ®Çu
Học thuyết giá trị thặng dư là học thuyết giữ vị trí “hòn đá tảng” trong toàn
bộ lý luận kinh tế của C.Mác, một trong những phát hiện vĩ đại của C.Mác, làm sáng tỏ bản chất của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa Trong học thuyết này, C.Mác nghiên cứu mối quan hệ giữa người với người thông qua mối quan hệ giữa vật với vật Cơ sở về kinh tế để xác lập quan hệ giữa người với người thông qua quan hệ giữa vật với vật chính là lao động, cái thực thể, yếu tố cấu thành giá trị của hàng hóa Đó chính là trọng tâm của học thuyết giá trị Sản xuất hàng hóa và gắn liền với nó là các phạm trù: giá trị, hàng hóa, tiền tệ đã từng có trước chủ nghĩa tư bản Nó là những điều kiện tiền đề để cho phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ra đời và phát triển
Nhưng sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa khác với sản xuất hàng hóa giản đơn không chỉ về trình độ mà còn khác cả về chất nữa Và khi xuất hiện một loại hàng hóa mới đó là hàng hóa sức lao động Khi sức lao động trở thành hàng hóa thì tiền tệ mang hình thái là tư bản và gắn liền với nó là một quan hệ sản xuất mới xuất hiện: quan hệ giữa nhà tư bản và lao động làm thuê Thực chất của mối quan hệ này
là nhà tư bản chiếm đoạt giá trị thặng dư của công nhân làm thuê Giá trị thặng dư
là nguồn gốc hình thành nên thu nhập của các nhà tư bản và các giai cấp bóc lột trong chủ nghĩa tư bản.Từ học thuyết giá trị và cơ sở thực tiễn mà C.Mác đã xây dựng nên học thuyết giá trị thặng dư
Nước ta đang xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, mà nền kinh tế thị trường thì luôn gắn liền với các phạm trù và các quy luật kinh tế của nó Trong đó có phạm trù giá trị thặng dư, hay nói các khác “sự tồn tại của giá trị thặng dư là một tất yếu khác quan ở Việt Nam khi mà nước ta đang áp dụng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN” Việc nghiên cứu về giá trị thặng
dư sẽ giúp chúng ta có nhận thức đúng đắn về con đường đi lên XHCN ở Việt Nam
Để hiểu rõ nội dung này Tiểu Đội 3 xin trình bài Tiểu luận “Học thuyết giá
trị thặng dư của chủ nghĩa Mác – Lênin và vận dụng trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay”.
PhÇn néi dung
Trang 2I HỌC THUYẾT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN
1 Sự chuyển hóa hóa của tiền thành tư bản
1.1 Công thức chung của tư bản
Tiền là sản phẩm cuối cùng của quá trình lưu thông hàng hóa Đồng thời, tiền cũng là hình thức biểu hiện đầu tiên của tư bản Song bản thân tiền không phải là tư bản, mà tiền chỉ trở thành tư bản khi chũng được sử dụng để bóc lột lao động theo công thức H-T-H Còn tiền được coi là tư bản thì vận động theo công thức T-H-T
Ta thấy hai công thức này có những điểm giống nhau và khác nhau:
- Giống nhau: Cả hai sự vận động đều bao gồm hai nhân tố là tiền và hàng và
có cả hai hành vi mua và bán, có người mua, người bán
- Khác nhau: Trình tự hai giai đoạn đối lập nhau (mua và bán) trong hai công
thức lưu thông là đảo ngược nhau Với công thức H-T-H thì bắt đầu bằng việc bán (H-T) và kết thúc bằng việc mua (T-H), bán trước mua sau nhưng tiền chỉ đóng vai trò trung gian và kết thúc quá trình điều là hàng hóa Ngược lại, với công thức
T-H-T thì bắt đầu bằng việc mua (T-H-T-H) và kết thúc bằng việc bán (H-T-H-T) Ở đây tiền vừa
là điểm xuất phát vừa là điểm kt thúc, còn hàng hóa đóng vai trò trung gian Tiền ở đây chỉ để chi ra để mua rồi thu lại sau khi bán Vậy tiền trong công thức này chỉ được ứng trước mà thôi
Từ đó ta thấy giá trị sử dụng là mục đích cuối cùng của vòng chuyển H-T-H giá trị sử dụng, tức là nhằm thỏa mãn những nhu cầu nhất định Như vậy, quá trình này là hữu hạn, nó sẽ kết thúc khi nhu cầu được thõa mãn Động co và mục đích của vòng chuyển T-H-T là bản thân giá trị trao đổi trong lưu thông điểm đầu và điểm cuối đều là tiền nên chúng không khác nhau về chất Do vậy, nếu số tiền thu
về bằng số tiền ứng ra thì quá trình vận động trở nên vô nghĩa Mà như ta đã biết, một món tiền chỉ có thể khác với một món tiền khác về mặt số lượng Kết quả là qua lưu thông số tiền ứng trước không những được bảo tồn mà còn tự tăng thêm giá trị Nên công thức vận động đầy đủ của tư bản là T-H-T’ Trong đó T’=T+t số tiền trội hơn so với số tiền ứng ra là t, C.Mác gọi là giá trị thặng dư số tiền ứng ra ban đầu chuyển hóa thành tư bản Vậy tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư nên
sự vận động của tư bản là không có giới hạn vì sự lớn lên của giá trị là không có giới hạn
Từ phân tích trên ta thấy C.Mác đã phân biệt rõ tiền thông thường và tiền tư bản Tiền thông thường chỉ đóng vai trò trung gian trong lưu thông Còn tiền tư bản
là giá trị vận động, nó ra khỏi lĩnh vực lưu thông rồi lại trở lại lưu thông, tự duy trì
và sinh sôi nảy nỡ trong lưu thông quay trở lại dưới dạng đã lớn lên và không ngừng bắt đầu lại cùng một vòng chu chuyển T-H-T’ mới nhìn thì nó là công thức vận động của riêng tư bản thương nghiệp nhưng ngay cả tư bản công nghiệp và tư bản cho vay thì cũng vậy Tư bản chủ nghĩa cũng là tiền được chuyển hóa thành
Trang 3hàng hóa thông qua sản xuất rồi lại chuyển hóa thành một số tiền lớn hơn bằng việc bán hàng hóa đó Tư bản cho vay thì lưu thông T-H-T’ được hiểu hiện dưới dạng thu ngắn lại và T-T’ một số tiền thành một số tiền lớn hơn Như vậy T-H-T’ thực sự
là công thức chung của tư bản
1.2 Mâu thuẫn của công thức chung
Công thức T-H-T’ là công thức chung của tư bản, nhưng nó lại mâu thuẫn với tất cả các quy luật về bản chất của hàng hóa, giá trị, tiền và bản thân lưu thông
Ta xét trong lưu thông có thể xảy ra hai trường hợp: một là trao đổi tuân theo quy luật giá trị (trao đổi ngang giá); hai là trao đổi không tuân theo quy luật giá trị (trao đổi không ngang giá)
- Trường hợp trao đổi ngang giá: Nếu hàng hóa được trao đổi ngang giá thì
chỉ có sự thay đổi hành thái của giá trị, từ T-H và H-T còn tổng giá trị cũng như phần giá trị nằm trong tay mỗi bên tham gia trao đổi đều không thay đổi Tuy nhiên
về giá trị sử dựng thì cả hai bên điều có lợi Ở đây không có sự hình thành giá trị thặng dư
- Trường hợp trao đổi không ngang giá:
+ Nếu hàng hóa bán cao hơn giá trị của chúng khi đó người bán được lợi một khoản là một phần chênh lệch giữa giá bán và giá trị thực của hàng hóa, còn người mua bị thiệt một khoản đúng bằng giá trị của người bán được lợi
+ Nếu người bán hàng hóa dưới giá trị của chúng (bán rẻ) thì người mua được một khoản là phần chênh lệch giữa giá trị thực và giá bán của hàng hóa còn người bán bị thiệt một giá trị đúng bằng giá trị của người mua được lợi
+ Nếu một người mua được hàng hóa rẻ hơn giá trị và bán chúng cao hơn giá trị thì tổng giá trị của xã hội cũng không tăng lên vì tổng giá trị của người thu được cũng bằng tổng giá trị của người khác bị mất đi
Xét cả ba cách trao đổi trên cho thấy nếu người này được lợi thì người kia thiệt, nhưng tổng hàng hóa vẫn không tăng lên nên trong trường hợp trao đổi không ngang giá cũng không hình thành giá trị thặng dư
Tiền đưa vào lưu thông, qua lưu thông thì thu được giá trị thặng dư mà lưu thông không tạo ra giá trị nên không tạo ra giá trị thặng dư Tiền rút khỏi lưu thông làm chức năng cất trữ thì cũng không thu được giá trị thặng dư Như vậy, cùng với lưu thông và lại không cùng với lưu thông, đây chính là mâu thuẫn của công thức chung của tư bản
Để giải quyết vấn đề này ta phải đứng trên các quy luật của lưu thông hàng hóa và lưu thông tiền tệ Vấn đề cơ bản là nhà tư bản đã gặp trên thị trường một loại hàng hóa đặc biệt mà khi tiêu dùng nó sẽ đem lại giá trị thặng dư đó là sức lao động
1.3 Hàng hóa sức lao động
Trang 4Sức lao động bao gồm toàn bộ sức thần kinh, sức cơ bắp, thể lực, trí lực tồn tại trong bản thân con người sống, nó chỉ được bộc lộ qua lao động và là yếu tố chủ thể không thể thiếu được của mọi quá trình sản xuất xã hội
Sức lao động không phải bao giờ cũng là hàng hóa nó chỉ biến thành hàng hóa khi có đầy đủ hai điều kiện:
- Thứ nhất: người lao động phải được tự do về thân thể, tự do về năng lực lao
động của mình và chỉ bán sức lao động đó trong một thời gian nhất định Bởi vì sức lao động chỉ có thể xuất hiện trên thị trường với tư các là hàng hóa khi nó được đưa
ra thị trường, tức là bản thân người có sức lao động đem bán nó Muốn vậy người lao động phải được tự do về thân thể có quyền sở hữu sức lao động của mình thì mới đem bán được Người sở hữu sức lao động chỉ nên bán sức lao động trong một thời gian nhất định thôi, nếu bán hẳn sức lao động đó trong một lần thì người đó trở thành nô lệ
- Thứ hai: Người lao động phải bị tước hết tư liệu sản xuất, mốn sống họ phải
bán sức lao động của mình Vì nếu người lao động được tự do về thân thể mà lại có
tư liệu sản xuất thì họ sẽ sản xuất ra hàng hóa và bán hàng hóa do mình sản xuất ra chứ không bán sức lao động
Khi sức lao động trở thành hàng hóa, nó cũng có hai thuộc tính là giá trị và giá trị sử dụng Nhưng nó là hàng hóa đặc biệt vì vậy giá trị và giá trị sử dụng của
nó cũng có những nét đặc thù só với những hàng hóa khác
- Giá trị hàng hóa sức lao động: Giá trị hàng hóa sức lao động do thời gian
lao động xã hội cần thiết để sản xuất và tái sản xuất ra sức lao động quyết định Mà sức lao động lại gắn liền với cơ thể sống Do đó, việc sản xuất và tái sản xuất ra sức lao động cũng bao hàm việc duy trì cuộc sống của con người đó Mốn duy trì cuộc sống của bản thân mình, con người cần có một số tư liệu sinh hoạt nhất định Mặt khác, số lược của những nhu cầu cần thiết ấy cũng như phương thức thõa mãn những nhu cầu đó ở mỗi người, nhóm người lao động lại khác nhau Do yếu tố lịch
sử, tinh thần nên giá trị của sức lao động còn mang tính tinh thần, thể chất lịch sử Nhưng những người sở hữu sức lao động có thể chết đi do vậy muốn cho người ấy không ngừng xuất hiện trên thị trường hàng hóa sức lao động thì người bán sức lao động ấy phải trở nên vĩnh cửu bằng cách sinh con đẻ cái Vì vậy tổng số những tư liệu sinh hoạt cho những người thay thế đó (tức là con cái của người lao động) Giá trị những tư liệu sinh hoạt về vật chất và tinh thần cần thiết để tái sản xuất sức lao động, duy trì đời sống công nhân Muốn cho người lao động có kiến thức và sức lao động vận dụng khoa học trong ngành lao động nhất định thì cần phải tốn chi phí đào tạo
- Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động: Cũng giống như các hàng hóa
thông thường khác là nó cũng phải thoãn mãn nhu cầu nào đó của người mua Còn khác ở chổ các hàng hóa thông thường qua tiêu dùng thì giảm dần giá trị, còn sức
Trang 5lao động qua tiêu dùng (tức là qua lao động) thì nó tạo ra lượng giá trị mới lớn hơn giá trị bản thân nó do người công nhân theo thời gian đã tích lũy được kinh nghiêm sản xuất Và phần lớn hơn đó chính là giá trị thặng dư cho nhà tư bản Đến đây ta hiểu được mâu thuẫn công thức chung của tư bản là cùng lưu thông và không cùng với lưu thông từ đó ta thấy khi sức lao động trở thành hàng hóa, tiền tệ thành tư bản
2 Quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư
2.1 Bản chất của việc sản xuất giá trị thặng dư
Mục đích của sản xuất tư bản chủ nghĩa không phải là giá trị sử dụng mà là giá trị, hơn nữa cũng không phải là giá trị đơn thuần mà là giá trị thặng dư Nhưng
để sản xuất giá trị thặng dư trước hết nhà tư bản phải sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó, vì giá trị sử dụng là vật mang giá trị và giá trị thặng dư Để hiểu rõ hơn quá trình sản xuất giá trị thặng dư, chúng ta lấy việc sản xuất sợi của một nhà tư bản để làm ví dụ:
Giả sử để sản xuất 10kg sợi, nhà tư bản phải ứng ra số tiền là 15$ (trong đó 10$ mua 10kg bông, 2$ hao phí máy móc và 3$ mua sức lao động của công nhân trong một ngày 12 giờ) Giả định việc mua này đúng giá trị, mỗi giờ lao động của công nhân tạo ra giá trị là 0,5$
Giả định chỉ trong 6 giờ đầu, công nhân đã kéo xong 10kg bông thành 10kg sợi, thì giá trị 10kg sợi được tính theo các khoản như sau:
+ Giá trị 10kg sợi = 10$
+ Hao mòn máy móc = 2$
+ Sức lao động = 3$
Tổng cộng = 15$
Nếu quá trình lao động ngừng ở đây thì nhà tư bản chưa có được giá trị thặng
dư, do đó tiền chưa biến thành tư bản Nhưng nhà tư bản đã mua sức lao động trong
1 ngày (12 giờ) Nên 6 giờ lao động tiếp, nhà tư bản chi thêm 10$ để mua 10kg bông và 2$ hao mòn máy móc (sức lao động không phải mua) Với 6 giờ lao động sau người công nhân vẫn tạo ra 10kg sợi với giá trị 10$ Tổng số tiền chi phí nhà tư bản chi ra là:
+ Tiền mua bông (20kg): 20$
+ Tiền hao mòn máy móc: 4$
+ Tiền mua sức lao động cả ngày: 3$
Tổng cộng: 27$
Tổng giá trị 20kg sợi là 30$
Vậy lượng giá trị thặng dư thu được là: 30-27=3$
Do đó tiền tệ ứng ra ban đầu đã chuyển hóa thành tư bản
Trang 6Để làm sáng tỏ thêm C.Mác đã lấy ngày lao động của công nhân để chứng minh Ông chia ngày lao động của công nhân làm hai phần là thời gian lao động cần thiết và thời gian lao động thặng dư Công nhân làm việc trong phần thời gian lao động cần thiết tạo ra sản phẩm cần thiết với tiền công của mình Còn làm việc trong thời gian lao động thặng du là tạo ra sản phẩm thặng dư nhà tư bản Nhà tư bản bán
nó thu về giá trị thặng dư
Từ đó cho ta biết được nguồn gốc và bản chất của giá trị thặng dư: là một bộ phận của giá trị mới, bộ phận giá trị dôi ra ngoài giá trị sức lao động của công nhân
Do lao động của công nhân làm thuê sáng tạo ra và bị nhà tư bản chiếm không là lao động không công của công nhân cho tư bản Là quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư, quá trình sản xuất ra giá trị đến một thời hạn mà ở đó giá trị sức lao động của công nhân được hoàn lại bằng một bộ phấn của giá trị mới
Tư bản ứng trước của nhà tư bản được chia làm hai bộ phận Một là bộ phận
tư bản được chi ra để mua tư liệu sản xuất (tư bản bất biến) ký hiệu là C Hai là bộ phận tư bản được chi ra để mua sức lao động (tư bản khả biến) ký hiệu là V, bộ phận tư bản này cũng chỉ là một số tiền như tư bản chi ra để mua tư liệu sản xuất nhưng nhờ mua được sức lao động là loại hàng hóa đặc biêt mà khi tiêu dùng nó tạo
ra giá trị thặng dư nên trở thành lượng khả biến Việc phân chia này cầng chỉ rõ nguồn gốc của giá trị thặng dư là sức lao động chứ không phải từ máy móc hay tư liệu sản xuất khác
2.2 Hai phương thức sản xuất giá trị thặng dư
a Phương thức sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối:
Đây là phương thức sản xuất giá trị thặng dư bằng cách kéo dài tuyệt đối ngày lao động trong khi phần thời gian lao động cần thiết của công nhân không đổi Phần thời gian giá trị thặng dư khéo dài bao nhêu là được hưởng bấy nhiêu
Ví dụ: Ngày lao động 8 giờ trong đó gồm thời gian lao động cần thiết là 4 giờ
và 4 giờ là thời gian lao động thặng dư Nay ngày lao động kéo dài tuyệt đối thành
10 giờ mà thời gian lao động cần thiết không đổi thì thời gian lao động thặng dư tăng từ 4 giờ lên 6 giờ Điều này dẫn đến việc đấu tranh của công nhân và sự đấu tranh đó buộc nhà tư bản phải rút ngắn thời gian lao động Khi đó độ dài ngày lao động được xác định và nhà tư bản tìm phương thức khác để sản xuất ra giá trị thặng
dư đó là phương thức sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối
Vì vậy, giai cấp tư sản phải chuyển sang một phương pháp bóc lột mới tinh
vi hơn, đó là phương pháp bóc lột giá trị thặng dư tương đối
b Phương thức sản xuất giá trị thặng dư tương đối:
Là giá trị thặng dư thu được bằng cách rút ngắn thời gian lao động cần thiết của công nhân trong khi thời gian lao động của công nhân không đổi dựa trên cơ sở
Trang 7tăng năng suất lao động xã hội, nhờ đó tăng thời gian lao động thặng dư lên ngay trong điều kiện độ dài ngày lao động vẫn như cũ
Ví dụ: Giả sử ngày lao động là 8 giờ, trong đó thời gia lao động cần thiết và 4 giờ là thời gian lao động thặng dư, trình độ bóc lột là 100% Bay giờ chúng ta lại giả sử rằng công nhân chỉ cần 2 giờ lao động đã tạo ra được một giá trị mới bằng giá trị sức lao động của mình Do đó, tỉ lệ phân chua ngày lao động thành thời gian lao động cần thiết và thời gian lao động thặng dư cũng thay đổi theo Cụ thể là thời gian lao động cần thiết là 2 giờ, thời gian lao động thặng dư là 6 giờ, trình độ bóc lột của nhà tư bản lúc này là 300%
Để có thể rút ngắn thời gian lao động cần thiết thì các nhà tư bản phải tìm mọi biện pháp, đặc biệt là phải áp dụng tiến bộ và công nghệ vào quá trình sản xuất
để nâng cao năng suất lao động xã hội, giảm giá thành và tiến tới giảm giá cả thị trường sản phẩm Đặc biệt là nâng cao năng suất lao động trong những ngành, những lĩnh vực sản xuất ra tư liệu sinh hoạt để phục vụ nhu cầu của người công nhân Từ đó tiến tới hạ thấp giá trị sức lao động
Nếu trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản, sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối chiếm ưu thế thì đến giai đoạn tiếp sau khi mà kỹ thuật phát triển, sản xuất giá trị thặng dư tương đối chiếm vị trí chủ yếu
2.3 Giá trị thặng dư siêu ngạch
Giá trị thặng dư siêu ngạch là phần giá trị thặng dư thu được do tăng năng suất lao động cá biệt, làm cho giá trị cá biệt của hàng hóa thấp hơn giá trị thị trường của nó
*Biện pháp để thu được giá trị thặng dư siêu ngạch
Giá trị thặng dư siêu ngạch là hiện tượng tạm thời đối với từng tư bản cá biệt, nhưng đối với toàn xã hội tư bản là một hiện tượng phổ biến và thường xuyên
Những điểm chung và khác biệt giữa giá trị thặng dư siêu ngạch và giá trị thặng dư tương đối
Xét từng trường hợp thì giá trị thặng dư siêu ngạch là hiện tượng tạm thời, nhanh chóng xuất hiện rồi cũng lại nhanh chóng mất đi Nhưng xét toàn bộ xã hội
tư bản thì giá trị thặng dư siêu ngạch là hiện tượng tồn tại thường xuyên Theo đuổi giá trị thặng dư siêu ngạch là khát vọng của nhà tư bản và là động lực mạnh nhất thúc đẩy các nhà tư bản cải tiến kỹ thuật, hợp lí hóa sản xuất, tăng năng suất lao động, làm cho năng suất lao động xã hội tăng lên nhanh chóng C.Mác gọi giá trị thặng dư siêu ngạch là hình thức biến tướng của giá trị thặng dư tương đối, vì giá trị thặng dư siêu ngạch và giá trị thặng dư tương đối đều dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động (mặc dù một bên là dựa vào tăng năng suất lao động cá biệt, còn một bên dựa vào tăng năng suất lao động xã hội)
Trang 8Sự khác nhau giữa giá trị thặng dư siêu ngạch và giá trị thặng dư tương đối còn thể hiện ở chỗ giá trị thặng dư tương đối do toàn bộ giai cấp của nhà tư bản thu được Xét về mặt đó, nó thể hiện quan hệ bóc lột của toàn bộ giai cấp các nhà tư bản đối với toàn bộ giai cấp công nhân làm thuê Giá trị thặng dư siêu ngạch chỉ do một số các nhà tư bản có kỹ thuật tiên tiến thu được Xét về mặt đó, nó không chỉ biểu hiện mối quan hệ giữa tư bản và lao động làm thuê, mà nó trực tiếp biểu hiện mối quan hệ cạnh tranh giữa các nhà tư bản
Từ đó, ta thấy rằng giá trị thặng dư siêu ngạch là động lực trực tiếp, mạnh nhất thúc đẩy các nhà tư bản cải tiến kỹ thuật, áp dụng công nghệ mới vào sản xuất, hoàn thiện tổ chức lao động và tổ chức sản xuất để tăng năng suất lao động giảm giá trị của hàng hóa
2.4 Sản xuất giá trị thặng dư – quy luật kinh tế tuyệt đối của chủ nghĩa tư bản
Mỗi phương thức sản xuất có một quy luật kinh tế tuyệt đối, quy luật phản ánh mối quan hệ kinh tế bản chất nhất của phương thức sản xuất đó Theo C.Mác, chế tạo ra giá trị thặng dư tuyệt đối của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa
Thật vậy, giá trị thặng dư – phần giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao động
do công nhân làm thuê tạo ra và bị nhà tư bản chiếm không, phản ánh mối quan hệ kinh tế bản chất nhất của chủ nghĩa tư bản – quan hệ tư bản bóc lột lao động làm thuê Giá trị thặng dư do lao động không công của công nhân tạo ra là nguồn gốc làm giàu của các nhà tư bản
Mục đích của sản xuất tư bản chủ nghĩa không phải là giá trị sử dụng mà là sản xuất ra giá trị thặng dư, là nhân giá trị lên Theo đuổi giá trị thặng dư tối đa là mục đích và động cơ thúc đẩy sự hoạt động của mỗi nhà tư bản, cũng như của toàn
bộ xã hội tư bản Nhà tư bản cố gắng sản xuất ra hàng hóa với chất lượng tốt đi chăng nữa, thì đó cũng chỉ vì nhà tư bản muốn thu được nhiều giá trị thặng dư
Sản xuất ra giá trị thặng dư tối đa không chỉ phản ánh mục đích của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, mà còn vạch rõ phương tiện, thủ đoạn mà các nhà tư bản sử dụng để đạt được mục đích như tăng cường bóc lột công nhân làm thuê bằng cách tăng cường độ lao động và kéo dài ngày lao động, tăng năng suất lao động và mở rộng sản xuất
Như vậy, sản xuất ra giá trị thặng dư là quy luật kinh tế tuyệt đối của chủ nghĩa tư bản, là cơ sở của sự tồn tại và phát triển của chủ nghĩa tư bản Nội dung của nó là sản xuất ra giá trị thặng dư tối đa bằng cách tăng cường bóc lột công nhân làm thuê, dựa trên chủ yếu các phương tiện kỹ thuật và quản lý để tăng năng suất lao động kéo dài ngày lao động Quy luật giá trị thặng dư không chỉ phản ánh mục đích của tư liệu sản xuất tư bản chủ nghĩa là giá trị thặng dư mà còn chỉ rõ phương tiện để đạt mục đích đó (tăng cường bóc lột lao động làm thuê)
Trang 9Chủ nghĩa tư bản ngày nay tuy có những điều chỉnh nhất định về hình thức
sở hữu, quản lý và phân phối để thích nghi ở mức độ nào đó với điều kiện mới, nhưng sự thống trị của chủ nghĩa tư bản tư nhân vẫn tồn tại nguyên vẹn, bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản vẫn không thay đổi Nhà nước tư sản hiện nay tuy có tăng cường can thiệp vào đời sống kinh tế và xã hội, nhưng về cơ bản nó vẫn là bộ máy thống trị của giai cấp tư sản
Tuy nhiên, do trình độ đã đạt được của văn minh nhân loại và do cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân, mà một bộ phận không nhỏ công nhân ở các nước tư bản phát triển có mức sống tương đối sung túc, nhưng về cơ bản, họ vẫn phải bán sức lao động và vẫn bị nhà tư bản bóc lột giá trị tư bản thặng dư Nhưng trong điều kiện hiện nay, sản xuất giá trị thặng dư có những đặc điểm mới:
Một là, do kỹ thuật và công nghệ hiện đại được áp dụng rộng rãi nên khối
lượng giá trị thặng dư được tạo ra chủ yếu nhờ tăng năng suất lao động Việc tăng năng suất lao động do áp dụng kỹ thuật và công nghệ hiện đại có đặc điểm là chi phí lao động sống trong một đơn vị sản phẩm giảm nhanh, vì máy móc hiện đại thay thế được nhiều lao động sống hơn
Hai là, cơ cấu lao động xã hội ở các nước tư bản phát triển hiện nay có sự
biến đổi lớn Do áp dụng rộng rãi kỹ thuật và công nghệ hiện đại nên lao động phức tạp, lao động trí tuệ tăng lên và thay thế lao động giản đơn, lao động cơ bắp Do đó lao động trí tuệ, lao động có trình độ kỹ thuật cao ngày càng có vai trò quyết định trong việc sản xuất ra giá trị thặng dư Chính nhờ sử dụng lực lượng lao động ngày nay mà tỷ suất và khối lượng giá trị thặng dư đã tăng lên rất nhiều
Ba là, sự bóc lột của các nước tư bản phát triển trên phạm vi quốc tế ngày
càng được mở rộng dưới nhiều hình thức: xuất khẩu tư bản và hàng hóa, trao đổi không ngang giá…lợi nhuận siêu ngạch mà các nước tư bản phát triển bòn rút từ các nước kém phát triển trong mấy chục năm qua đã tăng lên gấp nhiều lần Sự cách biệt giữa những nước giàu và những nước nghèo ngày càng tăng và đang trở thành mâu thuẫn nổi bật trong thời đại ngày nay Các nước tư bản phát triển đã bòn rút chất xám, hủy hoại môi sinh, cũng như cội rễ đời sống văn hóa của các nước lạc hậu, chậm phát triển
II VẬN DỤNG HỌC THUYẾT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Từ lý luận kinh tế của Mác có thể nói: Giá trị thặng dư là giá trị do lao động của công nhân làm thuê sản sinh ra vượt quá giá trị sức lao động của họ và bị nhà tư bản chiếm đoạt Nhà tư bản sử dụng tính chất đặc biệt của hàng hóa sức lao động vào mục đích tạo ra cho mình giá trị thặng dư Chiếm đoạt toàn bộ giá trị thặng dư này là hành vi được gọi đích danh là “bóc lột ” giá trị thặng dư Đó là nói chung,
Trang 10còn cụ thể, trong quá trình sản xuất, hành vi “bóc lột” giá trị thặng dư được nhà tư bản thực hiện bằng các phương pháp khác nhau: sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối
và sản xuất ra giá trị thặng dư tương đối, tức là kéo dài tuyệt đối thời gian của ngày lao động, rút ngắn thời gian lao động cần thiết để sản xuất từng sản phẩm và tăng tương ứng thời gian lao động thặng dư Việc tăng giá trị thặng dư còn được một số nhà tư bản thực hiện bằng cách hạ thấp giá trị của hàng hóa do xí nghiệp mình sản xuất so với giá trị xã hội của hàng hóa đó Số giá trị tạo ra bằng cách này được gọi
là giá trị thặng dư siêu ngạch
Trong hoạt động kinh tế tư bản chủ nghĩa, giá trị thặng dư tuyệt đối, giá trị thặng dư tương đối và giá trị thặng dư siêu ngạch đều bị nhà tư bản chiếm đoạt, vì vậy mà luôn luôn có cuộc đấu tranh của công nhân làm thuê chống lại sự chiếm đoạt đó Cuộc đấu tranh chống bóc lột giá trị thặng dư về thực chất là đấu tranh chống việc nhà tư bản chiếm đoạt hoàn toàn giá trị thặng dư
Như vậy, mục đích của cuộc đấu tranh này là nhằm giải quyết mâu thuẫn trong bản thân quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa Mục đích đấu tranh của giai cấp công nhân dưới chế độ tư bản chủ nghĩa thực chất là đòi phải phân chia các giá trị thặng dư cho đúng, cho hợp lý, hợp tình; ngăn chặn nhà tư bản chiếm đoạt toàn bộ các giá trị thặng dư
Các khía cạnh liên quan đến sự sản sinh và sự chiếm đoạt giá trị thặng dư như vừa đề cập ở trên phải được đặt gọn trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa; chúng được bảo hộ bằng nền chính trị (có khi cả quân sự nữa) của chủ nghĩa tư bản Quá trình sản sinh, chiếm đoạt giá trị thặng dư cũng là viên đá tảng trong cấu trúc của cơ
sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa Sự chiếm đoạt giá trị thặng dư
mà giới chủ tư bản thường xuyên thực hiện đối với những người sản sinh ra giá trị thặng dư được gọi là sự bóc lột Đó chính là sự bóc lột mà giai cấp tư sản thực hiện đối với giai cấp công nhân làm thuê trong chế độ tư bản chủ nghĩa Việc sản sinh và chiếm đoạt giá trị thặng dư là sự phản ánh quan hệ sản xuất căn bản của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, phản ánh quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản
Vậy rõ ràng, bóc lột giá trị thặng dư là sản phẩm của chế độ tư bản chủ nghĩa
Ở đó sản xuất giá trị thặng dư đồng nghĩa với bóc lột giá trị thặng dư Điều này cần đặc biệt nhấn mạnh Ngộ nhận về điều này sẽ dẫn đến rối loạn khi chúng ta phải luận giải để trả lời các câu hỏi: Vậy thì trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN có sản xuất giá trị thặng dư không? Cái được gọi là “giá trị thặng dư” trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam thuộc về ai? Trong nền kinh
tế thị trường định hướng XHCN này sở hữu “giá trị thặng dư” có phải là hành động bóc lột hay không? Hay nói cách khác sản xuất giá trị thặng dư trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có đồng nghĩa với bóc lột không?